1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề lý luận về xât dựng đảng với đảng cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp cnxh

218 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần tìm hiếu học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng; Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt Chủ biên: Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay; Lê Quang Thưởng: Một số vấn đề xây dựng Đảng

Trang 1

chương trình nghiên cứu khxh cấp nhà nước kx03

“xây dựng đảng trong điều kiện mới”

-

đề tài kx.03.10

“một số vấn đề lý luận

về xây dựng đảng đối với một đảng cầm quyền

l∙nh đạo sự nghiệp xây dựng cnxh”

báo cáo tổng hợp

kết quả nghiên cứu

chủ nhiệm đề tài: gs đặng xuân kỳ

8669

23/5/2011

Hà Nội - 2005

Trang 3

1 gs trần Nhâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

2 GS Văn Tạo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

3 GS TS Dơng Phú Hiệp, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

4 GS.TS Trần Ngọc Hiên, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam

5 Ông Nguyễn Anh Liên, Uỷ ban kiểm tra Trung ơng Đảng

6 PGS TS Đàm Đức Vợng, Hội đồng lý luận TW

7 GS.TSKH Võ Đại Lợc, Ban Nghiên cứu của Thủ tớng

8 GS Đào Xuân Sâm, Ban Nghiên cứu của Thủ tớng

9 Nhà nghiên cứu Việt Phơng, Ban Nghiên cứu của Thủ tớng

10 Nhà nghiên cứu Nguyễn Vi Khải, Ban Nghiên cứu của Thủ tớng

11 Ông Trần Trọng Tân, Ban T tởng văn hóa TW

12 Ông Lê Đức Bình, Hội đồng lý luận TW

13 Ông Nguyễn Kim Đỉnh, Trung tâm khoa học tổ chức

14 Ông Trịnh Giang, Học viện CTQG Hồ Chí Minh

15 Ông Vũ Xuân Kiều, Tạp chí Cộng sản

mục lục

Trang 4

Trang

mở đầu 1

phần thứ nhất đảng cộng sản việt nam với việc vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận về xây dựng đảng cầm quyền qua 20 năm đổi mới 8

i Đảng cộng sản Việt Nam - Từ Đảng lãnh đạo đến Đảng cầm quyền 8

II Điều kiện và yêu cầu mới về xây dựng Đảng 16

1 Điều kiện mới với những thời cơ, thách thức và nguy cơ mới 16

2 Những yếu cầu mới về xây dựng Đảng 25

III Đồi mới Đảng theo một hệ thống quan điểm mới 33

1 Đảng phải đổi mới về nhiều mặt 34

2 Đổi mới Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng 37

3 Đổi mới, chỉnh đốn Đảng có nguyên tắc 38

4 Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn - Quy luật tồn tại và phát triển của Đảng 40

IV Giữ vững nền tảng tư tưởng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng 44

1 Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng 44

2 Nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng 51

V Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là phưong thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước 59

1 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống 59

2 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước - khâu quan 62

trọng nhất của việc đổi mới phương thức của Đảng

Trang 5

3 Những quan điểm và nguyên tắc định hướng cho việc xây dựng và đổi

mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Nội dung phương thức

lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước 63

VI Đổi mới đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ 72

1 Những quan điểm, nguyên tắc định hướng cho việc đổi mới đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ 73

2 Đổi mới nhận thức về các mặt chủ yếu về công tác cán bộ 75

3 Đổi mới cán bộ lãnh đạo - Vấn đề quan trọng nhất của đổi mới đội ngũ cán bộ 77

VII Chống những nguy cơ bên trong đối với một Đảng cộng sản cầm quyền 82

1 Những nguy cơ bên trong đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chỉ ra từ rất sớm 82

2 Tình hình suy thoái trong Đảng từ khi bước vào đổi mới đến nay 85

3 Kiên quyết chống suy thoái, đẩy lùi nguy cơ bên trong Đảng 91

phần thứ hai tiếp tục đổi mới và phát triển một số vấn đề lý luận về xây dựng đảng trong giai đoạn hiện nay 99

i Tiếp tục đổi mới tư duy, phát triển lý luận về xây dựng CNXH và về 99

xây dựng Đảng

II Xác định rõ Đảng của ai và bản chất của Đảng 109

1 Đảng của ai ? 109

III Xây dựng Đảng một cách toàn diện 127

1 Xây dựng Đảng về tư tưởng 128

2 Xây dựng Đảng về chính trị 133

3 Xây dựng Đảng về tổ chức 136

4 Xây dựng Đảng về đạo đức 139

Trang 6

5 Xây dựng Đảng về phương thức lãnh đạo và phong cách công tác 144

IV Nhận thức đầy đủ hơn về nguyên tắc xây dựng Đảng 148

1 Những nguyên tắc xây dựng Đảng đã được Đảng ta xác định từ trước đến nay 148

2 Xây dựng Đảng theo một hệ thống những nguyên tắc xác định đã được thực tiễn kiểm nghiệm 153

V Về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân 159

1 Quan điểm của Đảng ta về vấn đề đảng viên làm kinh tế t nhân qua 20 năm đổi mới 162

2 Nhận thức lại vấn đề kinh tế tư bản tư nhân và vấn đề bóc lột ở nước ta hiện nay 167

3 Làm thế nào để đảng viên làm kinh tế tư nhân nhưng không phải là nhà tư bản, không phải là người bóc lột 188

kết luận 192

danh mục tài liệu tham khảo 195

Trang 7

Mở đầu

I Tính cấp thiết của đề tài

1 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên quan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng Xây dựng Đảng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng; bởi lẽ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự trong sạch vững mạnh của các tổ chức đảng từ trên xuống dưới và của đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên đã trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Điều

đó đã được thể hiện trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ cách mạng - khi Đảng chưa giành được chính quyền cũng như khi đã trở thành đảng cầm quyền, trong chiến tranh chống ngoại xâm cũng như trong xây dựng hòa bình, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng XHCN

2 Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cách mạng chân chính, nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử đối với

đất nước và dân tộc Sinh ra ở một nước vốn là thuộc địa - nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân rất nhỏ bé, nhưng lại có truyền thống dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm lâu đời, Đảng cộng sản Việt Nam không phải chỉ

có những điểm chung giống các Đảng cộng sản ở các nước khác, mà còn có những

điểm riêng đã được Hồ Chí Minh vạch rõ từ rất sớm Kết hợp cái phổ biến với cái

đặc thù, Hồ Chí Minh đã đề ra không ít những luận điểm mới, làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng Đảng Chính vì vậy, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Trước hết, đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam Nhờ có lý luận tiền phong hướng dẫn, Đảng ta đã làm trọn vai trò người chiến sĩ tiền phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc trong suốt ba phần tư thế kỷ vừa qua

Trang 8

3 Sự khẳng định đó hoàn toàn không có nghĩa là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không cần phải phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam và những biến đổi của thế giới, của thời đại Một lý luận tiền phong chỉ có thể giữ được tính tiền phong vốn có khi nó không ngừng được bổ sung, phát triển bằng những kết luận mới được rút ra từ sự vận động của thực tiễn

Có như vậy lý 1uận tiền phong mới đóng được vai trò đi trước, mở đường cho thực tiễn phát triển Tinh thần đó đã được Mác, Ăngghen nói rõ: học thuyết của các ông không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động; còn Lênin lại đòi hỏi những người cộng sản phải phát triển chủ nghĩa Mác về mọi mặt nếu không muốn lạc hậu với cuộc sống Tinh thần đó cũng đã được Hồ Chí Minh đặt ra với Đảng cộng sản Việt Nam: không thể cấm bổ xung ''cơ sở lịch sử'' của chủ nghĩa Mác, nhất là những vấn đề của phương Đông mà khi sinh thời Mác không thể có được;

lý luận phải phát triển cùng với cuộc sống, phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để phát hiện ra những quy luật của cách mạng Việt Nam và giải quyết thành công những vấn đề của cách mạng Việt Nam

Sự khẳng định đó cũng hoàn toàn không có nghĩa là Đảng ta đã nhận thức

được đúng đắn và đầy đủ mọi vấn đề của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Nhận thức đúng để vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là việc hoàn toàn không đơn giản Trong lịch sử Đảng ta đã có nhiều dẫn chứng về vấn đề này

Đến cuối những năm 70 thế kỷ trước, khi nước ta cũng như các nước XHCN khác rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng nghiêm trọng, Đảng ta mới thấy có nhiều vấn đề về CNXH cũng như về xây dựng Đảng đã nhận thức không đúng, không quán triệt hoặc không vận dụng sáng tạo và phát triển được những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong những điều kiện mới Xác định đường lối đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra một bước ngoặt lịch sử cho việc

phát triển đất nước ta theo con đường XHCN

4 Nhưng tất cả phải bắt đầu từ đổi mới Đảng Đổi mới Đảng lại phải bắt đầu

từ đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ đó đổi mới tổ chức, đổi mới cán

Trang 9

bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách công tác Đây thực sự là một luận

điểm mới đã được Đại hội VI đề ra, nhằm xây dựng Đảng trong những điều kiện mới Vận động theo một lôgíc đổi mới nhất quán, Đảng ta đã tự giải phóng khởi những trói buộc của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh sơ lược, giản đơn trong tư duy lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, mở ra một thời

kỳ mới cho việc nhận thức, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh Chính vì vậy, đường lối đổi mới của Đảng đã được xác định

và đường lối ấy đã không ngừng được bổ sung và phát triển trong gần hai chục năm qua

Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng ta về CNXH, về con đường đi lên CNXH và về xây dựng Đảng đã có bước phát triển rất quan trọng

Đồng thời Đảng ta cũng thấy còn nhiều vấn đề hạn chế, bất cập đòi hỏi phải được luận giải tường minh hơn nữa Càng hiểu nhiều lại càng thấy phải hiểu sâu hơn,

đầy đủ hơn Điều đó phản ánh đúng quy luật của nhận thức - từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp I đến bản chất cấp II và tiếp tục mãi

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xây dựng Đảng đang là yêu cầu bức thiết để, một mặt thấy rõ tại sao Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới lại giành

được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trơng những năm qua,

và mặt khác quan trọng hơn là để tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới Đảng, đổi mới

đất nước nhằm giành những thành tựu to 1ớn hơn nữa trong thời gian tới

II Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Ngoài nước:

Sau sự kiện chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các Đảng cộng sản ở các nước đó tan rã, hầu hết các Đảng cộng sản ở các nước đều rút kinh nghiệm để nhận thức lại nhiều vấn đề của chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH, từ đó

