Rõ ràng là chúng ta không thể áp đặt những quy định của Nhà nước về công tác lưu trữ tài liệu của các cơ quan quản lý nhà nước đối với tài liệu của các doanh nghiệp do các doanh nghiệp c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Phần mở đầu
1 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đề ra chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này lại được khẳng định rõ trong Hiến pháp năm 1992 là “Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” [12, 142] Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đó đã không còn phù hợp với xu thế và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta cũng như của cả thế giới hiện nay Việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế; thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật; mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học – kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới để phát triển vững mạnh kinh tế đất nước và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Nhà nước Việt Nam công nhận quyền tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh lành mạnh, tính sinh lợi hợp pháp và đảm bảo quyền bình đẳng của tất cả các doanh nghiệp trước pháp luật
Từ những chủ trương, chính sách về đổi mới đường lối phát triển kinh tế đó, gần
20 năm qua các loại hình doanh nghiệp đã được thành lập và đi vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đi lên một cách rõ rệt Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiện nay nước
ta có khoảng gần 160.000 doanh nghiệp Trong số đó có gần 4.000 doanh nghiệp nhà nước nhưng số lượng này sẽ giảm đi trong thời gian tới do quá trình cổ phần hoá, chuyển đổi hình thức sở hữu; số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến đầu tháng 02/2004 là 4246; còn lại là doanh nghiệp dân doanh gồm các công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Con số cụ thể của từng loại hình doanh nghiệp dân
Trang 3doanh không thể thống kê được vì hiện nay có qúa nhiều đầu mối quản lý là các cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp giấy đăng ký kinh doanh Hơn nữa nhiều doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản sau một thời gian được thành lập rất ngắn mà không
có báo cáo ngược trở lại với cơ quan quản lý Những con số thống kê được chỉ là trên sổ sách với các doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh, còn trên thực tế có thể khác xa nhiều
Mặc dù thời gian hoạt động và phát triển không dài so với các nước có nền kinh
tế phát triển nhưng trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp đã sản sinh một khối lượng văn bản rất đa dạng và phong phú về mặt hình thức cũng như nội dung Hệ thống văn bản này không chỉ phản ánh quá trình hình thành, phát triển, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà còn phản ánh đường lối, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt nam trong thời gian qua Hệ thống văn bản còn là công cụ hữu hiệu giúp các doanh nghiệp quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, là yếu tố góp phần đáng kể vào thành công của doanh nghiệp nếu như được sử dụng bởi những nhà lãnh đạo doanh nghiệp giỏi Và ngược lại, văn bản cũng có thể là mặt trái của con dao hai lưỡi, là một trong những nguyên nhân của những thua lỗ của nhiều doanh nghiệp, có khi là bị phá sản nếu như được quản lý và sử dụng bởi những nhà lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế về kiến thức quản lý và kinh doanh Tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp chứa đựng nhiều giá trị, có ý nghĩa không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả quốc gia cần được bảo quản để phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này
Một điều đã khiến cho những người nghiên cứu, những ai có quan tâm đến sự nghiệp phát triển của ngành lưu trữ nói riêng và sự an toàn của di sản văn hoá dân tộc nói chung là các doanh nghiệp chưa tổ chức quản lý tốt tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình Tại nhiều doanh nghiệp, tài liệu sau khi hết giá trị hiện hành đều không được các doanh nghiệp quan tâm, chưa được tổ chức bảo quản vì không có kho Trừ một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tổ chức quản lý tài liệu và bước đầu tổ chức
Trang 4khai thác sử dụng chúng, hiện vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp chưa xem trọng vai trò, tác dụng của văn bản, tài liệu đối với hoạt động của doanh nghiệp mình Các doanh nghiệp tự tổ chức quản lý và sử dụng tài liệu theo cách riêng của mình, không được thống nhất về chuyên môn nghiệp vụ và không theo một định chế nào Đáng suy nghĩ hơn là nhiều doanh nghiệp chỉ xem trọng tài liệu khi chúng còn giá trị phục
vụ cho các “thương vụ”, sau đó nhiều tài liệu bị hư hỏng, thất lạc, không được tổ chức bảo quản hoặc bị đem tiêu huỷ mà không có sự can thiệp của các cơ quan quản
lý nhà nước
Thời gian qua, công tác lưu trữ của Việt Nam chỉ mới quan tâm và quản lý được TLLT của các cơ quan nhà nước và của các tổ chức chính trị – xã hội Còn đối với tài liệu của các doanh nghiệp thì chưa có một quy định, hướng dẫn cụ thể nào về mặt nghiệp vụ từ thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả sao cho phù hợp với đặc điểm của khối tài liệu này Rõ ràng là chúng ta không thể áp đặt những quy định của Nhà nước về công tác lưu trữ tài liệu của các cơ quan quản lý nhà nước đối với tài liệu của các doanh nghiệp do các doanh nghiệp có đặc điểm tổ chức và hoạt động rất khác nhau tuỳ thuộc loại hình Chính vì vậy, việc nghiên cứu công tác
tổ chức quản lý tài liệu của các doanh nghiệp, cụ thể hơn là của từng loại hình doanh nghiệp hiện nay và trong tương lai đã trở thành một vấn đề cấp thiết đối với lưu trữ Việt Nam Chúng ta cần làm tốt nhiệm vụ này để lựa chọn đưa vào bảo quản những tài liệu có giá trị, tổ chức khai thác sử dụng một cách có hiệu quả, trước tiên là phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sau đó là phục vụ cho công tác nghiên cứu lâu dài vì các mục đích khác nhau của cuộc sống Hơn thế nữa, ngay từ bây giờ chúng ta có thể bảo vệ được nhiều tài liệu có giá trị của doanh nghiệp trước nguy cơ bị mất mát, huỷ hoại như thực tế đang diễn ra hiện nay Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Tổ chức quản lý công tác lưu trữ của các Tổng công ty 91” làm luận văn Thạc sĩ của mình
Như số liệu trên đã nêu, doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số doanh nghiệp hiện có của Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp này
có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước, đặc biệt là các Tổng công
Trang 5ty 91 (TCT 91) Có thể lý giải cho việc chọn nghiên cứu tổ chức quản lý công tác lưu trữ của các TCT 91 như sau:
Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc điểm tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau cho nên các loại hình văn bản hình thành trong hoạt động của các loại hình doanh nghiệp này cũng khác nhau Ngoài ra, vai trò, vị trí của mỗi loại hình doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân cũng khác nhau Quan trọng hơn cả
là quyền sở hữu về vốn có vai trò quyết định đến quyền sở hữu TLLT - được xem là
bộ phận thuộc tài sản của doanh nghiệp Đây là yếu tố quan trọng cần chú ý đến khi nghiên cứu công tác lưu trữ của các doanh nghiệp Trong khi đó, các loại hình doanh nghiệp hiện có của Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu vốn khác nhau nên không thể đồng nhất chúng được
Các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam hiện nay chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các doanh nghiệp này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước trong thời gian qua và trong tương lai Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp dân doanh, cụ thể là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được thành lập với quy mô nhỏ, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ nên phần lớn đêu không tổ chức công tác lưu trữ Đối với các doanh nghiệp dân doanh có quy mô lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh thành đạt, có chú trọng đến công tác công văn giấy tờ, nhưng với lý do bảo vệ bí mật kinh doanh nên đều hạn chế sự tiếp cận của “người ngoài” với tài liệu của doanh nghiệp mình Điều quan trọng hơn nữa là ngoài Luật
Kế toán, Điều 94 của Luật Doanh nghiệp và Quyết định số 218/2000/QĐ-BTC ngày 29-12-2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ Lưu trữ tài liệu kế toán có quy định việc lưu trữ một số tài liệu của các doanh nghiệp mà chủ yếu là tài liệu kế toán thì cho đến nay, Nhà nước chưa ban hành các văn bản quy định về công tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp nói chung, của các doanh nghiệp dân doanh nói riêng Có thể nói, việc nghiên cứu một cách sâu sắc và đầy đủ công tác lưu trữ của các doanh nghiệp dân doanh hiện nay là còn thiếu các căn cứ pháp lý và điều kiện thực tế
Trang 6Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm doanh nghiệp liên doanh
và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì hiện nay được xem là “vùng nhạy cảm”,
“vùng cấm” đối với các nhà nghiên cứu, thậm chí là đối với các cơ quan chức năng Chúng ta đều biết, mục đích của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài là nhằm tạo nguồn vốn từ kinh tế đối ngoại để tích luỹ ban đầu; tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến; học tập kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển; đổi mới cơ cấu kinh tế đất nước và tham gia vào sự phân công lao động thế giới Trong mục đích học tập kinh nghiệm quản lý bao gồm cả việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức công tác công văn giấy tờ Đây là cơ hội và cũng là mong muốn của những người công tác trong lĩnh vực này Tuy nhiên, do rất nhiều lý do mà điều này chưa thực hiện được
Có thể khẳng định rằng tài liệu của các doanh nghiệp nhà nước thuộc quyền sở hữu của Nhà nước vì chính Nhà nước đầu tư vốn và quyết định thành lập doanh nghiệp Chính vì thế, công tác công văn giấy tờ của các doanh nghiệp thuộc loại hình này cần phải chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng có thẩm quyền Tuy nhiên, công tác lưu trữ của các doanh nghiệp nhà nước đến nay vẫn chưa được tổ chức thống nhất dưới sự quản lý của cơ quan chức năng Một số doanh nghiệp nhà nước chủ động tổ chức kho tàng để bảo quản tài liệu của doanh nghiệp mình Bên cạnh đó, cũng có nhiều doanh nghiệp chưa có sự quan tâm đúng mức đến tài liệu khi chúng đã hết giá trị hiện hành, không tổ chức công tác lưu trữ Các doanh nghiệp nhà nước tổ chức công tác quản lý tài liệu của mình như thế nào: có cần theo đúng các qui định của Nhà nước hay không? theo hình thức tập trung hay phân tán?
