1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo mô hình Một cửa liên thông tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng

122 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 752,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai: trong những năm gần đây đã có nhiều công trình đề tài nghiêncứu về mô hình “Một cửa liên thông”, tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nàođánh giá toàn diện từ góc độ khoa học hành

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1.CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ THỰC HIỆN

MÔ HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG 9 1.1 Yêu cầu khách quan của cải cách thủ tục hành chính 9

1.1.1 Khái niệm, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lý hành chính công 9 1.1.2 Cải cách thủ tục hành chính trong công cuộc xây dựng nền hành chính của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân 15

1.2 Một số vấn đề lý luận về cái cách thủ tục hành chính theo cơ chế

“Một cửa”, “Một cửa liên thông” 17

1.2.1 Khái niệm cơ chế “Một cửa” – “Một cửa liên thông” 18

1.3 Quá trình triển khai cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông” ở nước ta 21

1.3.1 Các mô hình thí điểm cơ chế “Một cửa” 21 1.3.2 Cải cách hành chính từ cơ chế “ Một cửa” đến cơ chế “Một cửa liên thông” ở nước ta 26

CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI MÔ HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC QUẬN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 29 2.1 Quá trình thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân các quận trên địa bàn thành phố Hải Phòng 29

2.1.1 Những yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến tình hình cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “Một cửa – Một cửa liên

thông”tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng 29

Trang 2

2.1.2 Sự cần thiết khách quan của việc thực hiện cơ chế “Một cửa – Một

cửa liên thông” tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng 30

2.2 Tổ chức thực hiện 34

2.2.1 Công tác chỉ đạo thực hiện 34

2.2.2 Nội dung các bước tiến hành để xây dựng và phát triển mô hình “một cửa liên thông” 36

2.2.3 Vị trí, điều kiện làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính theo cơ chế ‘‘một cửa liên thông’’ ( sau đây gọi tắt là bộ phận một cửa liên thông) 37

2.2.4 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ phận “một cửa liên thông” tại UBND các quận trên địa bàn thành phố Hải Phòng 39

2.2.5 Mô hình và quy trình giải quyết công việc của Bộ phận “một cửa liên thông” tại UBND các quận thành phố Hải Phòng 43

2.2.6 Quy định chung về trình tự, thủ tục hành chính các lĩnh vực giải quyết hồ sơ theo cơ chế “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân các quận Thành phố Hải Phòng 44

2.3 Đánh giá kết quả cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân các quận của thành phố Hải Phòng 76

2.3.1.Những thành tựu chung 76

2.3.2 Các hạn chế và tồn tại 83

2.3.3 Nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm 89

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ MỞ RỘNG MÔ HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG TRONG GIẢI QUYẾT TTHC TẠI TP HẢI PHÒNG 95

3.1 Phương hướng chung 95

3.2 Một số giải pháp quản lý chất lượng cơ chế “một cửa liên thông” giải quyết thủ tục hành chính tại UBND các quận Thành phố Hải Phòng 98

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện mô hình “một cửa liên thông” từ quận xuống phường 98

Trang 3

3.2.2 Xác định rõ vị trí pháp lý của mô hình “một cửa liên thông” trong việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế mới 100 3.2.3 Đẩy mạnh việc thực hiện chế độ ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn và ủy nhiệm cho cán bộ, công chức trong việc giải quyết thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ hành chính công 101 3.2.4 Đơn giản hóa các loại hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mẫu hóa một số giấy tờ phục vụ thủ tục hành chính 103 3.2.5 Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách chế độ tiền lương, có chế đãi ngộ thích hợp đặc biệt là chế độ cho các cán bộ, công chức làm việc theo chế độ “ một cửa liên thông” 107 3.2.6 Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính 110 3.2.7 Tiếp tục học tập, trao đổi về kinh nghiệm vận hành bộ phận “một cửa liên thông” với các địa phương bạn nhằm không ngừng học hỏi những tiến bộ của các đơn vị đi trước 113 3.2.8 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cải cách hành chính và mô hình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “ một cửa liên thông” tại địa phương 113

KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình đổi mới đất nước Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđến vấn đề cải cách hành chính Nhà nước, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm củaviệc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Mục tiêu của cải cách hành chính lànhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực quản

lý công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển Điều đó đã được thểchế hoá bằng các Nghị quyết, Quyết định của Đảng qua các kỳ Đại hội kể từĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay

Hiện nay, khi nước ta đang từng bước hiện đại hoá nền hành chính, vấn

đề đặt ra là cần có một bộ máy tinh gọn, hợp lý; một đội ngũ cán bộ côngchức chất lượng, đủ năng lực trình độ để có thể đảm đương nhiệm vụ Điềunày đòi hỏi cuộc cải cách phải có những biến đổi lớn về tư duy, phương thứcquản lý, đào tạo….Việc cải cách thủ tục hành chính là một khâu đột phá và làmột yêu cầu khách quan trong nội dung chính của Chương trình tổng thể cảicách hành chính Nhà nước Trong quán trình cải cách thủ tục hành chính môhình Một cửa liên thông trong việc giải quyết một số thủ tục hành chính cơbản như: cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, chứng thực…làmột trong những giải pháp nhằm đổi mới hoạt động của bộ máy hành chính,góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước

Ngày 4/9/2003 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số181/2003/QĐ- TTg về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “Một cửa” tại

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, theo đó bắt đầu từ ngày01/01/2004 triển khai thực hiện cơ chế “ Một cửa” tại cơ quan hành chính nhànước cấp tỉnh, cấp huyện; Ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 93/2007/QĐ – TTg về Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”,

“một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Trang 5

Mô hình “ Một cửa liên thông” tại thành phố Hải Phòng đã qua quátrình thí điểm và chính thức thực hiện từ ngày 14/2/2008 tại UBND quận NgôQuyền và 28/1/2009 tại UBND quận Kiến An cùng một số quận huyện khác.Trải qua một thời gian thực hiện hiệu quả đạt được từ mô hình này là rất đángghi nhận, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập, khó khăn từ việc thựchiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa” Như vậy việc nghiên cứu,đánh giá hiệu quả thực hiện từ đó đề ra các giải pháp quản lý chất lượng môhình “Một cửa liên thông” có ý nghĩa quan trọng và thiết thực.

Lý do chọn UBND các quận của thành phố Hải Phòng( liên hệ UBNDquận Kiến an và Ngô Quyền) là nơi tìm hiểu khảo sát thực trạng và tìm ranhững giải pháp quản lý chất lượng mô hình “Một cửa liên thông” là:

Thứ nhất: Thành phố Hải phòng là một trong những địa phương đầutiên thực hiện điểm mô hình “Một cửa liên thông” Đây là một địa bàn hànhchính khá rộng với quy mô dân số đông, trình độ dân trí khá đồng đều vàlượng hồ thủ tục hành chính tại đây là rất lớn đồng thời đây là một đơn vị điđầu trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính trên cả nước

Thứ hai: trong những năm gần đây đã có nhiều công trình đề tài nghiêncứu về mô hình “Một cửa liên thông”, tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nàođánh giá toàn diện từ góc độ khoa học hành chính về quản lý chất lượng theo

mô hình “Một cửa liên thông” tại UBND các quận trên địa bàn thành phố Hảiphòng

Thứ ba: Tác giả hiện đang làm việc tại UBND cấp quận (UBND quậnKiến An) nên việc thực hiện công trình này nhằm tìm hiểu sâu hơn việc quản

lý chất lượng theo cơ chế “Một cửa liên thông” tại địa phương mình đangcông tác qua đó thu thập tư liệu và quan sát thực tiễn, đánh giá những mặtđược và chưa được của mô hình để tiếp tục cải tiến.Với những lý do trên tôichọn đề tài nghiên cứu: “ Quản lý chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo

mô hình Một cửa liên thông tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng”làm luận văn tốt nghiệp cao học

Trang 6

2 Mục đích của đề tài

Cung cấp những căn cứ khoa học cho việc xác định nguyên nhân củanhững mặt hạn chế còn tồn tại của mô hình “Một cửa liên thông” đang thựchiện tại thành phố Hải Phòng, từ đó đề ra các giải pháp để khắc phục nhữngmặt hạn chế nhằm quản lý chất lượng mô hình “Một cửa liên thông” giảiquyết thủ tục hành chính khoa học, hợp lý, hiệu quả hơn

Tác giả luận văn hướng tới:

- Tổng kết lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong yêu cầu mớihiện nay

- Nghiên cứu mô hình một cửa liên thông tại UBND các quận ở HảiPhòng để từ đó đưa ra các giải pháp mới quản lý chất lượng, mở rộng mô hình

“ Một cửa liên thông” trong thực tế hướng tới mục tiêu cải cách hành chínhnhà nước

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu là mô hình một cửa liên thông đang được triểnkhai áp dụng tại các quận trên địa bàn Thành phố Hải Phòng bao gồm cáchxây dựng, vận hành, hiệu quả hoạt động của mô hình Một cửa liên thông.Tổng hợp tình hình thực tiễn để cung cấp căn cứ chính xác cho việc đánh giá

mô hình “Một cửa liên thông” ở địa phương So sánh, tham khảo mô hình

“Một cửa liên thông” được thực hiện tại các địa phương khác để từ đó có cáinhìn tổng quát xác thực về mô hình “Một cửa liên thông” đang được áp dụngtrong thực tế nhằm nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính trong thời

Trang 7

lý chất lượng và mở rộng mô hình “Một cửa liên thông” ở một số tiêu chí nhấtđịnh.

