Những đòi hỏi khách quan việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 32 Kết luận chương 1 ………...……… 43 Chương 2: Thực trạng đội
Trang 1-HÀ VĂN BÌNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-HÀ VĂN BÌNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH THẾ ĐỊNH
Trang 3NGHỆ AN - 2014
Trang 4Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc
biệt, nhà giáo TS Đinh Thế Định - người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ
bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo, chuyên viên Ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện, các ban xây dựng Đảng thuộc Huyện
ủy Cẩm Xuyên, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Cẩm Xuyên, Phòng Nội
vụ, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Văn phòng HĐND – UBND, Chi cục Thống kê; đảng ủy, UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập cũng như nhiệt tình cung cấp số liệu và tư vấn khoa học cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy, cô giáo và bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp.
Trang 51 AN-QP : An ninh, quốc phòng
5 CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
6 CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
MỤC LỤC
Trang 6B NỘI DUNG ……….… ……… 12
Chương 1: Năng lực lãnh đạo và yêu cầu nâng cao năng lực lãnh
đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước
ta hiện nay ……… 121.1 Cán bộ chủ chốt và năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt
trong hệ thống chính trị cơ sở… ……… 121.2 Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo
1.3 Những đòi hỏi khách quan việc nâng cao năng lực lãnh đạo
của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 32 Kết luận chương 1 ……… ……… 43
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và nâng cao năng
lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ
sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh ……… 44 2.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Xuyên …….… 44 2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ
sở ở huyện Cẩm Xuyên hiện nay 50 2.3 Thực trạng năng lực lãnh đạo và nâng cao năng lực lãnh
đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên 59 2.4 Yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 70 Kết luận chương 2 71
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo
của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 73 3.1 Những quan điểm cơ bản về việc nâng cao năng lực lãnh đạo
của cán bộ chủ chốt cấp xã 73 3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay 77 3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp nâng cao
năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ………… 105
Trang 71 Bảng 1 Đơn vị hành chính huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 47
2 Bảng 2 Cơ cấu CBCC cấp xã ở huyện Cẩm Xuyên năm 2013 51
3 Bảng 3 Phân loại năng lực tổ chức thực tiễn của CBCC cấp xã ở
5 Bảng 5 Ý kiến của CBCC về sự cần thiết và mức độ đạt được ở
6 Bảng 6 Kết quả đánh giá tính cần thiết của các giải pháp đề xuất 106
7 Bảng 7 Kết quả đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 106
9 Phụ lục 2 Thống kê trình độ chuyên môn của cán bộ chủ chốt
trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 117
10 Phụ lục 3 Thống kê trình độ chính trị của cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 118
11 Phụ lục 4 Phiếu điều tra năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ
chốt cấp xã ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 119
12 Phụ lục 5 Danh sách cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Cẩm Xuyên
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là khâu then chốt, trọng yếu của công tác xây dựng Đảng Vị trícủa công tác cán bộ gắn liền với vai trò của đội ngũ cán bộ Chủ tịch Hồ ChíMinh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta đã nhấn mạnh: "Cán bộ làcái gốc của mọi công việc" [22; 269], "công việc thành công hay thất bại đều docán bộ tốt hay kém" [22; 273] Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong suốt hơn
84 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi cán bộ vàcông tác cán bộ là những nhân tố quyết định sự thành, bại của cách mạng Mỗithắng lợi của cách mạng Việt Nam đều đánh dấu những bước trưởng thành, tiến
bộ của đội ngũ cán bộ của Đảng ta Vì thế, Đảng ta luôn chú trọng tới yêu cầuxây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, toàn diện, đặc biệt tập trung xây dựng vànâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt (CBCC), coi đây là vấn
đề mấu chốt, quyết định toàn bộ sự nghiệp cách mạng
Hệ thống chính trị (HTCT) và CBCC của HTCT ở xã có vai trò rất quantrọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huyquyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội,
tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lầnthứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng caochất lượng của HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định: xây dựng độingũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một trong ba vấn đề cơ bản và bứcxúc cần tập trung giải quyết, trong đó yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở cónăng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đàotạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở[14; 167]
Trang 9Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ các xã, thị trấn (gọi chung là cấpxã) đã có bước phát triển về chất lượng Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn bộc lộ nhữngyếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ trước những yêu cầu của tìnhhình, nhiệm vụ mới Vì vậy, một số cán bộ gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí vavấp, vi phạm trong thực thi nhiệm vụ Bên cạnh đó, trước tác động tiêu cực của cơchế thị trường, một bộ phận CBCC cấp xã có dấu hiệu suy thoái về phẩm chất đạođức, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng, lãng phí bị
kỷ luật Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnhđạo của Đảng và Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng đồng thờiđặt ra đòi hỏi bức thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệtnăng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp xã
Cẩm Xuyên là một huyện nằm giữa Thành phố Hà Tĩnh và huyện KỳAnh, nơi có khu kinh tế Vũng Áng – khu kinh tế động lực của tỉnh Là huyện cótruyền thống cách mạng, có nền kinh tế phát triển Trong tình hình hiện nay đãđặt ra hàng loạt các nhiệm vụ nặng nề, phức tạp về xây dựng và quản lý quyhoạch, quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng kỷ thuật, hạtầng xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội,đảm bảo an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên, huyện Cẩm Xuyên phải
có một đội ngũ CBCC nói chung, đội ngũ CBCC cấp xã nói riêng vững mạnh,
có phẩm chất, năng lực, phương pháp, phong cách công tác tốt, nhạy bén, năngđộng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới Với ý nghĩa
đó, chúng tôi chọn đề tài: " Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, chuyên
ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, có không ít công trình nghiên cứu về chấtlượng công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong đó có nghiên cứu sâu về năng
Trang 10lực lãnh đạo của CBCC Các nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở CBCC cáccấp, các ngành, các không gian và ở các thời điểm khác nhau; nhiều công trình,bài viết đã có những đóng góp, những lý giải, những kiến nghị hết sức sâu sắc,
có giá trị thực tiễn cao Tiêu biểu như:
- Nhóm đề tài về những yêu cầu đối với cán bộ cơ sở: Học viện Nguyễn
Ái Quốc: "Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo chính trị chủ chốt cấp cơ sở", 1992; Tiến sĩ Phan Văn Tích (chủ biên): "Xác định cơ cấu
và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở (xã, thị trấn)", Nhánh đề tài KT-XH.05-11-06, 1993; Bùi Đình Phong: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng và sự thống nhất giữa đức và tài", Tạp chí LLCT, số 1/2003; Trần Văn Phòng: "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay", Tạp chí LLCT, số 5/2003
Các đề tài trên đã làm rõ những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ nói chung,cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng Đặc biệt xây dựng đượcmẫu hình và cụ thể hóa các tiêu chuẩn cơ bản của người cán bộ trong giai đoạncách mạng mới, trong đó nhấn mạnh yếu tố đức và tài trong quan điểm của tưtưởng Hồ Chí Minh và đòi hỏi của thực tế hiện nay
- Nhóm đề tài về nội dung, phương pháp, cách thức xây dựng đội ngũ CBCC: Trần Duy Hưng: "Xây dựng đội ngũ CBCC của HTCT cấp huyện ở tỉnh
Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ Lịch sử, 2002; Bùi Khắc Hằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ với việc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hóa hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, 2004; Phan Thị Thúy Vân: "Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Cần Thơ hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, 2005 Ngoài ra, còn nhiều bài báo
của nhiều nhà nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí khoa học về vấn đề cán bộ
và nâng cao năng lực cán bộ trong HTCT
Các luận văn, bài báo trên có những đóng góp về mặt lý luận rất sâu sắctrong nghiên cứu về đội ngũ CBCC cấp cơ sở Vai trò của đội ngũ này rất quatrọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở nhưng lại có những đặcđiểm riêng của từng vùng Qua đó, nghiên cứu từng nội dung, phương pháp,cách thức xây dựng đội ngũ CBCC nhằm chọn lọc những vấn đề mang tính
Trang 11chung, tính đặc sắc, có cơ sở lý luận sâu sắc để vận dụng trong việc nâng caonăng lực lãnh đạo đối với CBCC các xã, thị trấn trên địa bàn
