1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM tắt đề CƯƠNG CHUYÊN đề QUAN NIỆM NGHỆ THUẬVỀ CON NGƯỜI TRONG văn học VIỆT NAMTỪ CÁCH MẠNG THÁNG tám 1945 đến NAY

35 518 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 96,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu quan niệmnghệ thuật về con người sẽ giúp chúng ta cắt nghĩa, lí giải được hình tượng con người được biểuhiện trong tác phẩm, thông qua đó nhận thức được hiện thực cuộc sống đang

Trang 1

TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG CHUYÊN ĐỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬVỀ

1.1 Đối tượng của văn học là con người

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

2 Vai trò của quan niệm nghệ thuật về con người

II Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám

1945 đến nay

1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ 1945 – 1975

1.1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

a Sự thống nhất trong quan niệm nghệ thuật về con người

b Quan niệm nghệ thuật về con người ở từng chặng đường văn học đượcbiểu hiện cụ thể và có những đặc điểm riêng

2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay

2.1 Hoàn cảnh lịch sử và những chuyển biến về xã hội, văn hóa, tư tưởng2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

a Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

b Những kiểu con người chủ yếu

c Vài nét về sự chuyển biến trong phương thức biểu hiện quan niệm nghệthuật về con người

III Một số câu hỏi, đề bài luyện tập

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

Trang 2

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

pháp học Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những phạm trù quan trọng chi phối

sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, đặc biệt là miêu tả con người của văn học

1.2 Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay đã phát triển trong những điềukiện lịch sử, xã hội đặc biệt, có nhiều biến động Đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh gian khổchống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, rồi sau đó khi hòa bình trở lại, cả dân tộc quay trở về vớiquỹ đạo đời thường, hòa nhập sâu hơn với thế giới,…Văn học cũng có sự chuyển biến để phùhợp với tình hình mới Từ 1945 đến 1975 là nền văn học phát triển trong thời chiến, từ sau năm

1975 đến nay văn học tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh hòa bình Nhưng dù trong hoàn cảnhnào thì con người cũng là mục đích và là đối tượng trung tâm của văn học Tìm hiểu quan niệmnghệ thuật về con người sẽ giúp chúng ta cắt nghĩa, lí giải được hình tượng con người được biểuhiện trong tác phẩm, thông qua đó nhận thức được hiện thực cuộc sống đang diễn ra, những đặcsắc và những cách tân độc đáo trong nghệ thuật thể hiện, thấy được quá trình phát triển, đổi mớicủa các giai đoạn, các thời kì văn học,…

1.3 Trong thực tế, có rất nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu quan niệm nghệ thuật vềcon người Tuy nhiên những bài viết này thường tập trung tìm hiểu quan niệm con người của mộttác giả cụ thể, một giai đoạn văn học nhất định Có ít công trình đi vào nghiên cứu quan niệmnghệ thuật về con người trong cả thời kì văn học Việt Nam từ 1945 đến nay Thực hiện đề tàinày chúng tôi muốn góp phần làm rõ những nét cơ bản về quan niệm con người, vai trò của nóđược thể hiện ở mỗi giai đoạn văn học, thông qua đó thấy được diện mạo chủ yếu, và sự chuyểnbiến của văn học Việt Nam từ 1945 đến nay

1.4 Hiện nay trong nhà trường, những tác phẩm thuộc thời kì văn học Việt Nam từ sau Cáchmạng tháng Tám 1945 đến nay chiếm vị trí quan trọng, đối với cả thi học sinh giỏi, tốt nghiệp vàđại học Việc nghiên cứu, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người do đó không chỉ có ýnghĩa khoa học mà còn mang tính thời sự, tính thực tiễn đối với cả người học và người dạy văn

Nó cung cấp cơ sở lí luận cho việc xác lập các tiêu chí đánh giá văn học, rèn luyện tư duy phântích, lí giải các vấn đề liên quan đến việc thể hiện con người của tác giả trong tác phẩm văn học,

II Mục đích của đề tài

Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng tới mục đích chỉ ra các đặc điểm cơ bản trong quanniệm nghệ thuật về con người của văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, vaitrò của nó trong việc thể hiện ý nghĩa hiện thực đời sống và sự lựa chọn các phương thức,phương tiện biểu hiện của văn học để biểu hiện con người, so sánh để thấy được sự chuyển biếntrong quan niệm con người giữa hai giai đoạn văn học: giai đoạn từ 1945 đến 1975 và giai đoạn

từ sau 1975 đến nay dẫn đến sự thay đổi diện mạo của nền văn học

Trang 3

III Bố cục của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề được chia làm ba phần:

- Khái quát quan niệm nghệ thuật về con người

- Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945đến nay

- Một số câu hỏi, bài tập

PHẨN NỘI DUNG

I Khái quát quan niệm nghệ thuật về con người

1 Khái niệm

1.1 Đối tượng của văn học là con người

Gor-ki đã từng khẳng định Văn học là nhân học Đúng vậy, đối tượng chủ yếu của văn

học chính là con người Dù có miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật, con vật,… thì mục đích cuốicùng vẫn là để thể hiện con người Thông qua con người, nhà văn thể hiện sự nhận thức, khámphá, đánh giá về hiện thực đời sống Hiện thực ấy có chân thực, sâu sắc, có đi được vào lòngngười hay không chính là nhờ con người Con người vừa là phương tiện để đánh giá hiện thựcnhưng qua việc đánh giá hiện thực nhà văn cũng nhằm mục đích miêu tả con người Có thể nóicon người là đối tượng trung tâm trong sáng tác văn học của mọi thời đại

Tuy nhiên con người trong tác phẩm văn học không hoàn toàn giống với con người ở

ngoài đời thực Nhiều khi đọc một tác phẩm, người ta ồ lên rằng: Tôi đã gặp anh ta ở đâu đó rồi.

