2.3, Quy luật hoạt động:+ Trong điều kiện bình thường hay sinh lý: Vật chất trong thiên nhiên và các loại hoạt động của cơ thể liên quan mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau để v
Trang 11 MÔN LÝ THUYẾT CHUYÊN NGÀNH:
I Phần lý lu n cơ bản: ận cơ bản:
1, Học thuyết Âm dương, ngũ hành, tạng phủ, kinh lạc.
2, Nguyên nhân gây b nh, tứ chẩn, bát cương, h i chứng bệnh, những ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những ội chứng bệnh, những nguyên tắc chữa b nh ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
II Phương tễ: Các bài thuốc:
1, Đại cương về bài thuốc.
2, Bài thuốc trừ hàn.
3, Bài thuốc thanh nhi t. ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
4, Bài thuốc Bổ.
5, Bài thuốc lý khí, hành huyết, chỉ huyết.
6, Bài thuốc giải biểu.
7, Bài thuốc trừ đàm.
8, Bài thuốc lợi thuỷ thẩm thấp.
9, Bài thuốc an thần.
10, Bài thuốc cố sáp.
11, Bài thuốc bình can tức phong.
12, Bài thuốc chỉ khái.
III B nh học : ệnh học :
+ N i khoa: ội khoa:
Trang 21 Tăng huyết áp.
2 Viêm loét dạ dày tá tràng.
3 Sỏi th n, sỏi tiết ni ận, sỏi tiết ni ệu.
4 Đau dây TK hông.
5 Tai biến mạch máu não.
+ Nhi khoa:
6 Suy dinh dưỡng trẻ em.
7 Ỉa chảy trẻ em.
15. Sỏi đường tiết ni u ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
2 MÔN THI THỰC HÀNH:
Trang 3 Làm b nh án YHHĐ và YHCT: Gồm khám, chẩn đoán, điều trị, ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những phòng b nh ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
Nh n biết, nêu tính vị, quy kinh, tác dụng các vị thuốc thường ận, sỏi tiết ni dùng.
Thực hành châm và bấm huy t xoa bóp điều trị b nh ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC THI TỐT 1 Quế chi.
Trang 48 Tang ký sinh.
9 Thiên niên ki n.ệnh, tứ chẩn, bát cương, hội chứng bệnh, những
10.Ké đầu ngựa.
32.Tục đoạn 33.Phá cố chỉ 34.Đỗ trọng 35.Đẳng sâm 36.Hoài sơn 37.Phục linh 38.Đương quy 39.Chi tử.
40.Thạch cao 41.Sinh địa 42.Huyền sâm 43.Kim ngân 44.Liên kiều 45.Hoàng liên 46.Hoàng cầm 47.Hoàng bá 48.Trạch tả 49.Ý dĩ.
50.Kim tiền thảo 51.Tam thất 52.Hạnh nhân.
Trang 561.M c hương.ội chứng bệnh, những
62.Chỉ thực – chỉ xác 63.Đan sâm.
64.Xuyên khung 65.Ngưu tất.
66.Bạch tru t.ận, sỏi tiết ni
Trang 6Phần I: Lý luận cơ bản
I Học thuyết âm dương – Ngũ hành – Tạng phủ:
A- Học thuyết Âm Dương:
1, Định nghĩa: từ vài nghìn năm trước, người xưa đã nhận thấy sự vật luôn
luôn có mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá đểphát sinh, phát triển và tiêu vong, gọi là học thuyết âm dương
2, Các quy luật cơ bản của học thuyết: Gồm 4 quy luật cơ bản:
a Âm – Dương đối lập (đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai
mặt âm dương):
Hai mặt Âm - Dương luôn đối lập nhau (VD: ngày - đêm, nước - lửa, ức chế - hưngphấn)
b Âm – Dương hỗ căn (hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau):
Hai mặt âm - dương tuy đối lập nhưng nương tựa lẫn nhau trong sự tồn tại và pháttriển của sự vật, và mới có ý nghĩa Cả 2 mặt đều là tích cực của sự vật, không thểđơn độc phát sinh, phát triển được (VD: có đồng hoá mới có dị hoá, có số âm mới cósố dương, nếu không có quá trình này thì quá trình kia không tiếp tục tồn tại và pháttriển được)
c Âm – Dương tiêu trưởng (tiêu là sự mất đi; trưởng là sự phát triển):
- Quá trình này nói lên sự vận động không ngừng và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa 2mặt âm - dương (VD: khí hậu trong năm thay đổi từ lạnh sang nóng → là quá trình âmtiêu dương trưởng; từ nóng sang lạnh → là quá trình dương tiêu âm trưởng, do đókhí hậu có 4 mùa: mát, lạnh, ấm, nóng)
- Sự vận động của 2 mặt âm - dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó sẽ
chuyển hoá sang nhau gọi là “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương” “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn” → trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc
phần dương (VD: sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (VD: gây mất nước);hoặc bệnh ở phần âm (VD: mất nước, mất điện giải) đến mức độ nào đó sẽ ảnhhưởng đến phần dương (VD: gây choáng, truỵ mạch, thoát dương, …)
Trang 7d Âm – Dương bình hành (bình hành là sự thăng bằng, quân bình):
- Hai mặt âm - dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn lập lại đượcthế thăng bằng, thế quân bình giữa 2 mặt
- Sự mất thăng bằng giữa 2 mặt âm - dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất, vậnđộng và nương tựa lẫn nhau của vật chất
3, Ba cặp phạm trù của quy luật Âm – Dương:
a. Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt âm – dương:
- Sự đối lập giữa 2 mặt âm - dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thểnào đó có tính chất tương đối [VD: hàn (lạnh) thuộc âm >< nhiệt (nóng) thuộc dương;lương (mát) thuộc âm >< ôn (ấm) thuộc dương Vì thế trên lâm sàng, sốt là nhiệt →thuộc dương Nếu sốt cao thuộc lý → dùng thuốc hàn, sốt nhẹ thuộc biểu → dùngthuốc lương (mát)]
b. Trong âm có dương, trong dương có âm:
- Âm - Dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ vào nhau trong sựphát triển (VD: trong 24h: ban ngày thuộc dương có: 6h-12h là dương trong dương,12h-18h là âm trong dương; ban đêm thuộc âm có: 18h-24h là âm trong âm, 0h-6h làdương trong âm)
- Trên lâm sàng, dùng thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt, cần chú ý tránh cho ra mồhôi nhiều gây mất nước và điện giải Về cấu trúc cơ thể, tạng thuộc âm (can, thận);can có can âm (can huyết), can dương (can khí); thận có thận âm (thận thuỷ), thậndương (thận hoả), …
Trang 8+ Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc TK làm
co giật, sốt (giả nhiệt) → dùng thuốc ấm nóng chữa nguyên nhân
4 Đồ hình âm – dương:
5 Ứng dụng trong y học (học thuyết âm dương quán triệt từ đầu đến cuối, từ
đơn giản đến phức tạp trong suốt quá trình cấu tạo cơ thể, sinh lý, bệnh lý, chẩnđoán và điều trị bệnh bằng YHCT):
5.1- Về cấu tạo cơ thể và sinh lý:
- Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới, …vật chất dinh dưỡng
- Dương: phủ, kinh duơng, khí, lưng, ngoài, trên, … cơ năng hoạt động
- Tạng thuộc âm, do trong âm có dương nên còn phân chia ra phế âm - phế khí,thận âm - thận dương; can huyết - can khí; tâm huyết - tâm khí
- Phủ thuộc dương, do trong dương có âm nên có vị âm - vị hoả, …
5.2- Về quan hệ bệnh lý:
+ Bệnh tật phát sinh do sự mất thăng bằng âm - dương trong cơ thể được biểu hiệnbằng thiên thắng hay thiên suy:
- Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt (sốt, mạch nhanh, khát nước, táo,
nước tiểu đỏ), âm thắng gây chứng hàn (người lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm,ỉa lỏng, nước tiểu trong)
- Thiên suy: dương hư (lão suy, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm, …); âm
hư (mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm, …)
+ Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hoá lẫn nhaugiữa 2 mặt âm - dương :
- Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh).Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh) (VD: ỉalỏng, nôn mửa kéo dài gây mất nước, điện giải làm nhiễm độc TK→ gây sốt, cogiật thậm trí truỵ mạch (thoát dương))
+ Sự mất thăng bằng của âm - dương gây ra những chứng bệnh ở những vị trí khácnhau của cơ thể tuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay phần dương
- Dương thịnh sinh ngoại nhiệt (sốt, người nóng, tay chân nóng) vì phần dương
Trang 9của cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt.
