Xuất phát từ vai trò thiếtyếu của ngành thương mại hiện nay, trong khuôn khổ của chuyên đề Hội thảokhoa học các trường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ, tôi lựa chọn chu
Trang 1MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn chuyên đề 2
2 Mục đích của chuyên đề 2
3 Cấu trúc chuyên đề 3
NỘI DUNG Chương I Một số vấn đề phát triển và phân bố ngành thương mại Việt Nam I Vai trò của ngành thương mại trong nền kinh tế nước ta 4
II Cơ cấu ngành thương mại 5
III Ngành nội thương 6
IV Ngành ngoại thương 12
Chương II Một số dạng câu hỏi và bài tập phần ngành thương mại Việt Nam 1 Dạng câu hỏi trình bày, phân tích 17
2 Dạng câu hỏi giải thích 21
3 Dạng câu hỏi chứng minh 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn chuyên đề
Khu vực dịch vụ là một khu vực kinh tế phức tạp, có vai trò ngày càngquan trọng trong nền kinh tế của thế giới nói chung, của từng nước nói riêng.Vai trò ngày càng cao của ngành dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại thể hiện ởchỗ khi một nước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp
và đến kinh tế hậu công nghiệp, thì trong cơ cấu kinh tế, tỉ trọng của khu vựcnông nghiệp không ngừng giảm xuống, tỉ trọng của công nghiệp cũng chỉ tăngđến một mức độ nhất định rồi sẽ giảm, trong khi đó tỉ trọng của khu vực dịch
vụ lại có xu hướng tăng không ngừng
Một trong những hoạt động kinh tế quan trọng hàng đầu của khu vựcdịch vụ là hoạt động thương mại Trong nền kinh tế Việt Nam ngành thươngmại như một mắt xích không thể thiếu trong quá trình vận hành nền kinh tếtheo cơ chế thị trường, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; gópphần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập Xuất phát từ vai trò thiếtyếu của ngành thương mại hiện nay, trong khuôn khổ của chuyên đề Hội thảokhoa học các trường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ,
tôi lựa chọn chuyên đề: “Một số vấn đề phát triển và phân bố ngành thương mại Việt Nam” Các ngành dịch vụ khác xin phép không được đề cập
Trang 33 Cấu trúc của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề gồm baphần lớn:
- Một số vấn đề phát triển và phân bố ngành thương mại Việt Nam
- Một số dạng câu hỏi và bài tập phần ngành thương mại Việt Nam
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NGÀNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I Vai trò của ngành thương mại trong nền kinh tế nước ta
1 Thương mại tạo điều kiện chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Ở nước ta, thương mại thúc đẩy quá trình phân công lại lao động xã hội,chuyên môn hóa và hợp tác hóa, hướng sản xuất theo nền sản xuất hàng hóalớn, tạo ra nguồn hàng đủ cung cấp cho nhu cầu đa dạng trong nước và xuấtkhẩu
Sự hoạt động của thương mại chịu sự chi phối của các quy luật kinh tếhàng hóa, đồng thời còn thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhànước (cung ứng tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng và mua các sản phẩm ởvùng kém phát triển để thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở các vùng, rút ngắn sựchênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các vùng, cân bằng lại các hoạtđộng kinh tế )
2 Thương mại góp phần xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhờ sự đổi mới trong hoạt động thương mại mà việc mua – bán trên thịtrường được thực hiện tự do theo quan hệ cung – cầu, giá cả được hình thànhtrên thị trường dựa trên cơ sở quy luật giá trị, cung – cầu, sức cạnh tranh Tất
cả những điều đó đã góp phần xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa
3 Thương mại thúc đẩy sản xuất phát triển, cung ứng các nhu cầu cho nhân dân và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 5Là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, thương mại cung ứng các tư liệusản xuất cần thiết, tạo điều kiện cho tái sản xuất tiến hành một cách thuận lợi.Thương mại còn có nhiều đóng góp tích cực trong việc ổn định và nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Hoạt động thương mại thông qua cơ chế thị trường kích thích các nhàsản xuất kinh doanh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị
và quy trình công nghệ, ứng dụng khoa học vào quản lý để nền sản xuất có đủsức cạnh tranh trên thị trường Đây là những tiến trình quan trọng trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác, bản thân thương mạicũng tạo ra tích lũy – đó chính là lợi nhuận do thực hiện chức năng lưu thông.Như vậy, hoạt động thương mại cũng góp phần tích lũy vốn cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như nhiều ngành kinh tế khác
4 Thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập
Thực hiện đường lối Đổi mới, quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta vớicác nước ngày càng phát triển, phù hợp với xu hướng chung là hội nhập khuvực và thế giới
Thương mại đóng vai trò trực tiếp mở rộng các hoạt động xuất – nhậpkhẩu, thiết lập và mở rộng quan hệ buôn bán với các nước trên thế giới, gópphần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nối liền sản xuất và tiêu dùng trongnước với các nước trên thế giới, góp phần tích lũy vốn, nhất là ngoại tệ và đổimới công nghệ Ngoài ra, sự mở cửa quan hệ thương mại góp phần thay đổicách nhìn nhận của bạn bè quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam Việc nước
ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
đã chứng minh điều đó
II Cơ cấu ngành thương mại
Thương mại là một mạng lưới phức tạp bao gồm những luồng hàng traođổi giữa các nền kinh tế của các đô thị, các vùng, các quốc gia và thế giới Trên
Trang 6thực tế, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau thương mại có thể được phân chiatheo nhiều cách khác nhau:
- Theo phạm vi hoạt động, thương mại có ngoại thương và nội thương
- Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội,
có thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại hàng tiêu dùng
- Theo các khâu của quá trình lưu thông, có thương mại bán buôn, thương mạibán lẻ
- Theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, có thươngmại tự do hay mậu dịch tự do và thương mại có sự bảo hộ
- Theo kỹ thuật giao dịch, có thương mại truyền thống và thương mại điện tử
Cách phân chia có ý nghĩa phổ biến nhất trên thế giới hiện nay là chiathương mại thành hai bộ phận: nội thương và ngoại thương
III Ngành nội thương Việt Nam
1 Tình hình phát triển và phân bố ngành nội thương
Sau khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, hoạt động nội thươngcủa nước ta có những thay đổi về chất Sự thay đổi này được thể hiện:
1.1 Hình thành thị trường thống nhất trong cả nước, hàng hóa phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Việc thực hiện tự do hóa thương mại đã làm cho hàng hóa giao lưu giữacác vùng, các địa phương trở nên thuận tiện; khai thác được thế mạnh của từngvùng, từng địa phương, từng doanh nghiệp Quá trình tích tụ và tập trung trênthị trường đã dẫn tới sự hình thành các trung tâm thương mại quốc gia và vùng.Hiện nay nước ta có hai trung tâm buôn bán lớn nhất là TP Hồ Chí Minh và
Hà Nội TP Hồ Chí Minh là trung tâm buôn bán lớn nhất, chiếm hơn 70% tổngmức bán lẻ của Đông Nam Bộ và gần 24% của cả nước, năm 2010 Hà Nội làtrung tâm buôn bán lớn nhất Đồng bằng sông Hồng, chiếm 60,9% tổng mức
Trang 7bán lẻ của vùng và chiếm 13% tổng mức bán lẻ của cả nước Các tỉnh lị, thị xã,thị trấn cũng hình thành trung tâm thương mại của vùng, của địa phương.