đã theo đúng theo quy trình nghiệp vụ chưa? tài liệu có được bảo vệ an toàn, có bị
hư hỏng, thất thoát hay không? hiệu quả tổ chức khai thác sử dụng như thế nào? Đó
là những vấn đề vẫn chưa được giới khoa học hoặc các cơ quan chức năng quan tâm nghiên cứu Câu hỏi có nên hay không doanh nghiệp nhà nước, cụ thể ở đây là các TCT 91 tự bảo quản TLLT của mình, sau khi hết thời gian quy định sẽ nộp trực tiếp vào các TTLTQG, hoặc có nên hay không để cho doanh nghiệp tổ chức bảo quản tài liệu của doanh nghiệp mình giống hình thức các lưu trữ chuyên ngành của các Bộ
Trang 7Công An, Quốc phòng, Ngoại giao cũng cần được đặt ra để các nhà nghiên cứu cùng nhau trao đổi Thiết nghĩ đây là những vấn đề cần phải được nghiên cứu ngay từ bây giờ, nếu không chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới
2 Mục tiêu của đề tài
Thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn giải quyết hai mục tiêu chủ yếu sau:
- Một là khái quát được tình hình thực tiễn về tổ chức quản lý TLLT của các TCT
91
- Hai là trên cơ sở thực trạng của công tác quản lý TLLT của các TCT 91 đề xuất một số giải pháp nhằm tổ chức tốt công tác quản lý TLLT của các doanh nghiệp này, đặc biệt là đưa ra một mô hình mới đảm bảo bảo quản, tổ chức khai thác sử dụng khối TLLT này một cách hiệu quả nhất Đây có thể là cơ sở cho việc tiến hành những bước nghiên cứu tiếp theo để tìm các biện pháp quản lý tài liệu của các loại hình doanh nghiệp khác, trước tiên là các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới các hình thức khác nhằm góp phần bảo vệ, làm đầy đủ và tăng giá trị Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hiện nay Nhà nước Việt Nam thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp nhà nước;
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Các công ty gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn, công cổ phần và công ty hợp danh;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các TCT 91 là các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hình thức TCT nhà nước Hiện có tất cả 18 TCT
Trang 891 nhưng chỉ có 16 TCT có trụ sở tại Hà Nội, còn TCT Lương thực Miền Nam và TCT Cao su Việt Nam có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh Chính vì thế tác giả cũng chỉ có điều kiện điều tra, khảo sát các TCT ở Hà Nội, trong đó tập trung khảo sát sâu tại các TCT Xi măng Việt Nam, TCT Dầu khí Việt Nam, TCT Điện lực Việt Nam, TCT Bưu chính – Viễn thông Việt Nam và TCT Đường sắt Việt Nam Do khả năng và thời gian thực hiện có hạn nên đề tài cũng chỉ giới hạn điều tra, khảo sát, nghiên cứu ở “cơ quan các TCT 91” mà không tiến hành nghiên cứu ở các đơn vị thành viên của các TCT trên
Đề tài không đi sâu nghiên cứu các giải pháp nghiệp vụ cụ thể công tác lưu trữ của các TCT 91 mà chỉ tập trung nghiên cứu các mặt của công tác lưu trữ trong các doanh nghiệp này, cụ thể là về công tác chỉ đạo và tổ chức, công tác tổ chức khoa học TLLT, công tác kho tàng, công tác khai thác sử dụng TLLT và thu thập TLLT của các TCT 91 vào lưu trữ lịch sử
4 Nhiệm vụ của đề tài
Thứ nhất, nêu rõ vị trí, vai trò của các TCT 91 đối với nền kinh tế đất nước, khái quát về tổ chức và hoạt động của các TCT 91 Đồng thời phân tích thành phần, nội dung, ý nghĩa tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này
Thứ hai, khảo sát và nêu ra được thực trạng công tác quản lý tài liệu ở một số TCT 91, đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân của những hạn chế trong công tác lưu trữ của các TCT 91 hiện nay Từ đó đề ra các giải pháp nhằm tổ chức tốt công tác lưu trữ và TLLT của các TCT 91 phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp nhằm bảo vệ an toàn, phát huy mọi giá trị TLLT của các doanh nghiệp
nhà nước, đảm bảo sự toàn vẹn, thống nhất Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài trên cơ sở nghiên cứu phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là những phương pháp mang tính chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó, các phương pháp
Trang 9luận của lưu trữ học là nguyên tắc chính trị, nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc toàn diện tổng hợp là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng nhiều các phương pháp cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp logich, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác công văn giấy tờ của các doanh nghiệp nói chung là vấn đề mới ít được các nhà nghiên cứu lưu tâm đến trong mấy năm gần đây Như vậy, có thể nói đây là lĩnh vực còn mới mẻ, có rất nhiều vấn đề đang được đặt ra cần nghiên cứu, giải quyết Một lý do quan trọng nữa là việc khảo sát đối tượng để phục vụ nghiên cứu
có nhiều rào cản khiến cho nhiều đề tài nếu có đặt ra cũng khó có điều kiện thực hiện Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này, dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng chưa được thống nhất và toàn diện Cụ thể, đối với loại hình doanh nghiệp nhà nước có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản của các doanh nghiệp nhà nước” của nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Học Viên Hành chính quốc gia do PGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm chủ nhiệm đề tài và hoàn thành vào năm 2003 Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học có quy mô lớn nhất so với các công trình nghiên cứu khác trong lĩnh vực công tác công văn giấy tờ của các doanh nghiệp Nhóm tác giả đã đi sâu khảo sát hệ thống văn bản hình thành trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, tìm hiểu thực trạng ban hành và sử dụng văn bản, phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản và thủ tục hành chính trong điều hành hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Chỉ dưới góc độ ban hành và sử dụng văn bản, đề tài đã cho chúng ta thấy một thực trạng yếu kém của công tác này của các doanh nghiệp nhà nước dù rằng từ trước đến nay chúng ta đều có chung suy nghĩ là công tác văn thư, công tác lưu trữ trong loại hình doanh nghiệp này là tốt so với các loại hình doanh nghiệp khác Một hệ quả tất yếu là công tác lưu trữ trong các doanh nghiệp này là vấn đề cần phải được nghiên cứu để có hướng giải quyết kịp thời
Trang 10Về hệ thống văn bản của các doanh nghiệp còn được tập trung nghiên cứu trong
đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia “Hệ thống văn bản quản lý hình thành trong hoạt động của một số loại hình doanh nghiệp” do TS Vũ Thị Phụng chủ trì, hoàn thành vào tháng 5/2003 Kết quả nghiên cứu, khảo sát của đề tài là đã làm rõ các nguồn hình thành nên hệ thống văn bản của các doanh nghiệp, đặc điểm về thể thức, văn phong nội dung văn bản của nhiều loại hình doanh nghiệp Việt Nam
Như vậy, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở công tác khảo sát và đánh giá hệ thống văn bản của các doanh nghiệp Còn vấn đề các doanh nghiệp “đối xử” như thế nào với TLLT của doanh nghiệp mình thì chỉ mới được đặt ra nhưng chưa có điều kiện thực hiện Nhưng đây cũng là tín hiệu đáng mừng, cho thấy công tác công văn giấy tờ của doanh nghiệp đã được giới lưu trữ học và xã hội quan tâm đến
Trên tạp chí “Lưu trữ Việt Nam” trong những năm gần đây đã thấy xuất hiện một
số bài đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên số bài viết được công bố là rất ít, có thể liệt
kê cụ thể như sau: bài viết của tác giả Nguyễn Trọng Biên “Suy nghĩ về công tác lưu trữ của doanh nghiệp trong thời kỳ đổi mới” – số 3/2000, Nguyễn Thị Huệ “Vài nét
về việc áp dụng “Chế độ lưu trữ tài liệu kế toán” mới vào các doanh nghiệp nhà nước hiện nay” – số 5/2001 Song song với những bài viết này còn có hai bài viết đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học lần thứ hai của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng nhân kỷ niệm 5 năm thành lập Khoa và 35 năm đào tạo cán bộ lưu trữ ở Việt Nam Đó là bài “TLLT của các doanh nghiệp ở Việt Nam và những vấn đề khoa học cần nghiên cứu” của TS Vũ Thị Phụng và bài “Một số vấn đề về công tác văn thư, lưu trữ ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” của tác giả TS Hồ Văn Quýnh Các bài viết đã nêu lên được tính cấp thiết của việc nghiên cứu công tác công văn giấy tờ, đặc biệt là công tác lưu trữ của các doanh nghiệp trong cơ chế của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ mới gợi mở các vấn đề để hướng sự nghiên cứu của những ai quan tâm Riêng đối với bài viết của TS Hồ Văn Quýnh, tuy trong tiêu đề có nêu rõ giới hạn công tác văn thư, lưu trữ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng theo tôi giá trị tham khảo là không cao vì nếu đọc
kỹ thì bài viết chỉ chứa đựng những khái niệm thông thường
Trang 11Công tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp cũng đã được sinh viên của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng chọn làm hướng viết khoá luận tốt nghiệp của mình Mặc dù đây là lĩnh vực mới, có tính hấp dẫn nhưng do khó có điều kiện tiếp cận để khảo sát nên số lượng sinh viên nghiên cứu về vấn đề này không nhiều Cụ thể đó là khoá luận tốt nghiệp của Vũ Bá Dụ: “Tìm hiểu công tác xây dựng và quản
lý văn bản ở một số TCT 91”, khoá luận tốt nghiệp của Hoàng Thị Thu Thuỷ: “Hệ thống văn bản và công tác văn thư lưu trữ trong một số công ty TNHH” Đặc biệt có hai khoá luận tuy chỉ mới nói đến đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp liên doanh