điều chỉnh Cương lĩnh, đường lối, chính sách, nhất là những vấn đề về Đảng và xây dựng Đảng Có mấy chiều hướng đã diễn ra:

Trang 10

- Điều chỉnh, đổi mới để kiên trì mục tiêu XHCN, kiên trì sự lãnh đạo của

Đảng, kiên trì xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin trong những điều kiện mới

- Chuyển sang trào lưu dân chủ xã hội

- Giáo điều, bảo thủ, không có những thay đổi gì lớn so với trước

Nhiều vấn đề lý luận đang được đặt ra trong việc xây dựng Đảng cộng sản cần được xem xét, phân tích, đánh giá Điều này có liên quan đến sự tồn vong của các Đảng cộng sản, đến sự phát triển hay suy thoái của phong trào cộng sản quốc

tế

Trong nước:

Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, vấn đề xây dựng Đảng đã được

Đảng ta xem xét, tổng kết nhiều lần cả về mặt thực tiễn, cả về mặt lý luận:

- Mỗi kỳ Đại hội đều có tổng kết về xây dựng Đảng, ngoài ra còn nhiều Hội nghị Ban chấp hành Trung ương bàn về vấn đề này

- Đáng chú ý là trong nhiệm kỳ khóa VII, Ban chấp hành Trung ương đã thành lập Tiểu ban Tổng kết xây dựng Đảng để tiến hành tổng kết khá toàn diện vấn đề xây dựng Đảng qua hai mươi năm thống nhất đất nước (1975 - 1995)

- Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoá VIII từ tháng 5 - 1999 đến nay đã tạo được những chuyển biến bước

đầu trong công tác xây dựng Đảng

- Trong khuôn khổ nghiên cứu khoa học xã hội, đáng chú ý là trong giai

đoạn 199l - 1995, có đề tài cấp Nhà nước ''Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản'', và trong giai đoạn 1996 - 2000 có cả một chương trình cấp Nhà nước ''Tăng cường vai trò và sức chiến đấu của Đảng cộng sản trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN'' (KHXH 05) Trong gần hai chục năm qua đã có nhiều công trình về xây dựng Đảng đã

được công bố (Lê Huy Bảo: Điều lệ Đảng từ Đại hội đến Đại hội – Lý luận và thực

Trang 11

tiễn; Lê Đức Bình: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; Trần Đình Huỳnh: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền; Lê Văn Lý: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền; Trần Đình Nghiêm (Chủ biên): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng;

Trần Đình Quảng Góp phần tìm hiếu học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng; Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (Chủ biên): Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện

nay; Lê Quang Thưởng: Một số vấn đề xây dựng Đảng về tổ chức trong giai đoạn hiện nay; Ngô Đức Tính: Xây dựng Đảng về tổ chức; Nguyễn Phú Trọng: Đảng cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước; Trần Nhâm: Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, v.v… Hàng trăm bài nghiên cứu về xây dựng Đảng đã được

đăng trên các báo và tạp chí

Những công trình và những bài viết về xây dựng Đảng như đã nêu trên đều

đề cập đến từng mặt của xây dựng Đảng Đề tài KX 03 l0 sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học để giải quyết những nhiệm vụ được đặt ra cho đề tài

III Mục tiêu của đề tài

1 Làm rõ tình hình xây dựng Đảng từ khi cả nước quá độ lên CNXH, những vấn đề cấp bách đang đặt ra đối với một Đảng cộng sản cầm quyền, duy nhất lãnh

đạo sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam trong những điều kiện mới

2 Làm rõ những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong quá trình vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận về xây dựng Đảng của chủ nghĩa

Mác - Lênin, đặc biệt là từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đến nay Những thành tựu

và hạn chế trong việc đưa những quan điểm ấy vào thực tiễn xây dựng Đảng

3 Những vấn đề lý luận về xây dựng Đảng cần làm sáng tỏ hơn nữa trong

tình hình hiện nay

Trang 12

IV Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Những vấn đề lý luận về xây dựng Đảng đối với một Đảng cầm quyền lãnh

đạo sự nghiệp xây dựng CNXH có phạm vi rất rộng Chương trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp Nhà nước KX 03 ''Xây dựng Đảng trong điều kiện mới'' bao gồm 10

đề tài, trong đó có 9 đề tài nghiên cứu về từng mặt của công tác xây dựng Đảng Trong mỗi mặt đều phải xem xét cả phần lý luận và phần thực tiễn Riêng đề tài

KX 03 10 tập trung vào một số vấn đề lý luận về Đảng và xây dựng Đảng trong

điều kiện Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH Một số không phải là tất cả Đây là một số vấn đề lý luận chung và chủ yếu nhất mà các đề tài còn ít hoặc chưa bàn đến, những vấn đề mà hiện nay trong Đảng đang còn có nhiều cách hiểu khác nhau, hoặc đang được các Đảng cộng sản các nước luận giải

rất khác nhau

V Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng ta, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp lôgíc

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

- Phương pháp tọa đàm, hội thảo khoa học

Trang 13

+ Một số đồng chí đang tham gia thường vụ các tỉnh, thành uỷ

+ Một số nhà lãnh đạo, nhà lý luận của cá Đảng cộng sản và Đảng cầm quyền các nước (Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Pháp, Thụy Điển, Italia, Bồ

Đào Nha, Hy Lạp)

VI Kết quả của đề tài

1 Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu

2 Báo cáo Tóm tắt

3 Bản kiến nghị

4 12 bài đã công bố trên các Tạp chí (trong đó có 4 bài đưa vào cuốn sách

“Một số vấn đề về xây dựng Đảng hiện nay” của Chương trình KX 03 (Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia – 2005)

Trang 14

Phần THứ NHấT

Đảng cộng sản việt nam với việc vận dụng sáng tạo

và phát triển lý luận về xây dựng đảng cầm quyền

qua 20 năm đổi mới

I Đảng cộng sản Việt Nam - Từ đảng lãnh đạo đến đảng cầm quyền

Từ khi thành lập đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã trải qua 75 năm đấu tranh đầy thử thách, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, từng bước trưởng thành và ngày càng lớn mạnh Đảng đã bước lên vũ đài chính trị với tư cách người chiến sĩ tiền phong lãnh đạo cả dân tộc đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH

Trước khi Đảng ta ra đời, ở Việt Nam đã có một số tổ chức chính trị yêu nước xuất hiện, dưới các tên khác nhau như hội, đoàn, xã, hay đảng 1 Điều này chứng tỏ phong trào yêu nước Việt Nam đang ở bước chuyển quan trọng để đi vào

đấu tranh chính trị ngày càng có tổ chức hơn Nhưng do hạn chế về lập trường giai cấp (phong kiến, tiểu tư sản hay tư sản), do không đánh giá đúng tình hình các giai tầng xã hội trong nước, tình hình thế giới và xu thế của thời đại, do không có một

lý luận khoa học làm cơ sở cho hoạt động của mình, các tổ chức chính trị ấy đã không đưa ra được đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp, không dựa vào nhân dân để xây dựng và phát triển, cuối cùng đã đành chịu thất bại Đến cuối đời, Phan Chu Trinh đã thừa nhận chủ trương ''khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh'' mà ông đưa ra, trước hết dựa vào Pháp để đánh đổ chế

độ quân chủ là sai lầm Phan Bội Châu cũng tự thấy đường lối ''ỷ ngoại đột nội'', dựa vào Nhật để đánh đuổi Pháp mà ông theo đuổi, đã làm cho ông và các đồng chí của ông ''trăm lần thất bại, không một lần thắng lợi'' Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu lại chủ trương dựa vào một số binh sĩ trong quân đội

1

Duy Tân Hội (1904), Đông Kinh nghĩa thục (1907), Việt Nam quang phục Hội (1912), Tâm Tâm Xã (1923), Việt Nam nghĩa đoàn, Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927),

Trang 15

định, cách mạng Việt Nam trước khi có Đảng cộng sản vẫn ở trong tình trạng khủng hoảng về đường lối, cả dân tộc như không có đường ra

Sau 10 năm đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đã đi đến chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường để đưa dân tộc thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng đó Đảng cộng sản Việt Nam do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện theo các nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp công nhân đã vượt qua được mọi sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, càng đấu tranh càng mạnh và giành thắng lợi ngày càng to lớn, càng được nhân dân tin cậy, bảo vệ

và ủng hộ Sự ra đời và quá trình xây dựng, trưởng thành của Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn khác với bất cứ đảng phái nào đã xuất hiện trước đó, cũng như về sau này ở Việt Nam Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được nhân dân Việt Nam thừa nhận hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, bởi mấy lẽ sau đây:

Một là, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời sau khi đã có sự chuẩn bị chu đáo về

mọi mặt: học thuyết, đường lối, tổ chức, cán bộ, tuyên truyền tổ chức đưa phong trào công nhân và phong trào yêu nước từ tự phát đi đến tự giác ngày càng cao, thiết lập mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Điều này

đã được Nguyễn ái Quốc thực hiện sau khi Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đặc biệt từ năm 1925 trở đi với việc tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên; mở các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu; viết tác phẩm Đường Cách mệnh; đưa đảng viên, cán bộ thâm nhập vào phong trào công nhân, gửi người đi học ở Quảng Châu và Mátxcơva cả về chính trị và quân sự để chuẩn bị cán bộ cho các bước phát triển của cách mạng sắp tới

1

Viện Sử học Việt Nam: Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb KHXH, HN, 1991, tr 63 - 64.