Sự giống nhau ấy chính là bởi hình tượng con người trong tác phẩm đã được xây dựng từ conngười ngoài cuộc sống Nhưng qua sáng tạo của nhà văn, đó không còn là những con người cụthể, thô mộc ngoài hiện thực mà đã chuyển thể thành hình tượng nghệ thuật, gửi gắm trong đó

những vấn đề có tầm khái quát lớn lao hơn rất nhiều Con người trong tác phẩm vừa có giá trị

thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ (Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử)

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

Theo cách hiểu trong Từ điển Tiếng Việt, quan niệm là hiểu, nhận thức thế nào đó về một

vấn đề, Từ điển Bách khoa triết học định nghĩa là cách hiểu, cách cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó Như vậy nói đến quan niệm là nói về sự nhận thức, sự cắt nghĩa, lí giải

của chủ thể đối với khách thể Trong tác phẩm văn học, nhà văn thể hiện sự nhận thức, đánh giácủa mình về hiện thực, về cuộc sống thông qua hình tượng trung tâm là con người Quan niệm

nghệ thuật về con người theo giáo sư Trần Đình Sử là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con

người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong

đó (Dẫn luận thi pháp học) Định nghĩa này khẳng định quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi

vào phân tích, mổ xẻ, lí giải về con người và được thể hiện thành các nguyên tắc, biện pháp, qua

đó thấy được giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật của tác phẩm Từ điển thuật ngữ văn học của Lê

Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đưa ra cách hiểu đó là hình thức bên trong của sự

chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với cách phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là

cơ sở của tư duy nghệ thuật Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng cách hiểu quan niệm nghệ thuật

Trang 4

về con người tương đối thống nhất, đều nói lên được bản chất, cốt lõi của vấn đề Đó là cách

nhìn, cách hiểu, cách cảm, cách phân tích, cắt nghĩa về con người được nhà văn biểu hiện trong tác phẩm thông qua các phương tiện, biện pháp nghệ thuật Nhân vật trong tác phẩm chính là

hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học Nhân vật có thể giống với con người ởngoài đời thực (về ngoại hình, tính cách) nhưng cũng có thể không giống với đối tượng có thật

Đó là con người được sáng tạo trong những tình huống nhất định để thể hiện cách cảm thụ chủquan của chủ thể

Quan niệm nghệ thuật về con người có cơ sở từ thực tế lịch sử, ảnh hưởng của nền vănhóa, tư tưởng trong thời đại xã hội ấy Vì thế mà trong thời kì trung đại ở Phương Tây, người taxem con người là sản phẩm sáng tạo của chúa Trời, thời kì Phục hưng đến Khai sáng, con ngườiđược xem là sản phẩm của tự nhiên, các tác phẩm văn học đều tôn vinh vẻ đẹp của con ngườitrần thế (Các tác phẩm của Uyliam Sếch –xpia) Từ thế kỉ XIX, con người được xem như vừa làsản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội Không chỉ chịu sự chi phối của nền văn hóa,

tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về con người còn in đậm dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ, thểhiện cái nhìn độc đáo của mỗi tác giả về thế giới Đó là lí do tạo nên sự đa dạng, phong phú trongthế giới nhân vật của các nhà văn, nhà thơ

2 Vai trò của quan niệm nghệ thuật về con người

Có một nhà văn đã từng viết: Con người trong sự miêu tả của nhà văn là một trong

những trung tâm điểm từ đấy tỏa ra các sợi dây chi phối cơ chế nghệ thuật của tác giả Là một tiêu điểm mà qua đó phong cách nhà văn được thể hiện sáng rõ hơn bao giờ hết (…) Và cũng chính những nguyên tắc miêu tả con người ấy đã cung cấp chìa khóa để giúp ra hiểu được phương pháp sáng tạo của người nghệ sĩ Lời nhận xét ấy đã khẳng định được vai trò quan trọng

của quan niệm nghệ thuật về con người đối với việc sáng tạo của nhà văn Trên cơ sở cách nhìn,cách cảm, cách lí giải về con người tác giả sẽ lựa chọn và tạo nên những hình tượng phù hợp đểthể hiện ý đồ nghệ thuật của mình

Ở mỗi một thời đại, với cách giải thích và cảm nhận mới về con người cũng sẽ làm cho

văn học đổi mới Khía cạnh này một lần nữa nhấn mạnh quan niệm con người đã tạo thành cơ

sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật (Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử) Có những tác

phẩm cùng sử dụng một đề tài, một tích truyện, cũng vẫn những nhân vật ấy, con người ấynhưng dưới những góc nhìn khác nhau sẽ tạo thành những sáng tác có giá trị khác nhau Truyện

Kiều được Nguyễn Du sáng tác dựa trên tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài

Nhân Dù có vay mượn cốt truyện, nhân vật nhưng với cách giải thích, cách cảm nhận hoàn toànmới, Nguyễn Du đã tạo nên một kiệt tác có một không hai trong văn học Việt Nam Nhà thơ đãbiến một câu chuyện tình (tài tử giai nhân) thành một khúc ca đứt ruột về số phận của nhữngngười bạc mệnh, biểu hiện những cảm xúc nhân sinh về những điều trông thấy trong cuộc đời

Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn hướng vào con người với tất cảchiều sâu của nó, và theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đây chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất

để đánh giá giá trị nhân văn của một hiện tượng văn học (…) Người nghệ sĩ đích thực là người

suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người (Dẫn luận thi pháp học) Nếu như không đi sâu vào tìm hiểu, khám phá con người, anh sẽ không mang