Các công trình từ đề tài, luận văn, luận án và các bài viết đăng trên cáctạp chí được nêu ra ở trên đã cung cấp những thông tin bổ ích dưới các khíacạnh và các mức độ khác nhau, nhất là những lý luận về công tác cán bộ nóichung và CBCC trong HTCT cơ sở những năm gần đây, đúc rút nhiều kinhnghiệm và đề xuất các giải pháp có giá trị
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có luận văn nào nghiên cứu về đội ngũCBCC của HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên một cách sâu sắc, toàn diện, hệthống dưới góc độ Chính trị học Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài này trên
cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình trên nhằm hệ thống lại những kiến thức
đã học và góp phần đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và pháttriển huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực lãnh đạo cho đội ngũ CBCCtrong HTCT cơ sở Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần nângcao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện CẩmXuyên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới
+ Xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nângcao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện CẩmXuyên trong những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đội ngũ CBCC và năng lực lãnhđạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Về lý luận: Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề lý luận
về cán bộ và công tác cán bộ mà tập trung phân tích những vấn đề liên quan đếnnăng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ và những quan điểm về nâng cao năng lựccủa đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ CBCC cấp xã
4.2.2 Về thực tiễn: Luận văn tập trung phân tích thực trạng đội ngũCBCC và năng lực lãnh đạo của CBCC trong HTCT cơ sở huyện Cẩm Xuyên
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp phân tích, tổnghợp; phương pháp lôgíc và lịch sử kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học,đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học, quan điểm và quan niệm về nângcao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở hiện nay
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu, thiết thực, khả thigóp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ởhuyện Cẩm Xuyên trong những năm tiếp theo
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho Huyện ủy, UBND huyện, các đoàn thể chính trị của huyện, Đảng ủy,UBND, các đoàn thể chính trị cấp xã, thị trấn ở huyện Cẩm Xuyên và các địaphương khác trong công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và xây dựngHTCT Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiêncứu, giảng dạy và học tập liên quan đến công tác cán bộ, công tác xây dựngĐảng và xây dựng HTCT cơ sở ở các trường bồi dưỡng chính trị
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, Luận văn gồm 3chương
Chương 1: Năng lực lãnh đạo và yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo củađội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở nước ta hiện nay
Trang 13Chương 2: Thực trạng đội ngũ CBCC và nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của CBCCtrong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1 NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG CHÍNH
TRỊ CƠ SỞ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Cán bộ chủ chốt và năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm cán bộ
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì:
"Cán bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước; người giữchức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước" [48; 249] Theo Luật Cán bộ, công chức: "Cán bộ, công chức
là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách"
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị
và dễ hiểu Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giảithích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáocho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [22; 33]
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng đểchỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoànthành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công
Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu chung lại, có haicách hiểu cơ bản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế Nhà nước, làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệpnhà nước và các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương và cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ
chức để phân biệt với người không có chức vụ
Trang 15Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốnđặc trưng cơ bản:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức kháctrong HTCT lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động
+ Cán bộ giữ chức vụ, trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT.+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khihoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung,chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lýhoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc,hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hìnhthành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổnhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu Cán bộ chủ chốt là
người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trongcác tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảmđương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thựchiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấpmình về lĩnh vực công tác được giao
CBCC có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ CBCC là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việcxác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định
Trang 16và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểmtra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điềuchỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thựctiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, CBCC còn là người giữ vai tròđoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh.
+ CBCC là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu do
bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chínhquyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu tráchnhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặclĩnh vực công tác được đảm nhận
Từ nhận thức đó, đặc biệt theo quan điểm của Nghị quyết Trung ương 5(khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thịtrấn; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về côngchức xã, phường, thị trấn; đội ngũ CBCC của HTCT cơ sở bao gồm các chứcdanh: bí thư, phó bí thư đảng ủy xã; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã; chủ tịch, phóchủ tịch UBND xã; chủ tịch ủy ban MTTQ; chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ; chủtịch hội cựu chiến binh; bí thư đoàn thanh niên; chủ tịch hội nông dân
- Khái niệm Hệ thống chính trị
Hiện nay, ở nước ta khái niệm HTCT thường được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, khái niệm HTCT được sử dụng để chỉ toàn bộ lĩnh vực
chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồmcác tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng
và các chuẩn mực chính trị
Theo nghĩa hẹp, khái niệm HTCT được sử dụng để chỉ hệ thống các cơ
quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hộigồm nhân dân, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị
- xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị Trong đó,nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nền tảng của HTCT
Trang 17Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, HTCT hình thành
và phát triển cùng với quá trình vận động của mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộchống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi các HTCT theo hướng tiến bộ, hoặc thủtiêu và thay thế nó bằng một HTCT dân chủ, tiến bộ hơn
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thể thực sự của quyềnlực chính trị, tự mình định đoạt quyền chính trị của mình Điều căn bản nhất củaHTCT xã hội chủ nghĩa là quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, dưới sự lãnhđạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản
Ở Việt Nam, khái niệm HTCT lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng trongVăn kiện Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) thaycho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”
HTCT đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân HTCTnước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước đổi mới quantrọng trong tư duy chính trị của Đảng ta HTCT xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa
và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính
vô sản trong các giai đoạn trước “đổi mới”, đồng thời phản ánh một hiện thựcmới về chính trị và dân chủ trong điều kiện đổi mới KT-XH ở nước ta hiện nay
1.1.2 Vai trò, vị trí, đặc điểm và tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp xã
1.1.2.1 Vai trò, vị trí của người cán bộ chủ chốt cấp xã
Bàn về vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng,C.Mác và Ph Ăngghen là người đầu tiên nêu ra quan điểm khoa học về cán bộ.Hai ông khẳng định: "Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sửdụng lực lượng thực tiễn" [31; 184]
Theo quan điểm của hai ông, cán bộ là những người tiêu biểu cho phongtrào cách mạng; có tri thức và trình độ nhận thức cao, biết kết hợp vận dụng lýluận cách mạng với thực tiễn để tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng,lãnh đạo quần chúng thực hiện các cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng Họ phải