- Âm thịnh sinh nội hàn (ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài) vì phần âmthuộc lý, thuộc hàn
- Âm hư sinh nội nhiệt (mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họngkhô táo, nước tiểu đỏ…) phần dương nổi lên, thuộc nhiệt
- Dương hư sinh ngoại hàn (sợ lạnh, tay chân lạnh) vì phần dương khí ở ngoàibị giảm sút
- Dựa vào tứ chẩn và bát cương để khai thác và quy bệnh tật thành các hộichứng thiên thắng hay thiên suy về âm - dương của các tạng phủ, kinh lạc, …
5.4- Về điều trị học:
+ Nguyên tắc: chữa bệnh là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm - dương của cơ thểtuỳ theo tình trạng hư - thực, hàn - nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhaunhư dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công …
+ Về dược:
- Thuốc hàn lương (lạnh, mát) thuộc âm → dùng chữa bệnh nhiệt, thuộc dương
- Thuốc nhiệt, ôn (nóng, ấm) thuộc dương → dùng chữa bệnh hàn, thuộc âm.+ Về châm cứu:
- Nhiệt thì châm - hàn thì cứu; hư thì bổ - thực thì tả
- Dùng huyệt theo nguyên tắc “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”:
o Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) → dùng du huyệt sau lưng (thuộc dương)
Trang 10o Bệnh thuộc phủ (thuộc dương) → dùng mộ huyệt trước ngực, bụng (thuộcâm).
Trang 11B Học thuyết ngũ hành:
2.2, Sự quy nạp vào ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơ thể con người:
Hiện
tượng
Ngũ hành
Ngũ vị Toan (chua) Khổ (đắng) Cam (ngọt) Tân (cay) Hàm (mặn)
Tình chí Nộ (giận) Hỉ (mừng) Ưu (lo) Bi (buồn) Khủng (sợ)
Trang 122.3, Quy luật hoạt động:
+ Trong điều kiện bình thường hay sinh lý:
Vật chất trong thiên nhiên và các loại hoạt động của cơ thể liên quan mật thiết
với nhau, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng bằng quy luật tương sinh hoặc chế ước lẫn nhau để giữ thế quân bình bằng quy luật tương khắc.
- Quy luật ngũ hành tương sinh:
- Chỉ mối quan hệ sinh ra nhau một cách thứ tự, thúc đẩy nhau phát triển của 5 loạivật chất (hành nọ sinh hành kia, tạng nọ sinh tạng kia)
- Thứ tự của tương sinh là: … → mộc → hoả → thổ → kim → thuỷ → mộc → …
- Sự tương sinh này cứ lặp đi lặp lại không ngừng Nếu đứng từ một hành mà nói thìhành sinh ra nó được gọi là “mẹ”, hành do nó sinh ra được gọi là “con”
- Trong cơ thể người: can (mộc) → tâm (hoả) → tỳ (thổ) → phế (kim) → thận (thuỷ)
- Quy luật ngũ hành tương khắc:
- Chỉ mối quan hệ lần lượt ức chế lẫn nhau của 5 loại vật chất (hành nọ chế ước hành
kia, tạng nọ chế ước tạng kia)
- Thứ tự của tương khắc là: … → mộc → thổ → thuỷ → hoả → kim → mộc …Quátrình này cũng tuần hoàn không ngừng Trong cơ thể người: can (mộc) → tỳ (thổ) →thận (thuỷ) → tâm (hoả) → phế (kim)
+ Trong điều kiện bất thường hay bệnh lý:
- Quy luật tương thừa: là hiện tượng hành (tạng) này khắc hành (tạng) kia quá
mạnh Vd: bình thường can (mộc) khắc tỳ (thổ), nếu can (mộc) khắc tỳ (thổ) quámạnh sẽ gây ra các hiện tượng đau dạ dày, ỉa chảy do TK → pháp điều trị: bình can(hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (nâng cao công năng hoạt động của tỳ)
- Quy luật tương vũ: là hiện tượng hành (tạng) này không khắc được hành
(tạng) kia Vd: bình thường tỳ thổ khắc thận thuỷ, nếu tỳ hư ko khắc được thận thuỷ
sẽ gây ứ nước như trong bệnh ỉa chảy kéo dài gây phù dinh dưỡng → pháp điều trị:kiện tỳ (nâng cao công năng hoạt động của tỳ) và lợi niệu (làm tiêu phù thũng)
Trang 133- Ứng dụng trong y học:
Học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát, quy nạp và nêu lên sự tươngquan trong hoạt động sinh lý các tạng phủ để chẩn đoán bệnh tật, tìm tính năng vàtác dụng thuốc và ứng dụng trong bào chế dược liệu
- Chính tà: do bản thân tạng phủ ấy có bệnh (vd: mất ngủ do bản thân tạng tâm,
do tâm huyết hư không nuôi dưỡng tâm thần → bổ huyết an thần)
- Hư tà: do tạng trước nó gây bệnh cho tạng đó, còn gọi là “bệnh từ mẹ truyền
sang con” (vd: mất ngủ do can gây bệnh cho tâm như cao huyết áp gây mấtngủ → bình can, an thần)
- Thực tà: do tạng sau nó gây bệnh cho tạng đó còn gọi là “bệnh từ con truyền
sang mẹ” (vd: mất ngủ do tỳ hư không nuôi dưỡng được tâm → kiện tỳ, anthần)
- Vi tà: (tương thừa) do tạng khắc tạng đó đã khắc quá mạnh mà gây ra bệnh
(vd: mất ngủ do tâm hoả khắc phế kim quá mạnh→ bổ phế âm, an thần
- Tặc tà (tương vũ): do tạng đó không khắc được tạng khác mà gây ra bệnh )(vd:
mất ngủ do thận hư không khắc được tâm hoả → dưỡng âm, an thần)
3.3, Về chẩn đoán học:
Căn cứ vào những triệu chứng về ngũ sắc, ngũ vị, ngũ quan, ngũ chí, thể chấtđể tìm bệnh thuộc các tạng phủ có liên quan
+ Ngũ sắc:
Trang 14- Sắc vàng → bệnh thuộc tỳ.
- Sắc trắng → bệnh thuộc phế
- Sắc xanh → bệnh thuộc can
- Sắc đỏ → bệnh thuộc tâm
- Sắc đen → bệnh thuộc thận
- Buồn rầu → bệnh ở phế
+ Ngũ khiếu và ngũ thể:
- Bệnh ở cân, chân tay run co quắp → bệnh thuộc can
- Bệnh ở mũi như viêm mũi dị ứng, chảy máu cam,… → thuộc phế
- Bệnh ở mạch (mạch hư nhỏ, …) → bệnh thuộc tâm
- Bệnh ở xương tuỷ (chậm biết đi, chậm mọc răng, …) → bệnh thuộc thận
3.4, Về điều trị học: Nguyên tắc điều trị con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con.