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ đạo là duy vật biện chứng và lịch

sử, tác giả đã phối hợp sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu

Nghiên cứu các văn kiện Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình vàcác công trình, bài viết có liên quan nhằm xác định cơ sở lý luận của luận văn

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp thống kê

Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được sử dụng triệt để phục

vụ cho việc nghiên cứu

+ Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã trực tiếp trao đổi, thamkhảo ý kiến của các cán bộ khoa học, các nhà quản lý có kinh nghiệm về cácvấn đề liên quan tới đề tài luận văn

Ngoài ra đây là đề tài mang tính thực tiễn nên tác giả tiến hành phươngpháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với công dân và một số cán bộ công chứcđang làm việc tại Bộ phận “Một cửa liên thông” và qua khảo sát thực tế tại

địa bàn quận Kiến an và Ngô Quyền

6 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế “ Một cửa liên thông” đã cónhiều công trình nghiên cứu từ các khía cạnh khác nhau, cấp độ khác nhau.Tại Học viện hành chính quốc gia đã có các đề tài nghiên cứu những vấn đềliên quan đến cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” của một số tác giả

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu mô hình “Mộtcửa” của thành phố Hải Phòng để trên cơ sở lý luận chung, tiếp cận với nhữngđặc thù của địa phương, xây dựng, đề xuất mô hình theo hướng tiếp tục hoànthiện

Trang 8

7 Đóng góp của luận văn

Đề tài sẽ nghiên cứu, cung cấp những ưu điểm và tồn tại của mô hình

để đưa ra các giải pháp quản lý và mở rộng mô hình Một cửa liên thông trongthực tiễn, khả năng vận dụng những giải pháp này vào thực tiễn

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cải cách thủ tục hành chính và thực hiện mô hình “Một cửa liên thông”

Chương 2: Thực trạng triển khai mô hình “ Một cửa liên thông” tại UBND các quận thành phố Hải Phòng.

Chương 3: Một số giải pháp quản lý chất lượng và mở rộng mô h́ình Một cửa liên thông giải quyết thủ tục hành chính tại Hải Phòng.

Trang 9

CHƯƠNG 1 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ THỰC HIỆN MÔ

HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG 1.1 Yêu cầu khách quan của cải cách thủ tục hành chính.

1.1.1 Khái niệm, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lý hành chính công.

Để hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành có hiệu quả cơ quanhành chính phải đảm bảo tuân thủ nghiêm túc những quy tắc, chế tài, chế độđược pháp luật quy định Những quy tắc, chế tài, chế độ đó chính là nhữngquy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của cơ quan hành chínhkhi thực thi chức năng quản lý hành chính công Những quy định trên chính làthủ tục hành chính

Như vậy, thủ tục hành chính là trình tự, cách thức và thời gian nhànước đặt ra để các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng đảm bảo sự thốngnhất trong hoạt động thực thi luật pháp Khoa học hành chính gọi chungnhững quy định đó là những quy phạm thủ tục hay quy phạm hình thức Tất

cả các quy tắc pháp lý quy định về trình tự giải quyết công việc của cơ quanhành chính nhà nước tao thành hệ thống thủ tục hành chính

Về cơ bản, thủ tục hành chính mang những đặc điểm cơ bản:

Một là: mọi thủ tục hành chính đều là tổng thể các hành động diễn ratheo trình tự thời gian, không gian nhất định được cơ quan quản lý hành chínhnhà nước, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có thẩm quyền thực hiện dựatrên những nguyên tắc do pháp luật quy định một cách chặt chẽ Trong số cácloại thủ tục hành chính thì loại thủ tục giải quyết các tranh chấp về quyền và

xử lý vi phạm được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh chặt chẽ hơn hết

vì nó liên quan đến việc bảo vệ quyền và thực hiện nghĩa vụ của các chủ thểluật hành chính, đến lợi ích của công dân và nhà nước

Hai là: Đối tượng công việc cần thực hiện thủ tục hành chính rất khácnhau liên quan đến nhiều khâu, nhiều cơ quan cho nên rất ít thủ tục hành

Trang 10

chính đơn giản Đa số các thủ tục đều trải qua quá trình xác minh tỉ mỉ ở từngcông đoạn khác nhau để đảm bảo tính chính xác, hợp pháp nhất là các thủ tụcgiải quyết khiếu nại, giải quyết các yêu cầu về việc thực hiện các quyền vànghĩa vụ cá nhân, tổ chức do có liên quan đến nhiều ngành luật khác như luậtđất đai, luật dân sự…

Ba là, thủ tục hành chính mang tính chất khuôn mẫu, tương đối ổn định

và phải đảm bảo tính chặt chẽ thích hợp cho từng loại công việc cụ thể Tuynhiên, cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền khôngthể dựa vào thủ tục hành chính để làm trì trệ công việc hay tư lợi cá nhân

Thủ tục hành chính trong xu thế hội nhập hiện nay và trong bối cảnhchuyển từ nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển đòi hỏiphải có sự năng động, thích ứng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cònphải tương thích với khu vực và thế giới Trong bối cảnh đó thủ tục hànhchính của Việt Nam vẫn phải dựa trên những nguyên tắc nhất định quy địnhbởi Hiến pháp và pháp luật nói chung Đó là các nguyên tắc pháp chế CNXH,nguyên tắc khách quan, nguyên tắc công khai, minh bạch; nguyên tắc bìnhđẳng trước pháp luật; nguyên tắc đơn giản tiết kiệm; nguyên tắc nhanh chóngkịp thời; nguyên tắc hạn chế số cấp giải quyết thủ tục

Thủ tục hành chính được phân biệt thành nhiều loại khác nhau tùy theo

cách tiếp cận[13]

Dựa vào đối tượng quản lý của hành chính nhà nước ở từng lĩnh vựcthì thủ tục hành chính được chia thành thủ tục hành chính trong lĩnh vực xâydựng, thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh, thủ tục hành chính tronglĩnh vực đất đai, thủ tục hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp… cáchtiếp cận này cho phép cơ quan nhà nước và công dân dễ dàng xác định đượcquyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quan hệ thủ tục hành chính cụthể Cơ quan quản lý hành chính chuyên ngành sẽ dễ dàng ban hành, sửa đổi,bãi bỏ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bãi bỏ các

Trang 11

thủ tục hành chính liên quan đến chức năng quản lý của ngành nhưng khôngcòn phù hợp với yêu cầu thực tế.

Người dân, khi tham gia vào một thủ tục hành chính cụ thể, chẳng hạnthủ tục đăng kí hộ tịch, thủ tục đăng ký kinh doanh, kê khai thuế… thì họ phảibiết rõ mình phải có nghĩa vụ tuân theo những quy định nào, phải cung cấpnhững hồ sơ giấy tờ gì để được cơ quan có thẩm quyền đáp ứng nhu cầu đó.Nếu người dân vì một lý do nào đó không nắm vững được những thủ tục nàythì chắc chắn họ không thể được cơ quan nhà nước đáp ứng nhu cầu Mục tiêugiao dịch với cơ quan công quyền không thực hiện được

Dựa vào loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan hành chính đượcgiao thực hiện trong quá trình hoạt động để phân loại các thủ tục hành chínhnhư: thủ tục ban hành văn bản trong cơ quan hành chính, thủ tục tuyển dụngcông chức, thủ tục thi đua khen thưởng, thủ tục kiểm tra báo cáo công tác củađơn vị… Cán bộ, công chức khi tham gia vào thủ tục này cũng sẽ ý thức đượctrách nhiệm của mình và dễ dàng định hướng trong công tác

Trên cơ sở xem xét các quan hệ trong hoạt động của các cơ quan thuộc

bộ máy quản lý nhà nước, thủ tục hành chính được phân loại dựa trên quan hệcông tác chia thành ba nhóm:

- Nhóm thủ tục hành chính nội bộ, là các thủ tục liên quan đến quan hệtrong quá trình thực hiện các công việc nội bộ của cơ quan bao gồm các thủtục về quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cấp dưới, quan

hệ phối hợp giữa các cơ quan cùng cấp, quan hệ công tác giữa chính quyềncác cấp với các bộ, cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân

- Nhóm thủ tục thực hiện thẩm quyền, là thủ tục tiến hành giải quyếtcông việc liên quan đến quyền lợi và lợi tích hợp pháp của công dân, phòngngừa ngăn chặn nhưng hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua…Trong mối quan hệ thủ tục hành chính trên, cơ quan nhà nước, cán bộ viênchức có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước bằng hoạt động áp dụng

Trang 12

quy phạm pháp luật để giải quyết một tình huống cụ thể làm xuất hiện cácquyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức Hình thức thực hiện củanhóm này bao gồm: thủ tục cho phép, thủ tục cưỡng chế, thủ tục trưng thu,trưng mua, thủ tục văn thư.

