1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 – 1954

22 552 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 35,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, vừa kháng chiến vừakiến quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kìnày: + Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ năm 1950chống cả sự can thiệp

Trang 1

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

-HỘI THẢO KHOA HỌC, LẦN THỨ VIII

MÔN: LỊCH SỬ

Chuyên đề:

Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện

học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử Việt

Nam Giai đoạn 1945 – 1954

Tác giả : Nhóm giáo viên Chuyên Sử

Trường THPT Chuyên Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa

THANH HÓA, THÁNG 8 NĂM 2015

Tuy nhiên, cũng như các khối chuyên Sử của các trường chuyên trêntoàn quốc, công việc giảng dạy Lịch sử cho học sinh khối chuyên Sử củatrường chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn Do số học sinh chuyên năng lựchọc tập không cao, học yếu các môn khác nên chọn vào chuyên Sử, điểmtuyển đầu vào của lớp chuyên Sử cũng thấp hơn so với các chuyên khác,

Trang 2

trình độ nhận thức của các em trong một lớp không đồng đều Vì vậy, so vớicác lớp chuyên khác, chất lượng học tập của chuyên Sử thấp hơn Đây làmột trở ngại lớn đối với giáo viên khi được phân công phụ trách lớp Thực tếtrên đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp, kinh nghiệm giảng dạy để đàotạo, tuyển chọn những học sinh có năng khiếu vượt trội tham gia kì thi họcsinh giỏi quốc gia môn Lịch sử hàng năm.

Bên cạnh đó, được Bộ giáo dục định hướng về khung chương trình mônchuyên, học sinh lớp chuyên Sử ngoài việc lĩnh hội những tri thức cơ bảntrong sách giáo khoa nâng cao, còn được học các chuyên đề chuyên sâunhằm nắm vững, nắm sâu hơn về một vấn đề, một giai đoạn, một nhân vậtlịch sử điều đó đặt ra cho các giáo viên dạy chuyên ngoài việc nghiên cứutài liệu phải biết lựa chọn các nội dung phù hợp chương trình, phù hợp cấutrúc đề thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ giáo dục và đào tạo qui định

Song, hiện nay để phục vụ cho việc đào tạo học sinh giỏi quốc gia, giáoviên dạy Sử ở các trường chuyên còn gặp nhiều khó khăn: giáo viên đượctập huấn dạy chuyên không được thường xuyên, chủ yếu dạy bằng kinhnghiệm thực tiễn đúc rút qua quá trình giảng dạy, các loại tài liệu phục vụcho môn chuyên không nhiều, chịu áp lực lớn về chất lượng giải Do đó,mong muốn được trao đổi kinh nghiệm dạy học, lựa chọn nội dung dạy học,đổi mới phương pháp giảng dạy trong dạy học nói chung, đặc biệt trongcông tác đào tạo học sinh giỏi nói riêng là nhu cầu chính đáng

Với những lí do trên, đến với hội thảo khoa học các trường trung họcphổ thông chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ lần thứ VIII,

chúng tôi xin trình bày chuyên đề: “Lựa chọn nội dung và phương pháp

ôn luyện học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954”.

Lần đầu tiên tham gia hội thảo, chúng tôi mong muốn nhận được sự bổsung góp ý của các đồng nghiệp Hy vọng trong buổi hội thảo chúng ta đisâu trao đổi, thảo luận nhiều hơn, để chuyên đề được hoàn thiện và có thể trởthành tài liệu sử dụng cho công tác đào tạo học sinh giỏi hàng năm

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I Nội dung ôn luyện lịch sử Việt Nam thời kì 1945 - 1954 (Sau

thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày 21 - 7 - 1954).