- Về châm cứu sử dụng ngũ du huyệt (trong một đường kinh, quan hệ giữa cáchuyệt trong ngũ du là tương sinh, giữa 2 đường kinh âm - dương quan hệ là tươngkhắc):
Kinh
Ngũ du huyệt
(đặt tên theo ý nghĩa của kinh khí đi trong đường kinh như dòng nước chảy)
nơi kinh khí đi
Trang 15+ Về tính chất dược liệu và bào chế dược liệu: Tìm kiếm và xét tác dụng củathuốc đối với bệnh tật các tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa các vị, sắc với tạng phủ:
- Vị chua, màu xanh → vào can
- Vị đắng, màu đỏ → vào tâm
- Vị ngọt, màu vàng → vào tỳ
- Vị cay, màu trắng → vào phế
- Vị mặn, màu đen → vào thận
+ Vận dụng ngũ vị để bào chế làm vị thuốc thay đổi tính năng và tác dụng cho
đi vào các tạng phủ theo yêu cầu chữa bệnh:
- Sao với giấm → dẫn thuốc vào can
- Sao với muối → dẫn thuốc vào thận
- Sao với đường → dẫn thuốc vào tỳ
- Sao với gừng → dẫn thuốc vào phế, …
Trang 16C- Học Thuyết Tạng Phủ:
Ngũ tạng:
Ngũ tạng (tạng là các bộ phận có nhiệm vụ chuyển hoá và tàng trữ tinh, khí, thần,huyết, tân dịch)
1 Tạng tâm:
+ Tâm chủ thần chí (thần chí là các hoạt động về tinh thần, tư duy):
- Tinh và huyết là cơ sở cho hoạt động tinh thần, tâm chủ về huyết → tâm chủ vềthần chí
- Tâm là nơi cư trú của thần → “tâm tàng thần”
- Tâm khí và tâm huyết đầy đủ thì tinh thần tỉnh táo sáng suốt tâm huyết ko đầy đủ
→ hồi hộp, hay mê, mất ngủ, hay quên tâm huyết có nhiệt → mê sảng, hôn mê
+ Tâm chủ huyết mạch, biểu hiện ra ở mặt:
- Tâm khí thúc đẩy huyết dịch trong mạch đi nuôi dưỡng toàn thân tâm khí đầy đủ,huyết dịch vận hành không ngừng, toàn thân được nuôi dưỡng tốt, biểu hiện ởnét mặt hồng hào tươi nhuận tâm khí giảm sút, sự cung cấp huyết dịch kém đi →sắc mặt xanh xao, có khi huyết dịch ứ trệ gây các chứng mạch sáp, kết lại, ứ huyết,
…
+ Tâm khai khiếu ra lưỡi:
- Biệt lạc của tâm thông ra lưỡi, khí huyết của tâm đi ra lưỡi để duy trì hoạt độngcủa chất lưỡi trên lâm sàng, xem chất lưỡi để chẩn đoán bệnh ở tâm (chất lưỡi đỏlà tâm nhiệt, chất lưỡi nhạt là huyết hư, chất lưỡi xanh có điểm ứ huyết là huyết ứtrệ, …)
- Tâm bào lạc là tổ chức bên ngoài của tâm để bảo vệ không cho tà khí xâm nhậpvào tâm
- Trên lâm sàng, các triệu chứng bệnh của tâm và tâm bào lạc giống nhau (VD: trongbệnh truyền nhiễm có sốt (ôn bệnh) chứng hôn mê được gọi là “nhiệt nhập tâmbào” giống như chứng hôn mê của tâm nhiệt)
Trang 17+ Tâm hoả sinh tỳ thổ, khắc phế kim, bị thận thuỷ khắc.
+ Quan hệ biểu lý với tiểu trường.
2 Tạng can:
+ Can chủ tàng huyết (tàng huyết là tàng trữ và điều tiết lượng máu trong cơ thể):
- Lúc nghỉ ngơi, lúc ngủ nhu cầu về huyết dịch ít, máu được tàng trữ ở can, lúc hoạtđộng, nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể đòi hỏi cao hơn, can lại bài xuất lượng máudự trữ để cung cấp kịp thời
- Chức năng tàng huyết của can bị rối loạn sẽ ảnh hưởng đến các tạng phủ và sinh
ra các triệu chứng bệnh (VD: can huyết không đầy đủ, hoa mắt, chóng mặt, chântay co quắp, kinh nguyệt ít, can khí bị xúc động, huyết đi lạc đường, có thể thấyxuất huyết, nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong kinh, …)
+ Can chủ sơ tiết (sơ tiết là sự thư thái, thông thường, còn gọi là “điều đạt”):
- Can khí chủ về sơ tiết giúp cho sự vận hành khí của tạng phủ được dễ dàng, thôngsuốt, thăng giáng được điều hoà can khí sơ tiết kém sẽ có những biểu hiện bệnhlý
- Về tình trí: ngoài tâm còn do can phụ trách can khí bình thường, khí huyết vậnhành điều hoà, tinh thần thoải mái can huyết sơ tiết kém, khí bị uất kết (can khíuất kết: ngực sườn đầy tức, u uất, hay thở dài, kinh nguyệt không đều, thống kinh)hay hưng phấn quá độ (can khí xung thịnh gây cáu gắt, hoa mắt chóng mặt ù tai,
Trang 18- Móng tay móng chân là phần thừa của cân mạch → tình trạng thiếu đủ của canhuyết sẽ có những biểu hiện ra tính chất của móng chân móng tay (hồng nhuận,biến dạng, …)
+ Can khai khiếu ra mắt:
- Tinh khí của ngũ tạng thông qua huyết dịch đều đi lên mắt, nhưng chủ yếu là dotạng can vì can tàng huyết và kinh can đi lên mắt
- Can khí thực do phong nhiệt → gây chứng mắt đỏ sưng đau; can huyết hư → gâyquáng gà, giảm thị lực; can phong nội động → gây miệng méo, mắt lác, …
+ Can mộc sinh tâm hoả, khắc tỳ thổ, bị phế kim khắc.
+ Quan hệ biểu lý với đởm.
3 Tạng tỳ:
+ Tỳ chủ vận hoá thuỷ thấp, thuỷ cốc:
- Vận hoá thuỷ cốc: là sự tiêu hoá, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng củađồ ăn Sau khi tiêu hoá, các chất tinh vi được tỳ hấp thu → chuyển vận lên phế →đưa vào tâm mạch để đi nuôi dưỡng các tạng phủ, tứ chi, cân, não, …
- Công năng vận hoá đồ ăn của tỳ mạnh gọi là sự “kiện vận” thì sự hấp thu tốt Nếutỳ mất “kiện vận” sẽ gây các chứng rối loạn tiêu hoá, ăn kém, ỉa chảy, mệt mỏi,gầy, …
- Vận hoá thuỷ thấp: là sự chuyển hoá nước trong cơ thể, do sự vận hoá của tỳ phốihợp với sự túc giáng của phế và sự khí hoá của thận Tỳ đưa nước đến các tổ chức
cơ thể để nuôi dưỡng → rồi chuyển xuống thận → ra bàng quang, bài tiết ra ngoài
- Sự vận hoá thuỷ thấp của tỳ kém sẽ gây ra chứng đàm ẩm, khiến cho nước tràn ratứ chi gây phù thũng, xuống đại trường gây ỉa chảy, đến khoang bụng thành cổtrướng, …
+ Tỳ thống huyết (nhiếp huyết) (là sự quản lý, khống chế huyết):
- Tỳ vận hoá đồ ăn và là nguồn gốc của khí và huyết ngoài ra tỳ còn thống huyết tỳkhí mạnh → huyết sẽ đi trong mạch, được khí thúc đẩy đi nuôi dưỡng cơ thể Tỳkhí hư không thống được huyết → huyết sẽ đi ra ngoài gây các chứng xuất huyết
Trang 19như rong huyết, đại tiện ra máu lâu ngày, …
+ Tỳ chủ cơ nhục, chủ tứ chi:
- Tỳ đưa các chất dinh dưỡng của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục tỳ khí đầy đủ →
cơ nhục rắn chắc, tứ chi nhẹ nhàng linh hoạt tỳ khí yếu → cơ nhục mềm nhẽo,trương lực cơ giảm gây tứ chi mệt mỏi, gây các chứng thoát vị (sa trực tràng, sasinh dục, sa dạ dày, …)
+ Tỳ khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi (khai khướu nói về sự ăn uống, khẩu vị):
- Tỳ mạnh → muốn ăn, ăn ngon miệng tỳ hư → chán ăn, miệng nhạt
- Tỳ chủ về cơ nhục, lại khai khướu ra miệng nên biểu hiện sự vinh nhuận ra môi; tỳmạnh → môi hồng nhuận Tỳ hư → môi thâm xám, nhạt màu
+ Tỳ thổ sinh phế kim, khắc thận thuỷ, bị can mộc khắc.
+ Quan hệ biểu lý với vị.