Lượng cung hàng hóa trên thị trường được ngày càng đa dạng từ nhiềunguồn khác nhau trong và ngoài nước và luôn tăng trưởng ở mức cao khoảng10% Đồng thời các mặt hàng ngày càng phong phú về quy cách, chủng loại vàchất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân.Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của người dân, đồng thời do thu nhậpcủa người dân ngày càng tăng lên nên nhu cầu thị trường ngày càng phong phú
và biến đổi không ngừng Cơ cấu chủng loại hàng hóa có sự biến đổi phù hợpvới sự tiến bộ về tiêu dùng: tỉ trọng hàng công nghiệp trong buôn bán tăng lêntrong khi tỉ trọng hàng lương thực, thực phẩm giảm xuống
1.2 Quy mô thị trường hàng hóa trong nước phát triển mạnh
Sự phát triển của thị trường trong nước được thể hiện chủ yếu qua tổngmức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của xã hội
Trong những năm qua, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụnước ta tăng nhanh và liên tục, từ 121 nghìn tỉ đồng năm 1995 lên gần 1.512nghìn tỉ đồng năm 2010 (tăng gấp hơn 12 lần) Đặc biệt, trong những năm gầnđây do nước ta đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhất
là sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 đã tác động lớn đến các hoạtđộng nội thương của nước ta Mức bán lẻ hàng hóa tính theo đầu người cũngtăng lên liên tục đạt 17,7 triệu đồng/người năm 2010, tăng gấp hơn 10 lần sovới năm 1995, bình quân giai đoạn 1995 – 2010 tăng lên trên 3 triệuđồng/người
1.3 Nước ta đã tạo dựng được ngành nội thương với sự tham gia của đầy đủ các thành phần kinh tế, trong đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thống lĩnh thị trường.
Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phân theo thànhphần kinh tế ở nước ta có xu hướng thay đổi Tỉ trọng của khu vực kinh tế Nhà
Trang 8nước giảm từ 22,6% năm1995 xuống còn 10,7% năm 2007 Khu vực ngoàiNhà nước có lực lượng đông đảo nhất trên thị trường (bao gồm các doanhnghiệp ngoài quốc doanh, tư thương, tiểu thương), chi phối thị trường trongnước, giữ tỉ trọng cao nhất và ngày càng tăng từ 76,9% năm 1995 lên 85,6%năm 2007 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tuy tham gia thị trườngtrong nước muộn hơn (từ năm 1994) nhưng ngày càng đóng góp nhiều hơn vàotổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ toàn xã hội, chiếm 3,7% năm 2007 so với0,5% năm 1995.
Bảng: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (theo giá trị thực tế) của nước ta phân theo thành phần kinh tế
giai đoạn 1995 – 2010
(đơn vị: %)
Chia ra Kinh tế
Nhà nước
Kinh tế ngoài Nhà nước
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Bảng: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
Trang 9theo vùng của nước ta năm 2010
(triệu đồng/người)
Nguồn: Atlat Địa lý Việt Nam, trang 24 – Thương mại
Trong hệ thống thị trường trong nước thì thị trường vùng Đông Nam Bộ
là phát triển nhất (34,2% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước), tiếp đến là thịtrường Đồng bằng sông Hồng (21,5%), Đồng bằng sông Cửu Long (18,0%);các thị trường kém phát triển nhất là Tây Nguyên (4,3%), Bắc Trung Bộ(6,1%), Trung du và miền núi Bắc Bộ (6,6%)
* Hoạt động nội thương cũng có sự phân bố không đều theo địa phương.Các tỉnh có hoạt động nội thương phát triển thường gắn với các trung tâm kinh
tế lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương có tổng mức bán lẻhàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo đầu người đạt trên 16 triệuđồng) Ngược lại, những địa phương kinh tế còn kém phát triển, hoạt động nộithương cũng kém phát triển chủ yếu thuộc miền núi cao Tây Bắc, Đông Bắc,Bắc Trung Bộ có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo đầu người thấp dưới 4 triệu đồng/người/năm)
2 Những cơ hội, thách thức và định hướng phát triển ngành nội thương
Năm 2007 – mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự kiện nước ta trởthành thành viên thứ 150 của WTO Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế của
Trang 10nước có cơ hội nhập sâu vào nền kinh tế của thế giới Vì thế, thị trường thếgiới đã và đang có những tác động trực tiếp cả vào hoạt động ngoại thương lẫnvào thị trường nội địa Riêng đối với thị trường nội địa, cơ hội cũng nhiềunhưng thách thức cũng không ít.