và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài mà tác giả đã được đánh giá là những người
“dũng cảm”, mặc dù mức độ khảo sát chưa phải là sâu và toàn diện Lý do là việc tiếp cận để khảo sát, nghiên cứu loại hình doanh nghiệp này rất khó, không phải ai cũng có thể làm được Đó là khoá luận của Vũ Thị Tuệ Phương: “Bước đầu tìm hiểu
hệ thống văn bản ở công ty liên doanh YAMAHA MOTOR Việt Nam” và khoá luận của Nguyễn Thị Ngọc: “Công tác quản lý văn bản và lưu trữ hồ sơ tàiliệu ở một số doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trên địa bàn Hà Nội” Tuy với số lượng không nhiều nhưng đối tượng khảo sát có thể nói là gần đủ các loại hình doanh nghiệp hiện
có của Việt Nam Tuy nhiên, các luận văn trên bước đầu chỉ là nêu lên kết quả khảo sát hệ thống văn bản, công tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp và một số nhận xét kiến nghị cá nhân
Gần đây nhất còn có công trình nghiên cứu – luận văn thạc sĩ: “Xác định giá trị tài liệu hành chính hình thành trong hoạt động của các TCT 100% vốn nhà nước” của tác giả Lã Thị Hồng Để đưa ra các nguyên tắc, phương pháp, các cơ sở pháp lý,
cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và xây dựng danh mục thành phần tài liệu hành chính của các TCT 100% vốn nhà nước, tác giả luận văn đã phân tích một cách sâu sắc và đầy đủ thành phần, nội dung và ý nghĩa về nhiều mặt TLLT của các doanh nghiệp nhà nước Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu và có giá trị tham khảo lớn cho những ai muốn nghiên cứu về công tác lưu trữ của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là về nghiệp vụ xác định giá trị tài liệu
Trang 12Qua đây có thể khẳng định được rằng, vấn đề đi sâu nghiên cứu công tác tổ chức quản lý TLLT của các TCT 91 để đưa ra một số mô hình tổ chức quản lý nhằm bảo quản và khai thác sử dụng có hiệu quả khối tài liệu này chưa được ai nghiên cứu đến
7 Các nguồn tài liệu tham khảo
Các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết và khoá luận tốt nghiệp được nêu trong Lịch sử nghiên cứu vấn đề là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài này Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác như:
- Các sách về lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ như: Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ ; Lưu trữ học; Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của lưu trữ cơ quan
- Văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác văn thư và công tác lưu trữ như: + Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001;
+ Nghị định 111/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một só điều của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia;
+ Thông tư 40/1999/TT-TCCP ngày 24/01/1999 của Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ hướng dẫn tổ chức lưu trữ ở các cơ quan nhà nước các cấp; + Quyết định số 177/2003/QĐ-TTg ngày 01/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước
- Các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý doanh nghiệp như các Văn kiện đại hội và các Nghị quyết của Đảng, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Kế toán; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định của Chính phủ về việc thành lập và phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của các TCT 91;
Trang 13- Các văn bản do một số TCT 91 ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban, về quy chế hoạt động của HĐQT, về công tác văn thư
và công tác lưu trữ của doanh nghiệp; các sổ đăng ký công văn đi - đến, các mục lục
hồ sơ
- Các báo cáo kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học, nhiều bài viết khác đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài nếu được triển khai và thực hiện tốt sẽ có những đóng góp sau:
- Đóng góp đầu tiên của đề tài là cho chúng ta hiểu được đặc điểm về tổ chức và hoạt động của các TCT 91, giá trị tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp này Đồng thời thấy được thực trạng công tác lưu trữ của các doanh nghiệp này
- Thông qua việc đề xuất một số giải pháp để tổ chức công tác lưu trữ của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các TCT 91, tác giả mong muốn đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các các cơ quan chức năng, đặc biệt là Cục Văn thư lưu trữ Nhà nước để có hành động thiết thực ngay từ bây giờ nhằm bảo vệ khối tài liệu này trước nguy cơ ngày càng bị hư hỏng, thất thoát
9 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương
Trang 14Chương 1 Khái quát lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của các TCT 91
Chương này sẽ nêu khái quát về lịch sử hình thành, vị trí và vai trò của các TCT
91 đối với nền kinh tế đất nước; về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của các TCT 91; làm rõ các mối quan hệ của các TCT 91 với Chính phủ và các cơ quan quản
lý nhà nước, với chính quyền địa phương và các đối tác, với các đơn vị thành viên Với tính chất là dẫn luận, mục đích của chương này là giúp chúng ta thấy được đặc điểm tổ chức và hoạt động của các TCT 91 để hình dung được các nguồn hình thành nên hệ thống văn bản, sau đó sẽ là TLLT của các TCT 91 Đặc biệt là từ vị trí, vai trò quan trọng của các TCT 91 trong nền kinh tế quốc dân chúng ta sẽ có cơ sở để khẳng định giá trị của khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp này đối với các doanh nghiệp nói riêng và đối với quốc gia nói chung
ở chương tiếp theo
Chương 2 Thực trạng công tác lưu trữ của các TCT 91
Đây là một trong hai chương chính của luận văn Đó là phần trình bày kết quả khảo sát tình hình công tác lưu trữ và TLLT của các TCT 91 dưới nhiều góc độ: đặc điểm về số lượng, về loại hình, về thành phần và nội dung TLLT Đặc biệt, chương
2 chú trọng phân tích ý nghĩa, giá trị TLLT của các TCT 91 đối với chính doanh nghiệp và đối với quốc gia Qua kết quả khảo sát, chúng ta hiểu được thực trạng công tác lưu trữ của các doanh nghiệp điển hình này, mức độ can thiệp của các cơ quan chức năng trong việc quản lý công tác lưu trữ và khối TLLT của các TCT 91 Trong chương này chúng tôi cũng đã tìm rõ các nguyên nhân của thực trạng để từ đó
có cơ sở đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tổ chức tốt công tác lưu trữ và quản lý TLLT của các doanh nghiệp này
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lưu trữ của các TCT 91
Chương này đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lưu trữ của các TCT 91 phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp Trong các giải pháp, chúng tôi đặc biệt chú trọng vào việc đưa ra mô hình tổ chức quản lý
Trang 15TLLT của doanh nghiệp ở gia đoạn lưu trữ lịch sử, đảm bảo nguyên tắc bảo quản tập trung, thống nhất tài liệu Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam Đó là thành lập Trung tâm lưu trữ Kinh tế Quốc gia Vì đây là mô hình mới, được đề xuất chỉ mới trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp cao học nên chúng tôi thấy cần phải phân tích cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc tổ chức bảo quản tài liệu của các doanh nghiệp này theo mô hình được đề ra
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã gặp không ít khó khăn khi tiến hành điều tra, khảo sát tại một số TCT 91 Đây cũng là trở ngại chung của nhiều đối tượng khi muốn tiếp cận với tài liệu của các doanh nghiệp Tuy nhiên, nhờ sự giúp
đỡ nhiệt tình của một số lãnh đạo Văn phòng và cán bộ phụ trách công tác văn thư lưu trữ của các TCT 91 như: TCT Xi măng Việt Nam, TCT Bưu chính Viễn thông Việt Nam, TCT Điện lực Việt Nam chúng tôi đã có những thông tin, tài liệu quý báu để hoàn thành nhiệm vụ của mình Do trình độ và kinh nghiệm bản thân tác giả còn nhiều hạn chế, nên mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn còn có nhiều thiếu sót Hơn nữa, trong luận văn có nhiều nhận định mang tính chủ quan nhưng chủ ý của tác giả cũng chỉ là mong muốn ngành Lưu trữ Việt Nam có một vị trí tương xứng trong xã hội Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, của bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề này với hy vọng các công tình nghiên cứu tiếp theo sẽ đạt được chất lượng cao hơn
Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn, giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của PGS TSKH Nguyễn Văn Thâm Nhân đây, tôi xin được chân thành cảm ơn Thầy, cảm ơn các cơ quan và các cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nôi, ngày tháng năm 2005 Tác giả
Nguyễn Thị Kim Bình
Trang 16Chương 1 Khái quát lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của các
Tổng công ty 91 (TCT 91) 1.1 Lịch sử hình thành và vị trí, vai trò của các TCT 91 trong nền kinh
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường hơn nữa vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là việc cần tạo ra một hệ thống các doanh nghiệp lớn tại các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, Đảng đã đưa chủ trương hình thành một số tổ chức kinh tế lớn – các TCT nhà nước với mức tích tụ, tập trung cao về vốn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới Việc thí điểm thành lập các TCT nhà nước với quy mô lớn càng nhằm xoá bỏ dần chế độ
Trang 17Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước, tiến đến loại
bỏ những TCT mang tính hành chính trung gian Hơn nữa, các TCT nhà nước có quy mô lớn sẽ là mô hình thí điểm để có thể hình thành các Tập đoàn kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành có tầm vóc quốc tế, quốc gia hoặc khu vực, địa bàn