Trang 18là những người tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dânlao động, có trách nhiệm cao và được quần chúng noi theo.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen về Đảngcủa giai cấp công nhân, V.I Lênin đã đề ra những quan điểm quan trọng vềcán bộ trong quá trình xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân TheoV.I Lênin, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ đảm bảo
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng Bởi vì họ vừa làngười xây dựng đường lối, vừa tiến hành lựa chọn phương pháp chỉ đạo, tổchức thực hiện và kiểm tra quá trình vận động cách mạng, hướng tới mục tiêu
đã đề ra Vì thế, Người nhấn mạnh: "Mấu chốt là vấn đề người, vấn đề lựachọn người" và "trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyềnthống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh
tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có khả năng tổ chức và lãnh đạo phongtrào" [45; 351]
V.I Lênin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, nhân dân lao độngNga, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã tổ chức và lãnh đạoCách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi to lớn Khi giành được chínhquyền, Đảng kiểu mới của V.I Lênin trở thành Đảng cầm quyền Lúc này,vấn đề cán bộ càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn Ở giai đoạn này,nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn của Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân làquản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội nhằm xây dựng thành công xã hộimới - xã hội xã hội chủ nghĩa V.I Lênin yêu cầu đội ngũ cán bộ phải nỗ lựccao hơn thời nội chiến để hoàn thành sứ mệnh mới là quản lý nhà nước, quản
lý xã hội Người khẳng định: "Nghiên cứu con người, tìm ra cán bộ có bảnlĩnh; hiện nay đó là then chốt, nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyếtđịnh sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [46; 462]
Để có được đội ngũ cán bộ am hiểu nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vựcquản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng chủnghĩa xã hội, một nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, V.I Lênin đã coitrọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, đề bạt cán bộ vào các cương vịcông tác, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của họ, chú ý giáo dục,
Trang 19rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác cho cán
bộ, chống bệnh quan liêu, xa dân, kiêu ngạo, thoái hóa biến chất
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam,trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, luôn coi trọng công tác cán
bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội Người coi: "Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc" [21; 269] Vai trò của người cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đượcthể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đường lối chính sách, cán
bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng Trongquan niệm của Người, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà còn cóvai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện đường lối Người nói: "Cán bộ
là người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhândân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được"; "Cán
bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động
cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt" [21; 54]
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu cán bộ phải sâu sát quần chúng,nắm bắt kịp thời và phản ánh tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng củanhân dân với Đảng và Nhà nước để quyết định đường lối, chủ trương, chínhsách hợp lòng dân Đối với cơ sở, điều này càng đặc biệt quan trọng Ngườichỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trongquần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng" [21; 290] Người kết luận:
"Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém" [ 21; 273].Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người lãnh đạo, dẫn dắtquần chúng nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụyphục vụ nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộphải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính,chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnhđạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [20; 131]
Trang 20Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềcán bộ, trong suốt 84 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chútrọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi củatừng thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Đảng ta xác định phải "có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất vànăng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắnglợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầmquyền" [13; 27] Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệpCNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong chiến lược cán bộthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại củacách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâuthen chốt trong công tác xây dựng Đảng" [13; 66] Theo quan điểm của Đảng,trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng với yêucầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũCBCC các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở.
Như vậy, bất kỳ lúc nào và ở đâu, vai trò của đội ngũ CBCC cũng rấtquan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Trong giai đoạn hiện nay, vai trò củaCBCC càng đặc biệt quan trọng
Trên cơ sở những quan điểm đó có thể nói CBCC cấp xã có vai trò, vị trítrong HTCT cơ sở:
- Là người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo,điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấptrên về nhiệm vụ được phân công
- Là người có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự lãnhđạo từ cấp trên
- Là người giữ vị trí quan trọng trong việc cụ thể hoá đường lối, chínhsách của Đảng, chính quyền cấp trên vào điều kiện ở cơ sở, chủ trì việc hoạchđịnh chiến lược mục tiêu, phương hướng, đề ra chủ trương, chính sách độngviên, tổ chức nhân dân thực hiện những nhiệm vụ phát triển KT-XH ổn định đờisống nhân dân trên địa bàn xã
Trang 21- Có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, AN
- QP trong phạm vi toàn xã, có khả năng tổ chức công việc và là trung tâm đoànkết của tổ chức
Như vậy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu quantrọng nhất trong HTCT cơ sở, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành chủtrương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nướcthông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, vănhoá xã hội trên địa bàn cấp xã mà mình phụ trách
1.1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở
Đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở phần lớn trưởng thành trong thực tiễn
cách mạng ở cơ sở Do đó, họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội; am hiểu và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, nhiệt tình, tâm huyết với công việc, có kinh nghiệm công tác, khả năngthuyết phục, vận động quần chúng tốt, được hội viên và nhân dân tín nhiệm Sốcán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, năngđộng, nhạy bén, tiếp cận với cái mới nhanh; được các thế hệ cán bộ đi trướchướng dẫn, giúp đỡ nên họ trưởng thành nhanh chóng, trở thành nguồn cán bộlãnh đạo cao hơn ở địa phương hoặc cung cấp cán bộ cho huyện và tỉnh
Đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở hoạt động trong điều kiện kinh tế ngàycàng phát triển, với đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao, cho nên họ năng động, luôntìm tòi, sáng tạo trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh
- quốc phòng, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên nhằm đáp ứng với yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và phát triển quê hương
Với nhiều chủ trương mới, tích cực nên thuận lợi cho công tác luân chuyểncán bộ giữa các xã với nhau hoặc giữa xã với huyện CBCC Đảng, chính quyền cấp
xã là cán bộ, công chức nên thuận lợi trong việc thực hiện chính sách cán bộ theoqui định của Nhà nước, tạo sự yên tâm, gắn bó của họ với địa phương
1.1.2.3 Những tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp xã
Trang 22Theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ về tiêuchuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và các quan điểm,đường lối, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn… của Đảng về cán bộ và công tác cán
bộ, đội ngũ CBCC nói chung phải có những tiêu chuẩn cơ bản như sau:
Thứ nhất: người CBCC phải có tri thức và văn hoá chính trị, có khả năng
lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng Tổ quốc xã hộichủ nghĩa giàu mạnh V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: đảng của giai cấp công nhân làtrí tuệ, lương tâm và thời đại Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng ta là đạođức, là văn minh” vì vậy, người cán bộ của Đảng phải biết làm giàu trí tuệ củamình bằng kho tàng tri thức nhân loại đã tạo ra
Thứ hai: người CBCC phải đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc của nhân
loại lên trên lợi ích cá nhân
Thứ ba: CBCC phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trên cơ sở lập
trường của giai cấp công nhân tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng,với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Kiên định con đườngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Có năng lực dự báo và định hướng sựphát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, phápluật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng Có ýthức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước
Thứ tư: người CBCC phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ
nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức
tổ chức kỷ luật, trung thực không cơ hội gắn bó mật thiết với nhân dân và đượcnhân dân tín nhiệm
Thứ năm: người CBCC phải có kinh nghiệm và nghệ thuật trong hoạt
động chính trị, linh hoạt nhạy bén, giải quyết kịp thời đúng đắn những tìnhhuống phức tạp xảy ra
Như vậy, với vai trò vô cùng quan trọng và trách nhiệm nặng nề ngườiCBCC có những tiêu chuẩn cần phải có Để luôn xứng đáng là người tiêu biểu,đại diện và lãnh đạo nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, tin cậy và uỷ thác
Trang 23Người cán bộ lãnh đạo phải không ngừng rèn luyện tu dưỡng mọi mặt, thốngnhất giữa đức và tài, thực hiện được mục tiêu to lớn là đưa sự nghiệp cách mạngđến thắng lợi cuối cùng
1.2 Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt ở cấp xã
1.2.1 Năng lực lãnh đạo
Theo từ điển tiếng Việt, “năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan sẳn có
để thực hiện một hoạt động nào đó” [47; 362]
Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặctổng hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạtđộng và bảo đảm cho hoạt động có kết quả cao…
Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạtđộng nào đó Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà làmột tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động Cácthuộc thuộc tính ấy có quan hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong mộtchỉnh thể Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những nănglực đó được bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan haykhách quan Đối với những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của
họ được phát triển và bộc lộ mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnhvực khác nhau Năng lực vừa mang tính bẩm sinh, vừa là kết quả của quá trìnhhọc tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người
Theo Hồ Chí Minh: năng lực con người không phải hoàn toàn do tựnhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có Vì thế, năng lựckhông chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người, mà là kết quả của
sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tậpthông qua hoạt động thực tiễn của con người
Người cán bộ lãnh đạo nói chung, CBCC nói riêng dù ở cấp nào cũngphải có năng lực nhất định Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổchức thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽvới nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển Không có nănglực tư duy lý luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng
Trang 24đắn linh hoạt các quy luật khách quan Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì
sa vào bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn,thoát ly cuộc sống đầy sôi động đang cuộn chảy Đội ngũ CBCC của HTCT phải
có năng lực toàn diện, nhất định trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ được giao Ngoài ra, CBCC cấp xã còn phải có năng lực sáng tạo, tínhquyết đoán và khả năng làm việc với con người
Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực CBCC trong HTCT cơ
sở là tổng hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động với chất lượng vàhiệu quả cao
1.2.2 Những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở
1.2.2.1 Năng lực tư duy lý luận
Năng lực tư duy lý luận là tổng thể tri thức trí tuệ, phương pháp luận củachủ thể đáp ứng yêu cầu phát triển, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về nhữngvấn đề thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho CBCC cơ sở có những phản ứng sắcbén, khả năng vận dụng sáng tạo linh hoạt lý luận vào thực tiễn nâng cao hiệulực, hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý cơ sở
Năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp xã được biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất, đó là khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, khả năng phát hiện nhữngmâu thuẫn, những vấn đề mới, khả năng tổng kết thực tiễn và khả năng vận dụngsáng tạo lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách để xây dựng chương trình, kếhoach công tác, kế hoạch phát triển KT-XH phù hợp với thực tiễn ở cơ sở
Thứ hai, năng lực tư duy lý luận mang tính khái quát, là khả năng liên
kết tri thức các lĩnh vực, các ngành nghề, các bộ phận phong phú đa dạng thànhmột chỉnh thể ở mức độ khái quát cao Đồng thời phân định được tính đặc thù,tính riêng biệt của các loại lĩnh vực, bộ phận để khi lãnh đạo, chỉ đạo vừa mangtính lịch sử cụ thể vừa mang tính khái quát tổng hợp
Thứ ba, năng lực hiện thực hoá tri thức đó là khả năng biến những tri
thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, chương trình, kế hoạch hànhđộng làm biến đổi hiện thực trực tiếp Nó thực hiện khả năng vận dụng lý
Trang 25luận vào thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn, vận dụng cái chung một cáchđúng đắn vào từng tình huống cụ thể Đó cũng là khả năng tổng hợp để có cáinhìn hệ thống, nắm được cái chủ yếu, cái bản chất của sự vật hiện tượng trong
sự vận động của chúng, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn phùhợp với thực tiễn cơ sở
Như vậy, năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp xã có giá trị định hướngđúng đắn hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của đội ngũ này Cơ sở củanăng lực tư duy lý luận là tri thức lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, kho tàng tri thức của nhân loại, đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và sự trải nghiệm trong phong trào cách mạng của thực tiễn địa phương
1.2.2.2 Năng lực tổ chức thực tiễn
Năng lực tổ chức thực tiễn là năng lực tổ chức vận hành bộ máy HTCT
cơ sở, có nhiệm vụ xác định hoạt động nhịp nhàng cân đối có trật tự, có hiệu lực,hiệu quả nhằm hiện thực hoá những mục tiêu đề ra Biểu hiện cụ thể của nănglực tổ chức thực tiễn của đội ngũ CBCC cấp xã như sau:
Một là, có khả năng thu nhập và xử lý thông tin liên quan đến mọi mặt
của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng… ở cấp xãmột cách nhanh chóng và có hiệu quả cụ thể, thiết thực Công tác lãnh đạoquản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo quản lý và khách thể bịlãnh đạo, quản lý Mối quan hệ này được phản ánh qua thông tin hai chiều giữachủ thể và khách thể Thiếu thông tin hoặc xử lý thông tin không kịp thời,chính xác người lãnh đạo quản lý dễ rơi vào tình trạng quan liêu, độc đoán,chuyên quyền xa rời thực tiễn
Đội ngũ CBCC cấp xã gắn liền với cơ sở, họ vừa phải tổ chức thực hiệncác chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, vừa phải bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình
cơ sở để triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch đúng đắn phù hợp với thựctiễn cơ sở Vì vậy, thu thập xử lý thông tin đầy đủ trước hết phải nắm vững chủtruơng, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên Đồngthời phải xây dựng phương pháp làm việc khách quan, khoa học hình thànhmạng lưới cung cấp thông tin xác thực từ cơ sở kết hợp với việc đi sâu, đi sát
Trang 26cơ sở nắm vững những diễn biến hoạt động KT-XH, AN - QP…từ nhân dân.Sau khi có đầy đủ thông tin, người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã lại phải cókhả năng tổng hợp, khái quát, phân tích để rút được những đặc điểm nguyênnhân đề ra được những giải pháp, quyết định đúng đắn giải quyết có hiệu quảnhững nhiệm vụ đặt ra.
Hai là, khả năng tổ chức bộ máy, phối hợp các lực lượng, các bộ phận,
cá nhân thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở cấp xã CBCC ở cấp xã phải có tư duy tổchức phối hợp các bộ phận trên cơ sở phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếucủa đội ngũ cán bộ dưới quyền để bố trí phù hợp với năng lực, sở trường Phải làtrung tâm đoàn kết, thu hút cán bộ cấp dưới và nhân dân tạo nên sức mạnh tổnghợp nhằm thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra
Ba là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát để duy trì, điều chỉnh việc thực
hiện các quyết định quản lý Phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh đểgiải quyết, tìm ra những lệch lạc, sai sót để sửa chữa, điều chỉnh các vấn đề thực
tế đặt ra để các quyết định có hiệu lực, hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng Lêninchỉ rõ: “Khi mục tiêu và nhiệm vụ đã được xác định, quyết định được thông qua,
bộ máy con người đã được sắp xếp thì trọng tâm của sự lãnh đạo, quản lý phảichuyển sang lĩnh vực kiểm tra và gắn với kiểm tra là đôn đốc, uốn nắn, tổ chứcthực hiện đến cùng quyết định”[48; 463]
Công tác kiểm tra giám sát làm tăng hiệu quả các quyết định quản lý,đảm bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ một cách triệt để, tránh được các cănbệnh vốn có như qua loa, đại khái, hạn chế các tiêu cực có thể nảy sinh trongquá trình thực hiện nhiệm vụ Năng lực này còn thể hiện ở khả năng đánh giáhiệu quả việc thực hiện các quyết định và khả năng đúc rút kinh nghiệm thựctiễn kịp thời vận dụng nó vào cuộc sống
1.2.2.3 Năng lực sáng tạo và tính quyết đoán
Năng lực sáng tạo là khả năng vận dụng tri thức lý luận và khoa học vàothực tiễn không rập khuôn máy móc, tìm ra những con đường mới nhữngphương pháp mới, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với đòihỏi khách quan Với tư duy năng động, người CBCC cấp xã phải nắm bắt được
Trang 27sự vận động biến đổi không ngừng ở cấp xã trên quan điểm khách quan, toàndiện, lịch sử, cụ thể và phát triển để đưa ra những quyết sách đúng.