1 Kiến thức chung học sinh cần nắm vững:

- Trong hơn năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, đất nước gặp muônvàn khó khăn thử thách, tình thế hết sức hiểm nghèo, khác nào “Ngàn cântreo sợi tóc” Nhân dân ta vừa xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựngchính quyền dân chủ nhân dân, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn vềtài chính, vừa đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ độc lập Từcuối năm 1946, toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháptrên phạm vi cả nước

- Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) tiến hành trong điều kiệnnước ta đã giành được độc lập và chính quyền Vì vậy, vừa kháng chiến vừakiến quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kìnày:

+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ năm 1950chống cả sự can thiệp của đế quốc Mĩ, trải qua nhiều giai đoạn với các mốcchiến thắng Việt Bắc thu - đông năm 1947, chiến thắng Biên giới thu - đôngnăm 1950, chiến thắng Đông - Xuân năm 1953 - 1954, Điện Biên Phủ là trậnthắng quyết định dẫn tới việc kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm

1954, kết thúc chiến tranh

+ Công cuộc kiến quốc nhằm xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân,phục vụ kháng chiến, phục vụ dân sinh, tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hộisau khi chiến tranh kết thúc

2 Lựa chọn nội dung dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954:

2.1 Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền, đấu tranh chống

ngoại xâm nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng (2-9-1945 đến

Trang 4

19-12-1946): Sau Cách mạng tháng Tám, nước ta có nhiều thuận lợi và cũng có

nhiều khó khăn

a Thuận lợi :

- Thế giới: Cuối 1945 chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, thắng lợithuộc về Hồng quân Liên Xô và các lực lượng hòa bình dân chủ Bọn phátxít Đức-Ý-Nhật bị tiêu diệt, bọn đế quốc Anh - Pháp - Mỹ bị suy yếu đinhiều Tình hình đó làm cho hàng loạt các nước dân chủ nhân dân và xã hộichủ nghĩa ở châu Á, châu Âu ra đời, hợp cùng với Liên Xô thành một hệthống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, Phong trào giải phóng dân tộclên cao, nhất là ở châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh Phong trào đấu tranh vìhòa bình và quyền sống, vì tự do dân chủ của giai cấp công nhân và nhândân lao động các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh, tất cả tạo thành 3dòng thác cách mạng cùng tiến công vào chủ nghĩa đế quốc có lợi cho cáchmạng Việt Nam

+ Dân tộc ta có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm kiên cường bấtkhuất, cần cù sáng tạo trong lao động xây dựng đất nước

b Khó khăn:

- Thế giới: Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Việt Nam làmảnh đất thuộc địa đầu tiên trên thế giới giành được độc lập, làm cho bọn đếquốc căm tức điên cuồng Chúng sợ từ một đốm lửa nhỏ của cách mạng ViệtNam sẽ làm bùng cháy lây lan tới cả ngôi nhà thuộc địa của chúng Vì thếchúng hùa nhau lại để chống phá cách mạng Việt nam một cách quyết liệt vàdai dẳng gây khó khăn rất lớn cho ta

- Trong nước:

+ Về kinh tế và tài chính: Chúng ta phải tiếp thu một gia tài mục nát dohậu quả hơn 80 năm cai trị của Pháp, 5 năm của phát xít Nhật và hàng nghìnnăm của chế độ phong kiến để lại Mọi ngành sản xuất đều đình đốn, phầnlớn ruộng đất bị bỏ hoang, nhà máy đóng cửa, công nghiệp hầu như không

có gì Nạn đói từ cuối năm 1944 đến đầu 1945 đã cướp đi hơn 2 triệu ngườigiờ đây vẫn còn đang tiếp diễn Gạo ở Nam Bộ không chở ra được vì Pháp

Trang 5

đã gây ra chiến tranh xâm lược Nam Bộ từ ngày 23/9/1945 làm cho giaothông tắc nghẽn Quân Tưởng kéo vào miền Bắc bắt ta nộp 40 vạn cân gạo/mỗi ngày Vụ mùa năm 1945 miền Bắc lại ngập lụt lớn 6 tỉnh đồng bằngvựa lúa bị thất thu Nạn thất nghiệp lan tràn.