Thực hiện các chủ trương trên của Đảng, ngày 7-3-1994 Thủ tướng Chúnh phủ ký Quyết định 90-TTg về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và Quyết định 91-TTg về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh Các TCT được thành lập theo Quyết định 91-TTg (gọi tắt là Quyết định 91) của Thủ tướng Chính phủ là các TCT đặc biệt quan trọng, trực thuộc Chính phủ và do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, giải thể, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý, điều hành quan trọng cũng như phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động Các TCT này được gọi tắt là các TCT 91 và là cơ sở để thí điểm thành lập các tập đoàn kinh doanh, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những yêu cầu cần thiết cho thị trường trong nước và có triển vọng mở rộng quan hệ kinh doanh ra nước ngoài
Như vậy, TCT 91 trước tiên là doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước, được tổ chức dưới hình thức TCT và thuộc loại hình TCT nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Theo khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thì: “TCT
do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập là hình thức liên kết và tập hợp các công ty thành viên hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật chính, nhằm tăng cường tích tụ,, tập trung vốn và chuyên môn hoá kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn TCT” Các TCT 91 trước hết là các tổ chức kinh tế có nhiệm vụ thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước giao Ví dụ:
- Điều 2 Nghị định 51/CP ngày 01/8/1995 của Chính phủ phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của TCT Bưu chính Viễn thông quy định: “TCT Bưu chính Viễn thông có nhiệm vụ kinh doanh và phục vụ về bưu chính viễn thông theo quy hoạch,
Trang 18kế hoạch và chính sách phát triển của Nhà nước, bao gồm xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư; phát triển và quản lý khai thác mạng lưới bưu chính viễn thông công cộng và quốc gia; kinh doanh các dịch vụ bưu chính viễn thông; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; phục vụ công ích, quốc phòng, an ninh, ngoại giao; sản xuất công nghiệp và tư vấn về bưu chính viễn thông; khảo sát, thiết kế xây dựng công trình bưu chính viễn thông; xuất nhập khẩu cung ứng vật tư, thiết bị bưu chính viễn thông; hợp tác, liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong ngoài nước ”
- Diều 2 Nghị định 08/CP ngày 08/02/1995 của Chính phủ phê duyệt Điều lệ
tổ chức và hoạt động của TCT Xi măng Việt Nam quy định: “TCT Xi măng Việt Nam có nhiệm vụ kinh doanh xi măng, tấm lợp amiăng – xi măng theo quy hoạch,
kế hoạch và chính sách của Nhà nước, xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguốn vốn đầu tư, xây dựng, sản xuất, lưu thông, tiếp thị, vận chuyển, tiêu thụ, xuất nhập khẩu, cung ứng vật và thiết bị chuyên dùng, tiến hành các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật, chính sách của Nhà nước”
Về nguyên tắc, Quyết định 91 quy định TCT 91 phải có 7 đơn vị thành viên trở lên, có vốn pháp định ít nhất là 1.000 tỷ đồng Các TCT 91 được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết “các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau
về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn TCT; đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế”[26, 478] Ngoài ra, các TCT 91 có thể hoạt động kinh doanh đa ngành song nhất thiết phải có định hướng ngành chủ đạo, mỗi công ty được tổ chức công ty tài chính để huy động vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển của nội bộ công ty hoặc liên doanh với các đơn
vị kinh tế khác
Trong 10 năm qua, với chủ trương thành lập thí điểm một số TCT lớn, về lâu dài
sẽ là các tập đoàn kinh doanh có thế và lực mạnh để hổ trợ cho các doanh gnhiệp nhà nước còn lại và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển,
Trang 19Đảng và Nhà nước đã tập trung ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi từ vốn đến các chính sách về thuế và đất cho doanh nghiệp nhà nước nói chung, các TCT 91 nói riêng Những ưu tiên này để tạo cho các doanh nghiệp nhà nước những bước đầu tiên quen dần với cơ chế thị trường, tạo đà cho phát triển sau này Tuy nhiên, do một thời gian dài đã quen với tính thụ động, hoạt động sản xuất kinh doanh luôn theo kế hoạch, chỉ tiêu được giao nên thời gian đầu các doanh nghiệp nhà nước đã gặp không ít khó khăn Thậm chí nhiều doanh nghiệp thành viên làm ăn thua lỗ triền miên, gây hao hụt vốn của Nhà nước Một số TCT 91 đã biến những ưu tiên của Nhà nước thành thế độc quyền trên thị trường, tạo nên những bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, trái với quy định tại điều 22 của Hiến pháp năm 1992: “Các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật” [11,144]
Trước tình hình đó, Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 24/9/2001 Hội nghị lần thứ
ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX “Về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; đẩy mạnh cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn Tiếp tục dổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác
và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác”[23, 7] Chủ trương của Đảng về xắp xếp, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước là theo tinh thần giảm số lượng và tăng chất lượng nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào sản xuất kinh doanh Bằng biện pháp đa dạng hoá sở hữu dưới nhiều hình thức như cổ phần hoá, giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, bán, cho thuê và giải thể những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài, cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đến nay đã có nhiều thay đổi Theo đó, các TCT 91 đều phải lập đề án về đổi mới và sắp xếp lại mà trọng tâm là
Trang 20cổ phần hoá các đơn vị thành viên để trình Chính phủ phê duyệt, theo dõi chỉ đạo Tuy nhiên, tiến độ thực hiện công tác nàytại các doanh nghiệp nhà nước nói chung là rất chậm so với đề án Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 03/02/2004 Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX “về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng” lại nhấn mạnh việc “tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá mạnh hơn nữa” [54,191] Tiếp theo, ngày 30-3-2004 Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/2004/CT-TTg về việc đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết TW 9 (khoá IX) và tổ chức triền khai Luật Doanh nghiệp nhà nước Chỉ thị “ xác định sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm của các năm 2005 – 2005 Nghiêm túc thực hiện nội dung và phấn đấu đẩy nhanh lộ trình thực hiện Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đẫ được phê duyệt” Kết quả là từ chỗ doanh nghiệp rất phân tán, dàn trải trong các ngành, lĩnh vực đã tập trung được vào một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Năm 2001 cả nước có 5651 doanh nghiệp nhà nước Sau 4 năm thực hiện đổi mới và sắp xếp lại, đến đầu năm 2005 còn 3264 doanh nghiệp nhà nước Mục tiêu phấn đấu là đến giữa năm 2006 còn lại 1800 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới phát triển doanh nghiệp – Văn phòng Chính phủ) Quy mô vốn của doanh nghiệp được tăng lên đáng
kể Năm 2001 vốn bình quân của doanh nghiệp nhà nước khoảng 24 tỷ đồng, đến đầu 2005 đã tăng lên 63,6 tỷ đồng1
Sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm và củng cố thế lực trên thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới, đồng thời thực hiện mục tiêu các Nghị quyết của Đảng đề ra, một số TCT 91 như TCT Bưu chính Viễn thông, Điện lực, Dầu khí, Than, Dệt may đã xây dựng đề án thành lập tập đoàn kinh doanh trình Chính phủ phê duyệt Ngày 23-3-2005 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 58/2005/QĐ-CP phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Theo kế
1 Năm 2005: Cổ phần hoá 1460 doanh nghiệp Diễn đàn Doanh nghiệp Số 16 ngày
25/2/2005
Trang 21hoạch, đến giữa năm 2006 sẽ có 5 tập đoàn kinh doanh thí điểm ra đời Đó là các tập đoàn Dầu khí, Bưu chính -Viễn thông, Điện lực, Than và Dệt may Đây là giai đoạn nhiều gian nan thử thách của Chính phủ Việt Nam và của các TCT 91 vì so với các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia của nhiều nước trên thế giới thì các tập đoàn kinh doanh của Việt Nam còn non trẻ và quy mô thua kém về nhiều mặt Nhưng qua đó cho thấy sự kiên quyết và nổ lực của nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế đã chọn
1.1.2 Vị trí, vai trò của các TCT 91 trong nền kinh tế đất nước
Kể từ sau khi ban hành Quyết định 91, đến nay cả nước có 18 TCT 91 nắm giữ vị trí quan trọng trong hầu hết những ngành kinh tế then chốt, có tính chất mũi nhọn của đất nước như: dầu khí, năng lượng, khai khoáng, luyện kim, cơ khí, điện
tử, hoá chất, giao thông vận tải Đó là:
TCT Dầu khí Việt Nam;
TCT Điện lực Việt Nam;
TCT Bưu chính – Viễn thông Việt Nam;
TCT Xi măng Việt Nam;
TCT Than Việt Nam;
TCT Hàng hải Việt Nam;
TCT Hàng không Việt Nam;
TCT Đường sắt Việt Nam
TCT Công nghiệp – Tàu thuỷ Việt Nam;
TCT Dệt may Việt Nam;
TCT Thép Việt Nam;
TCT Giấy Việt Nam;
TCT Hoá chất Việt Nam;
Trang 22TCT Cao su Việt Nam;
TCT Cà phê Việt Nam;
TCT Thuốc lá Việt Nam;
TCT Lương thực Miền Bắc;
TCT Lương thực Miền Nam
Hầu hết các TCT 91 đều đã trải qua gần 10 năm hình thành và phát triển Chỉ riêng TCT Đường sắt Việt Nam mới được thành lập chưa đầy 2 năm theo Quyết định số 34/2003/QĐ-TTg ngày 04/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Đường sắt Việt Nam Các TCT 91 thường được ví như “những quả đấm thép của nền kinh tế quốc dân” vì chỉ được thành lập tại các ngành, lĩnh vực then chốt, đóng vai trò chủ đạo trong toàn nền kinh tế, nắm giữ lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô
Hiện nay, 18 TCT 91 với hơn 600 doanh nghiệp thành viên nắm giữ số vốn là 143.000 tỷ đồng trong tổng số 214.000 tỷ đồng vốn, chiếm 70% tổng số vốn của toàn bộ khối doanh nghiệp nhà nước Bình quân vốn của mỗi TCT 91 là hơn 7.944
tỷ đồng Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn thì các TCT 91 vẫn còn hạn chế về vốn dẫn đến yếu về lực và tất nhiên là cả về khả năng cạnh tranh so với các tập đoàn kinh tế khu vực và thế giới trong xu thế hội nhập hiện nay Bên cạnh vốn do các TCT tự huy động hoặc được bổ sung từ lợi nhuận, hàng năm, Nhà nước phải bổ sung vốn cho các TCT 91 những khoảng kinh phí rất lớn Để chứng minh cho nhận định này, chúng ta có thể so sánh các con số sau đây
Năm 2002:
Tổng số vốn của tất cả các TCT 91 là 75.000 tỷ đồng Vốn bình quân của mỗi TCT 91 là 4.450 tỷ đồng 2
2 Sắp xếp lại các TCT nhà nước Thời báo Kinh tế Việt Nam Số 69 ngày
10-6-2002
Trang 23Và đến đầu năm 2005 vốn của các TCT 91 đã đạt được con số như đã nêu trên Điều này cho thấy, mặc dù ngân sách nhà nước còn rất hạn hẹp, nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng yêu cầu sự đầu tư thích đáng nhưng Đảng và Nhà nước đã và đang quyết tâm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế đã đặt ra
- Các TCT 91 thực sự là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng kinh tế Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này đã có tác dụng chi phối, có
ý nghĩa quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân Trong những năm qua, các TCT 91 đã đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước, duy trì mức tăng trưởng cao so với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nắm hầu hết các đầu mối xuất nhập khẩu quan trọng Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, năm 2004, các TCT 91 chiếm 70-75% giá trị tổng sản lượng, đóng góp 70% mức nộp ngân sách của toàn bộ khối doanh nghiệp nhà nước Điển hình có thể nêu ra đó là TCT Dầu khí Việt Nam: năm 2004, GDP của Việt Nam đạt khoảng 40 tỷ USD thì chỉ riêng xuất khẩu dầu thô đã đạt được gần 5 tỷ USD [8, 48-49] Đứng sau TCT dầu khí Việt Nam thì đóng góp của các TCT Điện lực, Bưu chính – Viễn thông và Dệt may là rất lớn
- Các TCT 91 còn khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân thông qua hoạt động cung ứng những hàng hoá, dịch vụ phục vụ đời sống
xã hội Nắm giữ hầu hết các ngành then chốt và là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, các TCT 91 đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong gần 10 năm qua, các TCT 91 đã đẩy nhanh quá trình tích tụ vốn, mở rộng sản xuất theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường Nhiều sản phẩm như hàng dệt may, cà phê, cao su đã
có mặt ở nhiều nước, làm cho thương hiệu hàng Việt Nam được quảng bá rộng rãi trên thị trường thế giới Kết quả này không chỉ nâng cao kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ cho cả nước mà còn có tính chất mở đường cho nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác của đất nước thâm nhập vào thị trường thế giới trong tiến trình hội kinh tế quốc tế Theo thống kê, đối tác chính
Trang 24trong nhiều dự án liên doanh với nước ngoài chính là các đơn vị thành viên của các TCT 91 Ví dụ: “Hiện nay, TCT Dầu khí Việt Nam có 20 đơn vị thành viên tham gia vào 25 liên doanh hoạt động trên nhiều lĩnh vực công nghiệp dầu khí tại Việt Nam với các đối tác trong và ngoài nước, góp vốn và thực hiện giám sát quản lý 26 hợp đồng tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí củacác nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” [7, 35] Điều này đã góp phần thực hiện thành công chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng và Nhà nước Đi cùng với vốn của các nhà đầu tư nước ngoài
là việc chuyển giao các công nghệ tiên tiến cũng đã được các TCT 91 đưa vào áp dụng và cải tiến một cách sáng tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng được thị trường trong nước và thị trường thế giới chấp nhận
Cần nhấn mạnh rằng, hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới đòi hỏi lượng vốn rất lớn mà các doanh nghiệp nhà nước riêng lẻ hoặc doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không thể có khả năng huy động được Chính các TCT 91 mới có khả năng này và kết quả là đã cải thiện được trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ vốn lạc hậu của doanh nghiệp Việt Nam
- Do nắm giữ hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đất nước, các dự án đầu tư lớn phần lớn là tập trung ở các TCT 91 nên các TCT 91 còn là công
cụ để Chính phủ thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội Các TCT 91 là những doanh nghiệp có quy mô lớn nhất Việt Nam, chiếm tỷ trọng lớn trong thị phần nội địa: 94% sản lượng điện, 97% sản lượng than, 63% sản lượng thuốc lá, 59% sản lượng xi măng, 50% sản lượng giấy, chi phối thị trường dầu thô, viễn thông3 , là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua các TCT
91 Chính phủ kiềm chế tăng giá, chỉ tiêu lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế và.góp phần ổn định trật tự, an ninh xã hội Những biến động về giá các sản phẩm của các TCT này đều gây ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế đất nước và tình hình chính trị xã hội Nhiều dự án lớn phải dừng lại hoặc chậm tiến độ thực hiện do việc
3 Hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam: TCT nhà nước – “át chủ bài”? Báo Pháp luật Việt Nam số 131 ngày 02/6/2005
Trang 25tăng giá thép từ cuối năm 2003 đến cuối năm 2004 mà trong đó TCT Thép Việt Nam đóng vai trò quyết định Tình hình kinh tế xã hội mấy tháng đầu năm nay sẽ biến động rất lớn nếu như Chính phủ không cương quyết chỉ đạo nghiêm cấm việc tăng giá các sản phẩm điện, xi măng, thép, than do việc Chính phủ quyết định tăng giá xăng dầu bởi sự mất ổn định của thị trường dầu thô trên thế giới
- Các TCT là nơi tạo việc làm và cuộc sống ổn định cho nhiều người lao động Trong tổng số 1,6 triệu lao động của toàn khối doanh nghiệp nhà nước thì số lao động của 18 TCT 91 chiếm 600.000 người Các TCT 91 có sức mạnh về vốn, kỹ thuật – công nghệ; nguồn nhân lực có trình độ cao nên có nhiều khả năng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, tham gia ngày càng sâu rộng vào phân công lao động quốc
tế Như trên đã nêu, đối tác chính trong các dự án liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp thành viên của các TCT 91 Các dự án liên doanh này không những tạo công việc ổn định cho số lượng lớn người lao động mà còn là nơi đào tạo cho đất nước đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao và đội ngũ công
nhân lành nghề, có tác phong làm việc khoa học, thích ứng với trình độ công nghệ cao như mục đích của Đảng và Nhà nước đã đề ra trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1.2 Khái quát về tổ chức và hoạt động của các TCT 91
Để thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra đối các TCT 91, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã xác định mô hình tổ chức của TCT 91 bao gồm những bộ phận sau:
- Hội đồng quản trị (HĐQT);
- Ban kiểm soát;
- Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc;
- Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc – các phòng ban chức năng;
- Các doanh nghiệp là các đơn vị thành viên
1.2.1 Hội đồng quản trị
Trang 26HĐQT của TCT 91 là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại TCT, có quyền nhân danh TCT quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định
và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của TCT HĐQT chịu trách nhiệm trước Chính phủ và trước pháp luật về mọi hoạt động của TCT HĐQT có nhiệm vụ nhận, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác
do chủ sở hữu nhà nước đầu tư cho công ty; có quyền quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của TCT như: chiến lược, kế hoạch dài hạn, kế hoạch kinh doanh hàng năm, ngành, nghề kinh doanh của TCT và các đơn vị thành viên do TCT sở hữu toàn bộ vốn; quyết định các dự án đầu tư, góp vốn, mua bán tài sản của TCT có giá trị đến 50% tổng giá trị tài sản còn lại trên sổ kế toản; quyết định phương án tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, biên chế và sử dụng bộ máy quản lý, quy chế quản lý TCT; tuyển chọn, ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Tổng giám đốc sau khi được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ
Cơ cấu thành viên HĐQT gồm Chủ tịch và các thành viên chuyên trách và có thể có thành viên kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và Trưởng Ban kiểm soát phải là thành viên chuyên trách Tổng giám đốc có thể là thành viên HĐQT Chủ tịch HĐQT không kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc Số lượng thành viên của HĐQT không quá 7 người do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Chủ tịch HĐQT