2.1 Những cơ hội
- Hàng hóa vào thị trường nội địa nước ta đa dạng hơn với giá cả cạnh tranhhơn và môi trường kinh doanh minh bạch hơn Việc thực hiện các cam kếtquốc tế cùng với chủ trương khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế thamgia là cho quá trình tự do hóa thương mại của nước ta trở nên sâu sắc hơn và từ
đó tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch hơn, thông thoáng hơn
- Hệ thống phân phối ngày càng phát triển với sự kết hợp giữa trong nước vàngoài nước Nhìn chung, các công ty xuyên quốc gia ngày càng có vai trò tolớn trong việc kiểm soát hệ thống tiêu thụ sản phẩm trên phạm vi thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Bên cạnh những tập đoàn phân phối lớn (nhưMetro Cash & Carry, Big C, Parkson) sớm có mặt ở nước ta thì các tập đoànkinh doanh bán lẻ hàng đầu thế giới cũng đang thâm nhập sâu vào thị trườngbán lẻ của nước ta (như Walmart – Hoa Kỳ, Carrefour – Pháp, Marko – HàLan ) Ở trong nước, các tập đoàn kinh tế cũng đang được hình thành và pháttriển; các hoạt động liên doanh, liên kết với nước ngoài cũng được mở rộng.Tất cả những thay đổi đó dẫn tới hệ thống phân phối của nước ta ngày càngphát triển
- Việc tổ chức và quản lý kinh doanh nội thương diễn ra theo hướng hiện đại:bán hàng qua mạng internet, sàn giao dịch, thương mại điện tử ngày càng pháttriển đã mang đến một diện mạo mới, văn minh, hiện đại cho dịch vụ phânphối của nước ta Cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống phân phối củanước ta đã và đang phát triển theo hướng văn minh, hiện đại
2.2 Những thách thức
Trang 11- Thị trường nội địa đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt do thị trường trongnước về cơ bản manh mún và nhỏ lẻ Sản xuất hàng hóa trong nước vẫn ở trình
độ thấp, phân tán, thiếu các vùng sản xuất hàng hóa lớn phù hợp với yêu cầucủa thị trường Do kết quả của việc mở cửa thị trường, hàng hóa ngoại nhậptràn ngập thị trường trong nước Nhiều loại hàng hóa ngoại chiếm ưu thế hơn
so với hàng sản xuất trong nước Thêm vào đó là sự yếu kém của hàng nội vềchất lượng, mẫu mã, chủng loại và tâm lý sính ngoại đã làm cho hàng nội yếuthế Hàng loạt nguy cơ mà các chủ thể kinh doanh trong nước có thể phải đốimặt như thu hẹp sản xuất, phá sản, thất nghiệp và nhiều mặt hàng nội địa mấtthị phần ngay trên thị trường nước nhà
- Những biến động trên thị trường quốc tế có tác động mạnh mẽ và trực tiếpđến thị trường nội địa Vì vậy, nếu không có những chính sách vĩ mô thích hợpthì dễ dẫn đến những bất ổn về thị trường và khủng hoảng về tài chính, kinh tế
- Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài ào ạt vào nước ta, hình thành mạng lưới phânphối hiện đại Trong khi đó, hệ thống phân phối trong nước vẫn phát triển theochiều rộng, quy mô nhỏ lẻ, manh mún Do vậy, hệ thống phân phối hàng nộiđịa có nguy cơ bị các tập đoàn bán lẻ nước ngoài kiểm soát
Chính vì thế, vấn đề chiếm lĩnh thị trường trong nước, người Việt dùng hàng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng.
2.3 Định hướng phát triển ngành nội thương nước ta
Theo Bộ Công thương, đến năm 2020 ngành nội thương của nước taphát triển theo những định hướng chủ yếu sau:
- Phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp với nhiều quy mô khác nhau,tăng về số lượng, mới về phương thức hoạt động theo hướng hiện đại, phù hợpvới quy mô lưu thông hàng hóa
- Phát triển đa dạng các loại hình kết cấu hạ tầng thương mại kết hợp hài hòagiữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại, phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của thị trường ở từng địa phương
Trang 12- Phát triển các mô hình tổ chức lưu thông theo từng thị trường mặt hàng saocho phù hợp với trình độ sản xuất, xu hướng tiêu dùng và yêu cầu quản lý vĩ
mô của Nhà nước
- Phát triển nội thương phù hợp với thị trường của từng khu vực Về đại thể,phát triển nhất là thị trường khu vực thành thị, tiếp theo là thị trường khu vựcnông thôn và cuối cùng là thị trường khu vực miền núi
IV Ngành ngoại thương Việt Nam
1 Tình hình phát triển và phân bố ngành ngoại thương
Công cuộc Đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hộiĐảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) Từ đó đến nay đất nước ta
đã có những biến đổi sâu sắc, hoạt động ngoại thương có những bước tiến vượtbậc Nhờ việc thực hiện chính sách mở cửa, đa dạng hóa, đa phương hóa cácmối quan hệ quốc tế, nước ta đã có quan hệ buôn bán với hàng trăm nước vàlãnh thổ trên thế giới Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO Đó
là điều kiện thuận lợi để nước ta đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mở rộngbuôn bán và hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới và trong khu vực vớinhững thành quả chủ yếu sau:
1.1 Tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu tăng liên tục qua các năm
Trước đây giá trị xuất – nhập khẩu của nước ta có quy mô nhỏ bé nhưnghiện nay đã tăng lên rất nhanh, từ 31,2 tỉ USD năm 2001 lên 156,9 tỉ USD năm
2010 Trong đó giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu đều tăng nhưng giá trịnhập khẩu tăng nhanh hơn giá trị xuất khẩu (giá trị nhập khẩu tăng 5,2 lần, giátrị xuất khẩu tăng 4,8 lần)
Bảng: Giá trị xuất – nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2001 – 2010
(đơn vị: triệu USD)
Trang 13Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam các năm
Giá trị nhập khẩu tăng liên tục với tốc độ cao, bình quân hàng năm tăng25,8% trong giai đoạn 2001-2008 Nhập khẩu tăng nhanh chủ yếu là do nước
ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên đòi hỏi một lượng lớn máymóc, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất Bên cạnh đó, nước ta còn nhập cảmột số mặt hàng tiêu dùng do trong nước chưa sản xuất được
Quy mô kim ngạch xuất khẩu tuy không ngừng gia tăng với tốc độ cao(trung bình 18,2%/năm, giai đoạn 2001-2009) nhưng hiện nay vẫn chỉ ở mứctrung bình so với các nước trong khu vực Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu củanước ta xếp thứ 5 trong số các nước ASEAN, nhưng khoảng cách với các nướcxếp trên, đặc biệt với nước dẫn đầu Xingapore vẫn còn rất lớn (chỉ bằng 21%của Xingapore và 49% so với nước xếp ngay trên nước ta là Inđônêxia)
1.2 Cán cân xuất – nhập khẩu
Cán cân xuất – nhập khẩu đang dần tiến tới cân bằng, năm 1992 nước talần đầu xuất siêu; sau đó đến nay tiếp tục nhập siêu song bản chất nhập siêukhác xa thời kỳ trước Trước đây nước ta nhập siêu là do nền kinh tế còn nhiềuyếu kém Hiện nay, nhập siêu chủ yếu là nhập khẩu máy móc thiết bị để côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước ta
Nhìn chung, tình trạng nhập siêu thường kéo dài tương đối phổ biến đốivới các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam,bởi vì nhu cầu nhập khẩu tư liệu phục vụ sản xuất và đầu tư là rất lớn Tuynhiên, điều đáng lo ngại ở nước ta là các mặt hàng nguyên liệu nhập khẩu về
để gia công, lắp ráp chiếm tỉ trọng cao Vì thế, hiệu quả kinh tế thấp dẫn tớitình trạng xuất khẩu càng tăng thì nhập khẩu cũng tăng nhanh không kém