Thủ tục hành chính còn được phân loại theo chức năng cung cấp dục vụcông và các hoạt động mang tính chuyên môn, đặc thù trong quản lý hànhchính Cách phân loại này giúp các nhà chuyên môn tìm được hình thức thíchhợp để giải quyết yêu cầu của công dân một cách hợp lý nhất Một trongnhững cách thức mà bộ máy hành chính hiện nay của chúng ta áp dụng là môhình “một cửa” Mô hình “Một cửa” không chỉ giải quyết mối quan hệ giữa

cơ quan hành chính và công dân mà mục tiêu chính là để cung ứng dịch vụhành chính công cho công dân tốt hơn

Dịch vụ hành chính công là một loại hình dịch vụ do các cơ quan hànhchính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổchức và công dân Đây là những hoạt động cụ thể để giải quyết công việc của

tổ chức và công dân theo thẩm quyền được pháp luật quy định Hoạt độngcung cấp dịch vụ công phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩatrong việc đặt ra các mục tiêu giải quyết, cung cấp dịch vụ công cho công dân

vì trong thực tế nhiều cơ quan không có thẩm quyền đã tự đặt ra nhiều thủ tụchành chính để thuận lợi cho mình trong công tác quản lý nhưng lại đẩy khókhăn về phía người dân Thực tế này đi ngược lại xu hướng quản lý hànhchính của thế giới trong môi trường cạnh tranh hội nhập

Việc phân loại thủ tục hành chính mang tính chất tương đối, phục vụyêu cầu cụ thể của cơ quan hành chính trong hoạt động quản lý nhằm cungcấp những thông tin mang tính khái quát, đặc trưng cho loại thủ tục chuyênbiệt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu hợp pháp của ngườidân Thủ tục hành chính có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quản lý hànhchính nhà nước và đời sống xã hội Đó là những quy phạm hình thức thể hiện

Trang 13

của các quy phạm vật chất vào đời sống xã hội nên nếu thiếu thủ tục hànhchính thì các quy phạm vật chất không thể thực hiện được Thủ tục hànhchính đảm bảo cho các quy phạm vật chất quy định trong các quyết định hànhchính được thi hành thuận lợi Thủ tục hành chính tác động trực tiếp đếm hiệuquả của các quyết định hành chính vì nó là khâu đảm bảo đưa quy phạm vậtchất vào thực hiện Khi luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành vào ngày

01 tháng 7 năm 2003 trong đó có quy định trình tự cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức Tuy nhiên trong thực tếvẫn chưa thể tiến hành cấp Giấy chứng nhận ngay được vì chưa có thủ tụchành chính hướng dẫn cụ thể Cho đến khi hàng loạt các văn bản hướng dẫn

ra đời, trong đó quy định rõ trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,nghĩa vụ tài chính, đối tượng cụ thể thực hiện nghĩa vụ tài chính… thì mới cóthể tiến hành trong thực tế

Thủ tục hành chính còn tạo ra khả năng sáng tạo khi thực hiện cácquyết định quản lý, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý hành chính nhànước nếu nó được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý Trong thủ tục cấpgiấy phép kinh doanh trước khi luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000, với quanđiểm phải kiểm tra chặt trẽ doanh nghiệp từ khi thành lập nên các văn bản quyđịnh trình tự, thủ tục giấy tờ để cấp giấy phép kinh doanh, thành lập doanhnghiệp hết sức khó khăn, phức tạp Một doanh nghiệp chỉ kinh doanh các mặthàng thông thường, muốn thành lập và đi vào hoạt động phải mất thời gian tốithiểu là 30 ngày, chưa kể khoản thời gian cơ quan cấp phép yêu cầu bổ sung

hồ sơ, hoàn thành thủ tục xin cấp con dấu, kê khai vốn điều lệ ký quỹ tại ngânhàng, đối chiếu với vốn pháp định… Còn đối với việc kinh doanh các mặthàng đặc biệt thì thời gian kéo dài hơn rất lâu Chính từ việc quy định thủ tụchành chính nhiêu khê kéo dài thời gian như thế dẫn đến tâm lý ngán ngại củangười dân khi làm thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng kí kinhdoanh Trong một thời gian dài số doanh nghiệp được thành lập rất hạn chế và

cơ quan nhà nước trong thực tế vẫn không kiểm soát được hoạt động của

Trang 14

những doanh nghiệp đã được thành lập này Đến khi luật Doanh nghiệp năm

2000 ra đời, với chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham giasản xuất kinh doanh, quản lý nhà nước tập trung mạnh vào “Hậu kiểm”, chỉhạn chế kinh doanh đối với các loại hàng hóa, dịch vụ độc hại, nhạy cảm, ảnhhưởn đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hyội còn đối với các loại hànghóa, dịch vụ khác thì tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh kèm theo đó làviệc quy định thủ tục hành chính trong cấp phép đăng ký kinh doanh, thànhlập doanh nghiệp trong thời gian ngắn nhất (7 ngày) cá biệt còn có một số địaphương cho phép cấp phép chỉ trong vòng 3 ngày Chính từ đó, kéo theo hàngngàn doanh nghiệp ra đời theo luật doanh nghiệp chỉ trong một khoản thờigian rất ngắn, góp phần đáng kể cho tăng trưởng kinh tế của cả nước Đồngthời giảm bớt sự nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính

có liên quan

Thủ tục hành chính là một bộ phận của pháp luật hành chính, một yếu

tố tạo thành thể chế hành chính, là công cụ điều hành không thể thiếu của bất

kỳ tổ chức nào cho nên việc quy định hợp lý và thực hiện tốt các thụ tục hànhchính sẽ góp phần rất lớn đến quá trình hoàn thiện thể chế hành chính, bộ máyhành chính Trong giai đoạn đổi mới và xu hướng hội nhập hiện nay, Đảng vànhà nước ta đã và đang đề ra biện pháp để cải cách thủ tục hành chính nhằmgóp phần tích cực để cho nền kinh tế có điều kiện phát triển nhanh chóng,tránh nguy cơ tụt hậu Bên cạnh đó, thủ tục hành chính hoàn thiện cần phảiđược vận hành bởi một bộ máy hành chính hoàn thiện vì đây là hai mặt củamột vấn đề gắn bó chặt chẽ với nhau Hai mặt này bổ xung, hoàn thiện lẫnnhau để cho cả bộ máy hành chính vận hành một cách thống nhất, hiệu quả,phát huy vai trò quan hệ mọi mặt đời sống xã hội

Thủ tục hành chính còn là biểu hiện trình độ văn hóa của tổ chức, làvăn hóa giao tiếp, điều hành trong bộ máy nhà nước Trình độ văn minh củanền hành chính sẽ biểu hiện thông qua mối quan hệ giao tiếp của cơ quan nhà

Trang 15

nước, cán bộ, viên chức nhà nước đối với cá nhân, tổ chức khi họ có yêu cầucông tác Bởi vì, suy cho cùng thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọngtrong nội bộ cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với dân, với các tổchức khác Chính vì vai trò quan trọng như vậy cho nên thủ tục hành chínhphải được xây dựng một cách khoa học và có một bộ máy vận hành phù hợp.Nếu không đảm bảo nguyên tắc này sẽ làm cho các quan hệ trong nội bộ cơquan nhà nước, giữa nhà nước với nhân dân lỏng lẻo, không những làm mấtlòng tin của nhân dân với nhà nước mà còn kìm hãm các quan hệ kinh tế - xãhội phát triển.

1.1.2 Cải cách thủ tục hành chính trong công cuộc xây dựng nền hành chính của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân.

Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta nhận thấymục tiêu cải cách kinh tế phải gắn liền với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quảcủa quản lý nhà nước trên các lĩnh vực Một trong những giải pháp để đạtđược mục tiêu này là phải cải cách hành chính trong đó xác định lấy cải cáchthủ hành chính làm khâu đột phá Văn kiện của Đảng mang tính nền tảng đầutiên chỉ đạo quá trình cải cách hành chính nói chung và thủ tục hành chính nóinói riêng là Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986: "Tăng cường

bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thốngnhất, có sự phân định rành mạch, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp"đồng thời phải " phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính – kinh tế với quản

lý sản xuất – kinh doanh…

- Thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao."

Mặc dù chưa chỉ rõ những nội dung cơ bản của cải cách hành chínhnhưng nội dung của văn kiện đã xác định những nguyên tắc để tiến hành cảicách bộ máy nhà nước trong đó có cải cách hành chính, cải cách bộ máy hành

Trang 16

chính, xây dựng quy chế làm việc khoa học – cải cách bộ máy hành chínhnhằm nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước.

Nhiệm vụ cải cách hành chính tiếp tục được khẳng định tại đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VII qua việc Đảng xác định những nội dung cụ thể hơntrong việc xây dựng bộ máy hành chính, đứng đầu là Chính phủ, kế tiếp làchính quyền địa phương các cấp, sắp xếp lại tổ chức, biên chế làm cho bộmáy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế quản

lý và pháp luật Đặc biệt đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ tinhthần cải cách hành chính được phát triển hoàn thiện thêm một bước đáng kể

đó là Đảng đã xác định cụ thể mục tiêu tổng quát của cải cách hành chính:

“Xúc tiến cải cách hành chính Đổi mới và tăng cường hệ thống hành pháp cả

về tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động Phát huy vai trò điều hành của bộ máyhành pháp… trên cơ sở pháp luật thống nhất và sự điều hành tập trung củachính phủ” Nhìn chung đây là những tư tưởng nền tảng chỉ đạo công cuộc cảicách bộ máy nhà nước và cải cách bộ máy hành chính

Trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo này, Chính phủ ban hành nghị quyết

số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việcgiải quyết công việc của công dân và tổ chức quy định những công việc cụ thể

mà các cấp, các ngành phải tiến hành thực hiện và hoàn thành để đảm bảo yêucầu cải cách hành chính trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá

đi sâu vào những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến người dân như: thủ tục cấpgiấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấp đất;đăng ký kinh doanh, hành nghề, sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông;

hộ khẩu; xuất cảnh; nhập cảnh; trước bạ mua bán chuyển nhượng các loại tàisản; cho vay vốn; công chứng; thanh tra doanh nghiệp Ngày 23-01-1995, tạihội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, khóa VII xác địnhnhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính “phải cải cách một bước cơ bảncác thủ tục hành chính… Loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần

Trang 17

thiết, giảm phiền hà, ngăn chặn tệ nạn, cửa quyền, sách nhiễu, tham nhữnghối lộ, vi phạm pháp luật Chính phủ nắm quyền ban hành thủ tục hành chính;đồng thời quy định phạm vi giao quyền cho cấp tỉnh, thành phố được banhành một số loại thủ tục đặc thù của địa phương Tập trung cải cách thủ tụctrong các lĩnh vực tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh củanhân dân”.

