TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy hải sản của công ty CPTP Sao Ta Fimex VN, thành phố Sóc trăng” được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
TRẦN THỊ KIM QUYÊN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU THỦY HẢI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SAO TA (FIMEX VN), THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
TRẦN THỊ KIM QUYÊN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU THỦY HẢI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SAO TA (FIMEX VN), THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CN.ĐẶNG THỊ PHƯỢNG
Cần Thơ, 2010
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Những năm tháng trên giảng đường đại học là chuỗi ngày vô cùng quý
báu và quan trọng đối với em Thầy cô đã tận tâm giảng dạy, trang bị hành
trang kiến thức để em có đủ tự tin bước vào đời nhờ sự hướng dẫn và dìu dắt
của quý thầy cô, em đã tích lũy được những kiến thức cơ bản đáng quý, đồng
thời qua thời gian làm bài báo cáo em có điều kiện ứng dụng những kiến thức
của mình vào thực tiễn, qua đó giúp em đúc kết được những kinh nghiệm quý
báu để tiếp tục bước trên con đường sự nghiệp sau này
Em xin chân thành cám ơn thầy, cô khoa Thủy Sản – Trường Đại học
Cần Thơ, đặc biệt em xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến cô Đặng Thị Phượng là
người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành tốt luận văn này cùng các cô, chú
trong Ban lãnh đạo và anh, chị trong phòng kế toán và phòng quản lý chất
lượng tại công ty Cổ phần thực phẩm Sao Ta đã tạo điều kiện cho em thực tập
và cung cấp tài liệu, thông tin giúp em hoàn thành bài báo cáo này
Tuy nhiên, do còn hạn hẹp về kiến thức và kinh nghiệm nên đề tài luận
văn khó tránh được những sai sót, khuyết điểm Em rất mong sự góp ý của các
thầy cô, Ban lãnh đạo và các anh chị, cô chú Công ty
Sau cùng em kính chúc quý thầy cô trường khoa Thủy Sản - Trường Đại
học Cần Thơ và các cô chú, anh chị trong công ty Cổ phần thực phẩm Sao Ta
dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công tác Em xin chân thành cám
ơn!
Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2010 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Kim Quyên
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy hải sản của công ty CPTP Sao Ta (Fimex VN), thành phố Sóc trăng” được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Công ty, đánh giá được những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Công ty
từ đó đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Công ty trong thời gian tới
Các phương pháp so sánh, phương pháp chỉ số, phân tích và xây dựng
ma trận Swot được sử dụng để: Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu của Công ty, phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề ra một số giải pháp
Năm 2006 là năm mà công ty kinh doanh đạt hiệu quả nhất Hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cũng tăng cao chưa từng có Nguyên nhân là
do công ty trong thời gian này đã gia tăng các mặt hàng có giá trị gia tăng cao
và đồng thời mở rộng sản xuất với nhiều mặt hàng và thành công trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới Mặt khác, công ty đã sử dụng chi phí một cách có hiệu quả do đó nó đã góp phần làm tăng lợi nhuận của công ty
Hoạt động kinh doanh của công ty có xu hướng giảm dần ở các năm tiếp theo Nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận sau thuế năm 2007 của công ty giảm đáng kể là do sự phản ứng mạnh mẽ của thị trường Nhật Bản đối về tình hình tôm, mực bị nhiễm kháng sinh, chi phí nguyên liệu tăng do sự cạnh tranh giá mua gay gắt giữa các doanh nghệp cùng ngành Còn năm 2008 và năm
2009 là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và tình trạng thiếu nguồn nguyên liệu Nguyên nhân chính là do tình trạng thả nuôi tôm sớm trước vụ vẫn còn, tại một số khu vực nuôi tôm ở ĐBSCL nhiều hộ nuôi tôm đang lao đao trong việc quản lý bệnh tôm và có hiện tượng nuôi bị chết do thời tiết thay đổi Mặt khác nguyên liệu từ khai thác cũng bị hạn chế, giá xăng dầu tăng trong khi giá thuỷ sản không tăng nên có tác động xấu đến việc khai thác hải sản
Như vậy có thể kết luận rằng tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong vài năm gần đây có chiều hướng suy giảm lượng giảm tương đối phù hợp với khó khăn của công ty nói riêng, cũng như tình hình chung của ngành thuỷ sản của Việt Nam nói chung
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
-o0o -
Sóc Trăng, ngày… tháng… năm 2010
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Nhận xét của cơ quan thực tập iv
Mục lục v
Danh muc bảng viii
Danh mục hình ix
Danh sách từ, thuật ngữ viết tắt x
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam 4
2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam 7
2.3 Tình hình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Đồng bằng sông Cửu Long 11
2.4 Tình hình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản thành phố Sóc Trăng 12
Chương 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 14
3.1 Cơ sở lý luận 14
3.1.1 Khái niệm và vai trò của thị trường 14
3.1.1.1 Khái niệm 14
3.1.1.2 Vai trò 15
3.1.2 Khái niệm và mục đích về xuất khẩu 16
3.1.3 Các hình thức xuất khẩu 16
3.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp 16
Trang 73.1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp 16
3.1.3.3 Xuất khẩu theo nghị định thư (Xuất khẩu trả nợ) 16
3.1.3.4 Xuất khẩu tại chỗ 17
3.1.3.5 Gia công quốc tế 17
3.1.3.6 Tái xuất khẩu 17
3.1.5 Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước 17
3.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 18
3.1.6.1 Thuế quan 18
3.1.6.2 Hạn ngạch 18
3.6.1.3 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện 18
3.1.6.4 Chính sách ngoại thương 19
3.1.6.5 Nguyên tắc tối huệ quốc MFN (Most Favaoured Nation) 19
3.1.6.6 Thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized Sustem of Preference) 20
3.1.7 Sự cần thiết phải phân tích tình hình kinh doanh xuất khẩu 21
3.2 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả xuất khẩu 21
3.2.1 Tỷ suất sinh lời ngoại tệ 21
3.2.2 Lợi nhuận xuất khẩu và tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu 22
3.2.2.1 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn kinh doanh (hay còn gọi là hệ số sinh lời của vốn) 22
3.2.2.2 Tỉ suất lợi nhuận tính theo doanh thu 23
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tình hình kinh doanh xuất khẩu 23
3.4 Phân tích ma trận SWOT 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 24
3.5.2 Phương pháp phân tích số liệu 24
3.5.2.1 Phương pháp so sánh 24
3.5.2.2 Phương pháp thay thế liên hoàn 25
3.5.2.3 Phương pháp chỉ số 26
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
Trang 84.1 Giới thiệu khái quát về công ty và lịch sử hình thành, phát triển Công ty 28
4.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta 28
4.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 29