Trang 16

Hai /à, ngay sau khi ra đời, Đảng đã sớm xác định được đường lối và

phương pháp cách mạng đúng đắn Với Chính cương, Sách lược vắn tắt do Nguyễn

ái Quốc khởi thảo và được Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 thông qua, những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp cách mạng như: mục tiêu cách mạng, con đường đi từ cách mạng tư sản - dân quyền kiểu mới, cách mạng thổ địa

đến cách mạng XHCN, xây dựng Đảng của giai cấp công nhân, liên minh công - nông, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, phương pháp đấu tranh giành chính quyền đều đã được xác định phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam

Bốn là, thông qua phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, Đảng

không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng các tổ chức đảng và cả đội ngũ cán bộ, đảng viên từ trên xuống dưới trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó với quần chúng nhân dân, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, giữ được uy tín với nhân dân, được nhân dân tin cậy và thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng

Có thể khẳng định rằng ở Việt Nam không có một đảng phái yêu nước nào

đã được xây dựng như Đảng cộng sản Việt Nam Còn đối với các đảng phái phản

động mà quyền lợi gắn với thực dân đế quốc hay nước ngoài thì hoàn toàn không thể có chỗ đứng trong lòng dân tộc Việt Nam Điều này có thể thấy ở hàng loạt các

đảng phái thân Nhật xuất hiện trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, như: Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đảng Phụng sự quốc gia, Đại Việt quốc gia liên minh (ở Bắc Kỳ); Đảng Việt Nam quốc gia độc lập, Nhật - Việt phòng vệ đoàn (ở Nam Kỳ) Các đảng phái này đều được thành lập một cách vội vã, để rồi tan vỡ rất nhanh chóng Sau Cách mạng Tháng Tám lại có một vài đảng phái phản động như: Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Việt Nam cách mạng đồng minh hội của Nguyễn Tường Tam, Chu Bá Phượng, hoàn toàn sống nhờ

Trang 17

đường lối ấy nhằm đem lại lợi ích cho dân, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc và CNXH Quan hệ Đảng với dân là quan hệ máu thịt - dân tìm thấy ở Đảng người dẫn đường trong đấu tranh cách mạng; Đảng tìm thấy ở dân chỗ dựa vững chắc, lực lượng vô địch trong hai cuộc cách mạng nối tiếp nhau, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng XHCN trong cả nước Vì vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định như một tất yếu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam không tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng với bất cứ đảng phái nào khác; ngược lại các đảng phái chính trị đã có ở Việt Nam cũng không thể tranh giành quyền lãnh đạo với Đảng cộng sản

Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng qua hai thời kỳ: 15 năm đầu (1930 - 1945) là

thời kỳ chưa giành được chính quyền; 60 năm trở lại đây (1945 - 2005) là thời kỳ

Đảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ được chính quyền thực dân, phong kiến để xây dựng chính quyền nhân dân, từ đó Đảng trở thành đảng cầm quyền

Lãnh đạo là ''đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện''1, còn cầm quyền có nghĩa là ''nắm giữ chính quyền''2 Khái niệm đảng lãnh đạo là để chỉ vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay, có nghĩa là trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam; còn khái niệm đảng cầm quyền là để chỉ vai trò của Đảng khi đã giành được chính quyền, cũng có nghĩa là Đảng lãnh đạo khi đã có chính quyền, lãnh đạo bằng chính quyền, thông qua chính quyền và các

đoàn thể nhân dân lãnh đạo toàn xã hội Khái niệm đảng cầm quyền đã được Lênin nêu ra; sau này Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng đã sử dụng các khái niệm như

đảng giành được chính quyền, đảng nắm chính quyền, đảng cầm quyền khi đề cập

đến vai trò của Đảng đối với xã hội ở Trung Quốc, người ta thường dùng khái

1 Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1996, tr 524

2 Sđd, tr 117

Trang 18

niệm đảng chấp chính để chỉ đảng cầm quyền, để phân biệt với đảng tham chính có nghĩa là các đảng phái khác “tham gia chính quyền ở một cương vị nào đó”1

Sự lãnh đạo của Đảng trước khi có chính quyền khác rất nhiều so với khi đã

có chính quyền Trước khi có chính quyền, Đảng không có bất cứ quyền lực nào

đối với dân, đối với toàn xã hội Trong điều kiện hoạt động bất hợp pháp, mọi

đường lối, chủ trương của đảng có đến được với dân hay không chủ yếu là do các

tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến các hội,

đoàn thể, đến các quần chúng ''cốt cán'' của đảng, thậm chí đến từng người dân, từ

đó tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của đảng Đảng phải được dân tin, dân yêu, dân nuôi, dân bảo vệ; mọi sự xa rời nhân dân đều có thể dẫn đến tổn thất cho cách mạng, cho sinh mệnh của ngay người cán bộ, đảng viên Lúc này không có điều kiện để phát sinh, phát triển các tệ nạn như quan liêu, mệnh lệnh, ức hiếp quần chúng như sau này

Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Khi đã có chính quyền thì chính quyền là công cụ mạnh mẽ để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhân dân, Đảng lại lãnh đạo chính quyền (nhà nước) thể chế hóa mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, thành các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức nhân dân thực hiện Tình hình này rất dễ dẫn đến những tệ nạn đối với một Đảng cầm quyền cũng như đối với nhà nước do Đảng cộng sản lãnh đạo Thực chất của đảng cầm quyền 1à ở chỗ đảng lãnh đạo chính quyền, nhưng nhân dân là chủ, để nhân dân làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội Tuy nhiên, quyền lực lại dễ biến Đảng thành một tổ chức đứng trên nhà nước, trên pháp luật, thành tổ chức siêu quyền lực, siêu nhà nước Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực đều là của nhân dân, nhân dân uỷ nhiệm nhà nước thực thi quyền lực của nhân dân trong toàn xã hội, nhưng những người nắm quyền lực nhà nước vốn là đại biểu được nhân dân bầu ra, lại dễ biến quyền lực đó thành quyền lực của mình Việc sử dụng quyền lực có tính chất cưỡng chế của nhà nước cũng rất dễ làm cho không ít tổ chức đảng và cán bộ đảng viên coi nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhân dân trong công tác lãnh đạo

1 Viện Ngôn ngữ học; Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1996 tr 878

Trang 19

Là người lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên và thành lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, Lê nin đã vạch rõ những tệ nạn như quan liêu, dốt nát, kiêu ngạo cộng sản từ rất sớm và đòi hỏi Đảng Cộng sản (b) Nga khi

đã trở thành đảng cầm quyền phải kiên quyết chống lại những tệ nạn này Là người lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi đầu tiên trên thế giới trong thế kỷ XX và thành lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á, Hồ Chí Minh cũng đã vạch rõ tham ô, lãng phí, quan liêu là ba thứ giặc nội xâm có thể biến một người có công trở thành kẻ có tội, thậm chí làm đổ vỡ cả sự nghiệp của một đảng cầm quyền Đáng tiếc là những tệ nạn ấy đã diễn ra ở tất cả các nước XHCN, ở tất cả các đảng cộng sản cầm quyền và đã trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến sự tan rã của đảng cộng sản và sự sụp đổ của chế độ XHCN

ở Liên Xô và Đông Âu thời gian cuối thế kỷ XX Như vậy, việc xây dựng một đảng cộng sản cầm quyền không phải chỉ có thuận lợi, mà còn không ít thách thức cần phải vượt qua, nguy cơ cần phải đẩy lùi Đảng phải thường xuyên tự vượt lên chính bản thân mình để luôn luôn xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, như Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh, để không rơi vào vòng tuần hoàn hết thịnh đến suy, hết hưng đến vong như đã diễn ra trong lịch sử

ở nước ta sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, nhưng không phải trong suốt 60 năm qua chỉ có một đảng cộng sản là đảng duy nhất có mặt trên chính trường Việt Nam Trong năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, từ tháng 9 – 1945 đến gần cuối năm 1946, đã có bốn đảng phái khác tham gia chính quyền, trong đó có hai đảng phái dân chủ ủng hộ Đảng cộng sản (Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt

Trang 20

Nam) và hai đảng phái phản động chống Đảng cộng sản (Việt Nam quốc dân

Đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội, gọi tắt 1à “Việt quốc”, “Việt cách”) Hai đảng ''Việt quốc'', ''Việt cách'' là hai đảng phản động theo chân quân Tưởng về nước ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Được quân Tưởng hậu thuẫn, chúng đưa ra những yêu sách rất ngang ngược: đòi cải tổ chính phủ, gạt những người cộng sản ra khỏi chính phủ lâm thời, thậm chí chúng còn đòi Chủ tịch

Hồ Chí Minh phải từ chức để chúng nắm những chức vụ quan trọng trong chính phủ, đòi thay đổi Quốc kỳ, Quốc ca Chủ trương lãnh đạo của Đảng ta lúc bấy giờ

là không thể để bọn phản động trong nước và các thế lực đế quốc, phản động bên ngoài cấu kết với nhau để chống phá cách mạng Nhưng chống bọn phản động ''Việt quốc'', ''Việt cách'' phải đạt yêu cầu vừa hoà hoãn với quân Tưởng, vừa vạch

rõ âm mưu lừa bịp, giả danh cách mạng của chúng trước nhân dân, đồng thời củng

cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng ta lãnh đạo

Trong tình thế hết sức hiểm nghèo, Đảng ta đã chủ động đề ra một số biện pháp nhân nhượng để hòa hoãn với quân Tưởng và bọn tay sai Trước hết là việc ngày l1 tháng 1l năm 1945, Đảng cộng sản tuyên bố tự giải tán Sau đó, mở rộng thêm 70 ghế trong Quốc hội, 4 ghế bộ trưởng ngoại giao, kinh tế, canh nông, xã hội trong số 10 bộ của Chính phủ cho bọn ''Việt quốc'', ''Việt cách'' Khi quân Tưởng không thực hiện được âm mưu ''Diệt Cộng cầm Hồ'' phải rút khỏi đất nước

ta thì tất cả bọn này cũng bỏ chạy, đem theo sự ô nhục không bao giờ rửa sạch Sau này, sự kiện Đảng tuyên bố tự giải tán được Hồ Chí Minh giải thích: ''Việc Đảng tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào bí mật và dù bí mật,

Đảng vẫn lãnh đạo nhân dân''1 Bài học kinh nghiệm quan trọng về sự lãnh đạo của

Đảng trong thời kỳ này là: Nguyên tắc phải giữ vững, sách lược phải mềm dẻo, ''dĩ bất biến, ứng vạn biến'', Đảng tin ở dân, dân tin ở Đảng thì bất kể tình hình như thế nào, chính quyền vẫn thuộc về nhân dân, quyền lãnh đạo vẫn thuộc về Đảng

Từ năm 1947 đến năm 1988, ngoài Đảng cộng sản lãnh đạo chính quyền, chỉ còn hai đảng phái dân chủ tiếp tục tham gia chính quyền Đảng Dân chủ Việt Nam

là đảng của giới công chức và tư sản dân tộc Việt Nam ra đời ngày 30 tháng 6 năm

1 Hồ Chí Minh: toàn tập , tập 6, Nxb CTQG HN, 1996 tr 161

Trang 21

1944 Tháng 7 năm 1944 Đảng Dân chủ Việt Nam tự nguyện gia nhập Mặt trận

Việt Minh và cùng các Hội cứu quốc tham gia tích cực vào quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, cũng như công cuộc kháng chiến kiến quốc sau này Đảng Xã hội Việt Nam là đảng của giới trí thức, được thành lập ngày 22 tháng 7 năm 1946, nhằm tập hợp giới trí thức yêu nước Việt Nam sát cánh cùng đồng bào cả nước, cùng góp sức vào việc giữ vững chính quyền cách mạng,

đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng đất nước Trong những năm tồn tại của mình, cả hai đảng phái dân chủ trên đều thừa nhận sự lãnh

đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và đã đóng góp phần quan trọng vào việc củng

cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và bước đầu cách

đề chủ yếu đối với một đảng cộng sản cầm quyền là làm sao giữ vững được vai trò cầm quyền của mình bằng đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp và đặc biệt quan trọng là bằng sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng cũng như của cả đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng Trong suốt ba phần tư thế kỷ tồn tại và phát triển, từ lãnh đạo cách mạng trong điều kiện hoạt động bất hợp pháp đến khi trở thành đảng cầm quyền, từ cầm quyền khi có nhiều đảng phái khác tham chính đến khi trở thành một đảng duy nhất cầm quyền, từ cầm quyền trên nửa nước đến cầm quyền trong cả nước, từ lãnh

đạo chiến tranh là chủ yếu đến lãnh đạo xây dựng đất nước trong hòa bình, Đảng ta

1 Ngày 15 tháng 10 năm 1988, Đảng Xã hội Việt Nam tuyên bố kết thúc 42 năm hoạt động, còn Đảng Dân chủ Việt Nam tuyên bố kết thúc 44 năm hoạt động vào ngày 20 tháng 10 năm 1988

Trang 22

là một Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là một Đảng cầm quyền trong những hoàn cảnh rất khác nhau, rất phức tạp Sự lãnh đạo của Đảng đã phải thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của nhiệm vụ cách mạng, của tình hình trong và ngoài nước Điều này đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử, qua các giai đoạn, các thời kỳ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Điều này cũng

đang được thể hiện trong hoàn cảnh mới, điều kiện mới hiện nay

II Điều kiện và yêu cầu mới về xây dựng Đảng cầm quyền

1 Điều kiện mới với những thời cơ, thách thức, nguy cơ mới

1.1 Điều kiện mới

Công cuộc đổi mới được mở đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng là đúng 20 năm Việc xây dựng

đảng đã và đang diễn ra trong những điều kiện khác hẳn trước

ở trong nước, sau khi giải phóng miền Nam năm 1975, Đảng ta chủ trương thực hiện ngay việc thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH Chủ trương

đó là hoàn toàn đúng đắn, vì nó phù hợp với Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng của cả dân tộc ta Nếu việc thực hiện thống nhất đất nước để chậm lại một số năm như có ý kiến đã đề xuất lúc đó thì chắc chắn sẽ có nhiều điều phức tạp không dễ giải quyết về sau này Nhưng do ''chủ quan duy ý chí'' nên đã dẫn đến ''sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện'' trong công tác lãnh đạo của Đảng1, nước ta đã rơi vào tình trạng hết sức khó khăn từ cuối những năm 70: khủng hoảng kinh tế - xã hội đã dần dần bộc lộ và ngày càng nghiêm trọng2, đất nước dần dần bị cô lập với nhiều nước trên thế giới Tình hình ấy buộc Đảng và nhân dân ta phải tìm mọi cách thoát ra khỏi bế tắc để tiếp tục đưa đất nước đi lên

Trong thời gian đất nước ta lâm vào khủng hoảng thì khủng hoảng cũng diễn

ra ở tất cả các nước XHCN khác, đặc biệt ở hai nước XHCN lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc Theo quan niệm cũ, các Đảng cộng sản cầm quyền đều cho rằng

1 Xem Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tr 19

2 Mãi đến năm 1989, Đảng ta mới chính thức thừa nhận khủng hoảng kinh tế- xã hội

Trang 23

khủng hoảng chỉ gắn với CNTB, chứ không thể có trong CNXH; vì vậy mặc dầu khủng hoảng đã âm ỉ, kéo dài từ lâu, cũng đã được không ít các nhà khoa học, các nhà lý luận phân tích vạch rõ, nhưng khủng hoảng vẫn được che dấu bằng nhiều cách giải thích khác nhau Đến lúc khủng hoảng bộc phát, tất cả các nước XHCN buộc phải công khai thừa nhận Như vậy, khủng hoảng không phải chỉ gắn với một

chủ trương, chính sách nhất định, mà là gắn với cả đường lối tổng thể của mỗi

Đảng, không phải chỉ có tính chất riêng lẻ ở một vài nước XHCN, một vài đảng cộng sản cầm quyền, mà là có tính chất hệ thống trong cả hệ thống XHCN, trong tất cả các đảng cộng sản cầm quyền Khủng hoảng còn diễn ra trong quan hệ giữa các đảng cộng sản, nhất là giữa các đảng cộng sản cầm quyền cũng như giữa các nước XHCN, với những vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc

tế vô sản và chủ nghĩa quốc tế XHCN Trong tình hình ấy, chúng ta không thể trông chờ ở sự giúp đỡ từ bên ngoài, mà phải tự tìm tòi, thử nghiệm để tìm ra con

đường đi lên CNXH phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta Đương nhiên, việc tham khảo kinh nghiệm của các nước khác là cần thiết, nhưng tham khảo không có nghĩa là rập khuôn, giáo điều, như đã từng mắc phải trong nhiều năm trước

Để thoát ra khỏi khủng hoảng, do điều kiện đặc thù của mình, Trung Quốc

thực hiện cải cách mở cửa từ năm 1979 Đến năm 1985, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đi vào cải tổ Còn ở Việt Nam, qua 6 năm tìm tòi, thử nghiệm,

thực hiện một số đột phá (1979 - 1985), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của

Đảng ta năm 1986 đã quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của cách mạng nước ta “Đổi mới” không phải là một khái niệm mới; nhưng được sử dụng trong thời điểm bức xúc đòi hỏi phải đưa

đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, bế tắc, khái niệm ''đổi mới'' được đưa vào

đường lối của Đảng lại có ý nghĩa hết sức quan trọng, thôi thúc toàn Đảng, toàn

dân ta như bước vào một cuộc chiến đấu mới, một cuộc cách mạng mới

Cải cách, cải tổ hay đổi mới, nếu xét về nguyên nhân đặt vấn đề cũng như

mục tiêu cần đạt tới là có cùng nghĩa Nguyên nhân là do mô hình CNXH không phù hợp, cần phải thay đổi nhận thức về CNXH cũng như phải thay đổi về phương

Trang 24

pháp xây dựng CNXH Mục tiêu của tất cả những thay đổi đó không phải là làm mất CNXH, mà là phải làm sao để có được CNXH ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, khái niệm đổi mới mà Đảng ta sử dụng là rất thích hợp; nó không phải chỉ

đáp ứng đòi hỏi trước mắt, do yêu cầu nhất thời phải thay đổi những gì không còn phù hợp, phá bỏ những cản trở đối với sự phát triển, mà còn phản ảnh quy luật của

sự phát triển Chính vì vậy, khái niệm đổi mới từ những năm 90 đến nay đã được

nhiều Đảng cộng sản kể cả những đảng chưa giành được chính quyền, sử dụng khá nhiều trong các văn kiện của mình Đảng cộng sản Trung Quốc cho rằng công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc là cuộc vận động tự đổi mới, là sự tự đổi mới và hoàn thiện của bản thân chế độ XHCN1 Đại hội Đảng cộng sản Tái lập

Italia (PRC) tháng 4 – 2002 đã được tiến hành với khẩu hiệu “Đổi mới – cấp tiến –

sâu sắc cả quan niệm của Đảng để phục vụ cho cuộc đấu tranh cách mạng của thời

đại chúng ta Nỗ lực đổi mới đó là điều sống còn”3 Đảng cộng sản Tuy – ni – di

đổi tên với tên mới là “Phong trào đổi mới”4 ở Nhật Bản, người ta cho rằng hệ thống chính trị của Nhật là một hệ thống năng động mà sự ổn định của nó là kết quả của quá trình thường xuyên đổi mới5 Qua 25 năm thực hiện đường lối cải cách, mở cửa, Đảng cộng sản Trung Quốc đã chính thức sử dụng khái niệm đổi mới trong văn kiện Đảng như: “Tăng cường và đổi mới toàn diện xây dựng Đảng”,

“thúc đẩy đổi mới thể chế quản lý xã hội”, “đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng”6

Đương nhiên vấn đề không phải là ở khái niệm cải cách, cải tổ hay đổi mới

mà là ở việc biến khái niệm đó thành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản cầm quyền để đi đến những đổi mới thực sự trong cuộc sống Thực tiễn cải cách, cải tổ, đổi mới ở các nước XHCN và các Đảng cộng sản cầm quyền đã và

đang chứng minh điều đó

1 Xem Nhiệm Khắc Lễ: Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay Nxb CTQG, HN, 1995, tr 31, 42

2 Chương trình KX 08 Báo cáo một số kết quả chính của Đoàn nghiên cứu, khảo sát tại Hy Lạp và Italia, tháng 3-

2002

3 Thông tin những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo, số 17, tháng 9/ 2004, tr 6

4 Ban Đối ngoại TW: Tổng hợp Báo cáo chuyên đề “Tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào hoà bình và dân chủ trên thế giới, tháng 9 – 2004

5 Thông tin những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo, số 2, tháng l/ 2005, tr 49.

6 Thông báo của Hội nghị TW 4 ĐCS Trung Quốc 16 – 19/9/2004

Trang 25

Lúc đầu chúng ta hoàn toàn không chú ý đến việc cải cách mở cửa ở Trung Quốc1, mà chỉ chú ý đến công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu Trong khi Trung Quốc thu được những thành tựu ngày càng to lớn trong cải cách

mở cửa thì Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu lại càng sa lầy trong cải tổ Công cuộc cải tổ càng triển khai thì khủng hoảng càng trầm trọng hơn, từ khủng hoảng kinh tế - xã hội đã đi đến khủng hoảng chính trị, từ khủng hoảng ngoài xã hội đã đi

đến khủng hoảng trong đảng, từ khủng hoảng một mặt đã đi đến khủng hoảng toàn diện Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, bên trong và bên ngoài, sâu

xa và trước mắt, mà tựu trung là sai lầm về nhận thức đối với CNXH, về thực hiện quá lâu một mô hình CNXH không phù hợp, sai lầm về đường lối và phương pháp tiến hành cải tổ của đảng cộng sản cầm quyền, sự xa rời của đảng cộng sản đối với giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân đông đảo, sự phản bội của một số người lãnh đạo chủ chốt, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự thực hiện chiến lược ''diễn biến hòa bình'' của chủ nghĩa đế quốc, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã bị thất bại, cuối cùng chế độ XHCN bị sụp đổ, các

đảng cộng sản cầm quyền tan rã

Như vậy, cuộc khủng hoảng diễn ra ở các nước XHCN vào mấy chục năm cuối thế kỷ XX có gì khác so với các cuộc khủng hoảng đã diễn ra ở các nước TBCN?