Tiếp tục nhiệm vụ cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính,các văn kiện tiếp theo của Đảng tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,nghị quyết lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, văn kiệnĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đều có nội dung trọng tâm là cải cáchhành chính, lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu đột phá Vì thực chất,thủ tục hành chính là bộ mặt, phương thức giao tiếp của nhà nước với dân, thểhiện cụ thể bản chất nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,

và vì nhân dân Trong một thời gian dài, trước khi cải cách đổi mới, ngườidân khi có việc bắt buộc phải đến cơ quan nhà nước luôn gặp thái độ coithường, thậm chí xúc phạm của cán bộ, viên chức nhà nước, dẫn đến tâm lýbất bình trong xã hội, thậm chí ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng, đối với nhà nước Chỉ khi chúng ta tiến hành cải cách, cụ thể là cảicách thủ tục hành chính trong lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sảnxuất kinh doanh của người dân, làm cho thủ tục công khai rõ ràng, bình đẳngthì khi đó tạo ra một không khí chính trị kinh tế tích cực hơn hẳn, góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, tiến lên côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2 Một số vấn đề lý luận về cái cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông”.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình tổng thể cải cách hành chính được

xác định là:" Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc

Trang 18

của Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu

của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước [23] Đến năm 2010 hệ thống

hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"

Theo đó nội dung của Chương trình Tổng thể cải cách hành chính giaiđoạn 2001- 2010 bao 4 nội dung chủ yếu là cải cách thể chế; cải cách tổ chức

bộ máy; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cáchtài chính công Trong đó cải cách thủ tục hành chính là vấn đề đặc biệt quantrọng được ưu tiên hàng đầu, nó có tác động lớn đến các nội dung khác củacải cách hành chính Cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" được coi là mộtgiải pháp để tiến hành cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, góp phầnđổi mới thể chế của nền hành chính

1.2.1 Khái niệm cơ chế “Một cửa” – “Một cửa liên thông”.

Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước thủ tục hànhchính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức là văn bảnmang tính pháp lý đầu tiên có đề cập đến việc giải quyết thủ tục hành chínhthông qua “Một cửa”, dựa vào nguyên tắc nơi nào là đầu mối có trách nhiệmchính trong việc giải quyết công việc thì cá nhân, tổ chức trực tiếp đến đó:

“Trường hợp đề nghị của tỉnh và thành phố có liên quan đến nhiều bộ, thì Bộchuyên ngành phải làm đầu mối bàn với các Bộ liên quan khác Không nên đểChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải đi đến từng Bộ để xin ý kiếngiải quyết của bộ trưởng sau đó mới đến bộ trưởng chuyên ngành giải quyết”

và “Những công việc liên quan đến nhiều bộ phận trong cơ quan thì Thủtrưởng cơ quan phải đề ra quy chế phối hợp giải quyết trong nội bộ cơ quan

để công dân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc chỉ phải làm việc vớimột công chức được giao nhiệm vụ làm đầu mối tiếp xúc, nhận hồ sơ và giảiquyết công việc” Như vậy có thể xác định trong việc giải quyết thủ tục hành

Trang 19

chính liên quan đến nội bộ của bộ máy hành chính trung ương, địa phươnghay trong mối quan hệ cung cấp dịch vụ công cho công dân thì nguyên tắc tậptrung vào một đầu mối chính, có chức năng quản lý chủ yếu để giải quyếtcông việc là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình thực hiện Đây cũng là tinhthần chủ đạo của cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”.

Theo Quyết định số 93/2007/QĐ- TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướngChính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liênthông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương thì cơ chế “một cửa”,

“một cửa liên thông” được định nghĩa như sau:

* Cơ chế một cửa: là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân

thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính Nhà nước từhướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiệntại một đầu mối là: " Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả " tại cơ quan hành

chính Nhà nước [25]

* Cơ chế một cửa liên thông: là cơ chế giải quyết công việc của tổ

chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chínhNhà nước hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ

sơ, giải quyết đến trả kết qủa được thực hiện tại một đầu mối là " Bộ phận tiếp

nhận và trả kết quả " của một cơ quan hành chính Nhà nước [25]

*Mục đích

Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhằm đạt được bướcchuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quanhành chính Nhà nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, côngdân, chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, nângcao hiệu lực,hiệu quả quản lý Nhà nước

* Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật

- Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí,giấy tờ, hồ sơ và thờigian giải quyết công việc của tổ chức cá nhân

Trang 20

- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

- Đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cánhân

- Việc phối hợp giữa các bộ phận, cơ quan có liên quan để giải quyếtcông việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhànước

Sơ đồ 1: Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”

Lãnh đạo UBND quận, phòng ký

Tổ chức,

công dân

Bộ phận 1 cửa UBND Phường

Các cơ quan khác

P Chuyên môn

Lãnh đạo Quận

Bộ phận 1 cửa UBND quận

Sơ đồ 2: Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa

liên thông

Trang 21

Như vậy qua 2 sơ đồ trên chúng ta có thể thấy mô hình một cửa liênthông thực chất là mô hình một cửa được cải tiến, được trang bị những chứcnăng đa dạng hơn để có thể thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ của công dân, tổchức hợp lý hơn bất kể là ở cấp quận hay phường, công dân và tổ chức chỉcần nộp hồ sơ tại một đầu mối duy nhất là bộ phận một cửa liên thông thì bộphận sẽ có trách nhiệm triển khai, đôn đốc việc thực hiện các thủ tục trong cảquy trình và cũng sẽ là đầu mối duy nhất trả kết quả cho công dân Theo môhình này công dân tổ chức sẽ không phải đi lại nhiều, cũng không phải liênquan đến các phòng chuyên môn, thay vào đó bộ phận Một cửa liên thông sẽtrực tiếp tiếp nhận và thực hiện các nhiệm vụ đó.

1.3 Quá trình triển khai cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông” ở nước ta.

1.3.1 Các mô hình thí điểm cơ chế “Một cửa”

Cơ chế “một cửa” về thực hiện thủ tục hành chính trong việc giải quyếtcông việc của công dân, tổ chức được đề ra đầu tiên trong lĩnh vực đầu tư trựctiếp của nước ngoài tại Quyết định số 366/HĐBT ngày 7/11/1991 của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án cóvốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Cơ chế “Một cửa” và “một cửa tại chỗ”

đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các Ban quản lý các khu côngnghiệp và các khu chế xuất từ đó cho đến nay Thực hiện Nghị quyết số38/CP ngày 04/05/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hànhchính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, từ năm 1995 nhiềuđịa phương đã chủ động thí điểm thực hiện áp dụng cơ chế giải quyết côngviệc theo mô hình “một cửa” hoặc “một cửa, một dấu” Đi đầu trong lĩnh vựcnày là thành phố Hồ Chí Minh Ủy ban nhân dân thành phố đã xây dựng đề ánkèm theo công văn số 2853/UB-NCVX ngày 27/9/1995 về việc xin thí điểmviệc tổ chức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tại một khu

Trang 22

hành chính theo mô hình “Một cửa, một dấu” đối với Ủy ban nhân dân quận

1, quận 5 và huyện Củ Chi Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chothực hiện (Thông báo số 6194/CCHC ngày 30/10/1995) của Văn phòng Chínhphủ) Ngày 18 tháng 10/1996 Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã có chỉ thị

số 04/CT-TU về việc thực hiện cải cách hành chính theo mô hình “một cửa,một dấu” Tháng 11/1996 sau khi sơ kết đánh giá việc thực hiện cải cách hànhchính theo cơ chế “một cửa, một dấu”, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ ChíMinh đã có chỉ thị số 36/CY-UB-NC ngày 11/11/1996 về việc tiếp tục thựchiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa, một dấu”; đặc biệt lưu ý tất cảcác quận, huyện chuẩn bị tốt mọi điều kiện, xây dựng đề án để đồng loại thựchiện cơ chế này trong toàn thành phố Ngày 13/2/1997, Ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh đã có báo cáo số 490/UB-NC gửi Thủ tướng Chínhphủ về việc báo cáo phương án mở rộng thực hiện cải cách hành chính theo

cơ chế “một cửa, một dấu” đối với quận, huyện thuộc thành phố và đã đượcThủ tướng chính phủ đồng ý mở rộng diện thí điểm cải cách hành chính theo

mô hình “Một cửa một dấu” ở các quận, huyện còn lại và thí điểm cơ chế

“một cửa” ở Văn phòng ủy ban nhân dân thành phố và một số cơ sở, banngành thuộc Ủy ban nhân dân thành phố

Tiếp theo thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 và 1997 có thêm 4 tỉnhthành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương và Hòa Bình thực hiện thíđiểm cơ chế “Một cửa”; năm 1998 thêm 58 tỉnh là” Quảng Ninh, Trà Vinh,Tây Ninh, Đồng Nai, Cần Thơ; đến năm 1999 có thêm 4 tỉnh: Thừa ThiênHuế, Đồng Tháp, Quảng Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu; năm 2003 thêm các tỉnh “Thái Nguyên, Quảng Trị, Thanh Hóa… Theo báo cáo số 01/BC-BCĐCCHCngày 27 tháng 4 năm 2006 của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chínhphủ về việc tổng kết thực hiện giai đoạn I (2001-2005) Chương trình tổng thểcải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và phương hướng nhiệm

vụ cải cách hành chính giai đoạn II (2006-2010) thì việc triển khai cơ chế

“Một cửa” tại cấp tỉnh được tiến hành ở các sở bắt buộc tại các tỉnh là Sở lao

Trang 23

động – Thương binh và xã hội, Sở tài nguyên và Môi trường, Sở kế hoạch vàđầu tư đạt 95.7% Đối với các sở ngàng thuộc diện mở rộng đạt 52% Ở cấphuyện khoảng 98% đơn vị cấp xã triển khai cơ chế “Một cửa” Đối với cấp xã

có 78% đơn vị cấp xã đã triển khai cơ chế “Một cửa” đạt được mục tiêu đề ra.Nhìn chung, kết quả đạt được của riêng cơ chế này là được sự đồng thuận caocủa nhân dân, đổi mới cơ bản mối quan hệ của cơ quan hành chính và côngdân theo hướng phục vụ Tuy nhiên cũng theo Báo cáo trên thì cơ chế nàymuốn đẩy mạnh triển khai áp dụng tại tất cả các địa phương cần phải tiếp tụcnghiên cứu hoàn thiện trong thời gian tới