4.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 30
4.1.4 Chức năng, nhiệm vụ tính chất hoạt động 31
4.1.4.1 Chức năng của Công ty 31
4.1.4.2 Nhiệm vụ của Công ty 32
4.2 Cơ cấu tổ chức công ty 32
4.3 Cơ cấu tổ chức sản xuất 36
4.3.1 Nguồn nhân lực 36
4.3.2 Chính sách đào tạo, lương, thưởng, trợ cấp, các chế độ khác 37
4.3.3 Hoạt động thu mua và quản lý nguyên vật liệu 39
4.4 Kế hoạch phát triển của Công ty 42
4.5 Dự kiến trong tương lai 42
4.6 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần thực phẩm Sao Ta 44
4.7 Tình hình xuất khẩu thủy hải sản của Công ty từ năm 2006 – 2009 47
4.8 Thị trường và cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản chủ lực của công ty CPTP Sao Ta 53
4.9 Phân tích hiệu quả xuất khẩu của Công ty từ năm 2006 – 2009 61
4.9.1 Tỷ suất sinh lời ngoại tệ 61
4.9.2 Phân tích các chỉ tiêu khả năng sinh lời của Công ty từ năm 2006 – 2009 62
4.10 Phân tích các nhân tố ảnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty từ năm 2006 - 2009 63
4.11 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty 66
4.12 Đề xuất các chiến lược 72
4.12.1 Chiến lược SO (dùng điểm mạnh của DN để khai thác một cơ hội) 72
4.12.2 Chiến lược ST (dùng thế mạnh để khắc phục đe dọa) 72
4.12.3 Chiến lược WO (Tận dụng một cơ hội để khắc phục điểm yếu hoặc cần phải khắc phục điểm yếu mới có thể khai thác được cơ hội) 72
Trang 94.12.4Chiến lược WT (Đây là nguy cơ lớn nhất cần chủ động phòng ngừa) 73
4.13 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của công ty CPTP Sao Ta trong thời gian tới 73
4.13.1 Giải pháp về nguồn nguyên liệu 73
4.13.2 Tăng cường khả năng quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm 73
4.13.3 Giải pháp về giá cả 74
4.13.4 Giải pháp về Marketing cho hoạt động xuất khẩu thủy sản cho công ty CPTP Sao Ta 75
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
5.1 Kết Luận 76
5.2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của cả nước 6
Bảng 2.2 Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản của Việt Nam 7
Bảng 4.2: Các loại nguyên liệu đã và đang chế biến tại Công ty 40
Bảng 4.3: Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty (2006-2009) 44
Bảng 4.4: Sản lượng xuất khẩu thủy sản của Công ty (2006-2009) 48
Bảng 4.5:Tình hình tăng giảm sản lượng xuất khẩu của Công ty 49
Bảng 4.6: Giá trị xuất khẩu thủy sản của Công ty (2006-2009) 51 Bảng 4.7: Tình hình tăng giảm kim ngạch xuất khẩu của Công ty 52
Bảng 4.8: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Công ty 54
Bảng 4.9: Tình hình tăng giảm sản lượng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Công ty từ năm 2006-2009 59
Bảng 4.10:Tình hình tăng giảm giá trị các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Công ty từ năm 2006-2009 60
Bảng 4.11: Tổng hợp tỷ suất sinh lời ngoại tệ từ năm của Công ty từ năm 2006 - 2009 61
Bảng 4.12: Tổng hợp chỉ tiêu khả năng sinh lời của Công ty từ 2006 – 2009 63
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Xuất khẩu thủy sản 7 tháng năm 2009 so sánh với cùng kỳ năm
2008 .9
Hình 2.2: Cơ cấu sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 11 tháng đầu năm 2009 .10
Hình 4.1: Logo của Công ty 28
Hình 4.2: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty 36
Hình 4.3: Cơ cấu lao động của Công ty năm 2007 37
Hình 4.4: Thu nhập bình quân qua các năm 38
Hình 4.4: Sơ đồ phân nhánh các mặt hàng sản xuất tại công ty 41
Hình 4.5: Tình hình lợi nhuận sau thuế của Công ty 45
Hình 4.6: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Công ty năm 2006 55
Hình 4.7: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Công ty năm 2007 56
Hình 4.8: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Công ty năm 2008 57
Hình 4.9: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Công ty năm 2009 58
Hình 4.10: Sơ đồ ma trận Swot 72
Trang 12DANH SÁCH TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ASEAN Associate of Southem Eastern Asia Nation (Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á)
EU European Union (Liên minh Châu Âu)
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GSP Generalised System Of Preferences (Hệ thống ưu đãi phổ cập)
HACCP Hazard analysis critical control point (hệ thống phân tích mối
nguy và kiểm soát điểm tới hạn)
HLPD Headless Shell On Based/Peeled Deveined (Tôm vỏ lột thịt, tôm
cỡ vượt)
HLSO Headless Shell On (Tôm vỏ lật đầu)
HOSO Head On Shell On (Tôm nguyên con)
IQF Individually Quick Frozen (Tôm đông nhanh rời)
ISO International Organization for Standardization (Tiêu chuẩn hóa
KCS Kiểm tra chất lượng sản phẩm
PD Peeled Deveined (Tôm xẻ lưng, tôm rút chỉ)
PDTO Peeled Deveined Tail On (Tôm lột vỏ chừa đốt đuôi và xẻ lưng)
PROCESS Quá trình chế biến
PTO Peeled Tail On (Tôm lột vỏ chừa đốt đuôi)
PUD Peeled Undeveined (Tôm không rút chỉ)
USD United States dollar (Đồng đô la của Mỹ)
WTO World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 13Chương 1
GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Đất nước ta có tiềm năng phong phú về các nguồn lợi thủy sản nước ngọt, nước mặn và nước lợ, cùng với những điều kiện tự nhiên để đẩy mạnh nuôi trồng các đối tượng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước biển, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư và làm giàu cho đất nước Thực tế cho thấy, trong hơn 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam liên tục tăng trưởng vững chắc, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở trên 100 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới Theo số liệu thống kê của Bộ thủy sản năm
2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2005 của cả nước ước đạt 2,65 tỷ USD, năm 2006 khoảng 3,2 tỷ USD và năm 2007 là 3,75 tỷ USD Với kết quả đạt được, Việt Nam đã chính thức gia nhập nhóm 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
Hơn nữa, sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, cơ cấu, ngoài sản phẩm đông lạnh còn có rất nhiều loại sản phẩm chế biến sẵn; mặt hàng xuất khẩu chủ lực tôm chiếm tỷ trọng gần 40% trong cơ cấu tổng sản phẩm xuất khẩu, sản lượng của các sản phẩm cá da trơn và nhiều sản phẩm khác ngày càng tăng, đặc biệt là ở các thị trường lớn như Nhật, Mỹ, EU, nhiều doanh nghiệp (DN) của Việt Nam đã chứng tỏ được bản lĩnh trên thương trường quốc tế và vững vàng vượt qua các thử thách
Trong những năm gần đây xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng đất nước Trong đó xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành thế mạnh của Việt Nam Đặc biệt tôm sú luôn là một trong những mặt hàng chủ lực và chiếm nhiều ưu thế trong những năm qua Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được việc xuất khẩu tôm sú gặp khó khăn rất lớn về thị trường xuất khẩu, nguồn nguyên liệu, vốn và chi phí sản xuất…Nguyên nhân của những khó khăn trên là do các DN Việt Nam chưa hiểu rõ về thị trường xuất khẩu và chưa có chương trình đầu tư sâu vào việc nghiên cứu thị trường Do đó để hoạt động xuất khẩu được phát triển tốt và hạn chế việc gặp khó khăn thì cần phải đầu tư tìm hiểu thị trường, phân tích những nguyên nhân gây ảnh hưởng để có biện pháp hoạt động xuất khẩu thích hợp