Bên cạnh đó phải tìm ra cái mới, phân tích được nguyên nhân phát sinh,
xu hướng vận động của các vấn đề đặt ra ở cấp xã để có những giải pháp phùhợp Thực tiễn hết sức phong phú, vì vậy người CBCC trong HTCT cơ sở phải
có khả năng phân loại, hệ thống hoá vấn đề, xác định được trọng tâm, mâu thuẫn
cơ bản để có phương án giải quyết sát đúng, ra những quyết định nhanh nhạyphát huy được nguồn lực, tiềm năng của cơ sở, địa phương để ổn định chính trị
xã hội, phát triển kinh tế Đi cùng với tính sáng tạo là tính quyết đoán, đó là khảnăng nắm bắt được vấn đề, ban hành những quyết định quả quyết, dứt khoát,không do dự, không rụt rè, đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm Trên cơ sở nắmvững cơ sở khoa học của vấn đề, nắm vững phương pháp luận trong giải quyếtvấn đề, tính quyết đoán tăng thêm hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo được niềm tincho người thực hiện, bảo đảm sự thống nhất, nhất quán trong việc ra quyết địnhlãnh đạo, chỉ đạo Nó là sản phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, tư duysáng tạo, sự thận trọng và niềm tin khoa học Tính quyết đoán khác hẳn với bệnhhách dịch, cửa quyền, quan liêu, mệnh lệnh, liều lĩnh và phiêu lưu Tính quyếtđoán thể hiện trước hết ở khả năng phán đoán chính xác tình hình, đưa ra đượcquyết định chỉ đạo ngay lập tức, chính xác trong những tình huống bất ngờ màkhông đòi hỏi thời gian chờ đợi để phân tích dự kiện hoặc chưa có đủ dự kiện cầnthiết để phân tích Quyết định này có được do sự nhạy cảm của trực giác, khảnăng phán đoán, phân tích, tổng hợp nhanh nhạy trên cơ sở tri thức phong phú đãđược tích lũy Cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội, nơi tổchức và thực thi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi hàng ngày,hàng giờ CBCC trong HTCT cơ sở gắn bó, gần gủi mật thiết với nhân dân Vìvậy, những vấn đề xảy ra cũng hết sức phong phú, phức tạp, nhạy cảm đòi hỏingười CBCC trong HTCT cơ sở phải giải quyết kịp thời, đúng đắn những vấn đềthực tiễn đặt ra Nếu không giải quyết kịp thời sẽ không đạt được hiệu quả côngtác lãnh đạo quản lý; mất thời cơ, lúng túng, bị động, công việc dồn ép, làm chậm,phát triển KT-XH, kìm hãm, cản trở… Nếu quyết định sai, võ đoán, chậm trễ sẽ
Trang 28gây mất lòng tin, có thể là ngòi nổ bùng phát xung đột hoặc tăng thêm bùng phátxung đột gây mất ổn định trật tự xã hội Nếu không quyết đoán, trông chờ ỷ lạicấp trên, dựa dẫm vào tập thể thì hiệu quả công tác kém Vì thế người CBCC cấp
xã phải không ngừng học tập, rèn luyện để có tri thức nhận biết được sự vận độngcủa thực tiễn, hiểu và nắm vững công việc mình phụ trách, có phương pháp luậnkhoa học, rèn luyện tính quyết đoán để có khả năng ra quyết định một cách dứtkhoát và dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình
1.2.2.4 Năng lực làm việc với con người
Môi trường hoạt động của CBCC trong HTCT cơ sở luôn gắn liền vớicon người Công tác lãnh đạo quản lý của họ là sự tác động đến con ngườibằng nhiều phương thức khác nhau Vì thế khả năng giao tiếp vừa thể hiệnnăng lực lãnh đạo vừa là một nghệ thuật để nâng cao năng lực lãnh đạo Phầnlớn thời gian làm việc của CBCC trong HTCT cơ sở là giao tiếp với cấp trên(để nhận chỉ đạo) với cấp dưới (để triển khai công việc) và đặc biệt là giao tiếpvới nhân dân Chất lượng công tác phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giao tiếp,làm việc với con người
Năng lực làm việc với con người là khả năng nắm bắt được tâm lý tưtưởng của đối tượng thông qua giao tiếp để chuyển được chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước vào cuộc sống thông qua con người Người CBCC trongHTCT cơ sở phải xây dựng được các mối quan hệ, phải thu hút mọi người thamgia vào công việc chung xuất phát từ lợi ích chung Có thái độ điềm tĩnh, cư xửnhã nhặn, lịch sự, tế nhị, khiêm tốn với nhân dân, tôn trọng hiểu rõ tâm tư tìnhcảm lợi ích của nhân dân, thông cảm lắng nghe ý kiến nhân dân Biết tự phêbình và phê bình, phát huy sáng kiến nhân dân, nghiêm khắc với những tiêu cực
Do vậy, CBCC trong HTCT cơ sở phải có khả năng đoàn kết, phát huy sứcmạnh của đội ngũ cán bộ cơ sở trong HTCT, sức mạnh của toàn dân và phát huyquyền làm chủ của nhân dân để thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương
1.2.3 Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở
Trang 29Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh đạophong trào cộng sản và công nhân thế giới, khi luận bàn về công tác xây dựngđội ngũ cán bộ đã chỉ rõ: phải đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện, giámsát, thậm chí phải bãi miễn cán bộ thì mới có được đội ngũ cán bộ tốt Đó lànhững người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, lốisống trong sạch, lành mạnh, có năng lực tổ chức thực tiễn, có phong cách làmviệc khoa học, tiên phong trong hành động, tiên phong về lý luận, có khảnăng tập hợp, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đưa sựnghiệp cách mạng tiến lên giành thắng lợi Đó là những hoạt động đặc biệtquan trọng của Đảng, cả trong lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền và khitrở thành đảng cầm quyền, xây dựng chế độ xã hội mới.