Từ những tư tưởng chỉ đạo mang tính nguyên tắc đến quá trình triểnkhai cụ thể trong thực tiễn là một khoảng cách rất lớn đòi hỏi có thời gianhoàn thiện và tiếp thu dần dần phù hợp với xu thế phát triển Địa phương đầutiên trên cả nước thực hiện thí điểm cơ chế này là Thành phố Hồ Chí Minhnăm 1995 với tên gọi mô hình (cơ chế, quy trình) hành chính “Một cửa, mộtdấu” được triển khai thí điểm ở các quận 5, quận 1, huyện Củ Chi

“Một cửa, một dấu” chứa đựng hai hiện tượng pháp lý khác nhau cùngtồn tại trong một hệ thống Hiện tượng pháp lý thứ nhất đó là cơ quan nhànước, cán bộ viên chức nhà nước có thẩm quyền là chủ thể tiến hành thủ tụchành chính khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu Chỉ với quyết định của người cóthẩm quyền thì các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức mới đượcđảm bảo các yêu cầu về cấp phép, chứng nhận, giải quyết khiếu nại… Có hailoại cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Ủy ban nhân dân – cơ quan có thẩmquyền chung và cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân – cơ quan có thẩmquyền riêng

Hiện tượng pháp lý thứ hai là dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.Thủ tục hành chính thường phải qua nhiều công đoạn để giải quyết, mỗi côngđoạn lại thuộc thẩm quyền của các cơ quan chuyên môn khác nhau Các cơquan chuyên môn căn cứ và chức năng nhiệm vụ của mình cho ý kiến về công

Trang 24

việc, tức là phải có con dấu xác nhận tư cách pháp nhân công quyền Cuốicùng, ủy ban nhân dân trên cơ sở ý kiến tham mưu, đóng góp của cơ quanchuyên môn, người có thẩm quyền quyết định việc đáp ứng yêu cầu của ngườidân Theo cách thức tiến hành trước đây, người dân phải đi qua “nhiều cửa”

để có được “nhiều dấu” Kết thúc quá trình, người dân nhận được một quyếtđịnh tổng hợp từ những quyết định của các cơ quan quản lý có liên quan Quátrình này đòi hỏi người dân phải đảm nhận thêm vai trò “giao liên” mang, gửi,

bổ sung hồ sơ, chuyển hồ sơ đến các cơ quan liên quan

Để đơn giản quy trình này thì các đơn vị thực hiện thí điểm tại Thànhphố Hồ Chí Minh đã tiến hành thu hồi con dấu của các phòng ban thuộc quận,huyện và gom tất cả về một đầu mối, thành lập Tổ tiếp nhận và trả hồ sơ, thựchiện ba công khai: Công khai các quy định của từng loại thủ tục hành chính,công khai thời gian và quy trình giải quyết đối với từng loại hồ sơ; Công khai

lệ phí giải quyết hồ sơ Quy trình giải quyết hồ sơ được khép kín, người dânchỉ việc nộp hồ sơ đầy đủ theo quy định, tất cả các khâu còn lại của quá trình

sẽ do cơ quan có chức năng giải quyết, không cần thiết sự tham gia của nhândân vào thủ tục hành chính Qua hơn một năm thực hiện, cơ chế này đã nhậnđược nhiều ý kiến đồng tình và Chính phủ cho phép Thành phố Hồ Chí Minh

mở rộng áp dụng thí điểm mô hình này ở các quận, huyện còn lại Hiện naymột số quận thành lập Tổ dịch vụ hành chính công để thực hiện vai trò của Bộphận tiếp nhận và trả kết quả Vấn đề này cần phải có thời gian để tiếp tụchoàn thiện thêm vì đây không chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi

Trong giai đoạn thí nghiệm này, mô hình “một cửa, một dấu” có nhữngđặc điểm cơ bản sau:

- Tổ tiếp nhận – trả hồ sơ được thành lập, các đầu mối giải quyết côngviệc hành chính được tập trung về văn phòng Ủy ban nhân dân, quy trình, nộidung công việc, thời gian, lệ phí được công khai

Trang 25

- Các con dấu của các cơ quan chuyên môn được thu hồi, chỉ sử dụngduy nhất con dấu quốc huy trên các văn bản hành chính.

- Ủy nhiệm một số công việc thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó chủtịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân cho Trưởng phòng quyết định

- Một số quy trình thủ tục hành chính được đơn giản hóa, công khai tạitrụ sở ở cơ quan, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến liên hệ công việcvới cơ quan hành chính

Bên cạnh đó, việc áp dụng mô hình “một cửa, một dấu” cũng vướngmắc những vấn đề sau:

- Những chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân là tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp trênquản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực tại địa phương (cấp huyện) Chonên, ngoài việc sử dụng dấu để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân,các cơ quan này còn phải thực hiện chức năng quản lý được phân công vàphối hợp với những cơ quan khác trong công tác Khi tiến hành thu dấu mộtcách “thủ công” sẽ gây khó khăn cho những cơ quan này khi thực hiện chứcnăng vì không thể hiện được tư cách của một pháp nhân công quyền

Do là bước thí điểm nên nhiều địa phương đã tự ý rà soát và bỏ nhữngquy định không còn phù hợp không chỉ của riêng địa phương mà còn bãi bỏnhững quy định của Trung ương quy đối với từng loại thủ tục cụ thể Dướigóc độ lợi ích của người dân thì đây là việc làm cần thiết Nhưng xét theonguyên tắc Pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thìkhông đảm bảo

- Quy định về phân cấp chưa được cụ thể rõ ràng nên chưa có cách hiểu

và áp dụng thống nhất của các quận, huyện

- Việc điều động, phân công cán bộ gặp khó khăn do chưa quen với tưduy làm việc mới và chế độ chính sách chưa phù hợp với tính chất công việc

Trang 26

1.3.2 Cải cách hành chính từ cơ chế “ Một cửa” đến cơ chế

“Một cửa liên thông” ở nước ta

Thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,

bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ hành chính theo cơ chế " một cửa " đã đượcthành lập và triển khai thực hiện tại các cơ quan hành chính Sau hơn 3 nămhoạt động, bước đầu đã cơ bản giải quyết nhanh, gọn, thuận tiện với thủ tụchành chính ở một số lĩnh vực đã đảm bảo đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.Tuy nhiên theo đánh giá chung, hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả hồ sơ hành chính theo cơ chế một cửa ở hầu hết các cơ quan còn bộc lộnhững hạn chế sau:

Thứ nhất, cơ sở vật chất sơ sài, trang thiết bị lạc hậu, chưa đáp ứng yêucầu của cơ chế một cửa cũng như công cuộc cải cách hành chính

Thứ hai, mô hình hoạt động của bộ phận một cửa chưa rõ ràng do cán

bộ kiêm nhiệm (chủ yếu là từ các phòng ban chuyên môn); mối quan hệ giữa

bộ phận một cửa với các phòng ban chuyên môn trong giải quyết công việccủa tổ chức và công dân còn lỏng lẻo, thiếu sự ràng buộc với kết quả giảiquyết

Thứ ba, các biểu, bảng công khai về thủ tục hành chính, phí, lệ phí hầuhết là quá nhỏ, không tiện lợi cho người xem Quy trình làm việc còn thủcông, chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết công việc

Thứ tư, kinh phí để duy trì công tác của bộ phận “một cửa” chưa được

rõ ràng, thiếu tính bền vững

Thứ năm, việc kiểm tra, giám sát các quá trình công tác của các cơquan nhà nước và của nhân dân đối với bộ phận một cửa và với mỗi cán bộcông chức tại bộ phận một cửa chưa được thực hiện thường xuyên Tình trạngkhép kín trong tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả chưa được khắc phục, lànhững kẽ hở cho tiêu cực có thể xảy ra

Thứ sáu, tính độc lập và chuyên trách trong hoạt động của bộ phận

“một cửa” chưa thật sự đảm bảo; chất lượng, hiệu quả hoạt động hiện nay chủ

Trang 27

yếu quyết định sự tự giác và kết quả hoạt động của các phòng ban chuyênmôn có cán bộ cử tham gia bộ phận một cửa.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, việc đầu tư xây dựng mô hình “mộtcửa liên thông” là việc làm hết sức cấp bách và cần thiết để khắc phục nhữngtồn tại trên

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình tổng thể cải cách hànhchính trong giai đoạn mới, ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 93/2007/QĐ- TTg về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế

“một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ởđịa phương Theo đó, bắt đầu từ giai đoạn này, các cơ quan hành chính Nhànước sẽ áp dụng triển khai cơ chế “Một cửa liên thông” trong việc tiếp nhận

và giải quyết các hồ sơ hành chính của các tổ chức, công dân nhằm mục đíchphát huy tối đa các tiến bộ tích cực của cơ chế “một cửa” cũ cũng như khắcphục các khuyết điểm tồn tại, yếu kém để cải cách mang tính hiện đại và hiệuquả cao hơn

Có thể nói cơ chế “Một cửa liên thông” là một sáng kiến, bước đột phátrong quá trình cải cách hành chính ở nước ta Nó đã tạo ra được chuyển biếnđáng kể trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tạo được sự đồngtình, ủng hộ cao của nhân dân góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nềnhành chính, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức; chấm dứt quan niệm “xin cho” nơi bộ máy côngquyền

Cơ chế đã tạo một diện mạo mới, phát triển chất lượng ở mức độ caohơn so với thời kỳ trước Thủ tục hành chính giờ đây được thực hiện một cáchđơn giải, nhanh chóng, thuận lợi làm giảm đi các phí tổn, phiền toái chongười dân một cách không cần thiết Đây là điều có ý nghĩa hết sức to lớnkhông chỉ mang ý nghĩa thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển thuận lợi màcòn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, nếu thực hiện tốt nhân dân thông qua cơ

Trang 28

chế này sẽ thấy rõ hơn bản chất nhà nước là nhà nước phục vụ nhân dân.Những biểu hiện lạc hậu như hách dịch, cửa quyền, trì trệ… không còn chỗtồn tại trong cơ chế mới, tiến bộ Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhànước ngày càng được củng cố vững chắc.