Công ty Cổ Phần thực phẩm Sao Ta (Fimex VN) là một trong những công ty xuất khẩu có vị thế ở Đồng bằng sông Cửu Long Tháng 11 năm 2009, doanh số tiêu thụ thủy sản của Công ty đạt 5,5 triệu USD, doanh số nông sản đạt khoảng 200.000 USD Tính từ đầu năm đến tháng 11/2009, tổng doanh số của Fimex VN đạt gần 50 triệu USD và còn hơn 5 triệu USD là Công ty hoàn
Trang 14thành kế hoạch năm (Bản tin thương mại thủy sản, 2009) Để giữ vững vị trí
và không ngừng nâng cao khả năng phát triển của Công ty trên thị trường xuất khẩu trong điều kiện khó khăn như hiện nay Công ty phải phân tích kĩ các nhân tố của thị trường đồng thời đánh giá những thuận lợi và khó khăn để
có các giải pháp khắc phục hạn chế và phát huy thế mạnh nhằm làm gia tăng hơn nữa giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Công ty, đưa Công ty trở thành một công ty phát triển mạnh nhất của cả nước, cũng như nổi tiếng trong
khu vực và trên thế giới.Vì vậy, đề tài :“Phân tích hoạt động kinh doanh xuất
khẩu thủy hải sản tại công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta (Fimex VN), Thành Phố Sóc Trăng” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản nhằm biết được thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy hải sản của Công ty Qua đó, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu thủy hải sản của Công ty trong thời
ty
1.3 Nội dung nghiên cứu
1 Khái quát tình hình kinh doanh xuất khẩu thủy hải sản của công ty từ
Trang 155 Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian tới
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện tại Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Sao Ta
(Fimex Việt Nam), Thành Phố Sóc Trăng
- Luận văn này được thực hiện trong thời gian từ tháng 12/2009 đến
tháng 05/2010
- Số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu từ năm 2006 đến năm 2009
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam
Thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam Năm 2003, ngành thủy sản Việt Nam đã đạt tổng sản lượng khoảng 2,53 triệu tấn, trong
đó nuôi trồng thủy sản là 1,11 triệu tấn góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt hơn 2,24 tỉ USD và tỉ trọng giá trị thủy sản trong nông nghiệp chiếm 21,3% (tăng 4,80 % so với năm 2002) (Bộ Thủy sản, 2004)
Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,75 tỉ USD, năm 2008 tăng lên 4,27 tỉ USD Hiện Việt Nam đang đứng thứ 8 về giá trị xuất khẩu thủy sản trên thế giới Các số liệu nầy cho thấy ngành thủy sản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là một trong những lĩnh vực đang được Chính phủ đầu tư phát triển Tháng 12/1999, Chính phủ đã thông qua chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam giai đoạn 2000-2010, trong đó chỉ ra rằng, đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản phải đạt 2 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỉ USD Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là vùng trọng điểm về nuôi trồng thủy sản của Việt Nam với hơn 1 triệu hec-ta diện tích mặt nước ngọt và lợ Năm 2003, ĐBSCL sản xuất khoảng 0,67 triệu tấn thủy sản, chiếm 64,6 % sản lượng thủy sản nuôi cả nước và hơn 55% tổng giá trị xuất khẩu (Bộ Thủy sản, 2004)
Ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hoá Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước
về mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ sản đã tạo dựng được uy tín lớn Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Trang 17xuyên của ngành Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ Sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới
Thủy sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho người dân Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người) Cũng giống như một số nước châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản Có thể nói ngành có đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Với sự phát triển nhanh của ngành đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước (Huỳnh Kim Châu, 2009)
Trang 18Bảng 2.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của cả nước
ĐVT: ha
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Qua bảng 2.1 cho thấy diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản từ 2000 –
2008 mỗi năm đều tăng lên Năm 2000 tổng số diện tích nuôi trồng thủy sản là 641,9 ha đến năm 2007 là 1.018,8 ha, sơ bộ năm 2008 là 1.052,6 ha Tốc độ tăng trùng bình mỗi năm (từ 2000-2001) là 53,8 ha/năm Trong đó diện tích nước mặn, lợ năm 2000 là 397,1 ha chiếm 61,9% trong tổng số diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản Năm 2007 diện tích nước mặn lợ là 711,4ha chiếm khoảng 70% trong tổng số Diện tích nước ngọt là 244,8 ha chiếm 38,1% trong tổng số diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và đến năm 2007 diện tích nước ngọt là 307,4 ha chiếm 30% trong tổng số diện tích nuôi trồng thủy sản Như vậy từ năm 2000 - 2008 diện tích nuôi trồng thủy sản không ngừng gia tăng, việc phát triển quá nhanh về diện tích khiến nghề nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như chất lượng con giống vẫn chưa được kiểm soát, quản lý tốt, chưa xây dựng được thương hiệu giống thủy sản từng vùng Bên cạnh đó, chất lượng các mẫu thức ăn thủy sản luôn có độ đạm thấp hơn mức công bố từ 2% đến 5% Các ngành chức năng địa phương còn
Trang 19gốc rõ ràng với số lượng lớn có xuất xứ từ Campuchia, Thái Lan để bán cho nông dân
Để nâng cao hiệu quả đối với nghề nuôi trồng, các địa phương cần tiến hành rà soát quy hoạch phát triển và tăng cường các biện pháp quản lý nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch Bên cạnh đó, chỉ đạo về mùa vụ nuôi, đối tượng nuôi, phương thức nuôi sát với điều kiện cụ thể của từng vùng, miền (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2007)
Bảng 2.2 Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản của Việt Nam
ĐVT:1000 tấn
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Năm 1995, Việt Nam gia nhập các nước ASEAN và ngành thuỷ sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản có chiều hướng phát triển tốt
Trang 20Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh, Việt Nam nhờ tiếp cận với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực chế biến thuỷ sản, các cơ sở sản xuất không ngừng được gia tăng, đầu tư, đổi mới Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đảm bảo chất lượng và có tính cạnh tranh, tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới Thủy sản là một trong ngành kinh tế sớm lấy xuất khẩu làm hướng ưu tiên phát triển Năm
2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 3,75 tỷ USD (tăng gần 12%