được điều gì mới, tác phẩm của anh chỉ là sự minh họa giản đơn, hời hợt bên ngoài, không cóchiều sâu, rất dễ sinh ra nhàm chán, và không động được đến trái tim người đọc Bởi như chúng

ta vẫn biết, con người là đối tượng trung tâm của văn học và cũng là cái đích mà văn học hướngtới Chỉ có những gì chạm vào sâu thẳm tâm hồn mới đủ sức lay động, và có thể làm thay đổi cả

Trang 5

thế giới này Giá trị nhân văn của tác phẩm nằm ở đó, nằm ở chỗ nhà văn cắt nghĩa, lí giải, cảmnhận sâu sắc ở mức độ nào về con người

Một tác phẩm hay là phải đạt tới sự hài hòa giữa nội dung và hình thức nghệ thuật Cácyếu tố hình thức cũng chịu sự chi phối của quan niệm con người, quy định sự lựa chọn các thủpháp nghệ thuật của nhà văn để xây dựng hình tượng (chẳng hạn như kết cấu, cốt truyện, nhânvật, giọng điệu trần thuật,… ) Trong những tác phẩm của Nam Cao, chúng ta có thể bắt gặp kiểu

người rất phổ biến đó là con người tự ý thức Hộ trong Đời thừa, Điền trong Giăng sáng, Thứ trong Sống mòn, và ngay cả Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên cũng có bóng dáng của kiểu

người này Nhân vật của Nam Cao thường mang trong mình những mâu thuẫn, giằng xé dữ dộigiữa ranh giới của cái thiện và cái ác, lương tâm, trách nhiệm và hiện thực tàn khốc, giữa người

và vật, giữa ý thức và vô thức Tự ý thức giúp phân biệt con người với con vật, là quá trình đấutranh với chính bản thân mình, vươn lên hướng tới sự hoàn thiện Trong bi kịch của một nhà văn,

Hộ khinh bỉ chính bản thân mình, tự mắng mình là một kẻ bất lương, đê tiện khi đã viết nhữngtác phẩm nhạt nhẽo, để lại những tình cảm rất nhẹ, rất nông, không có ấn tượng gì Hộ đau đớn,lương tâm của một nhà văn chân chính đang dày vò Hộ khiến anh ta cảm thấy mình là một người

vô ích, một người thừa Trong sâu thẳm tâm hồn Hộ vẫn khao khát về một cái gì đó rất xa xôi…

những mộng đẹp ngày xưa… Quá trình tự ý thức, tự đấu tranh để vươn lên ấy cũng thể hiện rất

rõ trong nhân vật Chí Phèo Gặp được Thị Nở, cuộc đời Chí đã rẽ ngoặt sang một hướng mới.Con quỷ dữ của làng Vũ Đại một thời nay đang khao khát được làm người lương thiện và Thị Nở

sẽ là người mở cánh cửa cho hắn trở về Khao khát quá lớn va đập với hiện thực tàn khốc khiếnChí đau đớn, tuyệt vọng Nhưng sự thức tỉnh của lương tâm đã khiến anh dứt khoát lựa chọnđứng về ranh giới của cái Thiện, để được chết như một con người, hơn là phải sống kiếp của mộtcon vật bị người ta lảng tránh, ghê sợ Có thể nói sự lựa chọn kiểu con người tự ý thức đã giúpcho Nam Cao phát huy được biệt tài miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật rất sắc sảo Ông giốngnhư một bác sĩ tâm lí khơi sâu vào trong đời sống tâm hồn của nhân vật để khám phá những góckhuất, để khơi lên những vẻ đẹp tiềm ẩn trong đó, để cho bản chất Người thực sự tỏa sáng Ví dụ

này chứng minh quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động

của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật (Dẫn luận thi pháp học, Trần

Như vậy quan niệm nghệ thuật về con người có ý nghĩa quan trọng trong sáng tạo củanhà văn và trong cả quá trình tiếp nhận của độc giả

Trang 6

II Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám

cá nhân mà chủ yếu bằng con mắt khái quát có tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời đại Tố

Hữu gọi đó là con mắt nhìn bốn hướng / Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau / Trông bắc

trông nam trông cả địa cầu Còn Chế Lan Viên gọi là con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa.

Cảm hứng bao trùm là cảm hứng lãng mạn, hướng về lí tưởng, về tương lai với niềm tin và niềmvui chiến thắng

Có thể khẳng định văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 đã có sự biến đổi trên nhiềuphương diện, từ nội dung cảm hứng, đề tài, chủ đề đến ngôn ngữ, giọng điệu, nhân vật,… Sựbiến đổi này đến từ nhiều nguyên nhân mà trước hết là sự thay đổi quan niệm về con người Như

ở trên chúng ta đã phân tích, quan niệm con người có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn vàmiêu tả con người của nhà văn Quan niệm ấy bao giờ cũng chịu tác động của văn hóa, tư tưởngcủa xã hội, thời đại Một thời đại mới sẽ kéo theo những quan niệm mới Tuy nhiên giai đoạnvăn học 1945 – 1975 với sự thống nhất về khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật nên cũng không

có sự phức tạp, đa dạng trong quan niệm con người Các tác giả đều sáng tác dưới sự chi phốicủa một quan niệm thống nhất nhưng đó là sự thống nhất trên nét lớn Trong từng chặng đườngcủa văn học, quan niệm cũng có sự phát triển cho phù hợp với hoàn cảnh của xã hội, của đấtnước, của cách mạng