Khi nói về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, V.I Lêninnhấn mạnh: Tìm cho ra và thử thách hết sức nhẫn nại, hết sức thận trọng, nhữngngười thực sự có tài tổ chức, những người có bộ óc sáng suốt và có bản lĩnh, tháovát trong thực tiễn, những người trung thành với chủ nghĩa xã hội, vừa có năng lựclặng lẽ (bất chấp sự hỗn loạn ồn ào) tổ chức công tác cho vững chắc và nhịp nhàngcủa khối người to lớn trong phạm vi tổ chức Xô-viết Chỉ có những người như thếchúng ta mới đề bạt lên những chức vụ lãnh đạo, quản lý
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đặc biệt quan tâm tới công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Trongtác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người đã chỉ ra những việc chủ yếu phảithực hiện nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, như:huấn luyện cán bộ; lựa chọn cán bộ; cách đối với cán bộ; thương yêu cán bộ;phê bình cán bộ Trong đó, Người coi trọng việc huấn luyện cán bộ, coi đó
là "công việc gốc của Đảng"
Trong lịch sử cách mạng nước ta kể từ khi có Đảng, Đảng ta thườngxuyên coi trọng xây dựng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũCBCC Đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về cán bộ vàcông tác cán bộ ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu củatừng thời kỳ cách mạng Thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đại hội lần thứ
Trang 30VI của Đảng đã xác định: "Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quantrọng nhất mà Đảng phải nắm chắc để thúc đẩy những công cuộc cải cách có ýnghĩa cách mạng" Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta đã đề cập nhiều đếnquan điểm, nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ, trách nhiệm của Đảng và các tổchức khác trong HTCT về công tác cán bộ và nâng cao năng lực của đội ngũ cán
bộ Trong chiến lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng
ta đã xác định 5 quan điểm chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, qui chế và nhữngnội dung cơ bản của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ như: rèn luyện, tuyểnchọn, nâng cao phẩm chất, kiến thức, năng lực của cán bộ; giáo dục, bồi dưỡng,qui hoạch, đào tạo, bố trí; sử dụng cán bộ; phát hiện, kiểm tra, giám sát, quản lý,đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, nhân dân tham gia xây dựng đội ngũcán bộ, giám sát cán bộ, thực hiện chính sách cán bộ
Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng ta đã rất coi trọng xây dựng đội ngũ và nâng cao năng lực cán bộ,nhất là CBCC, trong đó có đội ngũ CBCC của HTCT ở cấp xã, đã chỉ ra nhữngkhâu, những qui trình để tạo ra đội ngũ cán bộ có đủ khả năng hoàn thành thắnglợi yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng nước ta
Từ những điểm trình bày nêu trên, quan niệm về nâng cao năng lực lãnhđạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở hiện nay là hoạt động của các cấp ủyĐảng các cấp; của các cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng; của lãnh đạo các tổchức thành viên trong HTCT cấp huyện và cấp xã tham gia vào các khâu: xâydựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá, lựa chọn cán bộ; xây dựng qui hoạch cán bộ;đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ; quản lý, kiểm tracán bộ; thực hiện chính sách đối với cán bộ đương chức và cán bộ dự nguồn cácchức danh chủ chốt của HTCT cơ sở của huyện; tạo điều kiện cho cán bộ tự họctập, tự rèn luyện nhằm tạo ra đội ngũ CBCC cấp xã có chất lượng tốt, có đức, cótài, đủ sức lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của địa phương
Từ quan niệm này, để thực hiện có hiệu quả việc nâng cao năng lực lãnhđạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở trong giai đoạn hiện nay, cần thốngnhất nhận thức trên những điểm chủ yếu như sau:
Trang 31- Chủ thể nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ
sở với tư cách là người lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ CBCC cấp
xã bao gồm: cấp ủy cấp trên và Đảng ủy các xã Trong đó, chủ thể trực tiếp làban thường vụ huyện ủy và đảng ủy các xã Dưới sự lãnh đạo và quản lý củađảng ủy xã, các tổ chức thành viên của HTCT, người đứng đầu các tổ chức củaHTCT xã đề cao trách nhiệm tham gia vào công tác xây dựng đội ngũ, nâng caonăng lực lãnh đạo của CBCC trong HTCT cơ sở
- Nội dung nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT
cơ sở bao gồm nâng cao năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức thực tiễn,năng lực sáng tạo và tính quyết đoán, năng lực làm việc với con người …
- Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sởđạt kết quả tốt, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phải nắm vững những quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trongđiều kiện Đảng cầm quyền Đồng thời phải quán triệt sâu sắc những quan điểmđổi mới của Đảng về công tác tổ chức cán bộ, thể hiện tập trung ở các nghị quyết:Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Trung ương 6 (lần 2), Trung ương 7 (khóaVIII); những kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa IX kiểm điểm việc thực hiện ba nghị quyết (Trung ương 3 khóa VII; Trungương 3, Trung ương 7 khóa VIII) và các qui định, hướng dẫn của Trung ương vềcán bộ và công tác cán bộ; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về “Đổi mới vànâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn”; Nghị quyết Trung ương
6 (khóa X) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”,; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về
“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
Từ cách đặt vấn đề đó, quá trình nâng cao năng lực lãnh đạo của độingũ CBCC trong HTCT cơ sở cần thống nhất một số quan điểm sau:
Một là: nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ
sở phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, gópphần xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh
Trang 32Trong quá trình CNH, HĐH và xây dựng Nông thôn mới, những biếnđổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội sẽ tác động trực tiếp đến đội ngũcán bộ và công tác nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trongHTCT cơ sở Thực tế phát triển hiện nay đòi hỏi phải khắc phục những yếukém, bất cập trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt độngcủa các đoàn thể tất cả những yếu tố đó đòi hỏi đội ngũ CBCC của HTCT
cơ sở phải có nhận thức đúng đắn về những yêu cầu của tình hình mới đểkhông ngừng nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;khả năng lãnh đạo, quản lý, điều hành, tập hợp, vận động đoàn kết nhân dânđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Như vậy, những yêu cầu của nhiệm vụ CNH, HĐH; xây dựng Nông thônmới… là cơ sở để xây dựng đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở Đồng thời quátrình CNH, HĐH, xây dựng Nông thôn mới, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụphát triển KT-XH của địa phương là môi trường thực tiễn để rèn luyện đội ngũcán bộ trưởng thành và phát triển
Hai là: quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy
truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc
Để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH, xây dựng Nôngthôn mới và những mục tiêu KT-XH, AN-QP của xã cần phải thu hút, đoàn kết,tập hợp rộng rãi, thực sự trọng dụng nhân tài, chú ý những người có xuất thân từcông nhân, những người thật sự trung thành với lý tưởng và sự nghiệp của giaicấp công nhân, với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc; không phânbiệt dân tộc, tôn giáo, trong Đảng hay ngoài Đảng; không định kiến với nhữngngười có quá khứ sai lầm nay đã thực sự hối cải và tiến bộ Quan tâm đổi mới,trẻ hóa đội ngũ cán bộ Trên cơ sở tiêu chuẩn và có sự chuẩn bị chu đáo thôngqua công tác qui hoạch cán bộ, kết hợp ba độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, tính kếthừa và phát triển của đội ngũ, giữ vững ổn định chính trị, kết hợp yêu cầu phục
vụ, đảm bảo hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trước mắt và lâu dài
Trang 33Ba là: xây dựng đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở gắn liền với việc xây
dựng bộ máy tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhândân ở xã vững mạnh
Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ có quan hệ chặt chẽ, khăng khít vớinhau, tác động lẫn nhau Bộ máy tổ chức qui định chất lượng cán bộ, đặt ra yêu cầutiêu chuẩn cho từng chức danh cán bộ trong bộ máy, qui định số lượng và cơ cấucán bộ phù hợp để bộ máy hoạt động có hiệu quả Bộ máy tổ chức gọn, nhẹ, rõchức năng, nhiệm vụ, có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các tổ chức trong bộmáy sẽ tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo, làmviệc có chất lượng, hiệu quả
Bốn là: thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của quần
chúng ở xã, nâng cao dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡngCBCC của HTCT
Bên cạnh nâng cao năng lực lãnh đạo, cần chú trọng công tác lựa chọnCBCC thông qua các khâu của công tác tổ chức Muốn lựa chọn, đánh giá đúngCBCC trong HTCT cơ sở phải thông qua hoạt động thực tiễn, phong trào cáchmạng ở cơ sở Đây là môi trường sinh động nhất để cán bộ bộc lộ khả năng, rènluyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực công tác,nhất là năng lực tổ chức thực hiện và vận động quần chúng nhân dân Cấp xã làcấp tổ chức thực hiện, vì vậy yêu cầu này đặc biệt quan trọng Như vậy, đội ngũCBCC trong HTCT cơ sở vừa phải được đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường để
có kiến thức cơ bản, phương pháp tư duy lôgíc, khoa học; vừa phải được rènluyện trong thực tiễn cuộc sống và công tác tại cơ sở
Mặt khác, để có nguồn cán bộ dồi dào, có chất lượng bổ sung cho độingũ CBCC trong HTCT cơ sở cần phải nâng cao dân trí, thông qua phong tràocủa quần chúng để lựa chọn những người ưu tú, tiêu biểu, được nhân dân tínnhiệm, có trình độ và năng lực Đây là một giải pháp quan trọng để tạo nguồnCBCC của HTCT cơ sở trong tình hình mới
Năm là: quán triệt quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ
và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người
Trang 34đứng đầu của tổ chức trong HTCT ở xã đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạocủa đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở.
