Hệ thống hòa ước Véc xai đối với các nước bại trận Hai tháng sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 18 - 1 - 1919 các nước thắngtrận đã họp Hội nghị hoà bình tại Vécxai ngoại ô thủ đô Pari
Trang 1Chuyên đề:
SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ VÉC XAI - OASINHTƠN
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939) diễn biếnphức tạp, gắn liền với sự tồn tại của trật tự Véc xai- Oasinhtơn Vậy, trật tự Vécxai- Oasinhtơn đã hình thành và sụp đổ như thế nào sau Chiến tranh thế giới thứnhất? Nó có liên hệ gì với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai? Quan hệquốc tế trong những năm 1919-1939 liệu có phải là giai đoạn hưu chiến giữa haicuộc chiến tranh thế giới? Để tìm ra lời giải cho những thắc mắc này, chúng tacùng phân tích
- Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế cáccường quốc châu Âu đều bị suy yếu Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuychiến thắng nhưng nền kinh tế bị kiệt quệ sau chiến tranh và trở thành con nợ của
Mĩ Italia, một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh, bị xâu xé bởi cuộc đấu tranhgay gắt trong nước và khủng hoảng kinh tế Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga,Đức, Áo - Hung lần lượt sụp đổ Đế quốc Đức và Áo - Hung bại trận, bị tàn phánặng nề và những cuộc cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạngkhủng hoảng nghiêm trọng
- Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bịtàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ởchâu Âu Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bấtlợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bảnchủ nghĩa trước đây
- Đồng thời thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ramột chuyển biến căn bản của tình hình thế giới Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tạinhư một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa Sự tồn tại của Nhà nước xã hộichủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thế giới
tư bản chủ nghĩa
Trang 2Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các hộinghị hoà bình được triệu tập Hệ thống hoà ước Versailles và sau đó là Hệ thốnghiệp ước Washington đã được ký kết nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phùhợp với tương quan lực lượng mới.
1.2 Hệ thống hòa ước Véc xai đối với các nước bại trận
Hai tháng sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 18 - 1 - 1919 các nước thắngtrận đã họp Hội nghị hoà bình tại Vécxai (ngoại ô thủ đô Pari của Pháp) Tham dựhội nghị có đại biểu của 27 nước thắng trận Năm cường quốc tham gia điều khiểnhội nghị là Mỹ, Anh, Pháp, Italia và Nhật Bản, nhưng thực sự nắm quyền quyếtđịnh hội nghị là Tổng thống Mĩ Uyn-xơn, Thủ tướng Anh Lôi Gioóc và Thủ tướngPháp Clê- măng-xô Đại biểu của các nước bại trận cũng có mặt để kí vào các hoàước do các nước thắng trận quyết định Riêng nước Nga không được mời tham giahội nghị Vấn đề Nga không được đưa vào chương trình nghị sự nhưng nó là nỗi
ám ảnh đối với các nước đế quốc Ngay từ trước khi hội nghị bắt đầu, các nước đãthảo luận vấn đề Nga và đi đến thỏa thuận sẽ tăng cường can thiệp vũ trang và ủng
hộ lực lượng phản động để chống lại chính quyền Xô viết
Hội nghị Vécxai kéo dài gần 2 năm và diễn ra hết sức gay go, quyết liệt vìcác nước cường quốc thắng trận đều có những mưu đồ tham vọng riêng trong việcphân chia quyền lợi và thiết lập trật tự thế giới sau chiến tranh
Là nước đăng cai hội nghị, Pháp mong muốn làm suy kiệt hoàn toàn nướcĐức cả về quân sự và kinh tế, nhằm đảm bảo an ninh và địa vị bá chủ của Pháp ởlục địa châu Âu
Nhưng Anh và nhất là Mĩ lại chủ trương phải duy trì một nước Đức tươngđối mạnh để đối phó với phong trào cách mạng đang lên cao ở các nước châu Âu
và âm mưu bá chủ châu Âu của Pháp Đó là chính sách “cân bằng lực lượng” ởchâu Âu mà Mĩ rất ủng hộ Ngay từ đầu năm 1918, một năm trước khi chiến tranhkết thúc, Tổng thống Mĩ Uyn-xơn đã đưa ra Chương trình 14 điểm nhằm lập lạihoà bình và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh theo quan điểm của Mĩ
Chương trình 14 điểm bao gồm:
1 Đưa ra những hiệp định rõ ràng, không bí mật