Khủng hoảng luôn gắn với CNTB, đây là quy luật không ai có thể phủ nhận Trong quá trình tồn tại và phát triển, CNTB đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng và nhiều loại khủng hoảng khác nhau - từ khủng hoảng về một loại sản phẩm hay một lĩnh vực kinh tế, một ngành kinh tế đến khủng hoảng cả nền kinh tế, từ khủng hoảng chu kỳ đến tổng khủng hoảng trong cả hệ thống TBCN Nhưng có điều phải thừa nhận là dù cho tổng khủng hoảng có diễn ra trong cả nền kinh tế hay cả hệ thống TBCN thì cũng chỉ dẫn đến tình hình là làm cho mọi hoạt động kinh tế bị rối loạn, đình đốn, suy đồi trong một thời gian nhất định, đời sống của các tầng lớp nhân dân, chủ yếu là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bị điêu đứng, còn

1 Do Trung Quốc gây ra chiến tranh biên giới phía Bắc nước ta tháng 2 - 1979, ủng hộ Khơ me đỏ, chúng ta đã coi Trung Quốc lúc đó là đối tượng trực tiếp

Trang 26

chế độ TBCN và hệ thống TBCN vẫn chưa bị sụp đổ Sau khủng hoảng, sau những

cơn ''rẫy chết'', CNTB lại tìm mọi cách để phục hồi và phát triển tiếp

Tình trạng khủng hoảng của CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu thì lại khác Nó đã làm cho chế độ XHCN ở các nước đó bị sụp đổ, các Đảng cộng cầm quyền bị tan rã, đồng thời làm cho hệ thống XHCN không còn tồn tại Sự tan rã của các đảng cộng sản ở các nước đó đã làm cho phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Nhiều đảng cộng sản đổi tên hoặc chia ra làm nhiều đảng khác nhau; nhiều đảng viên cộng sản

từ bỏ đảng; đại bộ phận giai cấp công nhân ở các nước tư bản ngả về phía các đảng dân chủ xã hội hoặc trở về với chủ nghĩa công liên, như Lê nin đã phân tích cách

đây đúng một thế kỷ1 Những biến động trên đã vượt ra khỏi mọi sức tưởng tượng không chỉ ở những người cộng sản, những người cách mạng trên thế giới, mà còn ở cả những chính khách, những nhà tư tưởng ở các nước tư bản luôn đối lập với CNXH, CNCS Thực tế này buộc chúng ta phải nhận thức lại cho đúng lý luận về

khủng hoảng: một là, khủng hoảng là tất yếu trong CNTB vì nó gắn với bản chất

của CNTB; nhưng khủng hoảng vẫn có thể xẩy ra trong CNXH nếu đường lối của

Đảng cộng sản cầm quyền phạm phải sai lầm nghiêm trọng; hai là, nếu Đảng cộng

sản cầm quyền sớm nhận thức được tình hình khủng hoảng để điều chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách thì có thể hạn chế và vượt qua được khủng hoảng, ngược lại, khủng hoảng có thể dẫn đến làm sụp đổ cả chế độ XHCN

Sự đổ vỡ của Liên Xô và Đông Âu cùng với sự thoái trào của phong trào XHCN thế giới thực sự 1à một trong những biến động lớn nhất cuối thế kỷ XX, nhưng lại là tổn thất to lớn nhất của phong trào cách mạng thế giới trong thời đại mới, đã được mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Đây cũng

là đặc điểm lớn nhất của hoàn cảnh mới, điều kiện mới, đòi hỏi Đảng ta phải đánh

1 Đảng cộng sản Liên Xô trước khi tan rã có số lượng đảng viên là 20 triệu, đến nay Đảng cộng sản Liên bang Nga chỉ có 50 vạn đảng viên (2,5% so với trước đây) Số lượng đảng viên Đảng cộng sản Pháp có thời kỳ lên tới 700 ngàn nhưng hiện nay chỉ có khoảng 20 ngàn; Đảng cộng sản Italia hiện nay chia thành 3 Đảng: Đảng của những người cộng sản Italia, Đảng Dân chủ cánh tả Italia, Đảng cộng sản Tái lập Italia; Đảng cộng sản Thuỵ Điển cũng chia thành 3 đảng: Đảng cánh tả Thụy Điển, Đảng mác xít Lênin nít Cách mạng Thụy Điển, Đảng cộng sản Thuỵ

Điển (Báo cáo khảo sát của Chương trình KX 03, tháng 9 năm 2004).

Trang 27

giá thật đúng đắn tình hình, phân tích thật cặn kẽ cả về lý luận và thực tiễn để xây dựng Đảng ta thực sự 1à một đảng cách mạng chân chính, có đủ bản lĩnh vượt qua

mọi bước hiểm nghèo Đặc điểm trên thực sự là điều bất lợi đối với Đảng ta; nhưng

mặt khác, đây cũng là điều kiện mới để khắc phục tình trạng phân biệt “Đảng lớn -

Đảng nhỏ”, “Đảng lớn có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng nhỏ” trong phong trào cộng sản quốc tế và cũng để Đảng ta hoàn toàn chấm dứt tình trạng có phần vị nể, dè dặt đối với hai Đảng lớn là Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng cộng sản Trung Quốc mỗi khi có quyết định về đường lối, chủ trương lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ta

Biến động trên đây cũng làm cho mọi thế lực thù địch với CNXH trên thế giới đẩy mạnh cuộc tiến công vào các Đảng cộng sản cầm quyền ở một số nước XHCN còn lại, trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam Chúng hy vọng đây là thời cơ mà “lịch sử sẽ kết thúc” bằng sự thắng lợi hoàn toàn và triệt để của CNTB Những kẻ chống đối ở trong nước ta muốn phủ nhận CNXH và sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản nhân cơ hội này cũng ra sức hoạt động chống phá Đảng ta, trước hết là gây nên tình trạng mất ổn định về tư tưởng, chính trị, với hy vọng gây tâm lý chống đối từ trong để đi đến những hành động chống đối nhằm lật đổ chế độ XHCN, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản như đã diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong những năm 1989 - 1991 Đây cũng là một điều kiện mới mà Đảng ta phải đối mặt khi bước vào thời kỳ đổi mới, cũng như trong suốt tiến trình đổi mới Việc xây dựng Đảng phải đặc biệt coi trọng để Đảng đứng vững trong mọi tình huống, cũng như đã đứng vững trong thế “ngàn cân treo sợi tóc” ở những năm 1945 - 1946

Hoàn cảnh mới, điều kiện mới còn thể hiện ở việc Đảng ta phải tìm cho được con đường đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa đất nước vững bước theo con đường XHCN đã lựa chọn Đó là việc chuyển nền kinh tế nước ta từ kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN;

từ kinh tế khép kín đến kinh tế mở, thực hiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chấp nhận toàn cầu hóa kinh tế là xu thế chung của thế giới hiện đại Đó là việc nước ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa phương, đa dạng, kể cả với các nước

đã từng đem quân xâm lược nước ta, với các tổ chức quốc tế mà trước kia chúng ta

Trang 28

vẫn coi là công cụ của CNTB đế quốc Đấy là chưa kể đến những biến động theo gia tốc của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX đến nay đang đưa nhân loại bước vào một nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức; đến những vấn đề toàn cầu như thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, buôn bán ma tuý, di dân, tăng dân số có liên quan đến hầu hết các nước; đến chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang gây nên những chấn động không thể lường trước ở nhiều nơi trên thế giới… Tất cả đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng nâng cao tầm tư tưởng, tầm trí tuệ đế xử lý kịp thời và đúng đắn những vấn

đề mới ấy

Tình hình trên đặt ra cho Đảng ta và nhân dân ta không ít thời cơ, thách và nguy cơ khi đi vào đổi mới cũng như trong toàn bộ tiến trình đổi mới

1.2 Thời cơ, thách thức, nguy cơ mới

Thời cơ là những thuận lợi giúp con người thực hiện mục tiêu đã định được

nhanh hơn và có kết quả nhiều hơn Thời cơ do khách quan đem lại, hoặc cũng có thể do chủ quan tạo ra Nếu khách quan đem lại thì đòi hỏi con người phải kịp thời phát hiện thời cơ, nắm thời cơ, chớp thời cơ, không để lỡ thời cơ Nếu do chủ quan tạo ra thì đòi hỏi con người phải chủ động tạo thời cơ, không thụ động trông chờ những thuận lợi từ ngoài đến Sự xuất hiện của thời cơ cũng như sự tồn tại của thời cơ chỉ có trong một thời gian nhất định Trong khởi nghĩa hay trong chiến tranh, thời cơ có thể tính từng ngày, từng giờ; trong xây dựng hòa bình hay hội nhập kinh

tế khu vực và thế giới, thời cơ có thể lâu hơn nhưng cũng không phải kéo dài mãi

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta

đã có nhiều kinh nghiệm trong nghệ thuật nắm thời cơ và tạo thời cơ để đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Khi đi vào thời kỳ đổi mới và trong suốt 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng và nhân dân ta đứng trước những thời cơ lớn Đó là:

- Sự ủng hộ của nhân dân thế giới, của nhiều nước đối với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam Nhiều đảng cộng sản và công nhân hy vọng Đảng ta với

đường lối đổi mới toàn diện không những sẽ mở ra con đường đi đến thắng lợi của

Trang 29

CNXH ở Việt Nam, mà còn góp phần quan trọng vào việc khắc phục sự khủng hoảng của CNXH trên thế giới

- Sự hưởng ứng và quyết tâm của nhân dân thực hiện đường lối đổi mới do

cộng sản đề ra; sự đồng thuận xã hội ngày càng tăng, đại đoàn kết dân tộc ngày càng mạnh, nhiều động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước được phát hiện

- sự hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, sự hợp tác đa phương, da dạng của nước ta với các nước, các chính phủ, các đảng cầm quyền, các tổ chức quốc tế trên nhiều lĩnh vực làm cho nước ta nhận được sự ủng hộ ngày càng nhiều

- Những bất đồng giữa nước ta và các nước được tháo gỡ, giải quyết bằng con đường đàm phán, thương lượng hòa bình

- Sự ổn định chính trị - xã hội, lực lượng lao động dồi dào với giá rẻ tạo môi trường thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đến làm ăn với Việt Nam

- Nước ta có lợi thế của nước đi sau, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, tranh thủ những thành quả của khoa học - công nghệ, khoa học quản lý kinh tế và quản lý xã hội hiện đại để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thời

kỳ quá độ rút ngắn đưa đất nước đi lên CNXH

- Hòa bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế chủ yếu của thế giới hiện

đại, phong trào chống mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế đang thu hút ngày càng