Nguồn tài chính của đất nước hầu như cạn kiệt Ngân quỹ Nhà nước chỉcòn 1.23 triệu đồng tiền rách Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tayNhật, ta không phát hành được giấy bạc Quân Tưởng tung tiền Quan kimmất giá của chúng bắt ta tiêu làm rối loạn thị trường

+ Về văn hóa xã hội: Hơn 90% dân ta bị mù chữ, các tệ tục cũ còn đầyrẫy, nạn mê tín, dị đoan hoành hành, bệnh dịch lan tràn, thuốc men thiếuthốn Nạn trọng nam khinh nữ, nạn tảo hôn còn phổ biến khắp mọi nơi.+ Chính quyền: Sau Cách mạng tháng Tám đã có chính quyền nhưngchỉ là lâm thời, chưa có cơ sở pháp lý để tồn tại Quân đội vừa mới xây dựngtrang bị kém cỏi, vũ khí thô sơ, thiếu kinh nghiệm tác chiến

+ Về đối ngoại: Cùng một lúc trên đất nước ta có hàng loạt kẻ thù, từ vĩtuyến 16 trở ra 20 vạn quân Tưởng kéo vào, sau lưng quân Tưởng là bọnquan thầy Mỹ, Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam hơn một vạn quân Anh đã đổ bộxuống Núp sau quân Anh là thực dân Pháp - kẻ đang có ý đồ trở lại ĐôngDương Đó là chưa kể 6 vạn quân Nhật vẫn còn nguyên vũ khí Sau lưngbọn đế quốc là hàng loạt lũ tay sai đủ các loại hình, tiêu biểu nhất là bọnViệt Nam quốc dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạngđồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách)

Tất cả tình hình trên đã đặt nước Việt Nam đứng trước tình thế “ngàncân treo sợi tóc” Nhìn chung, ta thấy khó khăn tuy nhiều và lớn song chỉ làtrước mắt và tạm thời, thuận lợi vẫn là cơ bản và lâu dài Nếu có nhữngchính sách đúng đắn về đối nội cũng như về đối ngoại thì ta có thể khắcphục được khó khăn, phát huy thuận lợi củng cố giữ vững được chính quyềncách mạng, xây dựng được nền móng cho chế độ mới và thúc đẩy cáchmạng tiến lên

c Những chủ trương và biện pháp của ta nhằm khắc phục khó khăn: Phát huy thuận lợi để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, đấu

tranh chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng

- Chính trị, quân sự: Ngày 6/1/1946 ta tổ chức một cuộc tổng tuyển

cử tự do trong toàn quốc để bầu Quốc hội chính thức Kết quả là hơn 98%tổng số cử tri của cả nước đã đi bầu Chúng ta đã bầu được Quốc hội chínhthức, Quốc hội lại bầu ra Chính phủ chính thức vẫn do Hồ Chí Minh làmChủ tịch Quốc hội cũng cử ra một ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chủ Tịchlàm Trưởng ban, tới tháng 10/1946 ta đã thông qua được bản Hiến pháp của

ta Đây là bản Hiến pháp dân chủ nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ Đến đây

ta đã tạo được cơ sở pháp lý cho chính quyền, một chính quyền của dân, dodân bầu ra, bọn đế quốc không dễ gì xóa bỏ được Để tạo chỗ dựa cho chính

Trang 6

quyền, một mặt ta ra sức củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứuquốc, mặt khác ta cho thành lập thêm một mặt trận mới lấy tên là “Hội liênhiệp quốc dân Việt Nam” gọi tắt là Mặt trận Liên Việt để thu hút thêm một

số trí thức và một số người thuộc tầng lớp trên chưa vào Mặt trận Việt Minh,làm cho khối đoàn kết dân tộc thêm mở rộng Ta ra sức phát triển lực lượng

vũ trang để làm công cụ bảo vệ chính quyền

- Kinh tế và tài chính: Như Hồ Chủ Tịch đã nói trước mắt chúng ta có

ba kẻ thù là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Nhưng trước hết phảichống giặc đói, giặc dốt vì giặc đói và giặc dốt là bạn đồng minh của giặcngoại xâm

+ Về kinh tế: Để giải quyết nạn đói, trước mắt ta chủ trương dựa vàodân bằng cách vận động đồng bào tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tổ chức phongtrào “hũ gạo tiết kiệm”, “ngày đồng tâm”, Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi toàndân cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo giúp người đói Bản thân Ngườicũng gương mẫu thực hiện, cả nước làm theo Còn về lâu dài ta vận độngđồng bào đẩy mạnh tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm Ta trồng cây ngắnngày xen kẽ cây dài ngày Vụ chiêm 1946 miền Bắc bội thu Nhờ vậy, chỉmột thời gian ngắn nạn đói được đẩy lùi