so với năm 2006), thị trường EU vẫn dẫn đầu về nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam, chiếm 25% tổng lượng xuất khẩu thủy sản của cả nước; tiếp sau đó là Nhật Bản (18%) và thứ ba là Mỹ Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tăng trưởng liên tục trong thời gian qua, tăng cả về giá trị và khối lượng đưa nước ta nằm trong top 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới Con số này giúp thủy sản tiếp tục duy trì ngôi vị thứ 4 trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu Việt Nam, đồng thời khẳng định, thủy sản là ngành kinh tế hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích xã hội Năm 2006, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở và doanh nghiệp chế biến thủy sản Trong đó, 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường EU, trên 300 cơ sở, doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩn chất lượng…Theo Bộ Thủy sản, hiện nay hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc
Mỹ (Bảo Trung, 2007)
Năm đầu tiên gia nhập WTO (2007) xuất khẩu thủy sản có chuyển biến lớn về nhiều mặt: số lượng DN đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính (EU, Mỹ, Nhật Bản…) tăng hai lần so với trước, hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, sản phẩm xuất khẩu đa dạng hơn về chủng loại (Thông tin thương mại Việt Nam, 2008)
Xuất khẩu sang Nga trong tháng 10 đang chậm lại, nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng 3 con số trong 10 tháng, với 109,9% đạt 194,7 triệu USD Nga, Ucraina và Ai Cập vẫn tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu cá tra, basa của Việt Nam Nga là thị trường đơn lẻ có mức kim ngạch nhập khẩu cá tra, basa Việt Nam cao nhất với 169,78 triệu USD trong 10 tháng, tiếp đến là Ucraine với
129 triệu USD và Tây Ban Nha 104,78 triệu USD XK cá tra, basa sang Ai cập tăng 250% đạt 43,1 triệu USD (Quang Hải, 11/2008)
Trang 21(Nguồn: TCTK và Vietstock tổng hợp) Hình 2.1: Xuất khẩu thủy sản 7 tháng năm 2009 so sánh với cùng kỳ năm 2008
Quan sát biểu đồ trên cho thấy, 10 thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2009 (chiếm 65.73% kim ngạch xuất khẩu thủy sản) có 5 thị trường tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2008 Trung Quốc tăng lớn nhất với gần 46%, tuy nhiên giá trị xuất khẩu vào thị trường này tương đối nhỏ (chỉ 52 triệu USD trong 7t/2009) Các thị trường khác như Hàn Quốc, Đức và Tây Ban Nha cũng đạt được tốc độ tăng trưởng khá Từ biểu đồ trên ta cũng thấy được tầm quan trọng của Hoa Kỳ đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam.Tôm là sản phẩm xuất khẩu lớn của Việt Nam vào Mỹ
Phân theo mặt hàng, tôm vẫn là mặt hàng có giá trị lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ, kim ngạch 7 tháng năm 2009 đạt
185 triệu USD chỉ đứng sau thị trường Nhật Bản (242 triệu USD) Tôm xuất khẩu vào Mỹ chiếm 24.5% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam Điều này cho thấy Mỹ vẫn là một thị trường quan trọng đối với tôm xuất khẩu của Việt Nam
Sản phẩm từ cá tra và basa đứng thứ 2 trong số các mặt hàng thủy sản lớn nhất xuất khẩu vào Mỹ Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm đạt 88 triệu USD, chiếm 9.64% giá trị xuất khẩu của mặt hàng này Kể từ sau vụ kiện chống bán phá giá “Cat fish” ở Mỹ năm 2002 đến này, kim ngạch xuất khẩu loại cá này không ngừng tăng và thị trường cũng được mở rộng rất nhiều nước Thị trường Mỹ mặc dù không tăng mạnh như các thị trường khác nhưng vẫn đạt tốc độ tăng khả quan Đây vẫn là một thị trường lớn cho xuất khẩu cá tra và basa lớn của Việt Nam dù cho tháng 6/2009, Ủy ban thương mại quốc tế
Mỹ (ITC) vẫn quyết định duy trì thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm cá tra của Việt Nam
Trang 22Ngoài tôm, cá tra và basa, các sản phẩm khác như cá ngừ, trứng cá và cua đều đạt kim ngạch trên 10 triệu USD, các sản phẩm còn lại trị giá 53 triệu USD (Vietstock, 2009)
Các nước khác
46%
Italia5%
Tây Ban Nha6%
Hà Lan4%
Đức 6%
Bỉ và Lucxemburg2%
Mỹ 12%
Hàn Quốc7%
Trung Quốc3%
Australia2%
Nhật Bản7%
Hình 2.2: Cơ cấu sản lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 11 tháng đầu năm 2009 (Tạp chí thủy sản, 2009)
Từ 1/1 đến 15/11/2009, Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm thủy sản sang 159 thị trường trên thế giới với kim ngạch đạt gần 3,7 tỉ USD Trong đó:
EU, Nhật, Mỹ, Hàn Quốc là các thị trường lớn nhất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam, có giá trị tương ứng là 954,7 triệu USD, 653,8 triệu USD, 622.8 triệu USD và 260,4 triệu USD Riêng tại thị trường EU, mặt hàng cá Tra, Basa đạt giá tri nhập khẩu cao nhất với 474,6 triệu USD, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam xuất sang thị trường này Trong khi đó, sản phẩm tôm lại là mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Nhật và Mỹ với giá nhập khẩu tương ứng 427,1 triệu USD và 346,6 triệu USD, chiếm 65,3% và 55, 55,7% (Bản tin thương mại thủy sản, 2009)
Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản cũng còn nhiều thách thức, trong đó chủ yếu là các hàng rào kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng cao Vì vậy, các DN thuỷ sản phải không ngừng đổi mới công nghệ để
Trang 23sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và DN để siết chặt công tác kiểm tra, kiểm soát an toàn vệ sinh chất lượng hàng thủy sản Ngành thủy sản cũng phải đẩy mạnh sử dụng các tiến bộ công nghệ sinh học để phát triển nuôi trồng thủy sản trên quy mô lớn, giảm thuế nhập khẩu thủy sản để tạo điều kiện cho các DN giải quyết vấn đề thiếu nguyên liệu, đa dạng mặt hàng và tăng cường chế biến hàng có giá trị gia tăng cao
2.3 Tình hình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Đồng bằng sông Cửu Long
Năm 2009, diện tích nuôi thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long
đạt gần 824.000 ha, sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn, chiếm 89% diện tích và 93% sản lượng ở các tỉnh phía Nam Đồng bằng sông Cửu Long hiện có khoảng hơn 400.000 ha mặt nước nuôi thủy sản, tổng sản lượng hàng năm lên tới hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước
Ngoài diện tích nuôi thủy sản nước mặn, tập trung ở ven biển, diện tích nuôi thủy sản nước ngọt cũng khá lớn, với trên 500.000 ha, chủ yếu ở các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng Riêng cá tra, cá ba sa,
có tổng sản lượng trung bình hàng năm trên dưới 1 triệu tấn Nhờ biết tận dụng lợi thế có sẵn, nhiều năm qua sản phẩm thủy sản ĐBSCL tăng cả về số lượng lẫn giá trị, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống (Thông tin thương mại, 2010)
Hàng năm, ngành công nghiệp chế biến thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nơi đóng góp khoảng 70% kim ngạch xuất thủy sản cả nước, chiếm khoảng 52% trong tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và đóng góp trên 56% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của vùng ĐBSCL (giai đoạn 2001 - 2005) Ngoài lợi thế về nguồn nguyên liệu, ĐBSCL còn có lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản phát triển Thống kê tháng 9 năm 2006, toàn vùng có khoảng