4 Tạng phế:
+ Phế chủ khí, chủ hô hấp:
- Phế là nơi trao đổi khí: hít khí thanh, thải khí trọc, do đó phế chủ hô hấp
- Phế chủ khí, vì phế có liên quan đến tông khí Tông khí được tạo thành bởi khí củađồ ăn do tỳ khí đưa tới kết hợp với khí trời do phế khi đưa tới Tông khí được đưavào tâm mạch đi toàn thân dinh dưỡng tổ chức
- Phế khí bình thường, đường hô hấp thông → hơi thở điều hoà Phế khí hư kém →khó thở, thở nhanh, tiếng nói nhỏ, người mệt mỏi không có sức, …
+ Phế chủ tuyên phát, túc giáng:
- Tuyên phát: là sự thúc đẩy khí huyết, tân dịch phân bố ra toàn thân; bên trong đivào các tạng phủ, kinh lạc; bên ngoài đi tới bì mao, cơ nhục, không nơi nào khôngđến phế khí không tuyên, gây sự ủng trệ (tức ngực, ngạt mũi, khó thở, …)
- Túc giáng: là đưa phế khí đi xuống phế khí đi xuống là thuận phế khí nghịch lêntrên gây uất tại phế (khó thở, suyễn tức )
Trang 20+ Phế chủ bì mao, thông điều thuỷ đạo:
- Bì mao là phần ngoài cùng của cơ thể (da, lông, tuyến mồ hôi, …) là nơi tà khí bênngoài bắt đầu xâm nhập vào cơ thể Phế tuyên phát sẽ đem các chất dinh dưỡngcho bì mao
- Vệ khí cũng tuyên phát ra bì mao để chống đỡ ngoại tà, khi có bệnh ở phần biểuthường thấy xuất hiện các chứng ở vệ và phế phối hợp với nhau (vd: ngoại cảmphong hàn có sợ lạnh, sợ gió, ngạt mũi, ho, …) Phế khí hư yếu, không tuyên phát
ra bì mao làm da lông khô sáp, lưa thưa, dẫn đến cơ năng bảo vệ của bì mao bịgiảm sút nên dễ bị cảm mạo, …
- Thông điều thuỷ đạo: Phế chủ tuyên phát, túc giáng làm nước trong cơ thể đượcbài tiết ra qua mồ hôi, hơi thở, đại tiện nhưng chủ yếu là do nước tiểu phế khíđưa nước tiểu xuống thận, ở thận nước tiểu được khí hoá một phần đưa xuốngbàng quang và bài tiết ra ngoài
- Trên lâm sàng, bệnh phù thũng do phong thuỷ (viêm cầu thận do lạnh) được chữabằng phương pháp Tuyên phế lợi niệu
+ Phế khai khiếu ra mũi, thông với họng, chủ về tiếng nói:
- Mũi là khiếu của phế, để thở và ngửi thông qua tác dụng của phế khí Phế khí bìnhthường thì hô hấp điều hoà Phế khí trở ngại (ngoại tà xâm nhập) làm ngạt mũi,chảy nước mũi, không ngửi thấy mùi, pháp điều trị vẫn lấy tuyên phế là chính
- Phế chủ về tiếng nói và thông ra họng Bệnh ở phế luôn thấy xuất hiện các chứng
ở họng và tiếng nói, thông ra họng, mất tiếng, …
+ Phế kim sinh thận thuỷ, khắc can mộc, bị tâm hoả khắc.
+ Quan hệ biểu lý với đại trường.
5 Tạng thận:
+ Thận tàng tinh, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể (lưng là phủ của thận):
- Tinh tiên thiên - tinh hậu thiên đều được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh (thậndương, nguyên dương, chân dương, mệnh môn hoả) tinh biến thành khí nên còncó thận khí
Trang 21- Thận tinh và thận khí quyết định sự sinh dục và phát dục của cơ thể từ lúc nhỏ tớigià như mọc răng, tuổi trưởng thành sinh con cái (thiên quí thịnh) và lão suy (thiênquý suy).
- Sách Nội kinh nói: “con gái 7 tuổi thì thiên quý thịnh: răng thay tóc dài; 14 tuổi thìthiên quý đến, mạch Nhâm thông với mạch Xung, vì vậy lúc đó người con gái thấykinh Thường đời người con gái có 7 thiên quý (7x7 = 49) lúc đó mạch Nhâm yếu,mạch Xung kém, thiên quý cạn hết, kinh nguyệt không còn nên thân thể yếuđuối”; “con trai 8 tuổi → thận khí thực, tóc tốt, răng thay; 16 tuổi thận khí thịnh,thiên quý đến, tinh khí đầy; 24 tuổi thận khí điều hoà, thân thể cường tráng mạnhkhoẻ; 64 tuổi thận khí kém, tóc rụng, răng khô, lục phủ ngũ tạng đều suy yếu,thiên quý cạn nên râu tóc bạc, người mệt mỏi”
- Thận âm và thận dương nương tựa vào nhau, chế ước lẫn nhau giữ thế quân bìnhvề âm dương Nếu thận hư không có hiện tượng hàn hay nhiệt, gọi là thận tinh hưhay thận khí hư Nếu có hiện tượng nội nhiệt → thận âm hư Nếu có hiện tượngngoại hàn (sợ lạnh, tay chân lạnh) gây thận dương hư
+ Thận chủ về khí hoá nước (khí hoá nước là đem nước do đồ ăn uống đưa tới tưới
cho tổ chức cơ thể và bài tiết nước ra ngoài):
- Sự chuyển hoá nước trong cơ thể do 3 tạng phụ trách: tỳ vận hoá hấp thu → đưalên phế; phế → túc giáng xuống thận, ở thận được khí hoá, những chất trong đượcđưa lên phế phân bố đi toàn thân, những chất đục được đưa xuống bàng quangthải ra ngoài trên lâm sàng, căn cứ vào vị trí trở ngại → chữa chứng phù thũng ởtỳ, ở phế hay ở thận
+ Thận chủ cốt tuỷ, thông với não (não là bể của tuỷ), vinh nhuận ra tóc.
- Tinh được tàng trữ ở thận, tinh sinh tuỷ, tuỷ vào trong xương, nuôi dưỡng xươngnên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ Thận hư làm sự phát dục của cơ thể giảm sút, gâyhiện tượng chậm mọc răng, chậm biết đi, xương mềm yếu
- Tuỷ ở cột sống lên não, thận sinh tuỷ nên gọi là thận thông với não, thận khôngngừng bổ xung tinh tuỷ cho não Thận hư (thường do tiên thiên) làm não khôngphát triển (trí tuệ chậm phát triển, tinh thần đần độn, kém thông minh, …)
- Huyết do tinh sinh ra, tinh tàng trữ ở thận, tóc là sản phẩm “thừa ra” của huyết,được huyết nuôi dưỡng → thận là căn nguyên sinh ra tóc sự thịnh suy của thận cóquan hệ mật thiết tới tóc (vd: bẩm sinh thận khí bất túc thì tóc mọc thưa thớt,thanh niên khoẻ mạnh thì tóc tốt nhuận, người già thận khí yếu thì tóc bạc, rụng
Trang 22tóc, …) Vì vậy nói “thận vinh nhuận ra ở tóc”.
+ Thận chủ nạp khí (nạp khí: là không khí do phế hít vào được giữ lại ở thận):
- Nếu thận hư không nạp được phế khí làm phế khí nghịch lên → gây chứng ho hen,khó thở Trên lâm sàng, chữa chứng hen suyễn, chứng ho ở người già, bằngphương pháp bổ thận nạp khí
+ Thận khai khiếu ra tai, tiền âm, hậu âm Thận chủ nhị tiện.
- Tai do thận tinh nuôi dưỡng, thận hư sẽ gây tai ù, tai điếc ở người già, thận khí,thận tinh suy yếu nên hay gặp chứng ù tai, điếc
- Tiền âm là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ Thận chủ về khíhoá bài tiết nước tiểu và sự sinh dục → thận chủ về tiền âm thận hư hay gặpchứng đi tiểu luôn ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em, chứng di tinh, ra khí hư
- Hậu âm là nơi đại tiện ra phân, do tạng tỳ đảm nhiệm Nhưng tỳ dương được thậnkhí hoá để bài tiết phân ra ngoài thận chủ về hậu âm Nếu thận khí hư hay gặpchứng đại tiện lỏng, đại tiện ở người già
- Hậu âm và tiền âm thường quản lý đại tiện và tiểu tiện nên còn nói “thận chủ nhịtiện”
+ Thận thuỷ sinh can mộc, khắc tâm hoả, bị tỳ thổ khắc.
+ Quan hệ biểu lý với bàng quang.