+ Về tài chính: Chính phủ chủ trương dựa vào dân bằng cách vận độngđồng bào ủng hộ cách mạng Ta tổ chức quyên góp, vận động đồng bào muatín phiếu, mua công trái quốc gia: Vận động nhân dân xây dựng “Quỹ độclập” và phong trào “Tuần lễ vàng” Chỉ trong một thời gian ngắn, đồng bào

cả nước đã góp đưuọc 20 triệu bạc và 370kg vàng Ngày 31/01/1946, Chínhphủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam và đến ngày 23/11/1946, Quốc hộiquyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước

- Văn hóa xã hội: Ngày 8/9/1945 Chính phủ ban hành sắc lệnh thành

lập Nha bình dân học vụ và phát động phong trào thi đua diệt dốt, đuổi dốt.Kết quả hàng vạn lớp học được mở ra, với tinh thần người biết chữ dạy lạicho người chưa biết chữ, người học trước dạy người học sau Chỉ một thờigian ngắn đa số đồng bào đã biết đọc biết viết Tiếp đó các lớp bổ túc vănhóa được mở ra cho người lớn, các lớp phổ thông (chủ yếu là bậc tiểu học)đón con em nhân dân lao động vào trường Ta đấu tranh chống các hủ tục

cũ, bài trừ mê tín dị đoan, vận động nhân dân xây dựng đời sống mới, pháttriểu báo chí, thông tin văn hóa, văn nghệ làm cho đời sống tinh thần củanhân dân được vui tươi và lành mạnh, dần dần xây dựng cơ sở pháp lý chochính quyền

Đến đây, ta đã xây dựng được cơ sở vật chất, cơ sở xã hội và cơ sởpháp lý cho chính quyền, tức xây dựng nền móng cho chế độ mới, tạo đượcthực lực cho ta để đấu tranh chống giặc ngoại xâm có kết quả, vì “ta có thựclực họ mới đếm xỉa đến, còn nếu ta không có thực lực thì ta chỉ là một khí cụtrong tay của kẻ khác dẫu kẻ đó là người bạn đồng minh của ta vậy”

Trang 7

- Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản: Đảng và Chính phủ cách

mạng đã có sách lược đúng đắn chống Pháp và Trung Hoa Dân quốc Sáchlược đó chia làm 2 giai đoạn trước 6/3/1946 và từ 6/3/1946 đến trước19/12/1946

+ Trước 6/3/1946 Đảng và Chính phủ chủ trương chống Pháp ở Nam

Bộ và tạm thời hòa hoãn Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc theo phươngchâm “biến xung đột to thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không

có xung đột”

+ Từ 6/3/1946 đến trước 19/12/1946, trước tình thế nguy hiểm do Pháp bắt tay nhau, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, do Hồ Chí Minhchủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến” Chủ trương đúng đắn trên cùng vớicác hoạt động ngoại giao sau đó đã đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dânquốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta, kéo dài thời gian hòa hoãn để xâydựng, củng cố lực lượng chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc khótránh khỏi

Hoa-Biết xác định kẻ thù chính nguy hiểm nhất để cô lập và tập trung mũinhọn đấu tranh vào chúng, hòa hoãn với những kẻ thù có thể hòa hoãn được,với sách lược mềm dẻo, linh hoạt, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc với

kẻ thù, Đảng, chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điều hànhxuất sắc hoạt động đối ngoại, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộcđấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân

2.2 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ (1946-1954 ):

a/ Đường lối kháng chiến chống Pháp (1946-1954):

- Để tiến hành được chiến tranh, mỗi bên tham chiến đều phải vạch rađường lối chiến tranh cho mình Kẻ địch có đường lối chiến tranh củachúng Đó là đường lối chiến tranh xâm lược mang tính chất phi nghĩa, mấtlòng dân Ngược lại, ta tiến hành chiến tranh là để bảo vệ độc lập của TổQuốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, chiến tranh vì dân, được dân ủng

hộ Ta có điều kiện dựa vào dân Đường lối kháng chiến của ta là đường lốichiến tranh nhân dân Đường lối ấy xuất phát từ những văn kiện chính sauđây:

+ Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của Ban Thường vụ Trung ương Đảng(tháng 11/1945);

+ Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng(ngày 12/12/1946);

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch (ngày19/12/1946);

+ Từ một số bài báo của đồng chí Trường Chinh viết hồi đầu khángchiến để hướng dẫn dân ta kháng chiến, sau tập hợp lại in thành cuốn

“Kháng chiến nhất định thắng lợi” (xuất bản lần đầu 1947)

Trang 8

Từ những văn kiện chính ấy dần dần đi đến hình thành đường lối khángchiến cho ta Đường lối đó là “Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ

và tự lực cánh sinh”

• Kháng chiến toàn dân, nghĩa là huy động sức mạnh của mọi người dântham gia vào công cuộc kháng chiến Sở dĩ như vậy là vì cách mạng là sựnghiệp của quần chúng Còn về thực tiễn ta kháng chiến là để bảo vệ độc lậpcủa Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, kháng chiến vì dân phải do dânlàm Ta chủ trương kháng chiến toàn diện nên phải kháng chiến toàn dân đểmọi người dân đều được đóng góp tùy theo khả năng và sở trường của mình

Ta chủ trương kháng chiến trường kỳ và tự lực cánh sinh, dựa vào dân mới

có tiềm lực đánh lâu dài Cuối cùng kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta chothấy, xưa nay tất cả những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi đềuphải biết dựa vào dân

• Kháng chiến toàn diện: nghĩa là kháng chiến về mọi mặt Vì thực tiễnđịch đánh ta toàn diện, ta phải chống lại chúng trên tất cả các mặt, mặt khác

ta vừa kháng chiến lại vừa phải kiến quốc xây dựng chế độ dân chủ nhândân

• Kháng chiến trường kỳ: nghĩa là đánh lâu dài Sở dĩ như vậy vì sự vậtphát triển phải là một quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từchưa hoàn thiện đến hoàn thiện, xen kẽ những bước nhảy vọt; Còn về thựctiễn mở đầu chiến tranh chiến địch mạnh hơn ta rất nhiều về quân sự, chúng

có cả một đội quân xâm lược nhà nghề, trang bị hiện đại, vũ khí tối tân.Ngược lại, quân đội ta vừa thành lập trang bị kém cỏi vũ khí thô sơ Địch lại

có các đế quốc khác giúp đỡ Ta đánh lâu dài để vừa đánh vừa tiêu hao dầnlực lượng của địch, phát triển dần lực lượng của ta làm cho lực lượng đôibên chuyển hoá, đến một lúc nào đó, ta mạnh hơn địch mới đánh bại được kẻđịch

• Tự lực cánh sinh: nghĩa là hoàn toàn tự mình chứ không nhờ vả vào

ai Còn về thực tiễn mở đầu chiến tranh ta bị bao vây tứ phía Mãi đến cuốinăm 1950 sau khi có chiến thắng Biên giới ta mới nhận được viện trợ từngoài vào Tuy nhiên, ta vẫn coi “Dựa vào sức mình là chính”

Bốn mặt trên đây của đường lối là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, cóliên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Đường lối đótiếp tục bổ sung trong suốt quá trình phát triển của cuộc kháng chiến Mãiđến tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đườnglối ấy mới được đưa ra thảo luận và chính thức thông qua Đường lối khángchiến đúng đắn của ta đã có ý nghĩa quyết định đối với những thắng lợi củacuộc kháng chiến

b/ Những thắng lợi có tính chất bước ngoặt về quân sự, chính trị và ngoại giao:

Trang 9

- Những thắng lợi về quân sự:

* Chiến thắng Việt Bắc (1947)

Sau khi thất bại ở mặt trận Hà Nội, Pháp rất cay cú và chúng quyếtđịnh mở cuộc tấn công có quy mô lớn lên chiến khu Việt Bắc nhằm ba mụcđích chính là: tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, tiêu diệt cơ quan đầu não củacuộc kháng chiến, phá tan căn cứ Việt Bắc Để thực hiện âm mưu đó, Pháp

đã huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm đủ các quân binh chủng vàcác loại máy bay có ở Đông Dương