do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá 5 năm
Điều 34 Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 quy định chế độ làm việc của HĐQT như sau: “HĐQT làm việc theo chế độ tập thể; họp ít nhất một lần trong một quý để xem xét và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; đối với những vấn đề không yêu cầu thảo luận thì HĐQT có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản” Ngoài ra HĐQT còn có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách của TCT theo đề nghị của Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc hoặc trên 50% tổng số thành viên của HĐQT Các Nghị quyết, Quyết định của HĐQT trước khi được ban hành phải được đưa ra bàn bạc thống nhất, lấy biểu quyết trên
Trang 27nguyên tắc đa số Các Nghị quyết, Quyết định chỉ có hiệu lực khi có trên 50% tổng
số thành viên HĐQT tham dự cuộc họp hoặc tham gia lấy kiến biểu quyết tán thành Nghị quyết, quyết định của HĐQT có tính bắt buộc thi hành đối với toàn bộ TCT Các thành viên của HĐQT phải cùng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ
và trước pháp luật về các quyết định của HĐQT, về kết quả và hiệu quả hoạt động của TCT HĐQT sử dụng con dấu và bộ máy giúp việc của TCT phục vụ cho hoạt động của mình
1.2.2 Ban kiểm soát
Để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán, báo cáo tài chính và trong việc chấp hành Điều lệ TCT, thực hiện Nghị quyết, Quyết định của HĐQT, HĐQT thành lập Ban kiểm soát Nhiệm vụ cụ thể của Ban kiểm soát trong từng nhiệm kỳ, giai đoạn, thời điểm do HĐQT giao Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo HĐQT theo định kỳ hàng tháng, hàng quý, năm và theo vụ việc
về kết quả kiểm tra, giám sát của mình; kịp thời phát hiện và báo cáo cho HĐQT về những hoạt động không bình thường có dấu hiệu vi phạm pháp luật của các cá nhân,
bộ phận trong TCT Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước HĐQT về những kết luận kiểm tra, giám sát của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành động cố ý
bỏ qua hoặc bao che cho những hành vi vi phạm pháp luật trong TCT Trưởng ban kiểm soát là thành viên chuyên trách của HĐQT Tổ chức Công đoàn của TCT cử một đại diện tham gia thành viên của Ban kiểm soát Thành viên của Ban kiểm soát làm việc theo chế độ chuyên trách, phải có trình độ về nghiệp vụ kinh tế, tài chính –
kế toán, kiểm toán Vì là cơ quan giám sát của TCT nên các thành viên Ban kiểm soát phải có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết và phải có kiến thức về pháp luật
1.2.3 Tổng giám đốc
Điều 38 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định: Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của TCT theo mục
Trang 28tiêu, kế hoạch phù hợp với Điều lệ TCT và các nghị quyết, quyết định của HĐQT Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong TCT, có nhiệm vu, quyền hạn được quy định rõ tại điều 41 Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 Cụ thể như: xây dựng và trình HĐQT kế hoạch năm, phương án huy động vốn, liên doanh,
dự án đầu tư, đề án tổ chức quản lý và quy chế quản lý nội bộ TCT; xây dựng và trình HĐQT phê duyệt các định mức kinh – tế kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá tiền lương; đề nghị HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật đối với các các chức danh Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư, điều hành hoạt động của TCT nhằm thực hiện các nghị quyết, quyết định của HĐQT Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Theo Điều 18 Nghị định 39-CP ngày 27-6-1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu về Tổ chức và hoạt động của TCT nhà nước thì Tổng giám đốc của TCT 91 do Thủ tướng chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của HĐQT Nhưng theo Luật Doanh nghiệp nhà nước
2003, thẩm quyền tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng với Tổng giám đốc TCT thuộc HĐQT sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận Hầu hết các Tổng giám đốc của các TCT 91 hiện nay đều do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm
1.2.4 Các Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc
Giúp việc cho Tổng giám đốc có các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng.Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng do Tổng giám đốc đề nghị để HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc ký hợp đồng Các Phó tổng giám giúp Tổng giám đốc điều hành hoạt động TCT theo phân công và uỷ quyền của Tổng giám đốc
Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán của TCT, giúp Tổng giám đốc giám sát tài chính tại TCT theo pháp luật về tài chính và kế toán Các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc uỷ quyền Ngoài ra, tham mưu, giúp
Trang 29việc cho Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc hàng ngày còn có Văn phòng, các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ
Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 không quy định cơ cấu thống nhất các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ cho các TCT 91 Các TCT 91 tuỳ theo yêu cầu của chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm ngành sản xuất, kinh doanh có thể có các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ và số đơn vị thành viên khác nhau Từng TCT chủ động xây dựng Điều lệ về tổ chức và hoạt động của mình để trình Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Vấn đề này được quy định tại Điều 1 Nghị định 39-CP ngày 27-6-1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của TCT nhà nước: “Các TCT nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập căn cứ các các quy định cụ thể của Điều lệ mẫu để xây dựng Điều lệ về tổ chức và hoạt động cụ thể của mình”
Trong cơ cấu tổ chức của các TCT 91 còn có các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên Cùng với Đại hội toàn thể hoặc Đaị hội đại biểu công nhân, viên chức, Ban thanh tra nhân dân thì các tổ chức đoàn thể trên là các tổ chức để thông quan đó người lao động có thể tham gia quản lý công ty theo quy định của pháp luật Đặc biệt là sự hoạt động mạnh mẽ của tập thể Đảng viên trong các Chi bộ Đảng dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ các TCT 91
1.2.5 Các đơn vị thành viên của TCT
Điều 49 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 quy định các TCT 91 có các đơn vị thành viên sau đây
“1 Các đơn vị do TCT đầu tư toàn bộ vốn điều lệ:
a) Công ty thành viên hạch toán độc lập;
b) Đơn vị hạch toán phụ thuộc;
c) Đơn vị sự nghiệp;
d) Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, được chuyển đổi từ loại đơn vị thành viên quy định tài điểm a và điểm c khoản 1 Điều này hoặc thành lập mới;
Trang 30e) Tuỳ theo quy mô và nhu cầu trong kinh doanh, TCT có thể có thành viên
Có thể nhìn thấy rõ cơ cấu tổ chức của các TCT 91 thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của các TCT 91
Trang 31Nhìn chung, các TCT 91 đều xây dựng mô hình tổ chức của TCT mình theo Luật Doanh nghiệp năm 1995 và theo Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của TCT nhà nước ban hành theo Nghị định 39-CP ngày 27-6-1995 của Chính phủ Lý do là
vì hầu hết các TCT 91 được thành lập và hoạt động vào những năm 1995, 1996, có nghĩa sau khi đã có hai văn bản trên Nhưng về cơ bản, những quy định về cơ cấu tổ chức của các TCT 91 giữa hai Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 không khác nhau nhiều Có chăng chỉ là sự thay đổi về cơ cấu và số lượng các đơn vị thành viên
Thực hiện Chỉ thị 11/2004/CT-TTg ngày 30-3-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 (khoá IX) và tổ chức triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước”, Nghị định 153/2004/NĐ-CP ngày 09-8-2004 của Chính phủ về tổ chức, quản lý TCT nhà nước và chuyển đổi TCT nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình “Công ty mẹ – Công ty con” và theo Đề án thành lập tập đoàn kinh doanh của một số TCT 91 thì mô hình tổ chức của các TCT
91 đã và sẽ có những thay đổi sâu sắc Cụ thể:
TCT Xi măng Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 670/TTg ngày 11-1994 của Thủ tướng Chính phủ, được tổ chức, hoạt động theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của TCT ty Xi măng Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 08/CP ngày 08-02-1996 của Chính phủ Tại thời điểm phê chuẩn Điều lệ Tổ chức và hoạt động, TCT Xi măng Việt Nam có 14 đơn vị thành viên (trong đó có 13 đơn vị hạch toán độc lập, 1 đơn vị sự nghiệp) và 4 đơn vị liên doanh có vốn góp của TCT Hiện tại, TCT có 24 đơn vị thành viên, trong đó có 15 đơn vị hạch toán độc lập, 2 đơn vị sự nghiệp và 7 đơn vị đã được cổ phần hoá Ngoài ra còn có một số đơn vị liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài Vừa qua, TCT Xi măng Việt Nam đã lập và trình Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tập đoàn công nghiệp Xi măng Việt Nam Trong tương lai không xa, TCT Xi măng Việt Nam sẽ là 1 trong 5 tập đoàn kinh doanh được thí điểm hình thành và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty
Trang 3214-con Chắc chắn trong cơ cấu tổ chức của TCT, cả bộ máy quản lý và hệ thống các đơn vị thành viên sẽ có nhiều thay đổi
Theo Điều lệ Tổ chức và hoạt động của TCT Bưu chính Viễn thông được phê duyệt tại Nghị định số 51-CP ngày 01/8/1995 của Chính phủ, TCT có 88 đơn vị thành viên (trong đó có 17 đơn vị hạch toán độc lập, 59 đơn vị hạch toán phụ thuộc,
12 đơn vị sự nghiệp) và 6 đơn vị liên doanh có vốn góp của TCT Sau một thời gian hoạt động, TCT mở rộng quy mô về số lượng đơn vị thành viên và là TCT có số đơn
vị thành viên lớn nhất Hiện tại, số đơn vị thành viên của TCT Bưu chính Viễn thông
là 134, trong đó các chỉ số tương đương như trên là: 12: 87:10 và 25 đơn vị đã cổ phần hoá Ngày 23/3/2005 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 58/2005/QĐ-TTg
về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Theo đó, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông được hình thành trên cơ sở sắp xếp,
tổ chức lại TCT Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam bao gồm “Công ty mẹ” – là công ty nhà nước có chức năng đầu tư tài chính cho các “Công ty con” là các TCT Bưu chính Việt Nam, TCT Viễn thông I, II, III và các loại công ty khác theo như mô hình TCT nhà nước được quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Quan hệ kinh tế giữa Công ty mẹ và các Công ty con và giữa các đơn vị thành viên với nhau thông qua hợp đồng Tuy nhiên, Công ty mẹ vẫn giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn vốn, nghiệp vụ, công nghệ, thương hiệu, thị trường Bộ máy quản lý của Tập đoàn vẫn bao gồm HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc,
kế toán trưởng và bộ máy giúp việc Nếu xét về tổng quát thì bộ máy quản lý của Tập đoàn không có gì thay đổi so với mô hình TCT cũ nhưng HĐQT mới có sự thay đổi về thành phần HĐQT Tập đoàn ngoài Chủ tịch Tập đoàn, Tổng giám đốc Tập đoàn, Trưởng ban kiểm soát Tập đoàn, một số chuyên gia còn có các Tổng giám đốc của TCT Bưu chính Việt Nam và các Tổng giám đốc của các TCT Viễn thông I,
II, III
Như vậy, với việc hình thành các Tập đoàn kinh doanh hoạt động theo mô hình “Công ty mẹ – Công ty con” thì không những quy mô, cơ cấu tổ chức của các
Trang 33TCT 91 sẽ có sự thay đổi mà mối liên hệ giữa TCT với các đơn vị thành viên cũng thay đổi theo Khi đó, quyền tự chủ, chủ động của các Công ty con sẽ được nâng cao hơn Từ đó dẫn đến việc thay đổi thành phần và nội dung trong hệ thống văn bản của các TCT 91 và có liên quan đến cách thức quản lý của Nhà nước đối với hệ thống văn bản này trong tương lai Điều này sẽ được phân tích ở chương III
1.3 Các mối quan hệ của TCT 91
1.3.1 Quan hệ với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước
- Mối quan hệ với Chính phủ
Như trên đã phân tích, các TCT 91 là do Nhà nước quyết định đầu tư toàn bộ vốn điều lệ, tổ chức thành lập và quản lý nên chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ Nhà nước, là chủ sơ hữu các TCT 91 Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với TCT 91 theo quy định của pháp luật Quyền của chủ sở hữu tài sản nhà nước đối với các TCT 91 được quy định tại Điều 64 Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 như sau:
- Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu TCT; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý; tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ lương, thưởng của Chủ tịch HĐQT, thành viên của HĐQT, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng của TCT 91; phê duyệt nội dung, sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của TCT;
- Quyết định mục tiêu, chiến lược và định hướng kế hoạch phát triển TCT; quyết định các dự án đầu tư có giá trị lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản còn lại trên sổ
kế toán của TCT ;
- Quyết định mức vốn đầu tư ban đầu, mức vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ; quyết định các dự án vay, cho vay có giá trị lớn vượt mức quy định thẩm quyền của HĐQT; quy định chế độ tài chính của TCT;
- Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của TCT 91
Trang 34Ngược lại, các TCT 91 phải thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ
có liên quan đến TCT Cụ thể là thực hiện quy hoạch, chiến lược phát triển TCT trong tổng thể quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, lãnh thổ của Nhà nước; chấp hành các quy định về thành lập, tách, nhập, giải thể, các chính sách về tổ chức, cán
bộ, chế độ tài chính, tín dụng, thuế, các chế độ về kế toán, thống kê Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, đề xuất, kiến nghị các giải pháp, cơ chế, chính sách để Chính phủ có những điều chỉnh và biện pháp chỉ đạo kịp thời là hình thức để đảm bảo mối liên hệ giữa chính phủ và các TCT 91 được thông suốt
-Mối quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với các TCT 91; quy định việc phân công, phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với TCT Đó là các Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch - Đầu tư và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là các Bộ) trực tiếp quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật Là các cơ quan được Chính phủ uỷ quyền, các Bộ thực hiện quản lý nhà nước đối với TCT 91 theo chức năng và lĩnh vực được phân công Ví dụ như trong mối quan hệ với Bộ Tài chính –
là cơ quan được Chính phủ giao thực hiện một số chức năng của chủ sở hữu, chi phối các TCT 91 về việc:
- Xác định vốn, tài nguyên và các nguốn lực khác Nhà nước giao cho TCT 91 quản lý, sử dụng;
- Kiểm tra việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực khác được giao trong quá trình hoạt động thông qua các bản quyết toán hàng năm của TCT 91;
- Duyệt quyết toán năm của các TCT 91;
- Ban hành Quy chế Tài chính mẫu áp dụng cho TCT và phê duyệt Quy chế Tài chính cụ thể của từng TCT;
- Kiểm tra, thanh tra tài chính và các vấn đề khác của TCT 91 [27,490]
Trang 35Ngược lại các TCT 91 phải tuân thủ các chế độ tài chính, kế toán, thuế, tổ chức bộ máy hạch toán, kế toán; thực hiện chế độ kiểm toán tài chính và kiểm toán nội bộ TCT; thực hiện chế độ báo cáo và trình quyết toán hàng năm cho Bộ Tài chính
Đối với các Bộ trực tiếp quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, các TCT 91 chịu sự chi phối của các Bộ này về các tiêu chuẩn sản phẩm, tiêu chuẩn công nghệ; các định mức cấp ngành kinh tê - kỹ thuật; chịu sự kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các tiêu chuẩn và định mức trên Đồng thời các Bộ còn xây dựng và ban hành quy hoạch, đinh hướng phát triển ngành kinh tế – kỹ thuật, trực tiếp kiểm tra việc thực hiện quy hoạch đó của các TCT Các TCT 91 chịu trách nhiệm thực hiện các quy định trên và được quyền kiến nghị với các cơ quan này về các nội dung có liên quan
Ví dụ: Chính phủ uỷ quyền cho Bộ Xây dựng trực tiếp quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật đối với TCT Xi măng Việt Nam; Bộ Công nghiệp trực tiếp quản lý ngành kinh
tế – kỹ thuật đối với TCT Điện lực Việt Nam; tương tự Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - TCT Cà phê Việt Nam, TCT Cao su Việt Nam
Tóm lại, ngoài vai trò là chủ sở hữu nhà nước đối với tài sản của các TCT 91, Chính phủ và các Bộ thực hiện quản lý nhà nước đối với TCT 91 thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về mọi mặt hoạt động như về chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy quản lý; chiến lược phát triển; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tiêu chuẩn sản phẩm, định mức kinh tế - kỹ thuật; thanh kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước nói chung, của TCT 91 nói riêng Qua phân tích trên, chúng
ta thấy mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước là mối quan hệ chỉ đạo, là quan hệ cấp trên – cấp dưới Còn các TCT 91 phải có trách nhiệm thực hiện những chỉ đạo đó và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước về những lĩnh vực thuộc chức năng đã được pháp luật quy định cho các cơ quan đó
1.3.2 Mối quan hệ với các đơn vị thành viên
Trang 36Do đơn vị thành viên của các TCT 91 có nhiều loại khác nhau, địa vị pháp lý của chúng khác nhau quy định tính độc lập của mỗi loại thành viên khác nhâu nên mức độ quan hệ giữa chúng với TCT cũng không giống nhau Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 52 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003:
a Đối với doanh nghiệp là thành viên hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân,
có quyền tự chủ trong kinh doanh theo quy định của pháp luật và Điều lệ đã được HĐQT TCT phê duyệt thì chịu sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ với TCT như sau: quản lý và chủ động sử dụng vốn của mình và vốn do TCT đầu tư; có quyền tự chủ về tài chính cho nên phải chịu trách nhiệm dân sự bằng toàn bộ tài sản của công ty; chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và các nguồn lực khác do TCT đầu tư Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập thực hiện kế hoạch kinh doanh chung của TCT, tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của TCT giao trên cơ sở hợp đồng kinh tế; được tự chủ ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế do TCT giao; quyết định các dự án đầu tư theo phân cấp của TCT Đơn vị thành viên hạch toán độc lập chịu sự kiểm tra, giám sát của TCT, phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ đầy đủ, chính xác các thông tin về công ty và gửi báo cáo tài chính của công ty về TCT
Như vậy, là đơn vị thành viên hạch toán độc lập nhưng tính độc lập của các công ty này cũng chỉ là tương đối và chịu sự ràng buộc với TCT Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vẫn tuân theo sự chỉ đạo và chiến lược phát triển chung của toàn TCT
b Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của TCT 91 không có tư cách pháp nhân, tổ chức và hoạt động theo Điều lệ được TCT phê chuẩn Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc có quyền tự chủ thực hiện các hoạt động kinh doanh và được quyền ký kết các hợp đồng kinh tế theo sự phân cấp của TCT Do hạch toán phụ thuộc nên TCT 91 chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ tài chính phát sinh đã được cam kết với các đơn vị thành viên này
Trang 37c Đơn vị sự nghiệp hoạt động theo Quy chế do HĐQT TCT phê duyệt và thực hiện chế độ phân cấp hạch toán do TCT quy định Đơn vị sự nghiệp được quyền tạo nguồn thu từ việc thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ, nghiên cứu khoa học và đào tạo, chuyển giao công nghệ với các đơn vị trong và ngoài TCT
d Đối với các công ty TNHH một thành viên do TCT đầu tư toàn bộ vốn điều
lệ thì TCT là chủ sở hữu và thực hiện quyền, nghĩa vụ của hủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp Điều này có nghĩa là TCT có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến công ty TNHH một thành viên
từ việc đầu tư vốn điều lệ; phê duyệt chiến lược phát triển; kế hoạch sản suất kinh doanh; tổ chức bộ máy quản lý; quy định chế độ tài chính – kế toán theo pháp luật hiện hành về tài chính kế toán đến việc giải thể, tổ chức sáp xếp lại TCT 91 “chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp [16, 43]
e TCT 91 thực hiện quyền chi phối và nghĩa vụ của cổ đông có vốn góp chi phối tại công ty cổ phần theo pháp luật hiện hành thông qua người đại diện của mình
do TCT cử, bãi nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Người đại diện vốn góp chi phối của TCT có trách nhiệm xin ý kiến về những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp bị chi phối trước khi biểu quyết và báo cáo tình hình hoạt động của công ty cổ phần đó cho TCT TCT 91 được hưởng lợi tức và chịu rủi ro từ phần vốn góp của mình ở doanh nghiệp bị chi phối
Tóm lại, mối quan hệ của giữa TCT 91 với các đơn vị thành viên là mối quan
hệ phụ thuộc giữa cấp trên với cấp dưới, trong đó TCT 91 giữ vai trò chỉ đạo, quyết định đối với các đơn vị thành viên Mọi quyết định của TCT mang tính bắt buộc thi hành đối với các đơn vị thành viên Ngược lại các đơn vị thành viên có trách nhiệm tuân thủ các quyết định đó, xin ý kiến chỉ đạo theo sự phân cấp, uỷ quyền và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của TCT 91
1.3.3 Mối quan hệ với chính quyền địa phương
Trang 38Các TCT 91 thường xuyên có mối quan hệ với cơ quan chính quyền và các tổ chức đoàn thể nơi doanh nghiệp đóng trụ sở hoặc đặt các cơ sở sản xuất, kinh doanh Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn, lãnh thổ, TCT chịu sự quản lý nhà nước và chấp hành các quy định hành chính, các nghĩa vụ đối với chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật Tại đây, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về trật tự trị an, vệ sinh môi trường, tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động từ thiện Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định, trong các cuộc họp của HĐQT khi bàn về nội dung công việc của TCT có liên quan đến các vấn đề quan trọng của địa phương nào thì HĐQT phải mời đại diện của cấp chính quyền địa phương có liên quan đó dự họp
1.3.4 Mối quan hệ với các đối tác
Để hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì việc mở rộng và củng cố mối quan hệ với các đối tác là rất quan quan trọng và luôn được các TCT 91 chú trọng đến Trong mối quan hệ này, đặc biệt nổi lên là các mối quan hệ giữa các TCT 91 với nhau Chúng ta dễ dàng hình dung ra là các TCT 91 là những bạn hàng, đối tác tiêu thụ sản phẩm chính của nhau Ví dụ: TCT Xi măng, TCT Điện lực là khách hàng lớn tiêu thụ sản phẩm của TCT Than Hoặc nhiều TCT 91 là khách hàng của TCT Hàng hải Việt Nam Bên canh đó, do các TCT 91 là các đầu mối xuất khẩu chính nên đối tác nước ngoài cũng chiếm số lượng rất lớn Ví dụ: đối tác nước ngoài của TCT Dầu khí Việt Nam là các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế của các nước
ả Rập, Singapor, Malaysia, Trung Quốc, Nga, Cu Ba Đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các TCT đang đầu tư kinh phí rất lớn đề mở rộng ra thị trường thế giới, tìm kiếm đối tác để hợp tác cùng nhau phát triển Ngoài ra, TCT
91 còn có mối quan hệ với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Đây cũng là những đối tác góp phần quan trọng vào sự thành công của các TCT 91
Qua việc phân tích vị trí, vai trò của các TCT 91 trong nền kinh tế đất nước, tìm hiểu những quy định của pháp luật cũng như thực tế về tổ chức và hoạt động của một số các TCT 91 tiêu biểu và các mối liên hệ của TCT 91, có thể đưa ra một số nhận xét sau:
Trang 39- TCT 91 là những doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, nắm giữ những vị trí then chốt mang tính chi phối nền kinh tế quốc dân, cùng với các doanh nghiệp nhà nước khác nắm vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Trong thời gian qua, các TCT 91 đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Với những ưu thế và tiềm năng lớn lao, trong tương lai các TCT này
sẽ có những bước chuyển mình trọng đại, dần hình thành những tập đoàn kinh doanh lớn mạnh của đất nước Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, chính các TCT 91 cùng với lực lượng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác sẽ là lực lượng chủ chốt, tiên phong, giữ vai trò quyết định cho sự thành công của đất nước Chính
vì thế, đây là cơ sở để chúng ta đánh giá được chính xác giá trị tài liệu hình thành từ hoạt động của TCT 91 Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có thái độ đánh giá nghiêm túc về số phận của khối tài liệu này, tránh cho chúng khỏi tình trạng bị thất lạc và hư hỏng như hiện nay
- Một đặc điểm khá nổi bật nữa là do khối lượng tài sản mà Nhà nước giao cho quản lý chiếm một phần cơ bản tài sản của cả quốc gia nên pháp luật nhà nước quy định trong cơ cấu tổ chức quản lý của tất cả các TCT 91 phải có HĐQT HĐQT trong các TCT 91 không chỉ đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với tài sản trong TCT mà còn có vai trò chi phối, ràng buộc trách nhiệm tập thể khi quyết định sử dụng tài sản này Rất dễ hiểu là vì với số lượng vốn rất lớn bao gồm tiền và tài sản, Nhà nước không thể mạo hiểm giao toàn bộ quyền định đoạt cho một cá nhân là Tổng giám đốc mà trước khi sử dụng tài sản này cần phải có sự bàn bạc thống nhất trong tập thể HĐQT Không chỉ có HĐQT mà các bộ phận quản lý khác như Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng cũng được pháp luật quy định theo một mô hình thống nhất Không chỉ quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của TCT 91 mà pháp luật còn quy định rõ nghiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó và mối quan hệ giữa các bộ phận Tuy nhiên,
do có chức năng, nhiệm vụ và nhu cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau nên giữa các TCT vẫn có những điểm khác nhau trong việc tổ chức các phòng,
Trang 40ban chuyên môn nghiệp vụ và các đơn vị thành viên Từ hoạt động của những bộ phận trong cơ cầu tổ chức bộ máy quản lý các TCT 91 này sẽ hình thành nên tài liệu phản ánh một cách đầy đủ các mặt hoạt động của TCT 91 Đây chính là cơ sở để tiến hành thu thập tài liệu và thực hiện các khâu nghiệp vụ khác của công tác lưu trữ
- Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các TCT 91 có những mối liên hệ chặt chẽ với Chính phủ, với các cơ quan quản lý nhà nước, với các đơn vị thành viên, với chính quyền địa phương và các đối tác trong và ngoài nước Tất cả những điều đó tạo thuận lợi cho chúng ta trong việc hình dung các nguồn văn bản hình thành nên hệ thống văn bản của các Tổng công 91, giá trị của từng nguồn văn bản đó Từ đó có thể có sự lựa chọn những tài liệu có giá trị và có các biện pháp quản lý thích hợp phục vụ cho việc sử dụng trước mắt cũng như lâu dài
- Ngoài những mục đích quan trọng khác thì việc thành lập các TCT 91 là nhằm mục đích giảm bớt các đầu mối quản lý trung gian, tăng tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp thành viên Chính vì thế, TCT
91 được xem là đầu mối duy nhất để Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện vai trò là chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước của mình đối với tất
cả các doanh nghiệp nhà nước là đơn vị thành viên của TCT 91 Chính vì được tổ chức theo mô hình này nên chức năng sản xuất kinh doanh của các TCT 91 rất mờ nhạt và cũng là nguyên nhân khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là đơn vị thành viên kém hiệu quả theo như đánh giá của một số các nhà nghiên cứu kinh tế Thực tế cho thấy, TCT 91 là cơ quan quản lý nhà nước cấp trung gian, thực hiện nhiệm vụ chính là quản lý và điều động vốn của Nhà nước đối với các đơn vị thành viên Trong khi đó hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là do các đơn vị thành trực tiếp thực hiện Chúng ta không bàn đến hiệu quả của việc thực hiện mục đích trên trong thực tế Nhưng trên phương diện tổ chức quản lý, chúng ta
có thể thấy sự tương đồng và khác biệt giữa các TCT 91 với các cơ quan quản lý nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ trong các TCT 91 cũng có các phòng, ban chủ yếu để đảm bảo cho hoạt động bình thường của bất kỳ một cơ quan nào, giống như ở các cơ