Cơ chế này nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính,xây dựng nền hành chính nhà nước lành mạnh, sử dụng đúng quyền lực vàhoạt động có hiệu quả Thời gian qua, việc thực hiện cơ chế và từng bướchoàn thiện cơ chế đã kéo theo nhiều cải cách quan trọng các yếu tố cấu thànhnền hành chính nhà nước như thể chế, chế độ phân cấp mạnh mẽ cho các cấpchính quyền, chuyển sang khu vực tư

Xuất phát từ yêu cầu phối hợp công tác trong mô hình “Một cửa liênthông”, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân bắt buộc phải tự ràsoát, hoàn thiện quy chế hoạt động của mình, tổ chức sắp xếp lại bộ máy mộtcách khoa học, tinh giảm biên chế, sử dụng đúng người đúng việc Phongcách làm việc, tiếp xúc với dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cónhững nét chuyển biến tích cực, ngày càng gần dân hơn, thông cảm với nhữngkhó khăn của nhân dân để hướng dẫn họ hoàn thành thủ tục hành chính theoquy định một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất

Chính những tác động hiệu quả, cụ thể của việc thực hiện cơ chế “Mộtcửa liên thông” thời gian qua nên cơ chế này vẫn được tiếp tục triển khai vàhoàn thiện trong thời gian tới Đồng thời sẽ được tiếp tục thu thập ý kiến, ápdụng rộng rãi ở các cấp kể cả trung ương và địa phương

Mô hình “một cửa liên thông” đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng vàNhà nước trong việc cải thiện mối quan hệ công việc giữa cơ quan hành chínhnhà nước và cá nhân tổ chức, cải thiện một bước bộ mặt của nền hành chínhquốc gia hướng đến mục tiêu một nền hành chính phát triển, hành chính phụcvụ

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI MÔ HÌNH MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC QUẬN CỦA THÀNH PHỐ

HẢI PHÒNG 2.1 Quá trình thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân các quận trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

2.1.1 Những yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến tình hình cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “Một cửa – Một cửa liên thông”tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng.

Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I, là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa – xã hội của khu vực Đông Bắc Bộ nói riêng và của cả nước nóiriêng Diện tích tự nhiên là 150.300 ha với hơn 125 km bờ biển, gồm 15 đơn

-vị hành chính (7 quận, 8 huyện) phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tâygiáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đồng giáp biểnĐông; dân số 1.837.000 người ( số liệu điều tra năm 2009) Một bộ phậnkhông nhỏ dân cư sống ở các quận chủ yếu kinh doanh thương mại, dịch vụ,tiểu thủ công nghiệp… một phần dân cư còn lại sản xuất nông nghiệp, nuôitrồng thủy sản… So với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước điều kiện giaothông của Hải Phòng khá thuận lợi Là một trong những cảng biển lớn nhấtmiền Bắc và cả nước, Hải Phòng là cửa ngõ giao thông qua lại của các tàu,thuyền lớn trong và ngoài nước, đồng thời là nơi giao thương của nhiều đầumối kinh tế trong khu vực và là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao,

có chất lượng cho cả nước vì vậy việc giải quyết các công việc giao dịch củacông dân, tổ chức với các cơ quan hành chính nhà nước là rất lớn Từ thực tế

đó cho thấy việc triển khai thực hiện cơ chế giải quyết thủ tục hành chính

“Một cửa” trước đây và hiện nay là “một cửa liên thông” rất cần thiết, giúpcông dân, tổ chức giảm bớt thời gian đi lại, chờ đợi không cần thiết

Trang 30

Bên cạnh đó, do quá trình đổi mới và phát triển của Việt Nam nóichung và Hải phòng nói riêng có điểm xuất phát không cao nên nhìn chungnền hành chính nhà nước mà cụ thể là các cơ quan công quyền và đội ngũ cán

bộ công chức còn nhiều vấn đề cần khắc phục, cải tiến Sự am hiểu, tường tậncác thủ tục hành chính của đại đa số người dân vẫn còn hạn chế Những thủtục hành chính đơn giản nhưng người dân cũng phải mất nhiều thời gian đểhoàn chỉnh theo đúng yêu cầu Ví dụ đối với thủ tục hành chính xin cấp phépxây dựng, giấy xác nhận của cấp phường thì họ rất lúng túng không thực hiệnđược Người dân khi đến cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện thủ tụchành chính luôn mang nặng tâm lý “đi nhờ vả” cơ quan nhà nước như trongthời kỳ nhà nước quản lý xã hội bằng cơ chế cũ nên không chủ động thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định còn trông chờ sự hướng dẫncủa cán bộ, công chức, từ đó một bộ phận cán bộ công chức còn lợi dụng đểnhũng nhiễu gây khó khăn cho người dân Khi cán bộ công chức có hiểu hiệnnhũng nhiễu thì người dân không chủ động báo cáo lãnh đạo mà lại mang tưtưởng thỏa hiệp cho xong việc Đây là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực phátsinh Xuất phát từ những nhân tố tự nhiên và điều kiện xã hội trên nên đẩymạnh cải cách thủ tục hành chính là cần thiết và phải được tiến hành phù hợpvới điều kiện đặc trưng của thành phố Hải Phòng

2.1.2 Sự cần thiết khách quan của việc thực hiện cơ chế “Một cửa – Một cửa liên thông” tại UBND các quận của thành phố Hải Phòng.

Xu hướng cải cách hành chính và đặc biệt là cải cách thủ tục hànhchính để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của cả đấtnước là một xu hướng chủ đạo Hải Phòng muốn đi lên, phát triển cũng khôngthể nằm ngoài xu hướng này Trong nhiều giải pháp được đưa ra để cụ thể hóanhững bước đi trong xu hướng phát triển trên là đơn giản hóa thủ tục hànhchính đến mức cao nhất để tạo mọi điều kiện thuận lợi phục vụ nhân dân màkhông làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước Cơ chế

Trang 31

giải quyết thủ tục hành chính “Một cửa” đã góp phần quan trọng giải quyếtđược vấn đề này, Tính chất đúng đắn phù hợp với thực tiễn của cơ chế này thểhiện trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận Mức độ hài lòng của người dânđối với cơ quan nhà nước trong việc giải quyết thủ tục hành chính tăng lênđáng kể so với trước đây Chính vì vậy, các chương trình hành động củaChính phủ thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010, 2011

- 2020 luôn nhấn mạnh đến việc tiếp tục thực hiện và hoàn thiện cơ chế “Mộtcửa”, “ Một cửa liên thông” Trên cơ sở chương trình hành động của Chínhphủ; các bộ, ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp đã tích cực ràsoát tất cả các thủ tục hành chính trong phạm vi thẩm quyền của mình để đơngiản hóa hoặc đề xuất xử lý theo thẩm quyền, nghiên cứu tổ chức thực hiện

mô hình “Một cửa”, sau này là “Một cưả liên thông”nhằm đạt hiệu quả caonhất trong việc phục vụ nhân dân Việc thực hiện cải cách hành chính theo cơchế “Một cửa liên thông” ở Ủy ban nhân dân các quận của thành phố HảiPhòng cũng nằm trong xu thế chung và thực hiện những quy định của cơ quannhà nước cấp trên Cải cách hành chính được xác định là nhiệm vụ trọng tâmcủa Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Đảng bộ, chính quyền thànhphố Hải Phòng đã có những chủ trương, giải pháp để triển khai thực hiệnnhiệm vụ cải cách hành chính trong từng thời kỳ theo sự chỉ đạo của ChínhPhủ

Cũng như nhiều nơi khác, nguyên nhân khách quan đòi hỏi phải cảicách thủ tục hành chính ở Hải Phòng là việc người dân mất nhiều thời gian vàcông sức khi đến các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thủ tục hànhchính Mặt khác do không nắm vững về thủ tục, các loại giấy hồ sơ nên việc

bổ sung những hồ sơ, thủ tục như chứng thực, chứng nhận không dưới 3 ngàycòn thời gian để hoàn thành các thủ tục về xin cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, xây dựng, chế độ, chính sách xã hội không dưới 2 tuần Cộng thêmthời gian chờ cơ quan chức năng giải quyết hồ sơ theo quy trình như trướcđây thì kéo dài có thể mất thêm 90 ngày Như vậy để hoàn thành thủ tục hành

Trang 32

chính và được cấp phép, người dân mất rất nhiều thời gian, công sức và chiphí đi lại.