136 nhà máy chế biến thủy sản, với tổng công suất chế biến trên 790.000 tấn nguyên liệu/năm Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đang có kế hoạch phát triển với quy mô sản xuất lớn Cầu tăng thì cung tăng, khiến mức
độ cạnh tranh trong tiêu thụ càng trở nên quyết liệt Các DN chế biến thủy sản vùng ĐBSCL đẩy mạnh chế biến những mặt hàng tinh chế có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước cũng như phục vụ xuất khẩu Song song đó
đã đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa, nhất là đưa các sản phẩm thủy sản vào hệ thống chợ, siêu thị trong cả nước (Quế Anh, 2006)
Vùng ĐBSCL có thế mạnh về xuất khẩu sản phẩm cá da trơn và tôm Hiện nay, cá tra, ba sa đã xuất khẩu đến 117 quốc gia và vùng lãnh thổ 10 tháng đầu năm 2008, lượng cá tra, ba sa xuất khẩu đạt hơn 550.000 tấn, kim
Trang 24ngạch trên 1,2 tỉ USD, vượt qua kế hoạch năm 2008 Kim ngạch xuất khẩu cá tra hiện nay chiếm đến 32,4% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước
Cá tra, ba sa là điểm sáng của bức tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam Trong
10 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu tôm cả nước được 158.527 tấn, trị giá hơn 1,3 tỉ USD, chiếm tỷ trọng 35,4% Nhưng nếu so sánh với kim ngạch xuất khẩu cá tra thì xuất khẩu tôm năm 2008 giảm nhiều so với các năm trước (Hoàng Phương, 2008)
Tuy nhiên thời gian gần tết tình hình thiếu nguyên liệu xảy ra trầm trọng ở các nhà máy chế biến Càng cuối năm, nhu cầu tôm chế biến tăng cao, thế nhưng hàng loạt tôm sú xuất khẩu ở ĐBSCL lại đối mặt với tình trạng không đủ nguyên liệu sản xuất để cung ứng nhu cầu thị trường Ước tính, hơn
60 nhà máy chế biến tôm khu vực ĐBSCL hiện chỉ hoạt động cầm chừng, mặc
dù đã chọn giải pháp nghỉ luân phiên Việc thiếu tôm sú nguyên liệu năm 2009
là bài học lớn cho các doanh nghiệp hoạt động chế biến thủy, hải sản Nguyên liệu một phần là do nhiều DN từ lâu chưa thật sự quan tâm đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu riêng Khi đến lúc thiếu nguyên liệu thì mới võ lẽ ra thì đành phải chấp nhận Hệ quả là khi thiếu nguyên liệu sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề như, lao động phải tạm nghỉ, giảm thu nhập và nhiều người bỏ việc Còn doanh nghiệp thì phải chạy đôn chạy đáo để có đủ tôm nguyên liệu, đến khi đủ tôm nguyên liệu thì lại lo chuyện thiếu công nhân (Trần Phong, 2009)
Tuy phát triển nhanh nhưng thời gian qua, do công tác quản lý chưa chặt chẽ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với người nuôi thủy sản đã dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán, cạnh tranh phá giá lẫn nhau đã từng xảy ra ở các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL Ngoài ra, tiêu chuẩn chất lượng giữa các nhà máy chế biến thủy sản không đồng nhất, tỷ lệ lô hàng bị nhiễm kháng sinh, vi sinh bị trả về tăng, làm giảm uy tín mặt hàng thủy sản của ĐBSCL cũng như Việt Nam trên thị trường thế giới Đây chính là khó khăn rất lớn cho các DN chế biến thủy sản
2.4 Tình hình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản thành phố Sóc Trăng
Sóc Trăng có 72 km bờ biển và hệ thống sông rạch chằng chịt, hệ sinh thái rất thích hợp để phát triển ngành thủy sản Mặt khác, tỉnh còn có một đội ngũ đông đảo lao động nghề thủy sản cần cù, chịu khó học hỏi, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật trong hoạt động ngư nghiệp, nhạy bén trong tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Xuất phát từ những thuận lợi cơ bản trên, nghành thủy sản ở Sóc Trăng có những bước chuyển biên rất rõ rệt
Trang 25Năm 2007, mặc dù mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh Sóc Trăng là thuỷ sản gặp khó khăn do khan hiếm nguyên liệu, phải thu mua từ các tỉnh khác về nên chi phí sản xuất tăng cao nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh vẫn tăng tới 27,5% so với cùng kỳ năm trước với giá trị 86,2 triệu USD, đạt 20,05% kế hoạch năm 2007
Riêng mặt hàng thuỷ sản, các DN chế biến của tỉnh đã chế biến được trên 7.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 83,65 triệu USD, tăng tới 29,5% so với 4 tháng đầu năm 2006 Ngoài mặt thuỷ sản, các mặt hàng nông sản xuất khẩu khác như nấm rơm muối, hột vịt muối, gạo xay xát, hành tím cũng đã được xuất khẩu nhưng giá trị không đáng kể, tuy nhiên cũng đã tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước
Tỉnh Sóc Trăng đã phấn đấu trong năm 2007 xuất khẩu đạt kim ngạch
430 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 420 triệu USD Theo Sở Thuỷ sản Sóc Trăng thì tình hình xuất khẩu thuỷ sản năm 2007 có nhiều triển vọng do thị trường được mở rộng, giá trị xuất khẩu thuỷ sản trên mỗi tấn đang tăng lên, nhiều DN có khả năng xuất khẩu đạt và vượt kế hoạch Trong những tháng nửa cuối năm, tình hình xuất khẩu sẽ tăng trưởng mạnh khi vụ tôm đang thả nuôi được thu hoạch, nguồn nguyên liệu dồi dào hơn (Vinanet, 2007)
Về chế biến thuỷ sản, Sóc Trăng hiện có 07 nhà máy chế biến thủy sản, tổng công suất 100.000 tấn/năm Chuyên chế biến sản phẩm thủy sản đông lạnh xuất khẩu, các công ty đã không ngừng tập trung xây dựng nhà xưởng và đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường ngày càng cao và trong 07 công ty chế biến thủy sản của tỉnh đều có đủ tiêu chuẩn để xuất hàng hoá thuỷ sản sang thị trường các nước Nhật, EU, Mỹ,…Tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2006 đạt 327,39 triệu USD
Theo định hướng phát triển kinh tế ngành ngư nghiệp của tỉnh năm
2010 là: ổn định diện tích nuôi thủy sản ở mức 80.000 ha; trong đó, diện tích nuôi tôm 50.000 ha, quan tâm phát triển nuôi thủy sản vùng ngọt, gắn chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản “sạch”, trồng rừng, thủy lợi và bảo vệ môi trường Đảm bảo sản lượng nuôi và khai thác thủy hải sản đến năm 2010 đạt 275.000 tấn, chế biến thủy sản đạt 95.000 tấn, trong đó tôm đông 80.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 680 triệu USD (Trang Hoàng Thọ, 2009)
Trang 26Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Khái niệm và vai trò của thị trường
3.1.1.1 Khái niệm
Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ cũng như của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, mẫu mã của hàng hóa Đó là những mối quan
hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu với cơ cấu cung cầu của từng loại hàng hóa cụ thể
Thị trường là nơi mà người mua và người bán tìm đến với nhau thông qua trao đổi thăm dò, tiếp xúc để nhận lấy lời giải đáp mà mỗi bên cần biết
Các doanh nghiệp thông qua thị trường mà mà tìm cách giải quyết các vấn đề:
Phải sản xuất loại hàng gì? Cho ai?
Số lượng bao nhiêu?
Mẫu mã, kiểu cách, chất lượng như thế nào?
Còn người tiêu dùng thì biết được:
Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình?
Nhu cầu được thỏa mãn như thế nào?
Khả năng thanh toán ra sao?