2 Tự do thông thương của các đại dương
3 Bãi bỏ các rào cản kinh tế
4 Cắt giảm vũ khí
5 Dàn xếp các yêu sách của thuộc địa theo quyền lợi của các dân tộc bị trị
6 Quân Đức rút khỏi Nga, quyền tự do về chính sách quốc gia cho Nga
7 Quân Đức rút khỏi Bỉ, Bỉ là nước độc lập
8 Quân Đức rút khỏi Pháp, Alsace-Loraine thuộc về Pháp
9 Điều chỉnh biên giới Italia
10 Các dân tộc của đế quốc Áo có quyền tự quyết
Trang 311 Quân Đức rời khỏi Rumani, Serbia và Montenegro, Serbia có một lối đi
ra biển
12 Các dân tộc của đế quốc Ottoman có quyền tự quyết, eo biểnDardanelless cho phép tàu của mọi quốc gia
13 Ba Lan độc lâp, có một lối đi ra biển
14 Thành lập một tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình
Với những lời lẽ bóng bảy, bề ngoài đề cao hoà bình, dân chủ, Chương trình
14 điểm thể hiện mưu đồ xác lập địa vị bá chủ thế giới của Mĩ, làm suy yếu các đốithủ cạnh tranh Anh, Pháp và Nhật Bản, tạo cơ hội để Mĩ vượt khỏi sự biệt lập củachâu Mĩ, vươn ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng chính trị chứkhông phải bằng con đường bành trướng lãnh thổ như các cường quốc khác.Chương trình 14 điểm của Uyn-xơn được các nước coi là nguyên tắc để thảo luậntại Hội nghị Vécxai
Các nước Italia, Nhật Bản cũng đưa ra những tham vọng của họ Nhật Bảnđòi được thay thế Đức nắm chủ quyền bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, dự địnhchiếm vùng viễn Đông của nước Nga Xô Viết, mở rộng ảnh hưởng ở khu vực châu
á - Thái Bình Dương Italia muốn mở rộng lãnh thổ xuống vùng Địa Trung Hải vàvùng Balkan Các nước nhỏ như Ba Lan và Rumani cũng có những yêu cầu mởrộng lãnh thổ của mình
Mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giữa các nước tham dự Hội nghị Vécxai, đặcbiệt là giữa các cường quốc trở nên gay gắt, có tới 3 lần Hội nghị có nguy cơ tan
vỡ Cuối cùng vào tháng 3/1919, các văn kiện của Hội nghị đã lần lượt được kýkết
Hoà ước Vécxai với Đức.
Hoà ước Vécxai với Đức kí ngày 28 - 6 - 1919, văn kiện quan trọng nhất của
hệ thống hoà ước Versailles, đã quyết định số phận của nước Đức Hoà ước khẳngđịnh nước Đức bại trận phải chịu trách nhiệm về “tội ác gây chiến tranh”, do đóphải trả lại cho Pháp hai tỉnh Andát-Loren (mà Pháp cắt nhượng cho Đức trongcuộc chiến tranh Pháp - Phổ 1870 - 1871); nhường cho Bỉ khu Eupen Malmedy vàMoresnet; cắt cho Đan Mạch vùng Bắc Sleswig - tùy kết quả của cuộc trưng cầu ýdân - mà Thủ tướng Đức Bismarck chiếm được trong cuộc chiến tranh Đức - ĐanMạch 1864; cắt cho Ba Lan vùng Pomerania và một “hành lang chạy ra biển” ,một số nơi khác tùy thuộc vào trưng cầu ý dân, mà Đức đã chiếm được trong cuộcphân chia Ba Lan vào thế kỷ XVIII Đồng thời, thành phố cảng Dantzig (nay làGdansk, Ba Lan) và đảo Hengôlan sẽ do Hội quốc liên quản trị Đây là một trongnhững điều khoảng khiến người dân Đức tức giận nhất, họ không chỉ bất mãn vìviệc tách vùng Đông Phổ ra khỏi nước Đức bằng một "hành lang" cho Ba Lanthông ra biển, mà còn ghét bỏ người Ba Lan - người mà họ xem như "người hạđẳng" - không hơn, không kém Người Đức cũng giận dữ không kém khi thấy Hòaước (điều 231) buộc tội họ là nước duy nhất phải chịu trách nhiệm chính là người
Trang 4gây ra cuộc chiến này, và đòi họ phải giao Wilhelm II (người phát động cuộcchiến) và khoảng 800 tội phạm chiến tranh khác cho các nước Hiệp ước để họ xét
xử, còn các nước đế quốc khác thì dường như "vô tội" Ngoài ra, hạt Sarre của Đứccũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đâythuộc về Pháp Sau thời hạn này sẽ tiến hành trưng cầu ý dân để quyết định hạtSarre sẽ thuộc về nước nào (sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1935, hạt Sarre đã thuộc
về nước Đức) Đồng thời toàn bộ hệ thống thuộc địa của Đức đều trở thành đất uỷtrị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ quảnlí
Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại100.000 bộ binh với vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm độitầu ngầm và thiết giáp hạm Vùng tả ngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầucầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm và rút dầnquân nếu Đức thi hành hoà ước Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiều rộng 50 km