Một mặt, do quy trình thủ tục giải quyết hồ sơ, mức thu lệ phí đối vớitừng loại thủ tục hành chính không được công khai rõ ràng nên tình trạng cán

bộ, công chức đòi hỏi thêm thủ tục ngoài quy định, hạch sách, nhũng nhiễukhá phổ biến Người dân gặp khó khăn khi muốn nắm thông tin về thủ tụchành chính và tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính Tình hình cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 2003 – 2007khá thấp Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một trongnhững nguyên nhân chủ yếu đó là do thủ tục hành chính trong lĩnh vực nàyquá nhiêu khê, thời gian kéo dài quá lâu và có nhiều vấn đề chưa được dânchủ, công khai trong quá trình cấp giấy nên tổ chức, cá nhân không nhất thiếtphải làm những thủ tục này trừ khi thật cần thiết Thời gian qua, Quốc hội,Chính phủ, các bộ đã có nhiều văn bản quy định về nguyên tắc những vấn đềnày nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các thủ tụchành chính liên quan đến đất đai, nhà ở nhưng tại địa phương vẫn còn quyđịnh thêm những loại giấy tờ nằm ngoài quy định (chẳng hạn yêu cầu nộpchứng chỉ quy hoạch do sở Xây dựng cấp, biên lai nộp thuế sử dụng đất hàngnăm, yêu cầu người dân cung cấp những số liệu mà chỉ có cơ quan phụ trách

về đất đai mới có như tờ khai màu hồng ( UBND quận Kiến An) ghi số thửa,

tờ bản đồ của thửa đất mới được cấp giấy chứng nhận…) Người dân buộcphải “chi” để được hướng dẫn việc của mình, để không mất thời gian chờ đợi

và đi lại Hiện tượng này nếu không được chấn chính kịp thời sẽ tạo ảnhhưởng không tốt về đội ngũ cán bộ, công chức hành chính

Công tác quản lý đối với ngành, lĩnh vực cụ thể tại địa bàn không chặtchẽ, không được kiểm tra thường xuyên nên mỗi phòng, ban có cách làm việcriêng, không có quy định về quy trình phối hợp chặt chẽ nên hồ sơ cần thiết

có sự phối hợp giải quyết của nhiều cơ quan thường bị ách tắc Số lượng hồ

Trang 33

sơ nhận, giải quyết, kết quả giải quyết đối với từng lĩnh vực không đượcthống kê, tập hợp báo cáo đầy đủ, thường xuyên về Ủy ban nhân dân quận,chỉ khi cần số liệu báo cáo vào một thời điểm cụ thể đối với các phòng, banthì các đơn vị mới tiến hành báo cáo Từ việc báo cáo không thường xuyênnên sự chỉ đạo, kiểm tra của Ủy ban nhân dân các quận chưa đạt hiệu quả cao.

Xuất phát từ tình hình trên, cải cách hành chính, cụ thể là việc triểnkhai cơ chế “một cửa” là một yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng đòi hỏichính đáng của người dân, là thủ tục hành chính để phục vụ cho quyền, lợi íchhợp pháp của công dân phải được tiến hành một cách nhanh chóng, tiết kiệmthời gian, công sức, tiền của Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính gắnliền với việc thay đổi tư duy quản lý, phong cách phục vụ của cán bộ, côngchức khi tiếp xúc với người dân, tạo sự gần gũi giữa công dân và cơ quanhành chính nhà nước Đơn giản hóa thủ tục hành chính không những khônglàm mất đi tính chặt chẽ của quản lý nhà nước mà ngược lại còn nâng cao hơnnữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

xã hội ở địa Bởi vậy, bắt đầu từ tháng 9/2003 bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả hồ sơ hành chính theo cơ chế “một cửa” chính thức được triển khai thựchiện tại UBND các quận của Thành phố Hải Phòng

Sau một thời gian áp dụng cơ chế “một cửa” trong việc tiếp nhận vàgiải quyết các hồ sơ hành chính của các tổ chức, công dân trên địa bàn cácquận của thành phố Hải Phòng đã bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực trongquy trình giải quyết các hồ sơ hành chính của các cơ quan nhà nước, các thủtục hành chính được đơn giản hóa, dễ hiểu, dễ thực hiện Tư tưởng và tráchnhiệm của phần đông cán bộ, công chức được cải thiện rõ ràng, niềm tin và

độ hài lòng của nhân dân vào chính quyền được nâng cao Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đã đạt được, mô hình “một cửa” vẫn còn bộc lộ nhiều tồntại cần phải khắc phục, cải cách để hạn chế tới mức thấp nhất những phiền hàsách nhiễu cho nhân dân và để gắn kết triệt để sự phối hợp đồng bộ nhịp

Trang 34

nhàng giữa các bộ phận, các phòng, ban, cơ quan cùng chung một trách nhiệmgiải quyết công việc được giao mô hình “Một cửa liên thông” do Thủ tướngChính phủ ban hành ngày 22/6/2007 được chính thức áp dụng tại Ủy bannhân dân các quận của thành phố Hải Phòng từ tháng 6/2008.

2.2 Tổ chức thực hiện

2.2.1 Công tác chỉ đạo thực hiện

Thực hiện Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 về phêduyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010; Quyết định 181/2003/QĐ- TTg ngày 04/9/2003 về việc ban hành Quychế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địaphương; Quyết định 93/2007/QĐ- TTg ngày 22/6/2007 về việc ban hành Quychế thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ởđịa phương, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã xây dựng vàban hành hàng loạt các Nghị quyết, quyết định để triển khai cải cách thủ tụchành chính giải quyết công việc trên địa bàn toàn Thành phố: Nghị quyết số

02 – NQ/TU, Hội đồng nhân dân thành phố thông qua Nghị quyết số07/2006/NĐ – HĐND về đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006 -2010( Hải Phòng là địa phương đầu tiên trong cả nước có Nghị quyết của BanThường vụ Thành ủy và Hội đồng nhân dân thành phố chuyên đề về cải cáchhành chính); Chương trình hành động số 16 – CTr/TU ngày 25/03/2008 đẩymạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý bộ máy nhànước; Quyết định số 1457/QĐ – UBND ngày 09/8/2007 của UBND thànhphố về việc phân công nhiệm vụ tổ chức thực hiện một số nội dung cải cáchhành chính của thành phố giai đoạn 2006 – 2010; Quyết định số 1671/QĐ –UBND ngày 09/10/2008 về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện đề án Đơn giảnhóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước tại thành phố HảiPhòng Quyết định số 1207/QĐ – UBND của UBND thành phố về công bố bộthủ tục hành chính áp dụng chung cấp quận, huyện; thông báo số 526/TB –

Trang 35

UBND về việc rà soát thủ tục hành chính theo đề án 30 của Chính phủ; quyếtđịnh số 495/QĐ – UBND ngày 30/3/2010 của UBND thành phố về việc thôngqua phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thực hiện trên địa bàn thànhphố; Kế hoạch số 1782/KH – UBND ngày 06/4/2010 của Ủy ban nhân dânThành phố về việc tổng kết chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001 – 2010 và xây dựng chương trình cải cách hành chínhnhà nước giai đoạn 2011 -2020

UBND Thành phố đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành, các địa phương tiếnhành rà soát lại các quy trình thủ tục theo quy định về thời gian, các khoản thuphí, lệ phí… qua đó điều chỉnh cho phù hợp; đồng thời xem xét lại hệ thốngchức năng, nhiệm vụ của các Sở, ban, ngành, các đơn vị và địa phương trongThành phố để xác định mức độ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan,đơn vị đó Trên cơ sở đó UBND Thành phố ban hành quy định tạm thời thựchiện các thủ tục hành chính và trình tự giải quyết hành chính tại bộ phận tiếpnhận và trả hồ sơ hành chính; tiến hành mẫu hoá các quy trình, thủ tục đểcông khai tại bộ phận " Một cửa liên thông " các lĩnh vực đã được UBNDthành phố phê duyệt

Chuẩn bị điều kiện vật chất: xác định việc chuẩn bị cơ sở vật chất có ýnghĩa quan trọng đóng góp vào thành công của mô hình mới, UBND Thànhphố, chỉ đạo UBND các quận, phường quan tâm cho tu sửa địa điểm, muasắm bổ sung trang thiết bị làm việc tiên tiến, hiện đại cho bộ phận tiếp nhận

và trả kết quả hồ sơ hành chính theo đúng tiêu chuẩn được quy định tại Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ –TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về banhành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa” liên thông tại cơquan hành chính nhà nước ở địa phương

Chuẩn bị về công tác cán bộ: Thành phố Hải Phòng chỉ đạo Sở Nội vụ

tổ chức đoàn các cán bộ quản lý, công chức trực tiếp làm việc tại bộ phận

“Một cửa liên thông” đi nghiên cứu, học tập mô hình cải cách hành chính ởquận Hải Châu,TP Đà Nẵng; Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh

Trang 36

Thành phố đã chỉ đạo UBND các quận thành lập bộ phận “một cửa liênthông” các cán bộ, công chức được trưng dụng từ các phòng Tài nguyên &Môi trường, Quản lý đô thị, Tài chính kế hoạch, Lao động – thương binh &

xã hội, Tư pháp, Văn phòng UBND quận và sẽ do Văn phòng UBND quậntrực tiếp quản lý UBND các phường thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả hồ sơ hành chính gồm các cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật cao, trình độchuyên môn tốt, am hiểu về các lĩnh vực giải quyết, có khả năng tiếp dân

2.2.2 Nội dung các bước tiến hành để xây dựng và phát triển

mô hình “một cửa liên thông”

Bước 2:

UBND quận có văn bản chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan phốihợp triển khai cơ chế một cửa liên thông (chỉ định về lĩnh vực thực hiện liênthông và cơ quan có trách nhiệm phối hợp)

Bước 3:

UBND quận tổ chức hội nghị giữa các cơ quan, đơn vị và UBND cácphường có liên quan để thống nhất lộ trình và phương thức triển khai, phương

án tổ chức bộ phận một cửa liên thông, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị

và địa phương trong quá trình triển khai

Bước 4:

Trên cơ sở lộ trình, phương thức, trách nhiệm đã thống nhất, các cơquan đơn vị tự rà soát lại về thủ tục hành chính đối với phần việc thực hiệntheo cơ chế liên thông tại cơ quan, đơn vị mình (các loại giấy tờ, thời giangiải quyết, mức thu phí, lệ phí nếu có); dự kiến phương án bố trí nhân sự đểphối hợp giải quyết công việc)

Trang 37

Bước 5:

UBND quận trên cơ sở các thủ tục hành chính đã được rà soát vàphương án nhân sự do các phòng, ban, đơn vị cung cấp tiến hành tổng hợpxây dựng Dự thảo "Quy chế phối hợp" giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan

để thực hiện việc liên thông, xin ý kiến của các cơ quan đơn vị có liên quansau đó đi đến thống nhất

Bước 6:

Sau khi thống nhất UBND quận phê duyệt nội dung "Quy chế phốihợp" Đề án triển khai cơ chế "một cửa liên thông" và tổ chức triển khai thựchiện

2.2.3 Vị trí, điều kiện làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính theo cơ chế ‘‘một cửa liên thông’’ ( sau đây gọi tắt là bộ phận một cửa liên thông).