Cán bộ và công tác cán bộ quyết định sự thành công hay thất bại của sựnghiệp cách mạng Hoạt động của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở quyết địnhhiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở bao gồm đảng bộ, chính quyền, mặt trận Tổquốc và các đoàn thể nhân dân ở xã và mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, anninh, quốc phòng ở địa phương Để đảm bảo giữ vững và phát huy vai trò lãnhđạo của Đảng bộ xã đối với mọi mặt của đời sống xã hội và đối với HTCT, đảng
ủy xã phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và không ngừng nâng cao nănglực của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ CBCC trong HTCT để có nhữngquyết định chính xác, sáng suốt, đúng ý Đảng, hợp lòng dân trong quá trình triểnkhai thực hiện Phải có cơ chế để khuyến khích, động viên nhân dân giới thiệuvới Đảng những cán bộ tốt, đảm bảo tiêu chuẩn, được nhân dân tín nhiệm, đồngthời có cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng, giám sát đội ngũ CBCCHTCT
1.3 Những đòi hỏi khách quan việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay
1.3.1 Vị trí, vai trò, đặc điểm của xã và hệ thống chính trị cơ sở
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 của nước ta cũng xác định rõ: "Nước chiathành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã vàthành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện,thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã vàthành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường”
Xã là đơn vị hành chính nhà nước ở địa phương cơ sở, có vị trí hết sứcquan trọng trong bộ máy hành chính bốn cấp ở nước ta Nói về vai trò, vị trí củacấp xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, lànền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi"
Xã là nơi chính quyền trong lòng dân như Đảng ta đã xác định Xã là cấpthấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nước nhưng lại
là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội
Trang 35Xã là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn thể tổchức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để nhân dânthực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình Nếu dân chủ là dânlàm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì xã là nơi thể hiện rõ nhất và trực tiếpnhất ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện
và dân chủ trực tiếp Chế độ ủy quyền và những phương tiện, những điều kiệnnhằm thực hiện và đảm bảo cho sự ủy quyền đó phải được bắt đầu từ xã mànhân dân là chủ thể Bao nhiêu quyền hành đều là của dân, bao nhiêu lợi íchcũng thuộc về dân Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Dân có quyền làmchủ, đồng thời có nghĩa vụ của người chủ Do ở xã là nơi làm việc và sinh hoạthàng ngày của dân chúng, là nơi thể chế được dân trực tiếp tổ chức nên và dânthường xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với những ngườiđại diện cho mình, đồng thời dân cũng có điều kiện biết rõ sự hoạt động của thểchế, của con người và tổ chức bộ máy, mặt hay cũng như mặt dở, mặt tốt cũngnhư mặt xấu với những khuyết tật của nó… nên quan hệ và thái độ của dân đốivới thể chế ở xã cho thấy rõ nhất hiện trạng của thể chế nói chung Động lực, nộilực của sự phát triển hay vật cản kìm hãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy
rõ nhất ở ngay xã Những yếu kém diễn ra trong thể chế ở xã làm thương tổnđến uy tín và ảnh hưởng xã hội của thể chế nói chung Những phản ứng, bấtbình của dân đối với cán bộ xã là khởi đầu cho những mất ổn định, thậm chí trởthành tình huống, thành điểm nóng gây hại tới sự bình yên của chế độ nóichung Do vậy, mấu chốt của xã là chất lượng cán bộ, là hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị sao cho giữ được dân, làm cho dân yên ổn, phấn khởi làm ăn,sinh sống, liên kết cộng đồng, quan tâm và bảo vệ thể chế, phát triển xã hội, pháttriển sức dân
- Xã là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từ vĩ mô phải tác độngtới Xã là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi quyết định, mọi chủ trương,đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước phải tìm đến Đường lối,nghị quyết có đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có được tổ chức hànhđộng trong phong trào rộng khắp để biến khả năng thành hiện thực hay không;
Trang 36đường lối, chính sách có tác dụng, hiệu quả đến đâu, đúng sai ra sao được chứngthực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành động thực tế của dânchúng Vì vậy, xã tuy là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý nhưng có tầmquan trọng đặc biệt, là vấn đề sống còn, thành bại của chế độ Xã là hình ảnhthu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, không đượcxao nhãng mà cần đặc biệt quan tâm, chỉ đạo thường xuyên Thực chất củamất xã là mất dân, mà khởi đầu của sự mất dân là xa dân của cán bộ xã, sựrệu rã của tổ chức bộ máy và sự hoành hành của nạn quan liêu, tham nhũnglàm cho dân đói khổ, bần cùng.
Xã không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách Xã là cấp hànhđộng, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết chính sách vào cuộc sống
Là cấp hành động, tổ chức thực hiện nên cán bộ xã phải gần dân, hiểu dân, sátdân và năng lực của cán bộ xã là năng lực thi hành, tổ chức công việc và thườngxuyên giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng Tổ chức bộ máy xã phảithực sự gọn nhẹ, “thà ít mà tốt”, năng động, nhạy bén, cán bộ xã phải thực sựnhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, sáng tạo một cách thiết thực, biết rõ phươnghướng hành động, có bản lĩnh dám chịu trách nhiệm, có phương pháp và phongcách dân vận “óc nghĩ, mắt nhìn, miệng nói, tai nghe, chân đi, tay làm” như HồChí Minh đã chỉ ra [21; 699] Biết làm cho dân tin, dân ủng hộ; biết tập hợp dânthành lực lượng và hoạt động trong phong trào; phục vụ dân, làm lợi cho dân,mưu cầu hạnh phúc cho dân, đó là tất cả những gì cán bộ xã cần có
HTCT ở xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhândân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cườngđại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năngphát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Trong nhiềunăm qua, HTCT ở cấp xã đã tích cực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mìnhcùng với nhân dân tạo nên những thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa,làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thay đổi đời sống nông dân theo hướng tích cực
Tính hệ thống của HTCT cơ sở hiện nay thể hiện trên các mặt cụ thể cótính nguyên tắc sau:
Trang 37- Các tổ chức thành viên của HTCT ở cơ sở cùng tồn tại và hoạt độngtrên cùng một địa bàn lãnh thổ - dân cư, đó là đơn vị hành chính cấp xã.