đông đảo nhân dân các nước, nhất là nhân dân ở các nước tư bản phát triển, tạo

nhiều thuận lợi cho Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới

Bên cạnh thời cơ như đã nêu trên, cũng xuất hiện những thách thức, nguy cơ

mới

Trong những năm 70, thế kỷ XX, Đảng ta đã sớm cảnh báo về 2 nguy cơ đối

với một Đảng cầm quyền: một là, sai lầm về đương lối; hai /à, suy thoái, biến chất

của cán bộ, đảng viên Luận điểm này không chỉ có ý nghĩa lúc đó, mà còn có ý nghĩa lâu dài, hơn nữa còn có tính phổ biến đối với mọi Đảng cộng sản cầm quyền Bước vào thời kỳ đổi mới, luận điểm này lại được nhắc lại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, tháng 6 1991): “phải phòng và chống được những nguy cơ lớn: sai

Trang 30

lầm về đương lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng

viên''1

Từ thực tiễn triển khai đường lối đổi mới, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1 - 1994) đã chỉ ra 4 thách thức lớn, đồng thời cũng là 4 nguy cơ lớn:

''Trước mắt nhân dân ta là những thách thức lớn…

Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước

trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao

và chưa vững chắc; lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy

cơ chệch hướng XHCN nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ

trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ ''diễn biến hòa bình'' của các thế lực thù địch Các nguy cơ đó có liên

quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau''2

Đó cũng là những nguy cơ đối với Đảng ta

Trong những nguy cơ ấy, có nguy cơ do bên ngoài đưa đến như ''diễn biến hòa bình''; có nguy cơ hoàn toàn do sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên tạo ra như nạn tham nhũng và tệ quan liêu; có nguy cơ do sự bất cập về chủ trương, chính sách, sự non yếu của bộ máy của chúng ta gây ra như tụt hậu xa hơn

về kinh tế Cũng có nguy cơ do bên trong không vững vàng và bên ngoài tìm mọi cách tác động như chệch hướng xã hội chủ nghĩa Trong mối quan hệ chủ quan - khách quan, bên trong - bên ngoài, thì phía chủ quan, phía bên trong là quyết định Nếu phía chủ quan, phía bên trong vững mạnh thì phía khách quan, phía bên ngoài không thể gây ra được những tác hại lớn và mọi âm mưu và hành động chống phá nhất định sẽ bị thất bại

Tuy nhiên, cũng có thể phân biệt thách thức với nguy cơ Thách thức là những gì chúng ta phải chấp nhận, phải gia nhập, phải hòa mình vào chúng để vượt qua chúng Nếu vượt qua được thì chúng ta sẽ càng được tôi luyện và càng giành

1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tr 6

2 Văn kiện Hội nghị đại biếu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, tr 25 Những chỗ nhấn mạnh là của người viết.

Trang 31

thắng lợi nhiều hơn, lớn hơn cho sự nghiệp đổi mới Còn nguy cơ là những gì có thể đe doạ sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, vận mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ XHCN Đối với nguy cơ, chúng ta phải dự báo, đề phòng, ngăn chặn để không xẩy ra; nhưng một khi đã xẩy ra thì kiên quyết đẩy lùi hoặc đập tan, không

để chúng đưa đến những tổn thất cho sự nghiệp đổi mới… Thời cơ, thách thức và nguy cơ luôn đan xen nhau và giữa chúng có mối quan hệ biện chứng Có thời cơ

đồng thời và thách thức, còn thách thức nếu không vượt qua được thì lại trở thành nguy cơ không thể coi thường Điều này thấy rõ trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cũng như trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN và tiến hành hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là thời cơ để phát triển nền kinh tế của nước ta, thì mặt trái của kinh tế thị trường và những phức tạp của hội nhập luôn luôn là những thách thức

đòi hỏi chúng ta phải vượt qua, không để chúng gây nên những tổn thất cho nền kinh tế, càng không để chúng trở thành nguy cơ nhấn chìm chúng ta trong kinh tế thị trường cũng như hòa tan chúng ta trong hội nhập Điều đó không hề làm chúng

ta chùn bước, mà chỉ thúc đẩy chúng ta quyết tâm hơn trong việc nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy lùi nguy cơ trong suốt tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới

2 Những yêu cầu mới về xây dựng Đảng

Công cuộc đổi mới diễn ra trong những điều kiện mới, với những thời cơ, thách thức, nguy cơ mới lại đặt ra những yêu cầu mới về xây dựng đảng Trong Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng mở

đầu thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã đưa ra yêu cầu bao quát là phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

về chính trị, tư tưởng và tổ chức với những nội dung mới, không giống các thời kỳ trước kia

2.1 Đổi mới Đảng để Đảng vươn lên ngang tầm của một Đảng cầm quyền trong thời kỳ đổi mới

Trang 32

''Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn''1 Nhận định trên đây của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng đi lên của đất nước ta trong suốt 20 năm qua và còn lâu dài về sau Có đổi mới, đất nước ta mới thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và phát triển theo con đường XHCN

Điều đó cũng hoàn toàn đúng với vấn đề xây dựng đảng Là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta phải đổi mới trước Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng

Qua những năm tìm tòi, thử nghiệm, sự thay đổi trong tư duy, nhận thức đã từng bước diễn ra ở không ít cán bộ lãnh đạo và quản lý, cán bộ khoa học và nghiên cứu, cán bộ và quần chúng ở cơ sở Có những nhận thức, quan điểm cũ lạc hậu, lỗi thời, sai trái đã dần dần nhường chỗ cho những nhận thức, quan điểm mới

đúng đắn, phù hợp với sự chuyển động của thực tiễn nước ta Chính vì vậy mới có

đường lối đổi mới toàn diện được đưa ra và thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu Yêu cầu đổi mới

Đảng được đặt ra với toàn đảng, từ người lãnh đạo đến đảng viên thường, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến các cấp uỷ ở cơ sở Yêu cầu này cũng gắn liền với toàn bộ tiến trình đổi mới đất nước ta Đổi mới Đảng đòi hỏi Đảng phải từ bỏ những cách nghĩ, cách làm không đúng trong xây dựng đảng về tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, về đạo đức, tác phong và phương thức lãnh đạo để từ đó Đảng xác định được đường lối đổi mới đúng đắn và không ngừng bổ xung, hoàn thiện

đường lối ấy, đồng thời tìm ra phương thức lãnh đạo thích hợp để thực hiện đường lối ấy

Tiêu chuẩn để phân biệt cái đúng với cái sai, cái thích hợp với cái không thích hợp chính là thực tiễn đổi mới Đảng, đổi mới đất nước trong suốt tiến trình

Đảng lãnh đạo đưa đất nước quá độ lên CNXH

Như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nhận định, khi cả nước bước vào giai đoạn cách mạng XHCN ''tất cả những gì đã làm được và chưa

1 Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tr 119

Trang 33

làm được cũng chứng tỏ rằng sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm với những nhiệm vụ của giai đoạn mới Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong việc rèn luyện phẩm chất cán bộ, đảng viên''1 Khắc phục sự không ngang tầm ấy là yêu cầu bức thiết được đặt ra đối với Đảng khi bước vào thời kỳ đổi mới và trong suốt tiền trình đổi mới

Tầm của đảng là tầm trí tuệ, tầm tư tưởng, tầm phẩm chất, tầm năng lực lãnh

đạo và hoạt động thực tiễn cần có để hoàn thành nhiệm vụ của một giai đoạn cách

mạng nhất định Đó là tầm nhìn chiến lược, dự báo mọi tình hình thuận và nghịch,

mọi khả năng tốt và xấu trong sự vận động của thực tiễn để có thể làm chủ được những tình hình và khả năng ấy Như vậy, chúng ta cũng có thể nói đến tầm của một tổ chức đảng, một cấp uỷ đảng hay của một cán bộ, đảng viên so với yêu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ được giao Đánh giá chung trên phạm vi cả nước hay cả một giai đoạn cách mạng sẽ thấy được tầm của đảng Đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao sẽ thấy được tầm của một tổ chức đảng, một cấp uỷ đảng hay của một cán bộ, đảng viên

Tầm của các tổ chức đảng, các cấp uỷ đảng, của đông đảo cán bộ, đảng viên,

đặc biệt và của cấp lãnh đạo cao nhất và những người lãnh đạo chủ chốt nhất, đóng góp vào việc tạo nên cái tầm của đảng Nhưng tầm của các tổ chức đảng, các cấp

uỷ đảng, của cán bộ, đảng viên thường là không ngang bằng nhau; vì vậy, tầm của

đảng lại là cái mốc phấn đấu vươn tới của các tổ chức đảng, của các cấp uỷ đảng và của mọi cán bộ, đảng viên

Tầm có thể cao hay thấp hay ngang tầm nhiệm vụ cách mạng Việc hoàn thành nhiệm vụ cách mạng ở một giai đoạn, một thời kỳ nhất định là cái chuẩn để

đánh giá tầm của Đảng Trong Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc xâm lược Mỹ, Đảng ta đã đứng ngang tầm, cũng có thể nói đã đứng ở tầm cao của trí tuệ, tư tưởng, phẩm chất cách mạng, vì vậy đã lãnh

đạo cách mạng giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc và thời đại Nhưng khi đi vào cách mạng XHCN, trước nhiều vấn đề mới chưa có tiền lệ trong lịch sử và nhiều biến động mới không lường trước được, Đảng

1 Sđd, tr 118

Trang 34

đã không kịp vươn lên ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới Phải có tầm tư tưởng thật kiên định mới có thể vững vàng trước những biến động của thế giới hiện nay Phải có tầm phẩm chất thật trong sạch mới không bị tha hóa trước quyền lực của một đảng cầm quyền, trước những thử thách, cám dỗ của mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập, toàn cầu hóa Đặc biệt, phải có tầm trí tuệ cao đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

Đối với một con người, trí tuệ phải bao gồm cả ba yếu tố, cũng là ba cấp độ:

một là, tri thức (hiểu biết, kiến thức); hai là, năng lực vận dụng tri thức; ba là, năng

lực sáng tạo cái mới Nếu hiểu biết nhiều nhưng không vận dụng được những hiểu

biết của mình để giải quyết những vấn đề thực tiễn, càng không sáng tạo được cái mới, thì con người đó chưa phải là con người có trí tuệ cao Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi Đảng ta phải có tầm trí tuệ cao với cả ba yếu tố trên Trước hết đó là sự hiểu biết, là kiến thức, là tri thức về lý luận và khoa học, về thực tiễn trong nước và thế giới, về tất cả những gì cần thiết để thực hiện công cuộc đổi mới Phạm vi của những tri thức ấy rộng lớn hơn trước rất nhiều Nếu dừng lại ở những tri thức cũ, nếu không nhanh chóng bổ sung những tri thức mới thì không những làm chậm trễ,

mà còn cản trở công cuộc đổi mới Trí tuệ còn là năng lực vận dụng tri thức để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra Đỉnh cao của trí tuệ, đó là năng lực sáng tạo cái mới: từ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp biến những thành tựu mà nhân loại đã giành được trong thế giới hiện đại