Tất cả các câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời chính xác thông qua thị trường Trong công tác quản lí kinh tế, xây dựng kế hoạch mà không dựa vào thị trường để tính toán và kiểm chứng số cung – cầu thì kế hoạch sẽ không có cơ
sở khoa học và mất phương hướng, mất cân đối Ngược lại việc tổ chức và mở rộng thị trường mà thoát ly khỏi sự điều tiết của công cụ kế hoạch hóa thì tất yếu sẽ dẫn đến sự mất cân đối trong hoạt động kinh doanh
Từ đó ta thấy rằng sự nhận thức phiến diện về thị trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủ quan, duy ý chí trong quản lý và chỉ đạo kinh tế đồng nghĩa với việc đi ngược lại với các hệ thống của quy luật kinh tế vốn đã
có sẵn trong thị trường và hậu quả cuối cùng của nó là sẽ làm cho nền kinh tế rất khó phát triển
Trang 27Trên thị trường các quyết định của người lao động, người tiêu dùng và của các doanh nghiệp đều tác động đến quan hệ cung cầu thông qua giá cả Tuy nhiên hiện nay ở tất cả các nước có nề kinh tế thị trường, tác động đến quan hệ cung cầu theo cơ chế gián tiếp còn có các quyết định của chính phủ từng nước
Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và những người mua
có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại:
o Thị trường hàng hóa – dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng)
o Thị trường lao động
o Thị trường tiền tệ
Chức năng của thị trường: Thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội) và lao động đã chi phí sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hóa đó có bán được hay không, bán với giá thế nào Cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua những biến động của nhu cầu xà hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu của các loại hàng hóa, giá cả, tình hình cung cầu về các loại hàng hóa Kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng
3.1.1.2 Vai trò
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc gia Qua thị trường có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực sản xuất thông qua hệ thống giá cả Trên thị trường giá cả hàng hóa về tư liệu sản xuất, các nguồn lực về tư liệu sản xuất, sức lao động,….luôn luôn biến động nhằm đảm bảo các nguồn lực giới hạn này được sử dụng để sản xuất đúng hàng hóa, dịch vụ mà xã hội có nhu cầu Thị trường là khách quan do đó từng doanh nghiệp không có khả năng làm thay đổi thị trường Nó phải dựa trên cơ sở nhận biết nhu cầu xã hội và thế mạnh kinh doanh của mình mà có phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường
3.1.2 Khái niệm và mục đích về xuất khẩu
Theo giáo trình Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2006 ghi:
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có được đầy đủ mọi thứ hàng hoá Việc bán hàng hoá của một quốc gia này sang một quốc gia khác đã cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá
Trang 28hoặc cung cấp dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Dựa trên cơ sở là sự phát triển hoạt động mua bán hàng hoá trong nước, hơn bao giờ hết xuất khẩu đang diễn
ra mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trong tất cả các ngành các lĩnh vực, dưới mọi hình thức đa dạng phong phú và không chỉ với hàng hoá hữu hình mà còn cả hàng hoá vô hình Nhưng cho dù thế nào thì mục tiêu của xuất khẩu vẫn nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia
3.1.3 Các hình thức xuất khẩu
3.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giao dịch với khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình Hình thức này được áp dụng khi nhà sản xuất đã đủ mạnh để tiến tới thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình
và kiểm soát trực tiếp thị trường Tuy rủi ro kinh doanh có tăng lên song nhà sản xuất có cơ hội thu lợi nhuận nhiều hơn nhờ giảm bớt các chi phí trung gian
và nắm bắt kịp thời những thông tin về biến động thị trường để có biện pháp đối phó
3.1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp
Là việc nhà sản xuất thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu các sản phẩm của mình ra nước ngoài Hình thức này thường được các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế áp dụng Ưu điểm của nó là doanh nghiệp không phải đầu
tư nhiều cũng như không phải triển khai lực lượng bán hàng, các hoạt động xúc tiến, khuyếch trương ở nước ngoài Hơn nữa rủi ro cũng hạn chế vì trách nhiệm bán hàng thuộc về các tổ chức trung gian Tuy nhiên phương thức này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do phải chia sẻ với các tổ chức tiêu thụ, không liên hệ trực tiếp với nước ngoài, vì thế nên việc nắm bắt thông tin về thị trường cũng bị hạn chế, dẫn đến chậm thích ứng các biến động của thị trường
3.1.3.3 Xuất khẩu theo nghị định thư (Xuất khẩu trả nợ)
Đây là hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo chỉ tiêu nhà nước giao cho về một hoặc một số hàng hoá nhất định theo chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký kết giữa hai chính phủ Hình thức này cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí cho nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, tránh sự rủi ro trong thanh toán
Trang 293.1.3.4 Xuất khẩu tại chỗ
Là hình thức kinh doanh xuất khẩu đang có xu hướng phát triển và phổ biến rộng rãi bởi những ưu điểm của nó mang lại Đặc điểm của loại hình này
là hàng hoá không phải vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn có thể mua được Do vậy xuất khẩu không cần đích thân ra nước ngoài đàm phán với người mua mà người mua tự tìm đến với họ Mặt khác doanh nghiệp sẽ tránh được những rắc rối hải quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển mua bảo hiểm hàng hoá Nên giảm được lượng chi phí khá lớn Đồng thời hình thức này cho phép doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận cao
3.1.3.5 Gia công quốc tế
Là một hình thức kinh doanh, theo đó một bên nhập nguyên vật liệu, hoặc bán thành phẩm để chế biến thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (tiền gia công) Đây cũng là hình thức đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các nước có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong phú Bởi vì thông qua gia công, các quốc gia này sẽ có điều kiện đổi mới, cải tiến máy móc thiết bị và kĩ thuật công nghệ, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao năng lực sản xuất
3.1.3.6 Tái xuất khẩu
Là việc xuất khẩu những hàng hoá mà trước đây đã nhập khẩu về nhưng vẫn chưa tiến hành các hoạt động chế biến Hình thức này cho phép thu lợi nhuận cao mà không phải không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc thiết bị… Chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu này nhất thiết phải có sự góp mặt của 3 quốc gia: nước xuất khẩu – nước nhập khẩu – nước tái xuất khẩu
3.1.4 Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
(Theo giáo trình Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2006)
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ cho nền Công Nghiệp Hoá đất nước
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển
- Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống của người dân
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta
Trang 303.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
(Theo giáo trình Phan Thị Ngọc Khuyên, 2009)
Đặc điểm của thị trường: những thông tin về những nét văn hóa và thị hiếu tiêu dùng của thị trường
Quy chế chính sách của thị trường xuất khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu nghĩa là số lượng hàng hóa hoặc giá trị hàng hóa
mà chính phủ một nước quy định nhập khẩu nói chung hoặc từ một quốc gia