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

a Sự thống nhất trong quan niệm nghệ thuật về con người

* Về nội dung quan niệm: con người được nhìn nhận và đánh giá chủ yếu ở tư cách con người

công dân, con người dân tộc, con người giai cấp (Nguyễn Văn Long) Nếu như trước đó, văn

học Việt Nam luôn đề cao con người cá nhân đặc biệt là khả năng hướng nội, đào sâu vào cái tôibản thể thì giờ đây, với quan niệm mới, con người chủ yếu được các nhà văn miêu tả trong mốiquan hệ với xã hội, cộng đồng, dân tộc, với cách mạng Tất cả đời sống vật chất, tâm hồn, tìnhcảm của con người đều xoay xung quanh những vấn đề có tầm vóc lớn lao, liên quan đến vậnmệnh của đất nước Những tình cảm cá nhân, đời thường không còn là tâm điểm chú ý của vănhọc Vì thế ở giai đoạn này chúng ta rất hiếm khi gặp con người với tư cách đời tư, thế sự Mọi

sự đánh giá đối với con người cũng được quy chiếu trên lập trường chính trị Bởi vậy những tìnhcảm chủ yếu của thơ ca giai đoạn này là tình cảm công dân, tình cảm chính trị Đó là tình yêunước, tình cảm đồng chí, đồng bào, tình quân dân, tình cảm đối với Đảng, với Bác Hồ,… Những

Trang 7

tình cảm riêng tư (tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng) không phải không có nhưng được nâng lênthành tình đồng chí, đồng đội Chẳng thế mà tiếng súng giệt thù đã trở thành ngôn ngữ của tình

yêu, của lòng chung thủy ở nhiều tác phẩm Trong tiểu thuyết Người mẹ cầm súng, những đêm tập kích, hai vợ chồng ở hai nơi nhưng chị Út Tịch đã nói với chồng: Tôi chia lửa cho chồng đó

nghen; trong Giấc mơ của đất vợ chồng chị Hạnh nói với nhau Đứa đầu ghềnh, đứa cuối bãi, thời buổi này lấy tiếng súng làm tin Có thể nói phẩm chất chính trị đã trở thành thước đo của

mỗi con người Và để cổ vũ cho quan điểm đó, nhiều nhà văn đã xây dựng kiểu nhân vật người

Đảng (nhân vật A Châu trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh Quyết trong Rừng xà nu của

Nguyên Ngọc) – những người đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động quầnchúng đi theo tiếng gọi của Đảng Sự giác ngộ cách mạng rõ ràng là minh chứng rõ nhất chophẩm chất của con người trong thời buổi này, là khía cạnh được các tác giả đặt lên hàng đầu đểngợi ca, để tôn vinh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng

Nói con người trong văn học 1945 – 1975 là con người giai cấp bởi vì cách mạng và

kháng chiến phải dựa hẳn vào lực lượng công nông và trước hết nhằm giải phóng công nông.Cho nên văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất yếu phải hướng về công nông binh Đâychính là đối tượng phản ánh, là công chúng của văn học và cũng là lực lượng sáng tác chính Chủ

tịch Hồ Chí Minh đương thời khi trả lời cho câu hỏi Viết cho ai? cũng nhấn mạnh: Viết cho đại

đa số công nông binh (…) Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng.

Với quan điểm đó, nhiều tác phẩm văn học giai đoạn này đã thể hiện được vai trò vĩ đại của

người nông dân trong cách mạng, tiêu biểu phải kể đến Đôi mắt của Nam Cao Tác giả đã dùng biểu tượng đôi mắt để gửi gắm cách nhìn nhận cuộc đời, nhìn nhận về người dân quê Cùng trước một hiện tượng là người dân quê, Hoàng nhìn vào chỉ thấy đó là những người ngu độn, lỗ

mãng, ích kỉ, tham lam, bần tiện, vừa ngố, vừa nhặng xị thì Độ lại thấy được họ có thể làm cách mạng và làm cách mạng hăng hái lắm Độ cũng thấy những người dân quê đó răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh nhưng khi ra trận thì xung phong, can đảm lắm Đây cũng là cái nhìn của rất nhiều những nhà văn khác đặc

biệt là những nhà văn đã được lột xác nhờ cách mạng…

* Về nghệ thuật biểu hiện con người

Để thể hiện quan niệm con người dân tộc, con người công dân, con người của giai cấp,

văn học 1945 – 1975 đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật tiêu biểu như việc lựa chọn thểloại, giọng điệu, ngôn ngữ,… Khác với thơ ca thời kì trước đó, thời kì này, các tác giả thườnghướng tới khai thác những hình thức nghệ thuật gần gũi với đại chúng, tiếp thu từ kho tàng vănhọc dân gian và truyền thống, ngôn ngữ nghệ thuật giản dị, dễ hiểu, gần với lời ăn tiếng nói củaquần chúng nhân dân,… Ở đây chúng tôi đi sâu vào hai yếu tố chủ yếu là giọng điệu và ngônngữ

Về giọng điệu: Hình ảnh con người Việt Nam thời kì này được tái hiện bằng giọng điệu

chủ đạo là ngợi ca, trang trọng, phù hợp với mục đích của một nền văn học phục vụ nhân dân,phục vụ kháng chiến Sắc thái hào sảng, lạc quan, tự hào là điều dễ nhận thấy trong các tácphẩm, đặc biệt là thơ ca Những dòng thơ viết về đất và người Việt Bắc, những chiến công vangdội của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp đều thấm đẫm chất anh hùng ca, tràn

ngập niềm tự hào, tôn vinh của tác giả: Những đường Việt Bắc của ta/Đêm đêm rầm rập như là

đất rung/Quân đi điệp điệp trùng trùng/Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan/Dân công đỏ đuốc từng đoàn/Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay/Nghìn đêm thăm thẳm sương dày/Đèn pha bật sáng như ngày mai lên (Việt Bắc) Bản hùng ca của dân tộc đã được cất lên hùng hồn, khắc họa

thành công hình ảnh của những đoàn quân đông đảo, lớn mạnh đang hồ hởi tiến ra mặt trận Âm

Trang 8

thanh mạnh mẽ của một loạt động từ, tính từ rầm rập, điệp điệp, trùng trùng, bước chân nát đá,

… đã cho thấy được khí thế ngất trời, có thể làm lay chuyển núi sông của quân dân ta Nhữnggương mặt anh hùng được ngợi ca, ngưỡng mộ xuất hiện ngày càng nhiều trong văn học: ngườicon gái Việt Nam kiên cường Trần Thị Lý, anh Núp, chị Út Tịch, Tnú, Chiến, Việt,… và cònbiết bao những con người Việt Nam có tên và không tên khác Họ đã hóa thân mình để làm nênĐất Nước, làm nên một xứ sở huyền thoại, một lịch sử hào hùng Nguyễn Minh Châu đã miêu tả

tâm trạng của Thùy (trong tiểu thuyết Cửa sông) khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng với sự hứng khởi, say mê Từ bên này ngưỡng cửa của cuộc đời, Thùy thấy mọi vật đều đổi khác Ba

gian nhà trở nên ấm áp hơn, một mối tình đồng chí trong trẻo, chất phác tỏa lên từ khuôn mặt các đồng chí ngồi chung quanh Thùy cảm thấy mình đang được bao bọc trong mối tình lớn ấy.

Nguyễn Trung Thành lại dùng một thứ ngôn ngữ diễn tả sự tuyệt đối, phi thường để ngợi ca Tnú

Sự mau lẹ, dũng mãnh của Tnú được so sánh như một con cá kình, như một con sóc, sự căm thù đốt cháy trong đôi mắt Tnú như hai cục lửa lớn và mười ngón tay của anh bị đốt cháy thành

mười ngọn đuốc,…

Không chỉ trong chiến tranh, giọng điệu ngợi ca, tự hào cũng được sử dụng để khắc họahình ảnh con người trong cuộc sống mới ở miền Bắc khi hòa bình lập lại Sự đổi đời của ngườidân, niềm vui say với cuộc sống mới đã chắp cánh cho những tác phẩm của Nguyễn Khải, ChếLan Viên, Huy Cận,… Trong chuyến đi thực tế ở Quảng Ninh, Huy Cận đã thực sự hòa nhập vàokhông khí làm việc hăng say, tràn đầy lạc quan, tin tưởng của người dân miền biển mặc dù cuộc

sống còn nhiều vất vả: Mặt trời xuống biển như hòn lửa/Sóng đã cài then đêm sập cửa/Đoàn

thuyền đánh cá lại ra khơi/Câu hát căng buồm cùng gió khơi (Đoàn thuyền đánh cá)

Có thể nói giọng điệu chính là phương tiện quan trọng để thể hiện hình tượng con ngườitrong văn học thời kì này

Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ thơ văn cách mạng đã có sự biến đổi mạnh mẽ so với giai đoạn

văn học trước đó, không còn cầu kì kiểu cách mà trở về với đời sống, phản ánh cuộc chiến đấucủa nhân dân ta Đó là một thứ ngôn ngữ bình dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quầnchúng Trong thơ chúng ta bắt gặp cách sử dụng khá phổ biến từ ngữ, cách nói mang tính chất

khẩu ngữ Anh kể chuyện tôi nghe/Trận chợ Đồn, chợ Rã/Ta đánh giặc chạy re/Hai đứa cười ha

hả (Cá nước, Tố Hữu) Chất liệu ca dao, thành ngữ được sử dụng khá nhiều trong thơ ca, khắc

họa thành công tâm tư, tình cảm của quần chúng Mình về mình có nhớ ta/Mười lăm năm ấy thiết

tha mặn nồng/Mình về mình có nhớ không?/Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn (Việt Bắc, Tố

Hữu), Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/Gian nhà không mặc kệ gió lung lay/Giếng nước gốc

đa nhớ người ra lính… (Đồng chí, Chính Hữu) Trong văn xuôi, các nhà văn cũng rất chú trọng

học tập lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân Tô Hoài nhận ra ngôn ngữ quần chúng là kho

của cải vô giá, là nguồn bổ sung vô tận cho nhà viết tiểu thuyết, nhân dân chính là ông thầy lớn của mình về tiếng nói Vì thế ông đưa vào trong tác phẩm cả những từ ngữ thông tục như đánh

bỏ mẹ, sợ đếch gì, giã bọt mép,… ; những thành ngữ, quán ngữ như gà sống nuôi con, ngậm đắng nuốt cay, túng thiếu làm càn, Nguyễn Thi lại rất thành thạo, nhuần nhuyễn trong việc sử

dụng ngôn ngữ của người dân Nam Bộ Hãy nghe cách nói của chú Năm hai đứa cháu tôi một

lòng theo Đảng tôi cũng mừng Xin trên cứ ghi tên cho cả hai Việc lớn ta tính theo việc lớn, còn

việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong, rồi cách trả lời của Việt với Chiến bộ mình chị

biết đi trả thù à?, cái cách mà Chiến thể hiện quyết tâm của mình Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à! (Những đứa con trong gia đình)

Việc sử dụng ngôn ngữ đời sống đã giúp cho văn học 1945 – 1975 khiến cho người dân

dễ hiểu, dễ tiếp thu, làm cho văn học thâm nhập sâu sắc vào quần chúng, nói lên được tiếng nói,

Trang 9

tâm tư, tình cảm của quần chúng, phục vụ xuất sắc nhiệm vụ cách mạng, kháng chiến của dântộc

b Quan niệm nghệ thuật về con người ở từng chặng đường văn học được biểu hiện cụ thể

Quan niệm nghệ thuật về con người

Đắm mình trong không khí náo nức của ngày độc lập, các nhà văn đồng thời cũng pháthiện ra sức mạnh lớn lao của quần chúng cách mạng và vẻ đẹp bình dị ở nơi họ đã tạo nên thắnglợi vĩ đại Hình ảnh quần chúng trong những ngày đầu giải phóng đã được ghi lại trong khá nhiều

tác phẩm: kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng, Một lần tới Thủ đô của Trần Đăng, Rãnh cày

nổi dậy của Mạnh Phú Tư, Đường vô Nam của Nam Cao, bài thơ Đèo Cả của Hữu Loan,…

Gương mặt quần chúng hiện lên sinh động với sự ngợi ca, trân trọng của các nhà văn Nguyễn

Huy Tưởng viết vở kịch Bắc Sơn giúp người đọc hiểu được ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa và sức

mạnh cảm hóa của cách mạng đối với quần chúng Tác giả lấy bối cảnh của vở kịch là cuộc khởinghĩa Bắc Sơn (xảy ra năm 1940 – 1941) và những biến cố xung quanh gia đình cụ Phương, mộtgia đình người Tày Cụ Phương và người con trai là Sáng hăng hái tham gia chiến đấu còn bà cụPhương và cô con gái là Thơm lại ngại ngần, xa lánh Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng được mộttình huống đặc biệt để làm nổi bật xung đột giữa lực lượng cách mạng và kẻ thù, đồng thời thôngqua diễn biến nội tâm phức tạp của nhân vật Thơm – nhân vật trung tâm của vở kịch thấy đượcsức mạnh cảm hóa của cách mạng Ban đầu, Thơm còn ngây thơ, còn cả tin vào người chồngtheo giặc nhưng sau đó khi biết rõ sự thật, cô đã lột xác để trở thành một con người bình tĩnh, tựtin, can đảm, dám bảo vệ đến cùng những cán bộ cách mạng Câu nói của Thơm trong cơn mêsảng đã chứng minh cho tình cảm với cách mạng, cũng là lời cổ vũ, sự hưởng ứng, đồng tình của

nhân dân dành cho cuộc khởi nghĩa: Trường Vũ Lăng ta lại chiếm được kia kìa! Đi mau lên, các

ông! Các ông cố lên nha! Mau lên! có phải cờ ta đấy không? Được thật rồi! Trong lúc đó, tiếng

hát của du kích quân cất lên vang lừng, hùng dũng, văng vẳng

Bước vào thời kì chống Pháp, văn học hướng hẳn đến đối tượng công nông binh Vẫn là

gương mặt quần chúng nhưng không còn chung chung nữa mà đã được xác định cụ thể hơn

Quần chúng đã trở thành nguyên tắc xây dựng nghệ thuật và chuẩn mực đánh giá tác phẩm: tác phẩm phải biểu hiện được tư tưởng, tình cảm, khát vọng của quần chúng Sở thích và sự đánh giá của quần chúng là thước đo thành công và giá trị của tác phẩm nghệ thuật (Nguyễn Văn

Long) Vì văn học viết cho đại chúng và muốn đi sâu vào đại chúng không thể hời hợt, bề ngoài,

mà phải hiểu được đời sống, tâm tư, tình cảm của họ, giúp họ nói lên tiếng nói của tầng lớpmình Vì văn học viết về đại chúng nên phải khai thác những cách thể hiện nghệ thuật quenthuộc với đại chúng mới dễ đi vào lòng người Ngôn ngữ phải thật bình dị, là lời ăn tiếng nóihàng ngày của nhân dân, cách diễn đạt phải thật dễ hiểu, phải gần gũi chứ không phải là nhữnglời kiểu cách Hình thức nghệ thuật dân gian được các nhà văn, nhà thơ tích cực khai thác, vận

Trang 10

dụng trong sáng tác: thể thơ lục bát, song thất lục bát của ca dao, chất liệu thành ngữ, tục ngữ,những giai điệu quen thuộc trong những khúc hát dân ca, những điệu hò ví dặm,….

Trong thơ ca, cảm quan hiện thực đã giúp các tác giả đưa thơ trở về gần với đời sốngthực tại hàng ngày của quần chúng kháng chiến, xây dựng được hình ảnh của con người bình dị,gần gũi nhưng không kém phần cao đẹp Đó là những người lính nông dân hiền lành, chất phác,

ra đi từ nơi nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, vốn chẳng hẹn quen nhau nhưng lại gắn kết bởi cùng một lí tưởng, gọi nhau hai tiếng thiêng liêng đồng chí! Những chi tiết rất thực của đời

thường đã ùa vào thơ làm sống dậy những gương mặt thật thân quen mà ta có thể gặp ở bất cứnơi đâu trên đất nước này Không chỉ có người lính, chúng ta còn bắt gặp hình ảnh của nhữngngười mẹ, người chị, người em, những anh vệ quốc quân, và rất nhiều những con người khác Họhiện ra đúng như cuộc đời thực của mình trong lao động, sinh hoạt, trong suy nghĩ, việc làm,trong đời sống tình cảm Có thể kể đến những tác phẩm của các nhà thơ trong phong trào Thơ

mới, các nhà thơ trưởng thành trong đấu tranh cách mạng như Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng

Nguyên… Và người thành công nhất với xu hướng này là Tố Hữu Với một loạt những bài thơ

như Cá nước, phá đường, Bầm ơi, Bà mẹ Việt Bắc, Voi,… Tố Hữu đã đem thơ lại gần với quần

chúng và thật dễ hiểu vì sao thời ấy người ra thuộc thơ ông nhiều như thế, chính là bởi những

dòng thơ bình dị, dễ đi vào lòng người: Em là con gái Bắc Giang/Rét thì mặc rét nước làng em

lo (Phá đường, Tố Hữu)

Cái tôi của Tố Hữu nhập thân vào quần chúng để thể hiện tâm tư, tình cảm của quầnchúng Đó là tình nghĩa gắn bó giữa hậu phương với tiền tuyến được thể hiện trong niềm nhớ

thương của những bà mẹ nông dân với đứa con vệ quốc quân, là tình cảm cá nước của người cán

bộ với anh bộ đội chỉ qua một lần gặp gỡ tình cờ trên dường kháng chiến, là mối tình gắn bó keo

sơn giữa miền ngược và miền xuôi Mình về mình có nhớ ta/Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng (Việt Bắc)

Bên cạnh xu hướng xây dựng con người bằng cảm quan hiện thực, một hướng khai tháckhác cũng được chú ý đó là miêu tả con người bằng cảm hứng lãng mạn anh hùng Xu hướngnày xuất hiện trong những năm đầu thời kì chống Pháp Hình ảnh con người được tập trung thểhiện thường là những người anh hùng (không phải là một người mà là tập thể anh hùng), ở họ

luôn thấy thấp thoáng bóng dáng của những đấng trượng phu, tráng sĩ thuở trước: Nhớ đêm ra đi

đất trời bốc lửa/Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng/Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng/Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm/ Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm/Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa (Ngày về, Chính Hữu); hay Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Tây Tiến, Quang Dũng) Trong đó, Tây Tiến được xem như một bài thơ xuất sắc, độc đáo, một thi phẩm toàn bích đại diện cho xu hướng

này Có một thời bài thơ bị xem là mộng rớt, là tiểu tư sản bởi những câu thơ như: Mắt trừng

gửi mộng qua biên giới/Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Thời gian đã chứng minh cho sức sống

của bài thơ ấy trong lòng người, không phải là mộng rớt mà chính là sự lãng mạn, hào hoa, là nỗinhớ sâu thẳm đã làm nên một hình tượng riêng độc đáo về người lính chống Pháp – những conngười xuất thân từ tầng lớp thanh niên trí thức Hà thành

Truyện và kí thời kì này cũng trực tiếp hướng tới đối tượng là quần chúng kháng chiếnvới nhiều khám phá và cách thể hiện đặc biệt trên phương diện trần thuật Đó là sự hòa nhập,thống nhất giữa quan điểm của tác giả - người kể chuyện với nhân vật quần chúng Trong nhữngtác phẩm ở thời kì đầu kháng chiến, khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật vẫn còn.Người đọc có thể hình dung được hình ảnh của tác giả đang hướng cái nhìn từ bên ngoài vào để

Trang 11

quan sát, miêu tả quần chúng, thấy được sự thay đổi, bày tỏ sự ngưỡng mộ, khâm phục trước sức

mạnh và vẻ đẹp của họ trong Đôi mắt của Nam Cao, Một lần tới Thủ đô của Trần Đăng hay trong tùy bút Đường vui của Nguyễn Tuân… Nhưng càng về sau, khoảng cách này dường như

không còn nữa Người trần thuật đã nhập hẳn vào hình ảnh của con người, vào suy nghĩ, tìnhcảm của nhân vật quần chúng, nói bằng giọng điệu và ngôn ngữ của chính quần chúng chứkhông còn là sự quan sát từ bên ngoài nữa Cách trần thuật khách quan, để cho bản thân cuộcsống tự nói lên tất cả khiến cho tác phẩm thực sự trở nên gần gũi, chân thực hơn Có thể nhận

thấy sự hòa nhập này trong Làng của Kim Lân, tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài,… Trong truyện ngắn Làng, Kim Lân dường như đã nhập vào nhân vật để miêu tả diễn biến tâm lí của ông Hai từ chỗ yêu làng một cách tuyệt đối đến chỗ thù làng trong nỗi đau đớn vô hạn, rồi khi cái tin làng

Chợ Dầu theo Tây được đích thân ông chủ tịch làng lên tận nơi để cải chính, ông lại vui mừngtột độ Tâm lí ấy rất chân thực, nếu như không hòa vào nhân vật chắc chắn nhà văn không thểviết được như thế, và viết bằng một vốn ngôn ngữ đặc chất của một người nông dân, chân lấm

tay bùn nhưng yêu làng tha thiết Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù Vợ

chồng A Phủ của Tô Hoài cũng tạo được một dấu ấn đặc biệt trong lòng người đọc nhờ cách kể

chuyện của tác giả, nhất là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Nhiều đoạn, nhà văn đã sử dụngngôn ngữ nửa trực tiếp giúp người đọc nhận ra được vẻ đẹp nội tâm của nhân vật, nghe đượctiếng nói bên trong tâm hồn nhân vật, tạo được sự đồng cảm giữa nhà văn, nhân vật và người

đọc Khi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bổi hổi, khi Mị uống rượu, cứ uống ực từng bát, khi Mị nhớ lại quá khứ tươi đẹp của ngày trước, Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như

thổi sáo Có biết bao người mê, ngày đem đã thổi sáo đi theo Mị, rồi khi bị trói đứng vào cột

nhà, tâm trạng nửa mê nửa tỉnh Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi Lúc thì khắp người bị dây trói thít

lại, đau nhức Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ… Đó là những đoạn độc thoại nội tâm sâu sắc mà