để tạo ra những cái mới trong thực tiễn, nhằm thực hiện được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới; từ tổng kết thực tiễn rút ra được những kết luận mới để không

ngừng hoàn chỉnh đường lối đổi mới, đồng thời bổ sung và phát triển chủ nghĩa

Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từng bước xây dựng lý thuyết phát triển của Việt Nam, nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trên con đường đi lên CNXH

Nâng tầm của Đảng ta trong giai đoạn mới còn được thể hiện ở việc nâng năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn của Đảng Nói cách khác, đó chính nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng nhằm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đã

đề ra Việc cầm quyền của Đảng trong giai đoạn hiện nay khác rất nhiều với việc cầm quyền của Đảng khi đất nước có chiến tranh, cũng như khi xây dựng nền kinh

Trang 35

Đảng

2.2 Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt

Vấn đề xây dựng Đảng có tầm quan trọng đặc biệt để Đảng luôn luôn xứng

đáng là người lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc đi đến thắng lợi của độc lập dân tộc và CNXH Đây là vấn đề mà khi sinh thời Chủ tịch

Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, nhất là trước những bước ngoặt của cách mạng - khi cao trào hay thoái trào, khi thành công hay thất bại, khi chuyển giai

đoạn cách mạng, khi có những biến động lớn ở trong nước hay trên thế giới Chính trong những thời điểm ấy, những thay đổi ở bên ngoài đều có tác động đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, đến sự lãnh đạo của Đảng Lúc đó, một trong hai tình huống có thể xẩy ra: hoặc là cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng kịp thời nhận thức

đúng được tình hình, dự báo đúng những gì sẽ đến để đề ra đường lối chủ trương thích hợp, củng cố đội ngũ, làm cho các tổ chức Đảng từ trên xuống dưới luôn tỉnh táo, vững vàng, thắng không kiêu, bại không nản, khó khăn không chùn bước để hoàn thành những nhiệm vụ mới, đáp ứng những yêu cầu mới của cách mạng; hoặc

là chủ quan trước thắng lợi hay bi quan trước thất bại dẫn đến những sai lầm về

đường lối, chủ trương, lệch lạc về tư tưởng, lỏng lẻo về tổ chức, không phát huy

được thắng lợi đã giành được, hoặc làm cho thất bại càng nặng nề hơn Những tình huống này được đặt ra đối với tất cả các Đảng cộng sản, nhất là đối với những

Đảng cộng sản cầm quyền

Chủ quan duy ý chí đã xuất hiện trong Đảng ta sau thắng lợi vĩ đại mùa xuân

năm 1975, thực hiện trọn vẹn điều mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ''đánh

cho Mỹ cút, ngụy nhào'' Đó cũng là thắng lợi có ý nghĩa thời đại to lớn Từ đỉnh cao của thắng lợi được cả thế giới khâm phục, đã có không ít ý kiến cho rằng

Trang 36

chúng ta đã đánh thắng được sự xâm lược của đế quốc Mỹ thì không kẻ nào dám

đụng đến nước ta; chúng ta có thể tiến lên CNXH mà không cần trải qua bước đi ban đầu, cũng không cần phải trải qua thời kỳ quá độ tương đối dài như Lênin và

Hồ Chí Minh đã xác định Điều này cũng không có gì khó hiểu: thắng lợi thường

dễ làm cho nhiều người say sưa, choáng váng với những gì mình đã giành được Thắng lợi càng lớn, say sưa, choáng váng càng nhiều Biết thế nhưng tránh không

dễ Trước kia, Xit-ta-lin vẫn thường nhắc nhở những người cộng sản Liên Xô không được say sưa với thắng lợi dù thắng lợi có to lớn đến mấy; nhưng rồi chính

ông cũng không tránh khỏi điều ông đã nhắc nhở người khác Trong lịch sử đã có không ít dẫn chứng về vấn đề này

Đối với Đảng ta, say sưa, choáng váng với thắng lợi mùa xuân năm 1975 chính là nguyên nhân dẫn đến chủ quan duy ý chí, từ đó làm cho Đảng ta mắc sai lầm về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược, về tổ chức thực hiện và hậu quả là đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng nghiêm trọng

và kéo dài

Thực ra điều này đã được Hồ Chí Minh cảnh báo từ trước Là người đã từng trải nghiệm trong hoạt động cách mạng, với tầm nhìn xuyên suốt lịch sử đông tây kim cổ, nhất là những thăng trầm của phong trào cộng sản quốc tế và của các Đảng cộng sản cầm quyền, Hồ Chí Minh đã tránh được những sai lầm của nhiều nhà lãnh

đạo cộng sản khác, không tự thỏa mãn với những thắng lợi đã đạt được, không tự

ru ngủ mình bằng những lời ca ngợi của thiên hạ Người luôn đòi hỏi Đảng phải xem xét lại đội ngũ của mình sau mỗi thắng lợi, để vươn tới những thắng lợi còn to lớn hơn Chính vì vậy, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, trước hết Người nói về Đảng, về xây dựng Đảng cầm quyền Đến lần thứ tư xem lại bản Di chúc vào tháng 5 - 1968, Người đã bổ sung một điều quan trọng: ''Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi

việc cần phải làm trước tiên là cần phải chỉnh đốn lại Đảng”1 Đáng tiếc là điều này

đã bị lược đi khi công bố bản Di chúc lần đầu tiên sau khi Người mất, cũng như đã không được đặt ra sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nếu tiến hành chỉnh đốn lại Đảng ngay sau thắng lợi mùa xuân 1975 như Hồ Chí Minh căn

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T 12, Nxb CTQG Hà Nội, 1996, tr 503

Trang 37

dặn, thì những sai lầm như đã nêu trên có thể không xảy ra, hoặc nếu có xẩy ra thì cũng chỉ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, mà không đi vào chủ trương, chính sách lớn của Đảng

Cũng phải thấy rằng trước thời kỳ đổi mới Đảng ta cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề xây dựng Đảng trong nhiều nghị quyết Tuy nhiên, việc quán triệt và việc thực hiện những quan điểm ấy không phải bao giờ cũng làm được tốt Như Đại hội VI của Đảng đã nhận định, nguồn gốc sâu xa của sự không ngang tầm của Đảng ta khi cả nước quá độ lên CNXH là ở chỗ ''trong nhiều năm, chúng

ta đã coi nhẹ và có khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng''1 Việc coi nhẹ công tác xây dựng Đảng đã xẩy ra trong thực tiễn xây dựng Đảng, kéo dài đến Đại hội VI của Đảng Nếu chỉ dừng lại ở các Nghị quyết của Đảng thì không thể thấy

rõ vấn đề này

Cùng với việc xác định đường lối đổi mới toàn diện để đưa đất nước đi lên,

Đại hội VI của Đảng đã đi đến một quyết định quan trọng: phải đổi mới Đảng nhằm đáp ứng cầu của tình hình mới Nói cách khác, có đổi mới Đảng thì Đảng mới xác định được đường lối đổi mới, đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống và không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới Đổi mới Đảng đã trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của Đảng và sự phát triển của đất nước Từ đây vấn đề xây dựng Đảng đã được đặt ra khác trước rất nhiều, vừa ở tầm quan trọng, vừa ở nội dung và tính cấp thiết của nó Như đã trình bày ở trên, sự khác biệt ấy là do những điều kiện mới và những yêu cầu mới quy định

Công cuộc đổi mới đất nước càng được đẩy mạnh thì tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc xây dựng Đảng càng được khẳng định, nội dung của việc xây dựng Đảng càng được cụ thể hóa và mở rộng thêm Qua 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) đã nêu lên một luận điểm mới: ''Đảng ta xác định trong

giai đoạn hiện nay lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”2 Đến Đại hội IX (4 - 2001) luận điểm trên được điều chỉnh

1 Báo cáo chính trị… tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tr 118

2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, HN., 1996, tr 75

Trang 38

thành: ''nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhiệm vụ trung tâm là

(7- 2004) lại bổ xung thêm: ''Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế

là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội: tạo nên sự phát triển đồng bộ của 3 lĩnh vực

trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”2 Chính luận điểm này đã xác định rõ tầm quan trọng cũng như mối quan hệ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, nâng cao văn hóa và nhiệm vụ xây dựng

Đảng trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Phát triển đồng bộ cả 3 lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xây dựng Đảng không

có nghĩa là phát triển ngang bằng nhau Phát triển không ngang bằng nhau nhưng lại phải phát triển đồng bộ, với nghĩa là ''gắn kết với nhau, hơn nữa còn ''thâm nhập'' vào nhau, ''cái này ở trong cái kia'' như Hồ Chí Minh đã nói về mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội - đấy là mối quan hệ biện chứng giữa nhiệm vụ then chốt với nhiệm vụ trung tâm và nhiệm vụ xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội

Trong thời kỳ miền Bắc quá độ lên CNXH (1955 - 1975), Đảng ta chủ trương tiến hành 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng - văn hóa, trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt (cách mạng kỹ thuật về sau được đổi thành cách mạng khoa học - kỹ thuật) Lúc này khái niệm then chốt chỉ gắn với cách mạng kỹ thuật Từ khi cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, đây là lần đầu tiên khái niệm then chốt được dùng để chỉ rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Đảng; còn khoa học - kỹ thuật đã trở thành một trong những động lực phát triển kinh tế - xã hội Sự thay đổi những khái niệm được

sử dụng thể hiện sự thay đổi nhận thức của Đảng ta cho phù hợp với đối tượng

được nhận thức, nhằm nhận thức đối tượng được đúng đắn hơn

Then chốt không phải chỉ có ý nghĩa là quan trọng nhất, mà còn có ý nghĩa

là chi phối, quyết định toàn bộ những cái khác Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt vì kết quả của việc xây dựng Đảng sẽ chi phối và quyết định việc phát triển

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN., 2001, tr 137, 138

2 Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Báo Nhân dân, 30/ 7/ 2004

Trang 39

kinh tế, văn hóa cũng như tất cả các mặt khác của công cuộc đổi mới đất nước

Điều này thể hiện đúng vai trò của Đảng, với tính chất là Đảng cầm quyền, duy nhất lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đưa cả nước quá độ lên CNXH Việc xây dựng