Lục phủ:
1, Phủ tiểu trường quan hệ biểu lý với tạng tâm:
Nhiệm vụ cơ bản là thăng thanh giáng trọc thanh (chất trong) hấp thu ở tiểu trường
→ qua tỳ đi nuôi dưỡng toàn thân → cặn bã xuống bàng quang → bài tiết ra ngoàiqua đường nước tiểu trọc (chất cặn bã) từ tiểu trường→ xuống đại trường → bài tiết
ra ngoài qua đường phân
2, Phủ đởm khí thừa của can tràn vào mật, tụ lại thành tinh chấp (mật) dự trữ
trong đởm
Quan hệ biểu lý với can, chứa dịch mật do can bài tiết → tham gia tiêu hoá thức ănCan chủ về mưu lự; đởm chủ về quyết đoán → là cơ sở của lòng dũng cảm, tinh thầndám nghĩ dám làm Chất mật có màu xanh, vàng, vị đắng → khi có bệnh ở đởm
Trang 23thường xuất hiện vàng da, miệng đắng, nôn mửa ra chất đắng các bệnh về can đởmhay phối hợp với nhau
3, Phủ vị (bảo vệ vị khí là một nguyên tắc chữa bệnh của YHCT):
Vị chủ thu nạp (chứa đựng) thức ăn và làm nhừ thức ăn → rồi đưa xuống tiểu trường.Quan hệ biểu lý với tỳ, đều giúp cho sự vận hoá đồ ăn → tỳ vị là gốc của hậu thiên.Tỳ - vị (vị khí) là yếu tố cơ bản duy trì sự sống con người → trên lâm sàng rất chútrọng đến sự thịnh suy của tỳ vị và dùng để tiên lượng bệnh
4, Phủ đại trường quan hệ biểu lý với tạng phế Chứa đựng và bài tiết các chất
cặn bã từ tiểu trường đưa xuống
5, Phủ bàng quang: Chứa đựng và bài thiết nước tiểu thông qua sự khí hoá và
sự phối hợp của tạng thận Quan hệ biểu lý với thận, nếu thận khí hoá ko tốt → bítiểu, đái rắt, đái nhiều lần hay tiểu tiện không tự chủ
6, Tam tiêu:Tam tiêu gồm :
+ Thượng tiêu : từ họng xuống đến miệng trên bao tử, có công dụng :
- Thu nạp chất ăn uống, không để nôn ra ngoài
- Tiếp thu khí thủy cốc từ Vị ra, phân bố khắp vùng cơ thể để ôn dưỡng cơnhục, các khớp,da
+ Trung tiêu : Từ miệng trên bao tử xuống miền dưới bao tử, có công dụng :
- Làm cho thức ăn chín nhừ, hóa tân dịch
- Hấp thụ tinh khí của Thủy cốc, hóa sinh thành sinh khí
+ Hạ tiêu : Từ Trung tiêu xuống vùng bụng dưới, có công dụng : Gạn lọc chất thanhtrọc Bài tiết chất bỏ đi
Tóm lại, Tam tiêu có 2 công dụng chính : Chủ trì các khí và thông điều đường nước
Quan hệ tạng - tạng:
a Tâm - phế:
Trang 24- Tâm chủ huyết, phế chủ khí → tâm và phế phối hợp làm khí huyết vận hành, duy trìcác hoạt động cơ thể khí thuộc dương, huyết thuộc âm → khí thúc đẩy huyết vậnhành, huyết đi kéo theo khí nếu khí không thúc đẩy huyết sẽ ngưng lại gây ứ huyết.nếu không có huyết, khí mất chỗ dựa phân tán mà không thu lại được Trên lâm sàngthường gặp:
- Phế khí hư nhược: tông khí trong tâm mạch không đầy đủ → tâm phế đều hư →tâm khí không thúc đẩy âm huyết, gây ứ huyết, làm đau vùng ngực (vd: xơ cứng mạchvành)
- Tâm khí không đầy đủ: gây ứ huyết → làm trở ngại đến phế mạch → phế khí khôngtuyên giáng gây chứng hen suyễn
- Tâm chủ về hoả, tâm hoả vượng ảnh hưởng đến phế âm, một mặt xuất hiện cácchứng tâm phiền, mất ngủ, … một mặt xuất hiện các chứng ho, ho ra máu
- Tâm phế khí hư: ho lâu ngày, thở ngắn, trống ngực, sắc mặt trắng, có thể xuất hiệnmôi xanh tím, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược → pháp: bổ ích tâm phế
b Tâm - tỳ:
- Tâm chủ huyết, tỳ sinh huyết Nếu tỳ khí hư không vận hoá được thì tâm huyết sẽkém → gây hiện tượng hồi hộp, hay quên, mất ngủ, sắc mặt xanh gọi là chứng tâm tỳhư
- Tâm tỳ hư: trống ngực, hồi hộp, ngủ ít, hay mê, hay quên, ăn kém, bụng đầy, đạitiện lỏng, mệt mỏi vô lực, chất lưỡi nhạt bệu, mạch tế nhược → pháp: bổ ích tâm tỳ
c Tâm – can:
- Can tàng huyết, tâm chủ huyết → hai tạng phối hợp tạo thành sự tuần hành củahuyết trên lâm sàng hay thấy xuất hiện chứng can tâm âm hư hay can tâm huyết hư(hoảng hốt, hồi hộp, sắc mặt xanh, hoa mắt, chóng mặt, móng tay không nhuận)
- Can chủ sơ tiết, tâm chủ về thần chí Hoạt động tinh thần chủ yếu do hai tạng tâmvà can phụ trách Can và tâm do huyết nuôi dưỡng, khi chúng có bệnh ngoài cácchứng trạng về huyết kể trên còn có các chứng trạng về tinh thần như mất ngủ, hayquên, hồi hộp, sợ hãi, giận giữ, …
d Tâm - thận:
- Tâm ở trên thuộc hoả, thuộc dương, thận ở dưới thuộc thuỷ, thuộc âm Hai tạnggiao nhau để giữ được thế quân bình gọi là “thuỷ hoả ký tế” hay “tâm thận tương
Trang 25- Trên lâm sàng nếu thận thuỷ không đầy đủ, không chế ước được tâm hoả gây cácchứng: hồi hộp, mất ngủ, nằm mê, miệng lưỡi lở loét gọi là chứng “tâm thận bấtgiao” hay “âm hư hoả vượng”
- Tâm thận bất giao: do âm huyết hư hay thận tinh hư dẫn đến vật vã trằn trọc, mấtngủ, trống ngủ, hay quên, hoa mắt ù tai, miệng khô, lưng gối mềm yếu, hay mê, ditinh, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện ngắn đỏ, mạch tế sác
e Phế - tỳ:
- Phế chủ khí, tỳ chủ khí hậu thiên, cả 2 tạng có liên quan với nhau mật thiết Chứngkhí hư trên lâm sàng thường xuất hiện: thở ngắn gấp, nói nhỏ, lười nói (thuộc phế khíhư) mỏi mệt, ăn kém, ỉa lỏng (thuộc tỳ khí hư)
- Phế tỳ khí hư: ho lâu ngày, thở ngắn ko có sức, đờm nhiều trắng loãng, ăn kém,bụng đầy, ỉa chảy, có khi mặt nề, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược →pháp: bổ ích tỳ phế
g Can - tỳ:
- Can chủ về sơ tiết, tỳ chủ vận hoá, sự thăng giáng của tỳ vị có quan hệ đến sự sơ tiếtcủa can nếu sức tiết của can bị trở ngại sẽ làm cho sự thăng giáng của tỳ vị trở nênbất thường, hay gây các chứng: ngực sườn đầy tức, không muốn ăn, đầy bụng, ợ hơi,
… hay gặp ở các bệnh loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng, …
- Can tỳ bất hoà: do can khí uất kết, sơ tiết thất thường ảnh hưởng đến tỳ gây ra ngựcsườn đầy tức, tinh thần uất ức, tình chí hay xúc động, ăn kém, bụng trường, sôi bụng,trung tiện nhiều, đại tiện lỏng → pháp: sơ can kiện tỳ
Trang 26- Can vị bất hoà: (can khí phạm vị): ngực sườn đầy tức, vùng thượng vị đau tức, ợ hơi,ợ chua, rêu lưỡi vàng, mạch huyền → pháp: sơ can hoà vị.
- Can thận âm hư: chóng mặt, hoa mắt, ù tai, đau mạng sườn, lưng gối mềm yếu,họng khô, má đỏ, ra mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt, di tinh, kinh nguyệt ko đều,lưỡi đỏ ko rêu, mạch tế sác → pháp: tư bổ can thận
Quan hệ tạng - phủ:
a Tâm - tiểu trường:
- Tâm quan hệ biểu lý với tiểu trường, trên lâm sàng nếu tâm nhiệt (sốt cao) thườnggây các chứng đái ít, đái đỏ, nước tiểu nóng → pháp điều trị: thanh tâm lợi niệu
b Tỳ - vị:
- Tỳ và vị là hai cơ quan giúp cho sự vận hoá đồ ăn tỳ chủ vận hoá, vị chủ thu nạp, tỳ
ưa táo ghét thấp, vị ưa thấp ghét táo Tỳ lấy thăng làm thuận, vị lấy giáng làm hoà.Như vậy tính chất của tỳ vị đối lập nhau giữa táo và thấp, giữa thăng và giáng nhưnglại thống nhất với nhau, bổ xung cho nhau để giúp cho việc tiêu hoá được bìnhthường
Trang 27- Khi tỳ vị có bệnh, sự thăng giáng có thể đảo nghịch, tỳ khí đáng lẽ đưa thanh khí lêntrên lại đưa xuống dưới gọi là chứng tỳ hư hạ hãm gây ra các bệnh ỉa chảy, sa sinhdục, sa trực tràng, băng huyết, rong huyết, … tỳ khí đáng lẽ đưa trọc khí đi xuống lạiđưa lên trên gây ra các chứng nôn mửa nấc.