cụ thể nào đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm
Hạn ngạch tuyệt đối: Giới hạn tối đa về số lượng hoặc giá trị hàng hóa được phép nhập khẩu nói chung hoặc từ một quốc gia cụ thể trong một khoản thời gian nhất định
Hạn ngạch thuế quan: Giới hạn tối đa về số lượng hoặc giá trị hàng hóa được phép nhập khẩu được hưởng thuế quan ưu đãi, nếu số lượng hoặc giá trị hàng hóa vượt qua ngưỡng tối đa này sẽ chịu mức thuế quan cao
Thường những giới hạn này được áp dụng bằng cách cấp giấy phép cho một công ty hay cá nhân Khi hạn ngạch quy định cho cả mặt hàng và thị trường thì hàng hóa đó chỉ được nhập khẩu từ thị trường với với tổng số lượng
và thời gian nhất định
3.1.5.3 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restrains – VERs) là một biến thể của hạn ngạch nhập khẩu do phía nước xuất khẩu đặt ra thay vì nước nhập khẩu Ví dụ như việc Nhật Bản hạn chế xuất khẩu ô tô sang Mỹ kể
Trang 31Hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn công nghệ, lao động, về vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường,…
Vận dụng thỏa thuận về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Technical Baries to Trade – TBTT) và “những ngoại lệ chung” trong WTO, các nước còn đưa ra những tiêu chuẩn mà có thể hàng rào sản xuất nội địa đáp ứng hơn hàng hóa nhập khẩu, như các quy định về công nghệ, quy trình sản xuất, về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường,…
3.1.5.4 Chính sách ngoại thương
Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biên pháp kinh tế, hành chánh và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã được xác định trong lĩnh vực ngoại thương của một nước trong một thời kì nhất định Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế của một đất nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kì
Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kì có khác nhau cho nên đường lối chính sách ngoại thương phải thay đổi để đạt được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kì phát triển kinh tế Tuy nhiên các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành chướng ra bên ngoài
Mỗi nước đều có những đặc thù chính trị, kinh tế - xã hội và điều kiện
tự nhiên để phát triển kinh tế, vì vậy mỗi nước đều có chính sách phát triển ngoại thương riêng với các biện pháp cụ thể
3.1.5.5 Nguyên tắc tối huệ quốc MFN (Most Favaoured Nation)
Nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) là biểu hiện của việc “không phân biệt đối xử” trong quan hệ mậu dịch giữa các nước Nó có nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ dành cho nước khác
Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
Thứ nhất: Tất cả những ưu đãi và miễn giảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kì một nước thứ ba nào cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện
Trang 32Thứ hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế - thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơn, không bị chịu các thủ tục phiền hà hơn
so hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác Theo luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế Tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền
mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế
3.1.5.6 Thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized Sustem of Preference)
Nghiên cứu chế độ Tối huệ quốc cần phải nghiên cứu chế độ MFN đặc biệt dành cho các nước chậm tiến và đang phát triển thông qua chế độ ưu đãi phổ cập GSP
GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển dành cho 1 số sản phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang pháy triển (gọi là các nước nhận ưu đãi)
Nội dung chính của chế độ GSP là:
Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu của các nước đang hoặc kém phát triển
GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến
Quy định đối với hàng hóa hưởng chế độ GSP: Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các nước cho hưởng từ các nước được hưởng đều được giảm hay miễn thuế theo GSP Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng nhập khẩu vào những nước cho hưởng phải thỏa ba điều kiện như sau:
Điều kiện xuất xứ từ các nước được hưởng
Điều kiện về vận tải (Ví dụ: hàng vận chuyển không qua lãnh thổ nước thứ ba hoặc không qua mua bán tái chế lại)
Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ
Đối thủ cạnh tranh: là những doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động sản xuất kinh doanh cùng loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương
tự có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty Đối thủ cạnh tranh gồm có: đối thủ cạnh tranh hiện tại, đối thủ cạnh tranh tương lai, đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp
Thị trường nguyên liệu: là nơi diễn ra hoạt đông mua bán nguyên liệu,
Trang 33 Chính sách, kế hoạch phân phối sản phẩm của công ty
3.1.7 Sự cần thiết phải phân tích tình hình kinh doanh xuất khẩu
Việc phân tích tình hình xuất khẩu được thực hiện sau mỗi một kỳ kinh doanh giúp doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra ở kỳ kế hoạch
Phân tích tình hình xuất khẩu ngay trong khi thực hiện kế hoạch xuất khẩu giúp doanh nghiệp phát hiện ra những thay đổi bất thường của thị trường
có ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như gây tổn thất cho doanh nghiệp về mặt kinh tế, những khó khăn mới nảy sinh cản trở tiến trình thực hiện xuất khẩu
Phân tích hiệu quả xuất khẩu sẽ cung cấp những thông tin chính xác về kết quả kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết qủa kinh doanh, từ đó tìm ra những chính sách biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh
Phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu là cơ sở khoa học cho việc đề
ra các kế hoạch sản xuất kinh doanh ở kỳ tiếp theo
3.2 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả xuất khẩu
(Theo giáo trình Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2006)
3.2.1 Tỷ suất sinh lời ngoại tệ
Trong hoạt động xuất khẩu, “kết quả đầu ra” thể hiện bằng số ngoại tệ
thu được do xuất khẩu và chi phí đầu vào tính bằng nội tệ
Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu là đại lượng so sánh giữa khoản thu ngoại tệ
do xuất khẩu đem lại với chi phí nội tệ phải chi ra để có số ngoại tệ đó Nếu đặt
XK
R là tỷ suất ngoại tệ ta có:
Công thức trên cho ta biết để có được 1 USD khi xuất khẩu phải chi ra
Trang 34Ngoài ra tỷ suất ngoại tệ cũng được tính bằng công thức:
Công thức trên có nghĩa là một đồng chi phí bằng nội tệ chi ra thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu bằng ngoại tệ
3.2.2 Lợi nhuận xuất khẩu và tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện kết quả kinh doanh Vì vậy khi nói về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả xuất khẩu nói riêng không thể không xem xét đến lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận được thể hiện dưới hai dạng: số tương đối và số tuyệt đối
+ Ở dạng tuyệt đối: Lợi nhuận = doanh thu – chi phí
Khi sử dụng lợi nhuận tuyệt đối để phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế xuất khẩu của một doanh nghiệp cần phải lưu ý khối lượng lợi nhuận tuyệt đối thu được không phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của mỗi doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào yếu tố khác như các chính sách thuế, tỷ giá hối đoái…
+ Ở dạng tương đối được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận = (Lợi Nhuận/Doanh Thu)
3.2.2.1 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn kinh doanh (hay còn gọi là