sẽ trở thành khu phi quân sự Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho cácnước thắng trận số tiền (do Hội nghị Luân đôn tháng 4 - 1921 qui định) là 132 tỉMác vàng, trong đó trả cho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8% Với hoàước này, nước Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than,2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt Toàn bộgánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức Tuy thế, hoà ước Vécxaikhông thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức Sau này, với sự trợ giúpcủa Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục và trởthành một lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30
Các hoà ước khác.
Cùng với hoà ước Vécxai kí với Đức, những hoà ước khác cũng lần lượt kíkết với các nước bại trận trong hai năm 1919 - 1920 Với hoà ước Saint - Germain
kí với Áo ngày 10 - 9 - 1919 và Hoà ước Trianon kí với Hunggari ngày 4-6-1920,
đế quốc Áo - Hung trước kia không còn nữa mà bị tách thành hai nước nhỏ: Áo chỉcòn 6,5 triệu dân với diện tích 84.000 km2, Hunggari cũng mất 1/3 lãnh thổ trướckia, chỉ còn lại 92.000km2 với 8 triệu dân Mỗi nước chỉ được quyền có khoảng30.000 quân và phải bồi thường chiến phí trên lãnh thổ của đế quốc áo - Hung cũ
đã thành lập hai quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư Một số nước được mởrộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc áo - Hung: Rumani được thêm vùngBukovine và Transylvanie, Italia được thêm vùng Trentin - Istrie, Ba Lan cũngđược thành lập với vùng Galicia thuộc áo và các vùng đất khác thuộc Đức và Nga
Ở bán đảo Ban căng, số phận hai nước thua trận là Bungari và đế quốc ốttômancũng được quyết định Với hoà ước Neuilly kí với Bungari ngày 27-11-1919, lãnhthổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giớiphía Tây cho Nam Tư, cắt vùng Thrace cho Hi Lạp (do vậy bị mất cảngDédéagatch và lối ra biển Egée và cắt tỉnh Dobroudja cho Rumani Ngoài ra,
Trang 5Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơ răng, phải nộp cho các nước lánggiềng trong phe chiến thắng (Nam Tư, Hi lạp, Rumani) 37.000 gia súc lớn, 33.000gia súc nhỏ, đồng thời phải hạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá20.000 người Hoà ước Sevres với Thổ Nhĩ Kì kí ngày 11 - 8 - 1920 đã chính thứcxoá bỏ sự tồn tại của đế quốc Ottoman Syria, Libăng, Palextin và Irắc tách khỏithổ Nhĩ Kì và đặt dưới quyền “bảo hộ” của Anh và Pháp Ai Cập chịu sự “bảo hộ”của Anh, bán đảo Aráp được coi là thuộc “phạm vi thế lực” của Anh Phần đấtchâu Âu của Thổ Nhĩ Kì phải cắt cho Hi Lạp (trừ Istambul và vùng ngoại ô) Các
eo biển của Thổ Nhĩ Kì được đặt dưới quyền kiểm soát của một uỷ ban gồm cácđại biểu của Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản
Toàn bộ những hoà ước nói trên hợp thành Hệ thống hoà ước Vécxai Đây làvăn bản chính thức đầu tiên xác định việc phân chia thế giới của chủ nghĩa đếquốc Trật tự mới này đem lại lợi ích cho các cường quốc thắng trận, nhất là Anh.Anh chẳng những mở rộng hệ thống thuộc địa đồng thời quyền bá chủ mặt biểnvẫn được giữ vững Pháp và Nhật cũng giành được khá nhiều quyền lợi Tuy nhiên,những điều khoản khắt khe của Hệ thống hoà ước Versailles đối với các nướcchiến bại, nhất là Đức, trên thực tế chẳng những đã không thể thực hiện được màcòn làm tăng thêm tâm lý phục thù của các nước này Đó là mâu thuẫn nảy sinhngay từ khi hệ thống này mới được hình thành Đồng thời, tham vọng lãnh đạo thếgiới của giới cầm quyền Mĩ cũng chưa được thực hiện Chính vì thế các nước đếquốc đã phải tiếp tục giải quyết những bất đồng về quyền lợi tại một hội nghị tiếptheo ở Washington
1.3 Hội Quốc Liên
Một trong những vấn đề cơ bản được các nước tham dự Hội nghị Vécxainhất trí là việc thành lập Hội Quốc liên, được thành lập theo tinh thần và nội dungcủa Điểm 14 trong "Chương trình 14 điểm" của Uyn-xơn Công ước thành lập Hộiquốc liên là văn kiện đầu tiên được kí kết cùng với Hiến chương của Hội Theo đó,mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sự hợp tác quốc tế, thực hiện nềnhoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra một sốnguyên tắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệquốc tế phải rành mạch và dựa trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế Ngày 10 - 1 - 1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vào
công ước sáng lập, Hội quốc liên có 3 tổ chức chính: Đại hội đồng (gồm tất cả các nước thành viên, họp mỗi năm một lần vào tháng 9), Hội đồng thường trực (gồm 5
uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia - sau đó còn lại 4 vì Mĩ không
tham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi năm ba lần), Ban thư ký thường trực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một nội các làm việc hành chính
thường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve Các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liêngồm có Toà án quốc tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như:
Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn
Trang 6(HCR) Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị,tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranhchấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa đủ điều kiện
tự quản” Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem là gây chiến vớitoàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện pháp kinh tế vàtài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biệnpháp quân sự
Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầutiên, đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX Về danhnghĩa, Hội Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằmngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, nhữnghoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới do các cườngquốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Vécxai Với "chế độ uỷ trị", Anh, Pháp đãchia nhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lãnh thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì Cácbiện pháp về giải trừ quân bị và sự trừng phạt chỉ mang ý nghĩa hình thức vì HộiQuốc liên không có sức mạnh thực tế để thực thi các quyết định của mình Để HộiQuốc Liên có thể trở thành một công cụ có hiệu quả, tổ chức này phải có ý chíchính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết Những sự kiện diễn ra saunày sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các vấn đề quốc
tế Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ Uyn-xơnnhưng Mĩ từ chối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã không được thựchiện trong Hội nghị Vécxai Điều đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến uy tín vàsức mạnh của tổ chức này
1.4 Hiệp ước ký ở Oasinhtơn
Hội nghị Vécxai kết thúc nhưng những mâu thuẫn mới lại nảy sinh giữa cáccường quốc thắng trận đặc biệt là mâu thuẫn trong quan hệ Anh - Mĩ và Mĩ - Nhật.Các nguyên nhân dẫn đến việc ký hòa ước này là:
- Hòa ước Vécxai không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước đế quốc,ngay cả trong nội bộ các nước đế quốc Trên thực tế, Anh là nước có nhiều quyềnlợi hơn cả, được giữ vững hệ thống thuộc địa và không cho một đế quốc nào khácmạnh hơn và qua mặt mình Pháp và Nhật cũng giành được nhiều quyền lợi qua Hệthống hòa ước Vécxai Còn Mỹ chưa giành được quyền lợi nào đáng kể Cụ thể,
Mỹ rất bất bình trước việc Anh, Pháp làm cho Đức quá suy yếu Về bồi thườngchiến tranh, trong khi Anh, Pháp đòi Đức bồi thường 480 - 600 tỉ mac, Đức chấpnhận 100 tỉ mac, thì Mỹ chỉ chấp nhận có 200 tỉ mac mà thôi Chính giới Mỹ cũngbất bình khi Hiệp ước Vécxai quyết định trao Sơn Đông cho Nhật, là đối thủ cạnhtranh nguy hiểm của Mỹ ở Viễn Đông
- Sự thất bại của Uyn-xơn Đúng vậy, Uyn-xơn chưa có những hành độngtích cực bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong Hệ thống hòa ước Vécxai Trong các hòa
Trang 7ước Vécxai, ông đã không thể đưa vào nguyên tắc "tự do về biển", đồng thời khiHội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của ông thì cũng bị đa số Đảng CộngHòa chiếm ưu thế trong Thượng viện đánh giá một cách tiêu cực, vì họ cho rằngAnh và Pháp đang là kẻ chi phối chính trong tổ chức này, chứ không phải Mỹ.
Do tất cả những điều đó mà khi Uyn-xơn ký vào Hòa ước trên, Thượng viện Mỹ
đã lập tức không phê chuẩn nó và rút ra khỏi Hội Quốc Liên Hậu quả là, trongcuộc bầu cử năm 1920, đảng Dân chủ của ông bị thất cử với số phiếu chênhlệch: 60,36% (Cộng hòa) và 34,19% (Dân chủ) Tân tổng thống của đảng Cộng hòamới lên nhậm chức là Harding đã vin vào cái gọi là "chủ nghĩa biệt lập", để không
bị lệ thuộc vào hòa ước trên và theo đuổi một ý đồ khác nhằm thiết lập địa vị chongười Mỹ
- Mâu thuẫn Anh - Mỹ về "Two Power Standard" ("nguyên tắc sức mạnhgấp đôi"), liên minh Anh - Nhật và sức ép của Mỹ với liên minh này Như đã biết,Anh có ưu thế từ lâu trên Viễn Đông, nhất là Trung Quốc, nơi người Mỹ thèm khátmuốn xâm nhập vào, nhưng lúc nào cũng bị Anh chặn lại Hơn thế, với Hòa ước
1919, Anh bảo toàn được địa vị của mình ở Viễn Đông, điều này khiến Mỹ rất bấtbình Để giải quyết, Mỹ sử dụng sức mạnh tài chính (buộc Anh trả khoảng nợ 850
tỉ bảng cho mình), vấn đề Ireland và đe dọa mối quan hệ Nhật - Anh Đồng thời,
Mỹ nhận thấy lúc đó lực lượng Hải quân của Anh rất mạnh, có mặt hầu như khắpnơi trên thế giới Năm 1914, chính phủ Anh đề ra nguyên tắc "sức mạnh gấp đôi"quy định lực lượng quân Anh bằng 2 lần lực lượng hai đế quốc cộng lại, và điều đókhiến người Mỹ bất bình và muốn thay đổi, xóa bỏ cái gọi là "nguyên tắc sức mạnhgấp đôi" này
- Mâu thuẫn Mỹ - Nhật về vấn đề Viễn Đông Việc xây dựng kênh đàoPanama để thông thương đã làm cho mâu thuẫn Nhật - Mỹ, vốn có từ lâu trước Thếchiến 1, bùng lên Ngoài ra, Nhật cũng có lợi thế ở Viễn Đông nhiều hơn Mỹ, đó làNhật có xây dựng các căn cứ Hải quân ở Đài Loan, quần đảo Lưu Cầu, đảoSakhalin, các quần đảo Kuril, Mariana, Marshall rất thuận lợi cho Nhật có thể tự
do di chuyển, phòng ngừa các cuộc tấn công xảy ra bên ngoài Nhật Bản Trong khi
đó, Mỹ mới có đặt chân vào vùng Thái Bình Dương từ hồi năm 1899 và đang xâydựng lực lượng, thế nhưng với sự tăng trưởng không ngừng của Nhật về Hải quân
đã làm Mỹ xem xét lại và quyết định sẽ tăng cường hải quân vào khu vực này,trong khi đó Mỹ cũng lo ngại vùng Thái Bình Dương rộng lớn sẽ gây khó khăn cho
nó khi có chiến tranh, do đó Mỹ cũng đem quân, xây dựng các căn cứ ở Guam,Philippines Căng thẳng Nhật - Mỹ còn liên quan đến vấn đề Cộng hòa Viễn Đông.Trong khi Nhật muốn bóp chết chính quyền Viễn Đông thì Mỹ cũng lo ngại vềhành động của Nhật ở đây, và cho các công ty của mình vào nước này khaikhoáng, nhưng Nhật đã phản đối quyết liệt
Ngày 12 - 11 - 1921, Hội nghị Washington được khai mạc với sự tham giacủa 9 nước: Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Trung Quốc
Trang 8Nước Nga Xô viết - một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị.Quyền lãnh đạo hội nghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưngquyền quyết định thuộc về Mĩ Những nghị quyết quan trọng nhất của Hộinghị Washington được thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4 nước (Anh, Pháp,
Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia)
Hiệp ước 4 nước
Được gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày
13-12-1921 và có giá trị trong 10 năm Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau vềcác đảo ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khuvực rộng lớn này Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liênminh Anh - Nhật (được kí kết từ năm 1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4) VớiHiệp ước này, Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minh Anh - Nhật mà còn trở thànhnước đóng vai trò chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương
Hiệp ước 9 nước
Kí ngày 6 - 2 - 1922, gồm 9 điều, công nhận nguyên tắc “hoàn chỉnh về lãnhthổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc” đồng thời nêu nguyên tắc “mở cửa”
và “khả năng đồng đều” cho các nước trong các hoạt động thương mại và côngnghiệp trên toàn lãnh thổ Trung Quốc Ngoài ra, một công ước đặc biệt được kýkết thống nhất thuế hải quan của Trung Quốc với tỉ lệ bằng 5% giá trị hàng hóa, vàTrung Quốc không được tăng thuế lên mức 12,5% Tóm lại với hiệp ước này,Trung Quốc đã trở thành một thị trường chung của các cường quốc phương Tây vàNhật Bản Đặc biệt là Mĩ đã hợp pháp hoá sự bành trướng của mình vào TrungQuốc
Hiệp ước 5 nước
Kí kết cùng ngày 6-2-1922, được gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang và hảiquân” nhằm qui định trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dươngtheo tỉ lệ: 5 - 5 - 3 - 1,75 - 1,75 (cụ thể: Mĩ và Anh bằng nhau: 525.000 tấn, Nhật:315.000 tấn, Pháp và Italia bằng nhau: 175.000 tấn) Đồng thời các nước này cũngqui định tỉ lệ về hai loại tàu chở máy bay và tầu tuần dương hạm Với hiệp ướcnày, Mỹ giành được quyền bình đẳng hải quân với Anh với nguyên tắc "sức mạnhgấp đôi" bị phá vỡ, Nhật cũng giành được thắng lợi quan trong khi 5 nước tuyên bốkhông xây dựng các căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương, giúp nó nắm ưu thế trênvùng biển rộng lớn này
Kết hợp với hệ thống Hoà ước Versailles, các hiệp ước của Hộinghị Washington đã tạo nên Hệ thống Versailles - Washington Đó là trật tự thếgiới mới mà chủ nghĩa đế quốc xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mĩ
giành được nhiều ưu thế nhất và “7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch”
theo cách nói của Lê-nin Những điều khoản ký kết ở Véc xai và Oasinhtơn còn là
sự chà đạp trắng trợn đến quyền dân tộc của các nước đế quốc bại trận cũng như
Trang 9các nước thuộc địa Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thoảmãn và những nước bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộcxung đột quốc tế trong tương lai Như thế, sau cuộc chiến tranh thế giới kéo dàibốn năm (1914 - 1918) với những tổn thất nặng nề cho toàn nhân loại, hoà bình đãđược lập lại trong một thế giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn.
2 Trật tự Vécxai - Oasinhtơn từng bước bị sói mòn và sụp đổ
2.1 Trật tự Vécxai - Oasinhtơn từng bước bị sói mòn
2.1.1.Trật tự Vécxai – Oasinhtơn bị xói mòn ngay từ sau hệ thống hòa ước Véc xai
Hòa ước Vécxai với Đức là hòa ước có sự sắp đặt rất khắt khe của các cườngquốc đối với 1 một nước Đức bại trận Nó có thể được so sánh với Hiệp định Tilsit
mà Hoàng đế Pháp Napoleon I ký với Nga để áp đặt nước Phổ năm 1807, hoặc làHiệp ước Brest - Litopsk mà Đế chế Đức áp đặt vào nước Nga Xô viết vào năm
1918 Lenin đã bình luận hết sức mỉa mai về Hội nghị này: "Chúng muốn quyết định xem cho ai nhiều than hơn, thế là chúng cãi cọ trong suốt 5 tháng nay, chúng không còn kiềm chế được mình và bầy thú dữ đó cắn cấu nhau loạn xạ đến nỗi chỉ còn lại cái đuôi" Việc hòa ước Versailles được công bố vào ngày 7/5/1919 đã gây
ra một sự phản ứng mạnh mẽ không chỉ trong chính phủ, quân đội, mà còn lan ratoàn thể người dân Đức Chính phủ lâm thời chống đối mạnh mẽ việc chấp nhận nó
và cho rằng nó là hòa ước "vô lý"; còn nhân dân Đức thì ủng hộ, hậu thuẫn chínhphủ nhiệt tình trong cuộc đấu tranh này Chính phủ hỏi ý kiến quân đội: Nếu từchối ký vào hòa ước, liệu Quân đội có thể chống cự cuộc tấn công của Đồng minhhay không? Ngày 17/6, Thống chế Hindenburg cho rằng, nếu từ chối ký hòa ước,
Đức sẽ có thể gây chiến tranh chiếm vùng Posen, nhưng sẽ rất khó khăn nếu Đồng minh tấn công kịch liệt và chúng ta sẽ thất bại Chi bằng chúng ta thà thua trong danh dự còn hơn chấp nhận một nền hòa bình nhục nhã Lời nói này của
Hindenburg khiến người dân cảm thấy như là không thực sự trung thực cholắm Nhân dân Đức không biết Hindenburg đã nghĩ rằng nếu cố chống cự Đồngminh thì không những vô vọng, mà còn có thể khiến cho cấp chỉ huy quân đội quýgiá bị tiêu diệt và từ đó nước Đức cũng bị hủy diệt theo Vài ngày sau, khi bị Đồngminh bắt phải ra ngay quyết định cuối cùng, Chính phủ đã họp lại nội các và quânđội và 4 ngày sau, quốc hội Đức mới chính thức ký vào văn kiện Hòa ướcVersailles
Việc ký kết hòa ước này gây sự phản ứng rất mạnh mẽ ở nhiều nơi Ở Liên
Xô, khi nghe tin hòa ước được ký kết, Lê-nin đã nhận xét: "Đấy là một thứ hòa ước kỳ quái, một thứ hòa ước ăn cướp, nó đẩy hàng chục triệu con người, trong đó
có những con người văn minh nhất, rơi vào tình cảnh bị nô dịch Đấy không phải
là một hòa ước, đấy là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao buộc một nạn nhân không có gì tự vệ phải chấp nhận" Đồng thời ở Pháp, Thống chế Foch, viên
Trang 10tướng Pháp có nhiều công lao lớn trong Thế chiến I, đã không ngừng phản đốiClemenceau rất kịch liệt và không bằng lòng với những nội dung Hòa ước đã kývới Đức, ông ta cũng dự báo về những thất bại của Hòa ước đó Ông ta từng chứngkiến quân Đức hủy hạm đội của mình để tránh rơi vào tay giặc, quân và dân Đứcđốt cháy lá cờ Pháp ở nước Đức mà quân Đức cướp trong cuộc chiến 1870 - 1871,
nhằm ngăn cản việc giao các lá cờ này cho Pháp Ông viết thư cho vợ: "Bọn họ nhạo báng chúng ta Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo Ấy là công trình của Clê-măng-xô" Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết Hiệp ước này vào ngày 28
tháng 6 năm 1919 tại Versailles Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nên
đúng: "Đây không phải là một Hòa ước Đây là một Thỏa ước ngừng bắn trong vòng 20 năm" Bất chấp sự nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này thất bại
vì không thể thay đổi sự cân bằng chiến lược Đức - Pháp: Đức thì đông dân, cótiềm lực quân sự, chính trị mạnh nhưng trong khi đó quân đội Pháp lại quá yếu,ảnh hưởng rất nhỏ bé trong phe Hiệp ước nên rất khó đương đầu với Đức Chính vìvậy, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản Hòa ước này vào tháng 1năm 1920, và liên minh giữa Anh Quốc và Pháp bắt đầu suy sụp Foch chán ghétmột liên minh quân sự Pháp - Anh - Mỹ, cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn.Thành thử không những chiến thắng của Pháp vào năm 1918 hoàn toàn là mộtchiến thắng mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.Người Nhật cũng thể hiện sự không bằng lòng một cách kín đáo: trong hội nghị,đại diện của Nhật nở nụ cười bí hiểm, hướng ánh mắt xa xăm về Châu Á – TháiBình Dương
“Cơm không lành, canh không ngọt”, nguyện vọng vươn lên vị trí bá chủcủa nước Mỹ chưa được thỏa mãn Họ nhanh chóng triệu tập hội nghị ở Oasinhtơnngay sau đó ít lâu
Hội nghị Washington hoàn toàn có lợi cho Mĩ, trong khi nước Anh phảichấp nhận nhượng bộ: từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm
1914, theo đó hải quân Anh phải có hạm đội bằng hai hạm đội mạnh nhất thế giớicộng lại, đồng thời phải huỷ bỏ liên minh Anh - Nhật Từ đây hải quân Mĩ nganghàng với Anh và vượt qua Nhật Mĩ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thịtrường viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa” Với hệ thốngHiệp ước Washington, Mĩ đã giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập mộtkhuôn khổ trật tự mới ở Châu Á - Thái Bình Dương do Mĩ chi phối Người Nhậtcũng có điều kiện phát triển lực lượng hải quân, phục vụ cho những kế hoạch tiếptheo của mình
Chúng ta có thể nhận ra mong muốn cân bằng quyền lực giữa các nước lớnđặc biệt là của Anh và Pháp nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới sau Chiến tranhthế giới thứ nhất có lợi cho họ Tuy nhiên, những toan tính này vấp phải mưu đồriêng của Mỹ và Nhật, hai quốc gia đã mạnh lên rất nhiều sau chiến tranh, đặc biệt,
Mỹ là chủ nợ của toàn châu Âu Những giành giật, giao kèo mới ở Véc xai và sau
Trang 11đó là Oasinhtơn khiến các nước lớn không tìm ra được tiếng nói chung, dần rà, họ
xa cách trong các việc xử lý các vấn đề nóng bỏng sau này Đó là điều kiện vôcùng thuận lợi để nước Đức, và các nước phát xít có thời cơ hành động
2.1.2 Vấn đề thực hiện Hoà ước Vécxai kí với Đức.
Tiếng nói chung trong việc giải quyết vấn đề Đức đã không xuất hiện
Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Vécxai kí với Đức chiếm một vịtrí đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20 Về vấn đề bồi thườngchiến tranh, Hội nghị Luân Đôn ngày 30 - 4 - 1921 đã qui định số tiền bồi thườngcủa Đức là 132 tỉ mác vàng và Đức bắt đầu phải trả từ mùa hè năm 1921 Tuynhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng diễn ra ở Đức đã khiếncho nước này không có khả năng thực tế để trả món nợ đó Sau việc liên quân Pháp
- Bỉ chiếm đóng vùng Ruhr (11 - 1 - 1923), nơi sản xuất 90% sản lượng than và70% sản lượng gang của nước Đức, không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồithường của Đức, một Hội nghị quốc tế đã được triệu tập ở Luân đôn để xem xét lạivấn đề này Hội nghị Luân đôn khai mạc ngày 16 - 7 - 1924 với sự tham gia củacác đại diện Anh (MacDonald), Pháp (Herriot), Italia (Stefani), Nhật (Hayashi), Bỉ(Teinic), Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Rumani, và Mĩ (Kellogg) (về danh nghĩa Mĩ chỉtham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế Mĩ có ảnh hưởng lớn trongHội nghị) Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Dawes có giá trị trong vòng
5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức trong việc phục hồi vàphát triển kinh tế - tài chính để nước này có khả năng trả được các khoản bồithường chiến tranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp Mĩ, Italia quiđịnh như sau:
- Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng;
- Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng;
- Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng;
- Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng;
- Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng
Với kế hoạch Dawes, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng: Phápphải rút khỏi vùng Ruhr (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranh
đã tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ Mĩ và Anh có điều kiện mở rộngảnh hưởng về kinh tế - tài chính vào nước Đức Kế hoạch Dawes đã góp phần quantrọng vào việc phục hồi và phát triển kinh tế Đức Những trận “mưa đô la” từ Mĩ
và Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiện trang bị những kĩ thuật hiện đại và nângcao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức Trong năm đầu thực hiện kế hoạchDawes, khi số tiền Đức cho vay được ấn định là 800 triệu mac, thì trên thực tế Đứcnhận được đến 921 triệu mac (461 triệu của Mỹ, 227 triệu của Anh) Từ đó đếnnăm 1929, Đức đã nhận viện trợ của Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào côngnghiệp khoảng 20 - 25 tỉ mac vàng Số tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợcho các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để phát