- Tỳ vị có bệnh gây nên sự đảo lộn về thấp về táo tỳ ghét thấp nhưng do tỳ hư khôngvận hoá được thuỷ thấp làm thuỷ thấp đình lại gây các chứng mệt mỏi, phù thũng, ỉalỏng Vị ghét táo nhưng do vị hoả quá mạnh làm tân dịch bị khô gây nên vị âm hư cócác chứng táo bón, loét miệng, chảy máu chân răng, …
c Thận - bàng quang:
- Thuỷ dịch trong cơ thể nhờ sự khí hoá của thận mà các chất trong đưa lên phế đinuôi dưỡng toàn thân, những chất đục đưa xuống bàng quang thải ra ngoài Thận khíhoá ko tốt → bí tiểu, đái rắt, đái nhiều lần hay tiểu tiện không tự chủ
d Can - đởm:
- Khí thừa của can tràn vào mật, tụ lại thành tinh chấp (mật) dự trữ trong đởm
- Đởm chứa dịch mật do can bài tiết ra và tham gia vào quá trình tiêu hoá thức ăn.Các bệnh về can đởm hay phối hợp với nhau
e Phế - đại trường:
- Phế chủ khí, chủ về tuyên phát và túc giáng các chất cặn bã sau khi được tốngxuống đại trường thì nhờ sự tuyên phát của phế mà đẩy ra ngoài Ở người già, phếkhí hư kém, các chất cặn bã khó đẩy ra ngoài gây táo bón
Trang 28Tinh - Khí - Huyết - Tân dịch - Thần.
1 Tinh: Là cơ sở vật chất của sự sống con người và các loại hoạt động cơ năng
của cơ thể
+ Nguồn gốc:
- Tinh tiên thiên: do bố mẹ đem lại
- Tinh hậu thiên: do chất dinh dưỡng của đồ ăn tạo ra, tinh hậu thiên do tỳ vị vậnhoá phân bổ ở các tạng phủ nên còn gọi là “tinh của tạng phủ”
+ Tác dụng: hai nguồn tinh tiên thiên và hậu thiên bổ xung cho nhau tham gia vàoviệc sinh dục và phát dục của cơ thể
2 Khí:Là một thành phần cấu tạo của cơ thể, là chất cơ bản duy trì sự sống của
a, Nguyên khí (còn gọi là sinh khí, chân khí, khí của chân nguyên):
b, Tông khí:
-
Nguồn gốc : do khí trời kết hợp với chất tinh vi của đồ ăn do tỳ vị vận hoá tạo thành
Trang 29Tác dụng : Dinh khí đi vào mạch thành một bộ phận của huyết dịch, theo huyết dịch
đi toàn thân, dinh khí sinh ra huyết và dinh dưỡng toàn thân
d, Vệ khí:
-
Nguồn gốc : Bắt nguồn từ tiên thiên, do dương khí của thận sinh ra, được bổ xungkhông ngừng bằng các chất tinh vi của đồ ăn do tỳ vị vận hoá ra, hoạt động được dosự tuyên phát của phế, vệ khí gốc ở hạ tiêu (thận), được nuôi dưỡng do trung tiêu(tỳ), khai phát ở thượng tiêu (phế)
+ Tác dụng: được khí thúc đẩy, huyết đi theo mạch nuôi dưỡng toàn thân, bên tronglà ngũ tạng lục phủ, bên ngoài là cơ nhục cân cốt Huyết đầy đủ thì cơ thể khoẻ mạnh
4 Tân dịch: Là chất nước của cơ thể, tân là chất nước trong, dịch là chất đục.
+ Nguồn gốc: do chất dinh dưỡng đồ ăn hoá ra, nhờ sự khí hoá của tam tiêu đi vàocác tạng phủ, khớp xương, nước bọt, dịch dạ dày, …
+ Tác dụng: Tân đi toàn thân, tưới và nuôi dưỡng các tạng phủ, cơ nhục, kinh mạch,
da và tạo thành huyết dịch, không ngừng bổ xung nước cho huyết dịch
- Dịch bổ xung cho tinh, tuỷ làm khớp xương cử động dễ dàng, nhuận da lông
5 Thần:
+ Là sự hoạt động về tinh thần, ý thức và tư duy của con người, là biểu hiện bên ngoài
của tinh khí huyết và tân dịch Thần còn là sự biểu hiện bên ngoài của tình trạng sinh
Trang 30lý, bệnh lý các tạng phủ trong cơ thể.
+ Tinh và khí là cơ sở vật chất của thần, do tiên thiên và hậu thiên sinh ra trong cơthể khí huyết thịnh vượng, ngũ tạng lục phủ điều hoà thì tinh thần sung túc
+ Trong chẩn đoán, tình trạng tinh thần của người bệnh có giá trị chẩn đoán rất lớnđể đánh giá tiên lượng bệnh “còn thần thì sống, mất thần thì chết”
Trang 31II- Nguyên nhân gây bệnh:
1. Ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài):
- Sáu thứ khí: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm), táo (độ khô), hoả
(nhiệt), khi trở thành nguyên nhân gây bệnh gọi là lục dâm, lục tà
- Gây ra những bệnh ngoại cảm (bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm, đau dây TK ngoại
biên do lạnh, …)
- Luôn luôn quan hệ với thời tiết: phong (mùa xuân), hàn (mùa đông), thử (mùa hè),
táo (mùa thu)
- Sáu thứ khí hay phối hợp với nhau mà phong hay xuất hiện hơn cả, làm bệnh có
tính chất đa dạng như phong hàn, phong nhiệt, phong thấp…
1.1- Phong:
+ Phong gồm 2 loại:
- Ngoại phong: Là gió, chủ khí về mùa xuân nhưng mùa nào cũng gây bệnh Hay
phối hợp với các khí khác: hàn, thấp, nhiệt thành phong hàn, phong thấp, phongnhiệt
- Nội phong: Sinh ra do công năng của tạng can bất thường (can phong), xuất hiện
các chứng: co giật, chóng mặt, hoa mắt
+ Đặc tính của phong:
- Phong là dương tà hay đi lên và ra ngoài, hay gây bệnh ở phần trên của cơ thể(đầu, mặt) và ở phần ngoài (cơ, biểu) làm da lông khai tiết (ra mồ hôi, sợ gió, mạchphù, …)
- Phong hay di động và biến hoá → bệnh do phong hay di chuyển như đau cáckhớp, đau chỗ này chỗ khác, ngứa nhiều chỗ nên gọi là “phong động” bệnh biến hoánặng nhẹ mau lẹ
+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do phong:
- Phong hàn:
Trang 32- Cảm mạo do lạnh: ngạt mũi, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù.
- Đau dây TK ngoại biên, đau các khớp do lạnh
- Ban chẩn dị ứng, viêm mũi dị ứng do lạnh
- Phong nhiệt:
- Cảm mạo có sốt, giai đoạn đầu các bệnh truyền nhiễm (sốt, sợ gió, không sợ lạnh,họng đau đỏ, nước tiểu vàng, chất lưỡi và rêu lưỡi vàng, mạch phù sác)
- Viêm màng tiếp hợp theo mùa, dị ứng viêm khớp cấp
- Phong thấp: Viêm khớp dạng thấp, thoái khớp Đau các dây thần kinh ngoại biên.
- Chứng nội phong (can phong): Do can khí thực kích động đến cân hay do can
huyết hư ko dưỡng cân
- Sốt cao co giật
- Cao Huyết áp do can thận âm hư làm can dương nổi lên gây nhức đầu, chóng mặt,hoa mắt
- Các TBMMN do nhũn não, chảy máu não do can huyết hư gây: liệt nửa người,chân tay co quắp
1.2- Hàn:
+ Gồm 2 loại:
- Ngoại hàn: do lạnh, chủ khí về mùa đông gây bệnh bằng hai cách:
- Thương hàn là hàn phạm vào phần cơ biểu biện ngoài
- Trúng hàn là hàn trực trúng vào tạng phủ
- Nội hàn: do dương khí của cơ thể kém làm các cơ năng giảm sút gây ra bệnh + Đặc tính của hàn:
- Hàn là âm tà hay tổn thương dương khí: hàn phạm vào da cơ, vệ khí bị yếu gây cảmmạo; hàn phạm vào tỳ vị làm tỳ dương hư không vận hoá được đồ ăn gây ỉa chảy, taychân lạnh
Trang 33- Hàn ngưng trệ, hay gây đau tại chỗ: hàn xâm phạm vào cơ thể gây khí huyết ứ trệ,không thông gây đau như đau dạ dày do lạnh, cước làm xung huyết gây đau.