Đảng chỉ có thể thực sự được đẩy mạnh, những yêu cầu về xây dựng Đảng trong

điều kiện mới hiện nay chỉ có thể được thực hiện khi ý nghĩa then chốt của nhiệm

vụ xây dựng Đảng được các tổ chức Đảng, trước hết là các cấp uỷ Đảng nhận thức

được sâu sắc và quán triệt trong thực tiễn xây dựng Đảng

Như vậy, xây dựng Đảng không phải là mục đích tự thân Đổi mới Đảng, nâng tầm tư tưởng và trí tuệ của Đảng là để Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cả dân tộc trong việc đổi mới và phát triển đất nước theo con đường XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Việc đổi mới

và phát triển đất nước được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, nhưng trước hết là trong hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa Nếu kinh tế là các cốt vật chất, là cơ sở hạ tầng của xã hội, thì văn hóa lại là nền tảng tinh thần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội Kết quả của phát triển kinh tế và nâng cao văn hóa là tiêu chí chủ yếu để đánh giá công tác xây dựng Đảng nói chung trong toàn Đảng, cũng như đối với mọi tổ chức

Đảng, mọi cấp uỷ Đảng từ dưới lên trên

Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, Đảng ta đã phải giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng – một Đảng cộng sản cầm quyền, duy nhất lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH ở một nước với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề suốt ba chục năm, hơn nữa lại phải đối mặt với không ít thách thức, nguy cơ hết sức hiểm nghèo trong những điều kiện mới khác hẳn trước kia Chính trong những điều kiện ấy Đảng ta đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, bất cập, làm cho công tác xây dựng Đảng có bước phát triển quan trọng cả về lý luận, cả về thực tiễn, đưa sự nghiệp đổi mới ngày càng giành được những thành tựu to lớn hơn

III Đổi mới Đảng theo một hệ thống quan điểm mới

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến nay đã qua một chặng đường gần 20 năm Đất nước ta đã có những biến đổi to lớn về nhiều mặt

Trang 40

Kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng tương đối nhanh; công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh; nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bước đầu

được hình thành và đang chuyển mạnh trong hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể; quốc phòng, an ninh được giữ vững; chính trị, xã hội ổn định; sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên nhiều; quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; nhận thức của Đảng và nhân dân ta về CNXH, về con

đường đi lên CNXH và về Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH trong những điều kiện mới ngày càng sáng tỏ hơn Nếu đặt trong bối cảnh chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các Đảng cộng sản cầm quyền ở các nước đó tan rã, mới thấy hết được ý nghĩa quan trọng của những thành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Có thể khẳng định rằng, những thành tựu mà Đảng

và nhân dân ta đã đạt được trong những năm đổi mới vừa qua là to lớn, toàn diện và

có ý nghĩa lịch sử, trên cả hai mặt thực tiễn và lý luận1

Thực tiễn và lý luận luôn gắn bó mật thiết với nhau Những thành tựu về mặt thực tiễn bao giờ cũng bắt nguồn từ những thành tựu về mặt lý luận Còn lý luận lại luôn luôn được làm phong phú thêm bởi những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn Dù còn có những hạn chế, yếu kém nhất định, dù chưa giải đáp được mọi vấn

đề do thực tiễn đặt ra, nhưng sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng, trước hết là tư duy về Đảng và xây dựng Đảng vẫn là khởi nguyên của đường lối đổi mới toàn diện Cũng không thể có đường lối đổi mới hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà sự hoàn chỉnh chỉ có thể nằm trong quá trình vận động của tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Đảng, được thể hiện qua những tìm tòi, thử nghiệm trong thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm

Lý luận về xây dựng Đảng qua hai mươi năm đổi mới có rất nhiều vấn đề

Dưới đây sẽ xem xét một số vấn đề chủ yếu nhất:

1 Đảng phải đổi mới về nhiều mặt

Ngay khi mở đầu thời kỳ đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của

Đảng đã nêu ra bốn nội dung cần đổi mới: ''Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi

1 Nhận định của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 (khóa IX) Tháng l - 2005.

Ngày đăng: 04/01/2016, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
41. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập XII, Nxb CTQG, HN, 1996. 42. Hồ Chí Minh:Về Đảng cộng sản TËp I, II.(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1993) 43. Hồ Chí Minh:Về vấn đề cán bộ(Nxb Sù thËt, HN, 1974) 44. Đảng cộng sản Việt Nam:Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2 – 1930 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: "Về Đảng cộng sản TËp I, II. (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1993) 43. "Hồ Chí Minh: "Về vấn đề cán bộ (Nxb Sù thËt, HN, 1974) 44. "Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
54. Đảng cộng sản Việt Nam: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.Báo cáo chính trị, C−ơng lĩnh, Điều lệ Đảng.(Đảng cộng sản Việt Nam – 1991) 55. Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam: "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Báo cáo chính trị, C−ơng lĩnh, Điều lệ Đảng. (Đảng cộng sản Việt Nam – 1991) 55
56. Đảng cộng sản Việt Nam: Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) Báo cáo chính trị.(Đảng cộng sản Việt Nam – 1994) 57. Đảng cộng sản Việt Nam:Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.Báo cáo chính trị, Điều lệ Đảng.(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam: "Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) Báo cáo chính trị. (Đảng cộng sản Việt Nam – 1994) 57. "Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
58. Nghị quyết Trung −ơng 6 (lần 2) khóa VIII (tháng 2/ 1999) - Nguyên tắc tập trung dân chủ: nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.- Cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.- Chế độ tự phê bình và phê bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung −ơng 6 (lần 2) khóa VIII (tháng 2/ 1999) - Nguyên tắc "tập trung dân chủ: nguyên tắc cơ bản trong "tổ chức, sinh hoạt và hoạt động "của Đảng. - Cụ thể hóa "nguyên tắc" tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. - "Chế độ
63. Đảng cộng sản Việt Nam: Hội nghị Trung −ơng 9 (khóa IX): tình hình thực hiện kết luận Hội nghị Trung −ơng 9 (khóa IX) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung −ơng 6 lÇn 2 khãa VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam
64. Đảng cộng sản Việt Nam: Kết luận Hội nghị Trung −ơng 10 (khóa IX) (Báo Nhân dân, 30/ 7/ 2004.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam
66. Đảng cộng sản Việt Nam: Chỉ thị của Bộ Chính trị “Về tiêu chuẩn hướng dẫn xác định thành phần tưsản công th−ơng nghiệp”(Tháng 2 – 1977) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam: "Chỉ thị của Bộ Chính trị “Về tiêu chuẩn hướng dẫn xác định thành phần tư sản công th−ơng nghiệp
67. Đảng cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 14/ NQTW (13/ 9/ 1983) “Về tình hình cải tạo XHCN đối với công th−ơng nghiệp t− doanh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam: "Nghị quyết số 14/ NQTW (13/ 9/ 1983) “Về tình hình cải tạo XHCN đối với công th−ơng nghiệp t− doanh
68. Tiểu ban Tổng kết công tác xây dựng Đảng (Nhiệm kỳ Đại hội VII) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu ban Tổng kết công tác xây dựng Đảng
69. Tiểu ban Tổng kết xây dựng Đảng (Nhiệm kỳ Đại hội VII)Kỷ yếu tổng kết xây dựng Đảng (Thêi kú 1975 – 1995) TËp I, II (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001) 70. Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu ban Tổng kết xây dựng Đảng "(Nhiệm kỳ Đại hội VII) Kỷ yếu tổng kết xây dựng Đảng (Thêi kú 1975 – 1995) TËp I, II (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001) 70
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
73. Đảng cộng sản Việt Nam: Một số văn kiện về đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Quyển I, II.(Ban Tổ chức Trung −ơng, 1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (Nxb Lao động, HN, 1999)80. Lê Duẩn:D−ới lá cờ vẻ vang của Đảng….(Nxb Sù thËt, HN, 1975.) 81. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên)Hai mươi năm đổi mới, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và phát triển v¨n hãa(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Duẩn: "D−ới lá cờ vẻ vang của Đảng…. (Nxb Sù thËt, HN, 1975.) 81. "Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
85. Khoa xây dựng Đảng – Học viện CTQG Hồ Chí Minh: Xây dựng Đảng(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995) 86. Lê Văn Lý (Chủ biên):Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002) 87. Nông Đức Mạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa xây dựng Đảng – Học viện CTQG Hồ Chí Minh: "Xây dựng Đảng (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995) 86. "Lê Văn Lý (Chủ biên): "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002) 87
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
89. Trần Đình Nghiêm (Chủ biên) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002) 90. TrÇn Nh©m:T− duy lý luận với sự nghiệp đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004) 91. Thái Ninh – Hoàng Chí Bảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Nghiêm (Chủ biên) "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002) 90. "TrÇn Nh©m: "T− duy lý luận với sự nghiệp đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004) 91
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
93. Nguyễn Tiến Phồn: Sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà n−íc(Nxb Khoa học xã hội, HN, 1996) 94. Nguyễn Trọng Phúc (Chủ biên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tiến Phồn: "Sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà n−íc (Nxb Khoa học xã hội, HN, 1996) 94
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
96. Tô Huy Rứa – Trần Khắc Việt (Chủ biên): Làm ng−ời cộng sản trong giai đoạn hiện nay.(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2003) 97. §an T©m Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Huy Rứa – Trần Khắc Việt (Chủ biên): "Làm ng−ời cộng sản trong giai đoạn hiện nay. (Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2003) 97
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
102. Ngô Đức Tính: Xây dựng Đảng về tổ chức, tập I, II.(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Đức Tính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
103. Nguyễn Hữu Tri – Nguyễn Thị Ph−ơng Hồng: Một số vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy Đảng cộng sản Việt Nam.(Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Tri – Nguyễn Thị Ph−ơng Hồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
113. Báo Nhân dân (30/ 7/ 2004; 3/ 2/ 2005; 6 /6/ 2005; 3/ 2/ 2006) 114. Báo Pháp luật (7/ 6/ 2005; 18/ 7/ 2005; 3/ 8/ 2005; 12/ 10/ 2005) 115. Báo Sài Gòn giải phóng (7/ 6/ 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nhân dân (30/ 7/ 2004; 3/ 2/ 2005; 6 /6/ 2005; 3/ 2/ 2006) "114. "Báo Pháp luật (7/ 6/ 2005; 18/ 7/ 2005; 3/ 8/ 2005; 12/ 10/ 2005) "115
- Văn kiện Đại hội V: “Đảng của khối đại đoàn kết, dân chủ và quyền con ng−ời mà chúng ta bảo vệ” (10/ 1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng của khối đại đoàn kết, dân chủ và quyền con ng−ời mà chúng ta bảo vệ
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w