Bộ phận một cửa liên thông tại UBND các quận của Thành phố có trụ

sở khang trang, gồm các quầy giao dịch và một phòng điều hành thuận lợi choviệc giải quyết công việc của tổ chức, công dân

Ảnh 1 (Quầy 1 : Lĩnh vực cấp giấy chứng nhận ĐKKD)

Ảnh 2 +3 (Quầy 2 +3 : Lĩnh vực đất đai, xây dựng)

Trang 38

Ảnh 4 (Quầy 6: Lĩnh vực tư pháp và chính sách xã hội)

Phòng nhân dân giao dịch có diện tích rộng, thoáng mát, có điều hoànhiệt độ, có hệ thống xếp hàng tự động, ghế ngồi đợi, cấu trúc văn phòng đẹp,văn minh, lịch sự, có biển hướng dẫn cụ thể rõ ràng, nhân dân đến giao dịchkhông bỡ ngỡ trước thiết bị hiện đại

2.2.4 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ phận “một cửa liên thông” tại UBND các quận trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Theo Quy chế cơ cấu tổ chức, hoạt động của bộ phận một cửa liênthông nói chung thể hiện như sau:

Cơ cấu cán bộ:

Bộ phận một cửa liên thông trực thuộc Văn phòng HĐND - UBND cácquận (nay là Văn phòng UBND các quận), do Phó văn phòng phụ trách làmtrưởng bộ phận; các cán bộ, công chức điều động từ văn phòng và các phòngchuyên môn liên quan Cán bộ công chức làm việc tại Bộ phận một cửa liênthông chịu sự quản lý trực tiếp của Văn phòng UBND các quận

- Bộ phận một cửa liên thông hiện có 7 - 9 cán bộ: Trong đó có các cán

bộ chuyên trách của các lĩnh vực: Quản trị mạng, Văn thư, chính sách xã hội,đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, chứng thực, thế chấp vay vốn,đất đai, tiếp nhận đơn thư; có 2 cán bộ do cơ quan khác cử đến: cán bộ thuế,cán bộ kho bạc

- Trình độ chuyên môn của cán bộ công chức: 100% trình độ đại học

Trang 39

Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận “một cửa liên thông”:

- Tiếp tổ chức, công dân tại phòng làm việc của Bộ phận một cửa liênthông khi có yêu cầu giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền củaUBND quận được quy định giải quyết theo cơ chế “một cửa liên thông”

- Các trường hợp yêu cầu giải quyết công việc nhưng không thuộc thẩmquyền, bộ phận có trách nhiệm hướng dẫn để công dân, tổ chức đến cơ quanchức năng có thẩm quyền giải quyết

- Hướng dẫn công dân và tổ chức về thủ tục, hồ sơ theo quy định, kiểmtra, cập nhật các dữ liệu vào phần mềm tác nghiệp dịch vụ hành chính công và

sổ theo dõi, in phiếu tiếp nhận, hẹn trả kết quả đối với các hồ sơ được thụ lý

Đối với các hồ sơ chưa hoàn chỉnh thì hướng dẫn cụ thể để tổ chức,công dân bổ sung hoàn chỉnh theo quy định

- Cán bộ tiếp nhận chuyển hồ sơ đã thụ lý cho Lãnh đạo phụ trách Bộphận để kiểm tra, xác nhận sau đó chuyển đến các phòng chuyên môn có tráchnhiệm phối hợp giải quyết

- Theo đúng ngày hẹn trả kết quả ghi trên giấy biên nhận hồ sơ, cán bộthụ lý có trách nhiệm trả kết quả hồ sơ, hướng dẫn khách hàng nộp phí, lệ phítheo quy định

Mối quan hệ giữa bộ phận một cửa liên thông với Lãnh đạo Văn phòng

và với các phòng, ban chuyên môn và UBND các phường.

Nhiệm vụ của Lãnh đạo Văn phòng UBND phụ trách Bộ phận:

- Quản lý thời gian làm việc hàng ngày của cán bộ, công chức thuộc bộphận

- Nắm hình hình tiếp nhận, giải quyết, trả hồ sơ của cán bộ, công chứcthuộc bộ phận; kết hợp với các Trưởng phòng, ban chuyên môn kịp thời giảiquyết những vấn đề vướng mắc xảy ra, đặc biệt là những hồ sơ thuộc tráchnhiệm phối hợp giải quyết của nhiều phòng, ban, UBND phường liên quan

- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc chấp hành Quy chế, Nội quy của bộphận; chấn chỉnh về tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức; kịp thời

Trang 40

chấn chỉnh những sai sót trong quá trình giao dịch, giải quyết công việc đốivới khách hàng.

- Báo cáo với UBND quận theo định kỳ tháng, quý, năm về tình hình

và kết quả thực hiện công tác của bộ phận Xây dựng kế hoạch công tác, đồngthời đề xuất với UBND quận các vấn đề có liên quan, nhằm không ngừngnâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ phận “một cửa liên thông”

Nhiệm vụ của các phòng, ban, UBND các phường liên quan:

- Vào sổ theo dõi, cập nhật vào máy vi tính các hồ sơ đã được ký vàđóng dấu xác nhận do bộ phận một cửa liên thông chuyển đến theo các nộidung: số hồ sơ, họ tên, địa chỉ, điện thoại giao dịch của khách hàng, các tàiliệu có trong hồ sơ, các nội dung cần giải quyết, ngày hẹn trả hồ sơ, ký xácnhận

- Trưởng các phòng, ban chuyên môn, UBND các phường liên quan cótrách nhiệm phân công cán bộ, công chức xem xét, giải quyết hồ sơ theo quyđịnh

- Nếu hồ sơ không giải quyết được, hoặc cần phải xem xét lại thì phòngchuyên môn, phường phải có văn bản gửi về Bộ phận một cửa liên thông đểtrả lời công dân

- Các phòng, ban chuyên môn không trực tiếp nhận hồ sơ thuộc cáclĩnh vực giải quyết theo cơ chế “một cửa liên thông” của khách hàng Hồ sơkhông có chữ ký xác nhận của Lãnh đạo bộ phận một cửa liên thông được coi

là hồ sơ không hợp lệ

- Hồ sơ liên quan đến nhiều phòng, ban chuyên môn và UBND phườngthì Trưởng phòng, ban chuyên môn chịu trách nhiệm chính phải phối hợp vớicác phòng chuyên môn và UBND phường để cùng giải quyết

- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ, công chứcđược phân công làm việc tại Bộ phận một cửa liên thông

Thời gian làm việc của Bộ phận” một cửa liên thông”:

Ngày đăng: 04/01/2016, 12:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nội vụ, Tài liệu hướng dẫn thực hiện cơ chế “một cửa” tại UBND cấp huyện năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa
9. GS. TS Bùi Thế Vĩnh, Một số vấn đề cần quan tâm khi triển khai và thực hiện cơ chế “một cửa”, Thông tin khoa học hành chính, số 3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa
10.GS. TS. Lê Sỹ Thiệp, Mấy ý kiến về “cửa” và “dấu” trong cải cách hành chính hiện nay, Thông tin khoa học hành chính số 3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cửa” và “dấu
16.Mô hình thí điểm “một cửa, một dấu” quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Mô hình tổ nghiệp vụ hành chính công quận 3, Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa, một dấu
17.PGS. TS. Lê Chi Mai, Từ mô hình “ một cửa” – một giải pháp để cải cách dịch vụ hành chính công, Thông tin khoa học hành chính số 3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa
21.PTS. Vũ Thư, Về mô hình hành chính “một cửa, một dấu” trong quan hệ nhà nước – công dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa, một dấu
25.Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 93/ 2007/QĐ - TTg ngày 22/6/2007 về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa’, cơ chế “một cửa”liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa’, cơ chế “một cửa
30.Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: một cửa
1. Ban chỉ đạo cải cách hành chính, Báo cáo số 01/BC –BCĐCCHC ngày 27/4/2006 tổng kết thực hiện giai đoạn I (2001- 2005) Chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2001 – 2010 và phương hướng nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn II (2006 -2010) Khác
3. Chính phủ, Nghị quyết 08/2004/NQ – CP ngày 30/06/2004 về đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước Khác
4. Chính phủ, Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 cải cách một bước thủ tục hành chính Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6,7 và 8 khóa VIII Khác
6. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và lần thứ IX Khác
7. GS. Mai Hữu Khuê, Lý luận quản lý nhà nước, Hà Nội, năm 2003 Khác
8. GS. Mai Hữu Khuê, PGS. TS. Bùi Văn Nhơn, Từ điển thuật ngữ hành chính, NXB Lao động, Hà Nội, năm 2000 Khác
11.Học viện Hành chính Quốc Gia, Giáo trình hành chính công, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 Khác
12.Học viện Hành chính Quốc Gia, Giáo trình luật hành chính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005 Khác
13.Học viện Hành chính Quốc Gia, Giáo trình thủ tục hành chính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2003 Khác
14.Học viện Hành chính Quốc Gia, Giáo trình tổ chức nhân sự hành chính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 Khác
15.Học viện Hành chính Quốc Gia, Thuật ngữ hành chính, năm 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w