- Hàn gây co rút, làm bế tắc lại: lạnh gây co cứng cơ gây đau vai gáy, đau lưng, viêmđại tràng co thắt do lạnh, chuột rút các cơ do lạnh
+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do hàn:
- Phong hàn:
o Cảm mạo do lạnh: ngạt mũi, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù
o Đau dây ngoại biên, đau các khớp do lạnh
o Ban chẩn dị ứng, viêm mũi dị ứng do lạnh
- Hàn thấp: Ỉa chảy, nôn mửa, đau bụng do lạnh Chứng nội hàn (thường do dương
hư):
- Tâm phế dương hư:
o Chứng tắc động mạch vành (mùa lạnh hay gặp)
o Hen kèm triệu chứng dương hư (do thận dương hư ko nạp phế khí)
- Tỳ vị hư hàn: Ăn kém, đau bụng, sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, mạch trầm trì
(nhược)
- Thận dương hư: Người già sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, tiểu tiện nhiều lần, …
- Chứng nội hàn do dương khí kém, vệ khí cũng kém, cơ địa cảm lạnh.
1.3- Thử: là nắng, chủ khí về mùa hè.
+ Đặc tính của thử:
- Thử là dương tà hay sốt và hiện tượng viêm nhiệt: khát, mạch hồng, ra mồ hôi
- Gây bệnh bằng hai cách: thương thử và trúng thử
- Thử có tính thăng tán (đi lên trên và tản ra ngoài) làm mất tân dịch: gây mồ hôinhiều, mất nước và điện giải có thể gây hôn mê, truỵ mạch
- Hay phối hợp với thấp lúc cuối hạ sang thu gây ra các chứng ỉa chảy, lỵ
Trang 34+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do thử:
- Thử nhiệt:
o Thương thử (nhẹ): sốt về mùa hè, vật vã, khát, mỏi mệt
o Trúng thử (nặng): say nắng, nhẹ thì hoa mắt chóng mặt, nặng thì đột nhiên hôn
mê, bất tỉnh nhân sự, khò khè, ra mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh
- Thử thấp: Ỉa chảy về cuối mùa hè, ỉa chảy nhiễm trùng, lỵ.
1.4- Thấp: gồm 2 loại:
- Ngoại thấp : là độ ẩm thấp, chủ khí về cuối mùa hạ, hay gặp ở nơi ẩm thấp
- Nội thấp : do tỳ hư, vận hoá giảm sút, tân dịch đình lại gây thấp
+ Đặc tính của thấp:
- Thấp là âm tà hay tổn thương dương khí, gây trở ngại cho khí vận hành
- Thấp làm dương khí của tỳ vị giảm sút, ảnh hưởng đến sự vận hoá thủy thấp gâychứng phù thũng, ảnh hưởng đến vận hoá đồ ăn gây các chứng bệnh về tiêu hoánhư nhạt miệng, ăn kém, đầy bụng, ỉa chảy, mót rặn
- Thấp hay gây ra chứng nặng nề: đau khớp do thấp chân tay mình mẩy nặng nề,cảm mạo do lạnh kèm thêm đau mỏi toàn thân
- Thấp hay bài tiết ra các chất đục (thấp trọc): đại tiện lỏng, nước tiểu đục, chảynước đục trong bệnh chàm
- Thấp gây dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu tiện khó (sáp) khi gây bệnh khó trừđược nên hay tái phát như bệnh phong thấp
+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do thấp:
- Phong thấp: viêm khớp dạng thấp, thoái khớp, đau các dây thần kinh ngoại biên.
- Hàn thấp: ỉa chảy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.
- Thấp chẩn: bệnh chàm.
- Thấp nhiệt: các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu sinh dục và tiêu hoá (viêm
Trang 35gan, viêm đường dẫn mật, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng, viêm phần phụ, viêm niệu đạo
âm đạo, viêm bàng quang)
- Chứng nội thấp (do tỳ hư không vận hoá được thuỷ thấp).
o Ở thượng tiêu : đầu nặng, hoa mắt, tức ngực, khó tiêu, miệng dính, ỉa chảy,tay chân nặng
o Ở hạ tiêu : phù chân, nước tiểu ít, đục, phụ nữ ra khí hư (đới hạ)
1.5- Táo: gồm 2 loại:
- Ngoại táo : là độ khô, chủ khí về mùa thu, xâm nhập bắt đầu từ mũi, miệng, phế và
vệ khí vào bên trong cơ thể, chia làm 2 thể: ôn táo và lương táo
- Nội táo : do tân dịch, khí, huyết giảm sút gây ra bệnh.
+ Đặc tính của táo:
- Táo tính khô, hay làm tổn thương tân dịch: mũi khô, họng khô, da khô, đại tiệntáo, nước tiểu ít, ho khan ít đờm
+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do táo:
- Lương táo: sốt, sợ lạnh, đau đầu, không có mồ hôi, họng khô, ho ít đờm, hay gặp
ở chứng cảm mạo do lạnh về mùa thu
- Ôn táo: sốt cao, ít sợ lạnh, đau đầu, đau ngực, mũi khô, miệng khát, tâm phiền,
đầu lưỡi đỏ, hay gây chứng mất tân dịch và điện giải (âm hư huyết nhiệt) dễ gâybiến chứng nhiễm độc TK và vận mạch: nói lảm nhảm, vật vã, hôn mê, xuất huyết.thường gặp ở các bệnh truyền nhiễm về mùa thu như sốt xuất huyết, viêm não, …
- Chứng nội táo: Do bẩm tố tạng nhiệt, dùng quá lâu ngày thuốc đắng, thuốc hạ,
bệnh sốt cao kéo dài lâu ngày làm tân dịch bị hao tổn gây ra các chứng khát, datóc lông khô, lưỡi khô, táo, gầy, …
1.6- Hoả:
- Hoả và nhiệt giống nhau, là một khí trong lục dâm, nhưng các khí khác như phong,thấp, hàn, táo cũng có thể hoá hoả, ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến hoả(can hoả, tâm hoả, đởm hoả, …)
- Gồm có: hư hoả và thực nhiệt (hoả do bên ngoài đưa tới)
Trang 36+ Đặc tính của hoả:
- Hoả hay gây sốt (sốt cao, phiền táo, mặt đỏ, nước tiểu đỏ, khát, họng đỏ sưngđau) và chứng viêm nhiệt ở phần trên (tâm hoả gây loét lưỡi, vị hoả gây sưng lợi,can hoả gây mắt đỏ sưng đau)
- Hoả hay đốt tân dịch: gây khát nước, miệng khô, lưỡi khô, táo, nặng có thể mêsảng
- Nhiệt bức huyết vong hành: phát ban do nhiệt, tổn thương mạch lạc gây nôn ramáu, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm
+ Các chứng bệnh hay xuất hiện do hoả.
- Hoả độc nhiệt độc:
o Gây các bệnh nhiễm trùng (mụn, nhọt, viêm họng, viêm phổi, …)
o Gây các bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát không có hoặc có biến chứng gâymất nước, nhiễm độc TK, chảy máu, mặt đỏ, mắt đỏ, sợ nóng, khát, táo, tiểu tiệnít đỏ, rêu lưỡi vàng dày, chất lưỡi đỏ giáng, mạch nhanh, có thể thấy mê sảng,hôn mê hoặc nôn ra máu, đại tiện ra máu, chảy máu cam
- Thấp nhiệt: Các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu sinh dục và tiêu hoá (viêm gan,
viêm đường dẫn mật, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng, viêm phần phụ, viêm niệu đạo âmđạo, viêm BQ)
- Phong nhiệt:
o Cảm mạo có sốt, giai đoạn đầu các bệnh truyền nhiễm (sốt, sợ gió, không sợlạnh, họng đau đỏ, nước tiểu vàng, chất lưỡi và rêu lưỡi vàng, mạch phù sác)
o Viêm màng tiếp hợp theo mùa, dị ứng viêm khớp cấp
- Táo nhiệt: Sốt cao, ít sợ lạnh, đau đầu, đau ngực, mũi khô, miệng khát, tâm
phiền, đầu lưỡi đỏ, hay gay chứng mất tân dịch và điện giải (âm hư huyết nhiệt)dễ gây biến chứng nhiễm độc TK và vận mạch: nói lảm nhảm, vật vã, hôn mê, xuấthuyết Thường gặp ở các bệnh truyền nhiễm về mùa thu như sốt xuất huyết, viêmnão…
- Thử nhiệt:
o Thương thử (nhẹ): sốt về mùa hè, vật vã, khát, mỏi mệt
Trang 37o Trúng thử (nặng): say nắng, nhẹ thì hoa mắt chóng mặt, nặng thì đột nhiên hôn
mê, bất tỉnh nhân sự, khò khè, ra mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh
- Chứng hư nhiệt (nội nhiệt): Do âm hư sinh nội nhiệt (gò má đỏ, ngũ tâm phiền
nhiệt, triều nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm, ho khan, họng khô, lưỡi đỏ, ít rêuhoặc không có rêu)
2 Nội nhân (nguyên nhân bên trong):
- Bảy thứ tình chí gây ra do những rối loạn về tâm lý là vui (hỉ) - buồn (bi) – lo (ưu)– nghĩ (tư) - giận (nộ) – kinh (kinh) - sợ (khủng)
- Tình chí bị kích động hay những sang chấn tinh thần gây ra sự mất thăng bằng về
âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mà gây ra các bệnh nội thương như caohuyết áp, suy nhược TK, loét dạ dày tá tràng
+ Thất tình và tạng phủ có liên quan mật thiết:
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hoá ra thất tình, can sinh ra giận dữ, tâmsinh ra vui mừng, tỳ sinh ra suy nghĩ, phế sinh ra lo lắng, thận sinh ra kinh sợ
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của phủ tạng: giận hại can, vui hại tâm,nghĩ hại tỳ, lo hại phế, sợ hãi hại thận Đặc biệt thất tình làm ảnh hưởng tới khí củacác phủ tạng: giận làm khí thăng (cáu gắt), vui thì khí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thìkhí hạ
- Thất tình đặc biệt hay gây các chứng bệnh cho 3 tạng: tâm, can, tỳ
o Tâm: kinh quý, chính xung, mất ngủ hay quên, tinh thần không ổn định, hoang
tưởng, cười nói huyên thuyên, thao cuồng, điên cuồng
o Can: tinh thần uất ức, hay cáu gắt, mạng sườn đầy tức, phụ nữ đau vú, kinh
nguyệt không đều, thống kinh
o Tỳ: ăn uống kém, không muốn ăn, bụng đầy, đại tiện thất thường, phụ nữ bế kinh
rong huyết
3 Bất nội ngoại nhân (nguyên nhân khác):
Trang 38+ Đàm ẩm:
- Là sản phẩm bệnh lý: đàm là chất đặc, ẩm là chất loãng, đàm ẩm sau khi sinh
ra gây những chứng bệnh mới, đặc biệt phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng (khôngphải chỉ có ho khạc ra đờm)
- Nguồn gốc: đàm ẩm do tân dịch ngưng tụ biến hoá thành Do lục dâm, thấttình làm cơ năng 3 tạng tỳ - phế - thận bị ảnh hưởng, tân dịch không phân bố và vậnhành được ngưng tụ thành thấp, thấp hoá thành đàm ẩm
- Đàm ẩm sau khi hình thành: theo khí đi các nơi ở ngoài đến cân xương trongđến tạng phủ, không đâu ko đến, làm ảnh hưởng đến sự vận hành khí huyết, sựthăng giáng của khí mà gây các chứng ở các bộ phận cơ thể
- Triệu chứng của đàm ẩm ở các bộ phận cơ thể:
o Đàm: Phế (hen suyễn, khạc ra đờm); Tâm (tâm quí, điên cuồng) Vị (lợm giọng,nôn mửa) nghịch lên trên (huyễn vựng); ngực (tức ngực mà suyễn); kinh thiếudương (sốt rét)
o Ẩm: tràn ra cơ nhục (gây phù thũng); ra ngực sườn (gây ho, hen suyễn); ở tiêu hoá(gây sôi bụng, miệng khô, bụng đầy ăn kém)
+ Những chứng bệnh gây ra đàm ẩm:
- Đàm:
- Phong đàm : chứng trúng phong đàm (hoa mắt, chóng mặt, đột nhiên ngã, khòkhè, miệng méo, mắt lệch, lưỡi cứng không nói, hoặc chứng đội nhiên ngã, hôn
mê, sùi bọt mép (động kinh)
- Nhiệt đàm : phiền nhiệt, táo bón, đầu mặt nóng, đau họng, điên cuồng
- Hàn đàm : đau xương dữ dội, tay chân không cử động, ho ra đờm lỏng, mạch trầmtrì
- Thấp đàm : người nặng nề, yếu, mệt mỏi
- Loa lịch : lao hạch thường ở gáy, nách, bẹn, thành khối, hạch không nóng khôngđau, ra chất bã đậu, khi vỡ loét khó liền miệng
- Ẩm:
Trang 39- Đau mạng sườn, ho khó thở, đau liên sườn hay gặp ở bệnh màng phổi có nước(huyền ẩm).
- Đau người và nặng nề, tay chân phù, hen suyễn, ko có mồ hôi, sợ lạnh (yêm ẩm)
- Hen suyễn không nằm được, mặt phù
- Triệu chứng biểu hiện ứ huyết:
o Đau, thường do xung huyết gây chèn ép, tính chất đau cố định một chỗ, cự án
o Sưng thành khối, hay gặp ở các bệnh ngoại khoa (gãy xương, ngã, …) hoặc ứhuyết ở các tạng phủ chảy máu do thoát quản hay gặp đại tiện, tiểu tiện ra máu,chảy máu do rong huyết, rong kinh
o Ngoài ra còn tìm các triệu chứng chảy máu dưới da, chất lưỡi tím hoặc có điểm ứhuyết, mạch tế sáp
3.3- Ăn uống:
- Số lượng, chất lượng thức ăn thiếu, ăn quá nhiều (bội thực), thức ăn không sạch(nhiễm trùng) Đặc biệt có tính chất của đồ ăn gây ra bệnh: ăn đồ béo ngọt gâythấp, đàm, nhiệt Đồ lạnh gây tỳ vị hư hàn Đồ cay gây táo bón, trĩ hoặc thích ănchua đắng ngọt mặn cay cũng ảnh hưởng đến việc sinh bệnh
3.4- Sang chấn, tình dục, trùng thú cắn, …
III-
Tứ chẩn:
1 Vọng chẩn:
Trang 401.1 - Thần: là hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy (còn thần, mất thần, kém thần, giả
thần, …)
+ Sắc: nhuận trạch (tươi sáng), kém nhuận.
- Sắc mặt đỏ: do nhiệt (thực nhiệt (sốt, mặt đỏ) ≠ hư nhiệt (gò má đỏ do âm hư))
- Sắc mặt vàng: do hư, thấp (vàng sáng → thấp nhiệt, vàng ám tối → hàn thấp, hơivàng → tỳ hư)
- Sắc mặt trắng → do hư hàn, mất máu
- Sắc mặt đen → hàn, thuỷ thấp, thận hư, đau
- Sắc mặt xanh → do hàn, ứ huyết, kinh phong (co giật), đau
1.2 - Hình thái, tư thế, cử động.
- Thể trạng: béo, gày, trung bình
- Hoạt động: nhanh nhẹn, hoạt bát, chậm chạp, ưa động, ưa tĩnh, ưa sáng, ưa tối,
…
- Tư thế: cân đối, lệch vẹo, gù, tư thế chống đau, teo cơ, …
1.3 - Mũi: màu sắc, biểu hiện, chất tiết, …
- Màu sắc: đầu mũi xanh→ đau bụng; sắc đen → ngực có đàm ẩm; sắc trắng → khí
hư, mất máu; sắc vàng → thấp, sắc đỏ → phế nhiệt
- Cánh mũi phập phồng → khó thở, phế nhiệt
- Chảy nước mũi: trong → phong hàn, đục → phong nhiệt,…
1.4 - Môi:
- Đỏ hồng, khô→ nhiệt, âm hư hoả vượng
- Trắng nhợt → huyết hư
- Xanh tím → ứ huyết
- Xanh đen → hàn
- Lở loét → vị nhiệt