hệ số sinh lời của vốn)
Tổng số tiền lợi nhuận được phản ánh trên các báo cáo thu nhập cho ta biết kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên số lợi nhuận này chưa thể đánh giá đúng đắn chất lượng kinh doanh của đơn vị Bởi vậy ngoài việc đánh giá các tỷ lệ sinh lời như tỷ suất ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận ta còn cần phải xem xét tổng số lợi nhuận với số vốn được sử dụng để tạo ra số lợi nhuận đó
Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị vốn kinh doanh (hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh)
Tổng vốn kinh doanh bình quân
=
Tổng lợi nhuận xuất khẩu
Tỷ suất lợi nhuận tính
Trang 353.2.2.2 Tỉ suất lợi nhuận tính theo doanh thu
Phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị doanh thu tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tình hình kinh doanh xuất khẩu
Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới kim ngạch xuất khẩu
Đơn giá xuất khẩu Tỷ giá
Thông qua việc đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu cho phép ta nhận diện những khả năng chủ yếu của tổ chức Và mục tiêu của SWOT là so sánh điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức với cơ hội và nguy cơ tương ứng Có 3 tiêu chuẩn có thể áp dụng để nhận diện những khả năng chủ yếu của một tổ chức là:
Khả năng có thể tạo ra tiềm năng để mở rộng thị trường
Khả năng cốt yếu có thể đem lại cho đối tượng tiêu dùng nhiều lợi ích hơn khi tiêu thụ
Khả năng có thể tạo ra những giống loài mới mà các đối thủ cạnh tranh không thể sao chép được
Sử dụng phương pháp phân tích ma trân SWOT dựa trên các mặt mạnh (Strengths), mặt yếu (Weaknesses) bên trong, cơ hội (Opportunities)
và nguy cơ (Threats) bên ngoài nhận định và lựa chọn các giải pháp kết hợp:
- Chiến lược điểm mạnh-cơ hội (SO): Dùng thế mạnh của DN để khai thác một cơ hội
Doanh thu xuất khẩu
Tỷ suất lợi nhuận tính
theo doanh thu
=
Tổng lợi nhuận xuất khẩu
Trang 36- Chiến lược điểm yếu-cơ hội (ST): Dùng thế mạnh để khắc phục một đe dọa
- Chiến lược điểm mạnh-nguy cơ (WO): Tận dụng một cơ hội để khắc phục điểm yếu hoặc cần phải khắc phục điểm yếu mới có thể khai thác được
cơ hội
- Chiến lược điểm yếu-nguy cơ (WT): Đây là nguy cơ lớn nhất cần chủ động phòng ngừa
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu từ các báo cáo xuất khẩu hàng năm của doanh nghiệp,
các thông tin có liên quan trên báo, tạp chí, internet và những nghiên cứu có liên quan trước đây
3.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
3.5.2.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xen xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh cũng như trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô.(Theo giáo trình Bùi Văn Trịnh, 2009)
Phương pháp so sánh gồm:
So sánh bằng số tuyệt đối: là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng, giá trị của một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể Có thể được tính bằng thước đo hiện vật, giá trị,
So sánh số tuyệt đối của các chỉ tiêu kinh tế giữa năm trước đó và năm hiện hành, giữa những thời gian khác nhau, không gian khác nhau để thấy được mức độ hoàn thành kế hoạch, quy mô phát triển của chỉ tiêu kinh tế nào
đó
Mức chêch lệch năm sau so với năm trước = A1 – A0
So sánh bằng số tương đối: là tỷ lệ phần trăm của chỉ tiêu kỳ phân tích
so với kỳ gốc
Tốc độ tăng trưởng = [(A1- A0) / A0] x 100%
Trong đó: A1 là số liệu năm sau
A0 là số liệu năm trước
Trang 37So sánh số tương đối động thái: Là chọn gốc liên tục qua các năm, phản ánh tốc độ biến đổi của sự kiện
So sánh giản đơn: Là phương pháp so sánh trực tiếp trị số của chỉ tiêu phân tích giữa hai kỳ (kỳ phân tích và kỳ gốc)
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (%) =
Mức chênh lệch = Chỉ tiêu thực hiện – Chỉ tiêu kế hoạch
Việc so sánh như trên sẽ cho biết khối lượng, quy mô mà doanh nghiệp đạt ở mức độ nào, với tỷ lệ đạt bao nhiêu
3.5.2.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích (đối tượng phân tích) (Phạm Văn Dược và Đặng Kim Cương, 2001)
Giả sử nhân tố Q bao gồm có 3 nhân tố ảnh hưởng a, b, c lần lượt từ lượng cho tới chất
Các nhân tố này hình thành chỉ tiêu bằng một phương trình như sau:
Q = a b c
Trong đó: Q là kim ngạch thủy sản xuất khẩu
a, b, c lần lượt là các nhân tố số lượng hàng xuất khẩu, đơn giá xuất khẩu, tỷ giá ngoại tệ ảnh hưởng đến kim ngạch thủy sản xuất khẩu
Đối tượng phân tích:
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng:
Ảnh hưởng bởi nhân tố a:
a = a1 b0 c0 - a0 b0 c0
Ảnh hưởng bởi nhân tố b:
Chỉ tiêu thực hiện Chỉ tiêu kế hoạch 100
Trang 38có một hoặc nhiều yếu tố khác Chỉ tiêu chỉ số được xác định bằng mối liên hệ
so sánh của một chỉ tiêu kinh tế ở những thời điểm khác nhau, thường là so sánh kỳ báo cáo và kỳ gốc Các chỉ số áp dụng trong phân tích kinh tế có hai loại: chỉ số chung và chỉ số cá thể
Chỉ số chung là chỉ số phản ánh sự biến động tăng giảm của một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có nhiều yếu tố hợp thành Ví dụ: Chỉ số tăng giảm của chỉ tiêu doanh thu bán hàng trong kỳ
Chỉ số cá thể là chỉ số phản ánh sự biến động tăng giảm của một chỉ tiêu kinh tế riêng biệt Ví dụ: Chỉ số giá cả hàng hoá bán ra trong kỳ; chỉ số tăng giảm lao động huặc mức thu nhập của người lao động trong kỳ…
Phân tích kinh tế bằng phương pháp chỉ số cho phép ta thấy được mức biến động tăng giảm và mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố hợp thành của một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp tại những thời điểm khác nhau
+ Tỷ trọng: là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ % của một chỉ tiêu cá thể so với chỉ tiêu tổng thể
Số tổng thể
=
Trang 39Tỷ trọng được sử dụng trong phân tích tình hình xuất khẩu hàng hoá theo thị trường, dựa vào công thức này ta sẽ tính được từng thị trường có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số
+ Tỷ suất: là một chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác có liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau: tỷ suất chi phí, tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tư Nó được sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Dựa vào tỷ suất như tỷ suất lợi nhuận ta sẽ biết được lợi nhuận doanh nghiệp thu được thực tế so với doanh thu là bao nhiêu, hay tỷ suất chi phí phản ánh tình hình sử dụng chi phí thực tế thể hiện việc tiết kiệm hay lãng phí chi phí
Tỷ suất LNXK trên doanh thu =
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn =
Doanh thu thuần
100
LN XK trước thuế (sau thuế)
Tổng vốn kinh doanh bình quân
1100
LN XK trước thuế (sau thuế)
Trang 40Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Giới thiệu khái quát về công ty và lịch sử hình thành, phát triển Công ty 4.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta
Công ty cổ phần thực phẩm (CPTP) Sao Ta hiện đặt tại km 2132 Quốc
lộ 1A, phường 2, Thành Phố Sóc Trăng Công ty có tên tiếng Anh là Sao Ta Foods Joint Stock Company và tên thương mại là Fimex VN Tính đến ngày 31.7.2009 vốn điều lệ của Công ty là 80 tỷ đồng
Hình 4.1: Logo của Công ty
Giấy phép thành lập: Quyết định số 346/QĐ.TCCB.02 ngày
09/10/2002 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty thực phẩm Sao Ta Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp Sóc Trăng thành công ty CPTP
Giấy CNĐKK: Số 5903000012đăng kí lần đầu ngày 19/12/2002, đăng
kí thay đổi lần thứ 4 ngày 20/06/2006 do Sở kế Hoạch đầu tư tỉnh Sóc Trăng cấp
Ngành nghề kinh doanh:
Nuôi trồng, chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy