Do vậy, giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT nói chung và các trường THPT chuyên nói riêng cần phải trang bị tốt kiến thức giaiđoạn lịch sử này cho các em học sinh, để giúp c
Trang 1SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954”
Tác giả: NGUYỄN THÙY HƯƠNG
Đơn vị: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy - Ninh Bình
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 2Trong tiến trình Lịch sử Việt Nam nói chung và Lịch sử Việt Nam hiệnđại từ năm 1919 đến năm 2000 nói riêng, giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1945-
1954 là một trong những nội dung quan trọng Giai đoạn lịch sử này tuy kéodài 9 năm nhưng khối lượng kiến thức nhiều, có những vấn đề phức tạp, đòihỏi học sinh không chỉ có kiến thức tốt, mà còn phải có trình độ tư duy, kháiquát cao… Phần kiến thức của giai đoạn lịch sử này cũng là một trong nhữngnội dung chính của đề thi THPT Quốc gia, của các đề thi chọn học sinh giỏicấp Tỉnh, cấp Quốc gia hàng năm
Do vậy, giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT nói chung
và các trường THPT chuyên nói riêng cần phải trang bị tốt kiến thức giaiđoạn lịch sử này cho các em học sinh, để giúp các em có một hành trangvững vàng, có thể đạt được thành tích cao trong các kì thi
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi mônLịch sử, trên cơ sở kinh nghiệm của bản thân đúc rút được qua quá trình đượcphân công dạy chuyên Sử và tham gia bồi dưỡng Học sinh giỏi Quốc gia mônLịch sử, tôi chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy và bồi dưỡng Học sinh giỏiQuốc gia trong giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954” Với
đề tài này, tôi mong muốn được trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của mình vớicác đồng nghiệp, nhất là với những giáo viên môn Lịch sử trẻ mới bước vàonghề; cũng như muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dụcmôn Lịch sử trong bối cảnh hiện nay
B NỘI DUNG
Trang 3- Học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng là quá trình tiếp thukiến thức Kiến thức lịch sử lại hết sức phong phú và tăng lên với mức độnhanh chóng mà trường chuyên cũng không sao truyền thụ hết được Trongkhi đó, khả năng hiểu biết và khả năng học tập của con người trong cả cuộcđời là có giới hạn Cho nên, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trườngchuyên cần phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của họcsinh năng khiếu, cần phải làm cho quá trình học tập của học sinh trở thànhquá trình chủ động, tiến dần lên quá trình tự nghiên cứu độc lập
- Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho học sinh chuyên phần lớn là những vấn đề lịch
sử tổng hợp, sâu rộng Nếu không có vốn tri thức phong phú, không thônghiểu và nắm vững tri thức đã có, không có lòng ham muốn hiểu biết, hammuốn học hỏi, tự học, tự tìm tòi, suy nghĩ, và không biết vận dụng kiến thức
đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết đượccác vấn đề đặt ra của đề thi học sinh giỏi các cấp Muốn học sinh có nhữngphẩm chất trên, vai trò của người thày là rất lớn
Trong những năm được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và thamgia bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, khi dạy và ôn luyện phầnLịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, tôi đã tích lũy được một số kinhnghiệm sau:
I LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY
Căn cứ vào SGK Lịch sử 12 Nâng cao, giáo trình Lịch sử Việt Nam1945-1954 (PGS.TS Trần Bá Đệ chủ biên, NXB Đại học Sư phạm 2008), tôichia giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1945-1954 thành các chuyên đề nhằm thuậntiện hơn trong việc lựa chọn nội dung kiến thức để giảng dạy:
1 Chuyên đề: Việt Nam trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (1945-1946)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
Trang 4- Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam sau khi Cách mạng tháng Támthành công.
- Công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền sau khi Cách mạng tháng Támthành công
- Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ
- Cuộc đấu tranh ngoại giao từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
2 Kháng chiến bùng nổ và Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng (1946-1954)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Nguyên nhân bùng nổ của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dânPháp
- Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng
- Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951)
3 Công cuộc xây dựng hậu phương và vai trò của hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Lí luận về vai trò của hậu phương trong chiến tranh
- Những thành tựu trong công cuộc xây dựng hậu phương trên các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
- Vai trò của hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp
4 Những thắng lợi quân sự của quân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Cuộc chiến đấu của các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 mà tiêu biểu là cuộcchiến đấu 60 ngày đêm ở thủ đô Hà Nội
- Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947
- Chiến dịch Biên giới thu đông 1950
- Những chiến dịch phát huy quyền chủ động chiến lược của ta trong nhữngnăm 1951-1953
Trang 5- Cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954.
- Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
5 Cuộc đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Lí luận về đấu tranh ngoại giao
- Hội nghị Giơ-ne-vơ và Hiệp định Giơ-ne-vơ
6 Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Trong chuyên đề này tôi lựa chọn những nội dung sau để dạy:
- Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1954)
(1945 Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945(1945 1954)
Sau khi phân chia thành các chuyên đề cũng như lựa chọn nội dungkiến thức của chuyên đề như trên, ở mỗi chuyên đề tôi thực hiện các bướcnhư sau:
- Xác định các vấn đề cơ bản và các sự kiện tiêu biểu
- Xác định mối quan hệ, tác động giữa tình hình thế giới với tình hìnhtrong nước, của sự kiện trước với sự kiện sau, của giai đoạn 1945-1954với giai đoạn khác
- Tái hiện sự kiện một cách chính xác, khoa học trên quan điểm sử họcmác-xít
- Cuối mỗi chuyên đề đưa ra những câu hỏi để ôn tập, củng cố
II LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY
Lâu nay, theo quan niệm của nhiều người, thậm chí là của cả một bộphận giáo viên dạy Lịch sử cho rằng: Lịch sử là một môn học thuộc, chỉ cầnhọc nhiều, đọc nhiều, nhớ được nhiều sự kiện là trở thành người giỏi sử.Cũng xuất phát từ quan niệm đó mà nhiều học sinh sợ, ngại học môn Sử
Trang 6Muốn trở thành học sinh giỏi môn Lịch sử, trước tiên phải có hứng thúhọc tập bộ môn, phải học, phải nắm được các kiến thức lịch sử cơ bản Tuynhiên, không phải học sinh nào nhớ được nhiều sự kiện, thời gian cũng trởthành giỏi sử, cũng đạt giải cao trong các kì thi học sinh giỏi môn Lịch sử.Các đề thi học sinh giỏi, nhất là đề thi Quốc gia không đòi hỏi thí sinh họcthuộc lòng sách giáo khoa để khi làm bài chép lại như sách mà phải: trên cơ
sở nắm chính xác những sự kiện cơ bản, phù hợp với trình độ học sinh, các
em phải hiểu và giải quyết được vấn đề thực tiễn đặt ra
Thực tế trong dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhiều năm,tôi thấy: muốn trở thành một học sinh giỏi môn Lịch sử, đi thi đạt giải cao,học sinh đó phải có niềm say mê học tập, phải nắm được những kĩ năng học
và làm bài thi môn Lịch sử Động cơ học tập cũng như những kĩ năng học tập
bộ môn không phải tự nhiên, hoặc ngày một ngày hai mà có, mà phải đượccác thày, cô giáo dạy Lịch sử hình thành, bồi dưỡng cho học sinh ngay từ khicác em học lớp 10 trường THPT chuyên
Do vậy, không chỉ khi dạy phần Lịch sử việt Nam giai đoạn
1945-1954, mà trong suốt quá trình dạy cũng như bồi dưỡng Học sinh giỏi ở cấpTHPT, tôi đã tiến hành các biện pháp sau:
II.1 Xác định mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập lịch sử cho học sinh
Về mặt lí luận, xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động
cơ đúng đắn trong học tập Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếpcon người ta hoạt động Mọi động cơ của con người đều là biểu hiện của nhucầu Nhu cầu lại được biểu hiện dưới nhiều hình thức như hứng thú, ý định,ham muốn… Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức của conngười Nếu không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham giatích cực vào bài học, không có hứng thú với bài học, do đó không học tậpmột cách tích cực, không trở thành học sinh giỏi được
Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng đầu tiên phải hình thành mục tiêu,
Trang 7động cơ, thái độ học tập đúng đắn, tức là người thày phải khơi gợi được hứngthú của học sinh đối với việc học tập, giúp các em xác định được mục đíchhọc tập Công việc này được thường được tiến hành trong bài mở đầu, tiếthọc đầu tiên, nhưng vẫn có thể được nhắc lại nhiều lần trong suốt quá trìnhgiảng dạy ở lớp chuyên Sử
Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh có thể được tạo ra bằng sứcmạnh của nội dung bài học: Trong bài mở đầu, giáo viên giúp học sinh thấyđược mục đích, yêu cầu của học kì, của năm học, thậm chí của cả cấp họcđồng thời biết nêu ra 1 số vấn đề trong nội dung học tập có khả năng khêugợi hứng thú của học sinh, khiến các em khao khát muốn được biết, muốnđược chiếm lĩnh tri thức, từ đó kích thích tính tích cực học tập của học sinh
Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh cũng có thể được tạo ra bởiquyền lợi được hưởng của các em (được khen thưởng, được cộng điểm hoặcđược vào thẳng 1 số trường Đại học, Cao đẳng…)
Thông qua việc được giáo viên truyền cảm hứng trong những tiết họcđầu tiên, học sinh xác định được mục tiêu học tập, có động cơ, hứng thútrong học tập môn Lịch sử, đây chính là khởi nguồn để phát huy tính tích cựccủa các em trong học tập, là tiền đề để có học sinh giỏi bộ môn Lịch sử
II.2 Trang bị cho học sinh những kĩ năng học và làm bài
II.2.a Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng nhưtrong học tập Trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức vô cùng quantrọng, là cơ sở để học sinh đi sâu, tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiệntượng lịch sử; là nền tảng để học tập bộ môn có hiệu quả, để vận dụng mộtcách linh hoạt trong học tập và cuộc sống
Lịch sử là cụ thể Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử luôn luôn gắn liềnvới một không gian, thời gian, nhân vật lịch sử nhất định, mà nếu tách cácyếu tố đó ra thì chúng ta không thể hiểu Lịch sử được nữa Vì vậy, trong quátrình dạy học, để học sinh có kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử hiệu quả, giáo
Trang 8viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng và thường xuyên rèn luyện các cáchnhớ, dạng nhớ khác nhau bao gồm: Ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sửđiển hình; Ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớkhông gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ nhân vật lịch sử.
II.2.a.1 Để ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử điển hình: giáo viên có
thể rèn luyện cho học sinh bằng các cách như:
- Tìm ý, diễn đạt các ý bằng ngôn ngữ của mình để ghi nhớ
- So sánh sự kiện này với sự kiện khác tìm ra điểm tương đồng và khác biệt
- Ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử qua hình ảnh
- Sử dụng cách nói ví von để ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử
II 2.a.2 Để ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên
cần hướng dẫn học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu các mốc thời gian quan trọng,làm cơ sở để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử; đồng thờihướng dẫn học sinh cách nhớ thời gian xảy ra sự kiện một cách hiệu quả như:
- Nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách tương đối
- Nhớ thời gian một cách logic
II.2.a.3 Để ghi nhớ không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên
có thể dùng các phương tiện như đồ dùng trực quan (bản đồ, lược đồ, sơ đồlịch sử), tranh ảnh, phim tư liệu kết hợp với trình bày miệng (miêu tả, nêu đặcđiểm ), và tài liệu tham khảo
II.2.a.4 Ghi nhớ nhân vật lịch sử:
Lịch sử là do con người sáng tạo nên, hoạt động của các nhân vật gópphần cụ thể hóa quá trình phát triển của lịch sử, của một chế độ chính trị liênquan đến nhân vật đó Để nhớ các nhân vật lịch sử, giáo viên hướng dẫn chohọc sinh các cách:
- Nêu đặc điểm của nhân vật, kết hợp với tranh ảnh chân dung
- “Lấy người nói việc”
- “Lấy việc nói người”
Trang 9- Nhớ câu nói nổi tiếng của nhân vật hay câu nói của những người nổi tiếng về một nhân vật nào đó…
II.2.b Kĩ năng tư duy lịch sử
Tư duy lịch sử là một hoạt động trí tuệ, giúp con người đi sâu vào nhậnthức bản chất sự kiện, hiện tượng cũng như mối liên hệ, quan hệ có tính quyluật giữa chúng Đặc điểm của tư duy lịch sử là: biết miêu tả, khôi phục lạinhững sự kiện lịch sử quá khứ trên cơ sở tài liệu; nêu được nguyên nhân xuấthiện của sự kiện lịch sử; xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên
hệ của các sự kiện; nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ
sự kiện, nhất là những sự kiện lớn, quan trọng; xác định động cơ hoạt độngcủa những tầng lớp, tập đoàn, cá nhân trong lịch sử; biết liên hệ, so sánh, đốichiếu sự kiện lịch sử với đời sống và rút ra bài học kinh nghiệm
Theo tôi, đối với học sinh nói chung và học sinh chuyên Sử nói riêng,rất cần thiết phải được phát triển kĩ năng tư duy lịch sử Có kĩ năng tư duylịch sử, học sinh mới hiểu được lịch sử, say mê lịch sử và bộ môn Lịch sửmới phát huy hết giá trị “ôn cố tri tân” của mình - tức là học quá khứ để hiểubiết hiện tại và dự đoán tương lai Nếu không có kĩ năng tư duy lịch sử thì đốivới học sinh, môn Lịch sử chỉ là một môn học khô khan, chán ngấy, với mộttập hợp khổng lồ những sự kiện cùng ngày, tháng khó học, khó nhớ, giá trịthực tiễn không cao Khi học sinh không có hứng thú với bộ môn, chắc chắn
sẽ không có nhân tài, không có học sinh giỏi Để phát triển kĩ năng tư duylịch sử cho học sinh chuyên, tôi áp dụng các cách sau: tạo tình huống có vấnđề; sử dụng hệ thống câu hỏi; sử dụng bảng so sánh
II.2.b.1 Tạo tình huống có vấn đề: giáo viên tạo tình huống có vấn đề thông
qua bài tập nhận thức để tập trung sự chú ý của học sinh, làm nảy sinh khátvọng muốn tìm kiếm kiến thức mới để giải đáp những điều chưa biết
Với các bài tập nhận thức, học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề,tức là trong tư duy của các em xuất hiện xung đột, kiến thức cũ không giải
Trang 10quyết được, đòi hỏi phải huy động kiến thức mới để giải quyết, qua đó kíchthích tư duy học sinh phát triển trong suốt bài học.
II.2.b.2 Sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học lịch sử là một trong những
biện pháp có ưu thế để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Trong quátrình dạy học, tôi luôn sử dụng các loại câu hỏi sau để tạo điều kiện cho pháttriển tư duy học sinh:
- Sử dụng loại câu hỏi “Vì sao…?”, “Nguyên nhân nào…?”
- Sử dụng loại câu hỏi “quá trình diễn biến, phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch sử”
- Sử dụng loại câu hỏi “Tìm hiểu kết quả, ý nghĩa…” của sự kiện, hiện
II.2.c Kĩ năng sử dụng sơ đồ lịch sử và sơ đồ tư duy trong học tập
Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một
sự kiện, hiện tượng lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản để họcsinh nắm được những nét đặc trưng của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử vànêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sửdụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duytích cực, nhằm tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa kiến
Trang 11thức của một chủ đề, hay cách giải của một dạng bài tập… So với sơ đồ lịch
sử, sơ đồ tư duy mới được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006, nhưng vẫn chưađược ứng dụng đại trà trong dạy học Lịch sử
Để giúp học sinh học tập bộ môn hiệu quả, nhiều lần tôi đã sử dụng vàhướng dẫn học sinh sử dụng 2 loại sơ đồ này Tuy nhiên do điều kiện cơ sởvật chất nhà trường, nên việc áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy - học mới chỉdừng lại ở cách lập truyền thống với hình thức đơn giản nhất (dùng phấn, bút,bảng, giấy)
II.2.c.1 Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ lịch sử và trình bày kiến thức qua sơ đồ:
- Bước 1: Xây dựng khung sơ đồ
Xác định kiến thức cơ bản nhất và mã hóa bằng các hình quy ước đểlàm khung sơ đồ (sử dụng các hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn…)
- Bước 2: Dùng mũi tên hoặc các đoạn thẳng để nối các khung sơ đồ với nhau
để diễn tả mối quan hệ giữa nội dung các khung sơ đồ
- Bước 3: Hoàn thiện sơ đồ (đặt tên và kiểm tra độ chính xác của sơ đồ)
- Bước 4: Tập trình bày kiến thức theo sơ đồ (theo chiều từ phải sang tráihoặc từ trên xuống dưới, từ đỉnh xuất phát đến đỉnh cuối), ngôn ngữ trình bày
rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu; đánh giá, rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các
sự kiện, hiện tượng lịch sử qua sơ đồ
II.2.c.2 Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ tư duy và trình bày kiến thức qua sơ đồ:
- Bước 1: Xác định chủ đề trung tâm của sơ đồ, chọn cụm từ trung tâm (từkhóa) là tên của bài học hay một mục kiến thức
- Bước 2: Vẽ các nhánh cấp 1 là nội dung (ý chính) của chủ đề trung tâm, tùytheo số lượng nhánh cấp 1 mà bố trí cho cân đối xung quanh (từ khóa) trungtâm
Trang 12- Bước 3: Vẽ bổ sung các nhánh cấp 2, cấp 3, cấp 4… Đây là sự lặp lại củaBước 2, các cụm từ ở nhánh cấp 1 bây giờ là (từ khóa) trung tâm của nhánhđó.
- Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ tư duy, đặt tên
- Bước 5: Trình bày kiến thức qua sơ đồ tư duy bằng ngôn ngữ rõ ràng, ngắngọn, dễ hiểu
II.2.d Kĩ năng làm bài thi môn Lịch sử
Thi học sinh giỏi môn Lịch sử hiện nay vẫn theo hình thức thi tự luận.Mỗi đề thi học sinh giỏi cấp Quốc gia có nhiều câu (7 câu), trong một thờigian có giới hạn (180 phút), đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng làm bài cơ bảnmới giải quyết được đề thi Kĩ năng làm bài gồm có: nhận thức đề, giải quyết
đề, phân phối thời gian và trình bày bài
II.2.d.1 Nhận thức đề và Giải quyết đề:
Đề thi học sinh giỏi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi có thể đề cập tớimột hoặc nhiều sự kiện, vấn đề Các câu hỏi trong đề thi học sinh giỏi nhất làcấp Quốc gia thường ra theo các cấp độ nhận thức như sau:
- Nhận biết: thể hiện qua các động từ “nêu, liệt kê, trình bày, kể tên,
nhận biết…”
- Thông hiểu: thể hiện qua các động từ “hiểu được, giải thích, phân
biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…”
- Vận dụng (bậc thấp): thể hiện qua các động từ “xác định, dự đoán,
thiết lập liên hệ, phân biệt, chứng minh, phân tích, so sánh…”
- Vận dụng (bậc cao): thể hiện qua các động từ “bình luận, nhận xét,
đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…”
Để làm một bài thi tốt, cần phải xác định đúng đề bài, xác định đúngyêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm từng câu hỏi: câu hỏi yêu cầu trình bàykiến thức nào, diễn ra trong thời gian nào, không gian nào; làm theo cáchnào Vì vậy, nếu không hiểu kĩ đề và không biết cách giải quyết các câu hỏithì khó có thể bài bài đúng, đủ nội dung, không thể đạt kết quả cao Để học