- Các thành viên của HTCT thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức
cơ sở Đảng về những nội dung cơ bản như đường lối, chủ trương, phươnghướng phát triển KT-XH và công tác tổ chức, cán bộ
- Các thành viên của HTCT thống nhất tiến hành các mặt hoạt động trongkhuôn khổ pháp luật của Nhà nước và sự quản lý, điều hành của chính quyền địaphương theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ,nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
- Tuy có chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức và phương thức hoạt độngkhác nhau, các thành viên của HTCT thống nhất cùng hướng tới các mục tiêuchung là phát triển KT-XH ở cơ sở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân địa phương, tất cả vì mục tiêu chung của xã hội là thực hiện “dân giàu,nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong sự thống nhất của HTCT, Đảng là bộ phận hạt nhân, giữ vai tròlãnh đạo của hệ thống; chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản lý,điều hành và các đoàn thể nhân dân là tổ chức đại diện quyền làm chủ của cáctầng lớp nhân dân Tổ chức Đảng cơ sở vừa là hạt nhân lãnh đạo HTCT, lãnhđạo chính quyền và là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cơ sở Chínhquyền cơ sở là cơ quan quyền lực Nhà nước trực tiếp quản lý, tổ chức đời sốngmọi mặt ở địa phương, phát huy mọi tiềm năng nhân tài, vật lực ở địa phươngphục vụ sự phát triển KT-XH Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địaphương là cầu nối giữa nhân dân với tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở, đạibiểu cho lợi ích của các tầng lớp nhân dân, là hậu thuẫn của Đảng và chínhquyền ở địa phương
1.3.2 Tính cấp thiết của việc đổi mới hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cơ sở hiện nay còn có nhiều ưu điểm cũng như hạnchế đòi hỏi phải tăng cường nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt
Nhìn chung, mối quan hệ giữa Đảng bộ, chính quyền và MTTQ cùng cácđoàn thể trong mỗi xã, thị trấn đã hoạt động có hiệu quả trong việc tổ chức và
Trang 38vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,huy động mọi khả năng phát triển KT-XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân
cư Sự nghiệp đổi mới với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, có nhiều mô hình kinh tế trang trại pháttriển làm cho bộ mặt nông thôn nước ta khởi sắc HTCT ở cơ sở đã và đang gópphần thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Bên cạnh những mặt ưu điểm, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các
tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập HTCT ở xã hiệnnay hoạt động với nhiều khó khăn, vướng mắc về trình độ, năng lực của đội ngũcán bộ, về cơ chế hoạt động, về sự phối hợp công tác giữa các tổ chức đảng,chính quyền và đoàn thể Những khó khăn vướng mắc đó làm hạn chế vai trò,hiệu quả hoạt động của HTCT, làm hạn chế quan hệ giữa HTCT với nhân dân vàgây trở ngại cho quá trình đổi mới, phát triển nông thôn Sau đây là một số hạnchế của hệ thống chính trị xã hiện nay:
- Hạn chế về trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ xã
Tính chung cả nước, trình độ cán bộ xã còn rất hạn chế cả về học vấn, lýluận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ Nhìn chung, đa số cán bộ xã chưa đượcđào tạo cả về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước,
đa phần trúng cử rồi mới đưa đi bồi dưỡng ngắn hạn Tại nhiều xã, nhất là các xãmiền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, cán bộ xã yếu về khả năng tư duy, xâydựng quy hoạch, kế hoạch; yếu cả về phương pháp tổ chức thực hiện; thườngtrông chờ sự hướng dẫn của cấp trên theo kiểu “cầm tay chỉ việc” Khó khăntrong hoạt động của hệ thống chính trị xã không chỉ đơn thuần là vấn đề trình độ
và năng lực cán bộ, mà còn là ở tính tiên phong gương mẫu, liên quan đến phongcách làm việc, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Các cán bộ hiện nay thừanhận rằng khó khăn của họ là quần chúng không ủng hộ mà nguyên nhân chủ yếu
là cán bộ không gương mẫu, làm mất tín nhiệm trong quần chúng, hoặc là trình
độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết về luật pháp và những quy định, thủ tục hànhchính
Trang 39- Hạn chế ở đội ngũ cán bộ giúp việc
Cái khó khi tiến hành công việc ở xã, một mặt do bản thân người cán bộchủ chốt, như đã nói ở trên, có những mặt hạn chế nhất định về trình độ, nănglực và khả năng bố trí thời gian công tác; mặt khác số cán bộ giúp việc cho họcũng hạn chế về trình độ, năng lực Số cán bộ giúp việc này không phải là dodân bầu, mà do xã hợp đồng Các điều kiện, tiêu chuẩn hợp đồng và thực tế việc
áp dụng các quy định về hợp đồng còn nhiều hạn chế, dẫn đến một số người cótrình độ không được nhận vào làm việc trong khi đó những người được nhận vàolại yếu về năng lực, trình độ
bộ xã chưa được coi trọng đúng mức, nhất là các xã vùng núi Công tác kiểmtra, đánh giá cán bộ không thường xuyên, nhiều nơi nguyên tắc tập trung dânchủ bị vi phạm, thực hiện kỷ luật không nghiêm chỉnh Thêm vào đó, ở nhiều
cơ sở, việc xử lý những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực chưa kịp thời và nghiêmminh, dẫn đến tiêu cực kéo dài, ngày càng trầm trọng Do buông lỏng côngtác quản lý và sử dụng cán bộ nên có không ít cán bộ xã thoái hóa, biến chất
về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, gia trưởng, kèn cựa địa
vị, cục bộ, bè phái, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, gây khó khăn cho việc lãnhđạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
- Điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn và trình độ dân trí còn thấp
Những khó khăn khách quan đối với hoạt động của HTCT cơ sở hiện nay
là điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn Đây là điềukiện khách quan làm ảnh hưởng và tác động đến mặt bằng chung về trình độ,
Trang 40năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã, hạn chế việc tuyên truyền đường lối, chínhsách và pháp luật trong nhân dân.
- Thiếu sự quan tâm của cấp trên, đặc biệt là cấp huyện
Ngoài những khó khăn xuất phát từ điều kiện, tình hình KT-XH, các lý
do chủ quan là khá rõ nét Không chỉ có khó khăn về trình độ, hoàn cảnh, nănglực, phẩm chất, tính tiên phong gương mẫu của CBCC mà còn là sự quan tâm,kiểm tra, đôn đốc, hỗ trợ, giúp đỡ của cấp trên
- Tổ chức, điều hành chưa hợp lý, phối hợp chưa đồng bộ và vướng mắc
về cơ chế
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, khối lượng công việccủa CBCC trong HTCT cơ sở tăng lên rất nhiều Khó khăn này vừa thể hiệntrình độ, năng lực của CBCC, vừa thể hiện sự hạn chế trong quản lý, điều hànhHTCT cơ sở hiện nay
1.3.3 Đòi hỏi cấp thiết của việc cải cách hành chính
Nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi một cách cơ bản một trạng thái,một đối tượng để phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, làmcho nó tốt hơn theo nhu cầu của con người Ví dụ: cải cách ruộng đất, cải cáchgiáo dục v.v Cải cách hành chính có nghĩa là thay đổi trạng thái đang tồn tạicủa cơ chế hành chính hiện tại, làm cho nó thay đổi các hoạt động phù hợp vớiyêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước Cải cách hành chính không làmthay đổi nền tảng của nền hành chính nhà nước mà chỉ làm thay đổi cơ chế vậnhành của nó theo yêu cầu quản lý đất nước thời kỳ kinh tế chuyển đổi sang cơchế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
Nền hành chính nhà nước là hệ thống tổ chức và định chế có chức năngthực thi quyền hành pháp, tức là quản lý công việc hàng ngày của nhà nước Cảicách nền hành chính là làm cho bốn yếu tố liên quan đến nền hành chính vậnhành có tính đồng bộ nhằm mang lại hiệu quả cho quản lý đất nước