Về phía ta, Đảng quyết định bằng mọi giá phải đánh bại cuộc tấn côngcủa địch lên Việt Bắc nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho ta,ngày 7/10/1947, chiến dịch bắt đầu Ta chủ động tấn công bao vây cánhquân dù và đã đạt thắng lợi to lớn ở Thái Nguyên và Bắc Cạn Trên sông Lô

ta đánh chúng ở Đoan Hùng Trên đường số 4, đường Lạng Sơn-Cao Bằng

ta tấn công quân bộ Ngày 19/12/1947 chiến dịch kết thúc và thắng lợi thuộc

về ta

Chiến thắng Việt Bắc đã có ý nghĩa to lớn về chính trị quân sự:

+ Về quân sự: sau hơn hai tháng chiến đấu dũng cảm ta đã tiêu diệt vàbắt sống 6300 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, đánh chìm 11 ca nô, thu nhiều

vũ khí và phương tiện chiến tranh

+ Về chính trị: chiến thắng này làm phá sản hoàn toàn chiến lược đánhnhanh thắng nhanh của Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài vớita

Đặc biệt là chiến thắng này làm thay đổi cách nhìn nhận, so sánh về lựclượng có lợi cho ta Lực lượng của ta từ thế yếu hơn đến chỗ cân bằng vớichúng

* Chiến thắng Biên giới 1950:

Bước sang năm 1950, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biếnchuyển mới thuận lợi cho ta, cho phép ta mở một chiến dịch lớn nhằm xoaychuyển hẳn cục diện chiến tranh Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Đảng ta đãquyết định mở chiến dịch biên giới (Thu Đông 1950) nhằm 3 mục đích là:

- Tiêu diệt 1 bộ phận sinh lực địch;

- Giải phóng thêm đất, thêm dân, củng cố và mở rộng thêm căn cứ địa Việt Bắc;

- Khai thông biên giới Việt Trung, nối liền cách mạng nước ta với cácnước xã hội chủ nghĩa anh em

Để thực hiện chiến dịch này, ta huy động hàng chục vạn đồng bào cácdân tộc, mở đường, vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực ra mặttrận với khẩu hiệu “Tất cả cho chiến dịch toàn thắng”

Chiến dịch bắt đầu ngày 16/9/1950 Mở đầu, ta đã tấn công vị trí ĐôngKhê, đó là vị trí quan trọng trên đường số 4 Sau ngày ta tiêu diệt được vị trí

Trang 10

này, dồn địch vào thế bị động Chúng phải rút quân từ Cao Bằng về và đưaquân từ Lạng Sơn lên ứng cứu Ta đã phục kích và đánh tan hai cánh quânnày, buộc chúng phải rút bỏ nhiều vị trí như: Thất Khê, Na Sầm, ĐồngĐăng Đến ngày 17/10/1950 chiến dịch kết thúc và thắng lợi thuộc về ta.Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng về chính trị và quân sự:

+ Ta đã tiêu diệt và bắt sống trên 11500 tên, thu trên 3000 tấn vũ khí vàphương triện chiến tranh, khai thông tuyến biên giới Việt - Trung dài750km, giải phóng thêm được 4000 km2 đất đai và 35 vạn dân

+ Về chính trị, chiến thắng này đã xoay chuyển hẳn cục diện chiếntranh có lợi cho ta Lực lượng của ta mạnh dần lên Ta luôn luôn chủ độngtấn công chúng Địch luôn luôn bị động đối phó với ta

* Chiến thắng Điện Biên Phủ

Sau 8 năm tiến hành cuộc chiến tranh ở Đông Dương, thực dân Pháp đãkhông đạt được mục đích quân sự và chính trị Nhưng với bản chất ngoan cố

và hiếu chiến Tháng 5 năm 1953, chúng cử đại tướng Nava sang làm Tổngchỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Vừa đặt chân đến Sài Gòn, tên tướngnày đã vạch ra một kế hoạch gồm 2 bước:

- Bước 1: Thu Đông 1953 và Xuân Hè 1954, phòng ngự miền Bắc, tấncông miền Nam

- Bước 2: Thu Đông 1954 trở đi sau khi ổn định miền Nam sẽ mở cuộctấn công tổng lực miền Bắc và kết thúc chiến tranh Kế hoạch Nava dự định

sẽ bình định xong Việt Nam trong vòng 18 tháng

Về phía ta, phát huy quyền làm chủ chiến lược vừa giành được ta liêntiếp mở các chiến dịch lớn như: Tây Bắc, Trung Lào, Thượng Lào, TâyNguyên và Nam Bộ để buộc địch phải bị động và phân tán lực lượng đối phóvới ta Kế hoạch Nava có nguy cơ bị phá sản Trước tình thế đó, thực dânPháp buộc phải xây dựng ở Điện Biên Phủ một căn cứ quân sự lớn ĐiệnBiên Phủ trở thành khâu chính trong kế hoạch của Nava Căn cứ này dàikhoảng 10-18 km, rộng 6-7 km bao gồm 49 vị trí kiên cố, có 2 sân bay làMường Thanh và Hồng Cúm, cùng nhiều cụm cứ điểm quân sự khác Lựclượng của địch gồm 16.200 quân tinh nhuệ và các phương tiện chiến tranhhiện đại nhất ở Đông Dương Chúng chia Điện Biên Phủ làm 3 quân khu:

- Phân khu Bắc gồm 3 vị trí: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo

- Phân khu trung tâm Mường Thanh: ở đây có sở chỉ huy của địch

- Phân khu Nam: Hồng Cúm

Mỹ và Pháp kiêu căng tuyên bố “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khảxâm phạm” Chúng ngang nhiên thách thức quân ta lên Tây Bắc giao chiến.Sau khi đã phân tán được địch, Đảng đã quyết định chọn Điện Biên Phủ

để đánh trận quyết chiến chiến lược với địch nhằm đánh bại ý chí xâm lượccủa địch, kết thúc chiến tranh Thực hiện chủ trương trên, Đảng ta đã huyđộng toàn quân, toàn dân dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược này với

Trang 11

khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ”.Chiến dịch Điện Biên Phủ chia làm 3 đợt :

- Đợt 1, từ ngày 13-17/3/1954: ta đánh địch ở phân khu Bắc gồm HimLam, Độc Lập và Bản Kéo, sau 4 ngày ta đã tiêu diệt được phân khu này

- Đợt 2, từ ngày 30/3-26/4/1954: bằng chiến thuật vây lấn, ta đánh địch

ở phân khu trung tâm Tại đây cuộc chiến đấu diễn ra gay go ác liệt, nhất làđồi A1

- Đợt 3, từ ngày 1-7/5/1954: Quân ta tổng công kích Ngày 7/5/1954 lá

cờ chiến thắng của ta tung bay trên nóc sở chỉ huy địch

Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, ta tiêu diệt và bắt sống 16.200tên, bắn rơi 62 máy bay, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh củađịch Đây là chiến thắng oanh liệt nhất trong lịch sử chống Pháp của nhândân ta Chiến thắng này đã góp phần quyết định vào việc buộc địch ký vàohiệp định Giơ-ne-vơ để kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

• Cũng vào năm 1951, ta đã lập tờ báo nhân dân làm cơ quan tuyêntruyền ngôn luận chính thức của Đảng ta

• Năm 1952, ta tiến hành thành công Đại hội tuyên dương anh hùngchiến sĩ thi đua trong toàn quốc và đã lựa chọn tuyên dương được 7 anhhùng

d Những thắng lợi về ngoại giao:

• Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công Từ năm 1950 hệthống xã hội chủ nghĩa được hình thành Liên Xô, Trung Quốc và các nước

xã hội chủ nghĩa khác đã lần lượt đặt quan hệ ngoại giao và ủng hộ rất tíchcực cuộc kháng chiến của ta

• Từ ngày 8-5 đến 21-7/1954 họp hội nghị Giơ-ne-vơ buộc thực dânPháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ (21/7/1954) để chấm dứt chiến tranh, lậplại hòa bình ở Đông Dương

2.4 Tính chất toàn diện của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954)

(1946-a Giải thích vì sao phải kháng chiến toàn diện: nghĩa là kháng chiến

về mọi mặt Vì thực tiễn địch đánh ta toàn diện, ta phải chống lại chúng trên

Ngày đăng: 04/01/2016, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w