ở đó ngôn ngữ nhà văn và nhân vật dường như đã hòa làm một, nhà văn sống trong nhân vật đểnói lên tất cả những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật Cách trần thuật này cũng giúp TôHoài đem được bản sắc của người dân miền núi vào trong tác phẩm, tạo được vẻ đẹp riêng khiviết về quần chúng kháng chiến

Như vậy trong chặng đường đầu tiên của văn học cách mạng, quan niệm nghệ thuật vềcon người đã được thể hiện tập trung trong hình ảnh của quần chúng kháng chiến mà tiêu biểu làcông nông binh Sự thể hiện ở mỗi tác phẩm có khác nhau nhưng đều dựa trên những nguyên tắc

cơ bản trong việc cắt nghĩa lí giải về con người:

- Con người được khám phá chủ yếu với tư cách công dân, ở phương diện con người chính trị,hoàn toàn không có chỗ cho con người cá nhân tồn tại Phương diện đời tư, thế sự ít được chú ý,

và nếu có thì những tình cảm cá nhân ấy cũng hòa nhập trong những tình cảm có tính chất rộnglớn hơn: tình cảm cộng đồng, dân tộc Những con người của gia đình, của làng xóm giờ đây ýthức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình không chỉ dừng lại trong phạm vi nhỏ bé ấy màphải tham gia vào những những biến cố của đời sống lịch sử, phải hòa nhịp với cuộc cách mạngcủa cả dân tộc, phải nói lên tiếng nói của cộng đồng Sự thức tỉnh ý thức chính trị ấy đã nâng họlớn lên, phát hiện ra họ đang gánh trên vai cả cuộc kháng chiến vĩ đại, nhận ra sứ mệnh và đồngthời cũng khám phá được sức mạnh lớn lao của giai cấp mình, thế hệ mình Số phận và conđường đi của quần chúng hoàn toàn thống nhất với vận mệnh và con đường đi của toàn dân tộc,giai cấp Thể hiện hình ảnh con người quần chúng, văn học giai đoạn này chủ yếu nói lên nhữngtình cảm chung trong đời sống cộng đồng: tình đồng chí, đồng bào, lòng yêu nước, căm thù giặc,

… Cảm hứng ngợi ca, tự hào là giai điệu xuyên suốt các tác phẩm giai đoạn này

Trang 12

- Con người kháng chiến được miêu tả chủ yếu trong các sự kiện, biến cố của cộng đồng, thamgia vào diễn biến dồn dập của lịch sử Họ hiện lên là những con người của hành động, của ý chí.Đời sống nội tâm mặc dù có được chú ý nhưng không có nhiều mâu thuẫn phức tạp mà thườngđơn giản, trong sáng, dứt khoát Con đường họ đi thẳng hướng đến tương lai với niềm lạc quan,tin tưởng và rất ít khi nhớ về quá khứ bởi đối với họ quá khứ chỉ là khổ đau, bất hạnh

- Một nguyên tắc miêu tả con người quần chúng của văn học giai đoạn này đó là xây dựngnhững hình tượng đám đông, tập thể Con người ít được chú ý với tư cách cá nhân mà được đặttrong tập thể anh hùng bởi họ đã ý thức được sức mạnh vĩ đại của sự đoàn kết cộng đồng Trong

thơ ca, đó là tập thể những người lính Tây Tiến Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, là hình ảnh của những đoàn quân điệp điệp trùng trùng ra trận, những đoàn dân công với bước chân mạnh

mẽ làm rung chuyển đất trời, đó còn là những người anh hùng áo vải rũ bùn đứng dậy sáng lòa (Đất nước, Nguyễn Đình Thi) Trong văn xuôi, hình ảnh của đám đông quần chúng được xuất hiện ở nhiều tác phẩm như đại đội Trần Phú trong Xung kích của Nguyễn Đình Thi, trung đội dân công Tiến Mạnh trong Bước đường 12, đám đông công nhân trong Vùng mỏ của Võ Huy

Quan niệm nghệ thuật về con người

Giai đoạn văn học 1955 - 1964 là bước phát triển tiếp theo của văn học chống Pháp Hoàncảnh lịch sử, xã hội có nhiều thay đổi không có nghĩa sẽ làm thay đổi hoàn toàn quan niệm vềcon người Quan niệm này có sự phát triển trên cơ sở của sự kế thừa giai đoạn văn học trước đó

Sự kế thừa được thể hiện ở chỗ, các tác giả vẫn tiếp tục xây dựng hình tượng con người quầnchúng Tuy nhiên trong văn học 1945 – 1954, con người chủ yếu được khám phá trên phươngdiện con người công dân, con người chính trị, hoàn toàn không có chỗ cho con người cá nhân.Giờ đây, vẫn là con người công dân, con người chính trị đó nhưng con người cá nhân đã xuấthiện trở lại Đó là điều tất yếu được lí giải từ đời sống xã hội Trong cuộc kháng chiến chốngPháp, vấn đề được đặt lên hàng đầu là dân tộc, là Tổ quốc, cho nên cái tôi không được thể hiện

mà hòa tan trong tập thể Nhưng khi đất nước đã bước sang thời kì hòa bình, nhiều vấn đề củađời sống đặt ra, con người cá nhân cũng theo đó mà trở lại Tuy nhiên chúng ta không thấy sựđối lập giữa cá nhân và tập thể mà là sự hòa hợp giữa cái tôi riêng và cái ta cộng đồng, là conđường đấu tranh để từ bỏ cái cá nhân nhỏ hẹp, đi ra và hòa vào cuộc đời rộng lớn của nhân dân

Sự thống nhất riêng – chung chính là đặc điểm quan trọng nhất trong quan niệm nghệ thuật về

con người trong giai đoạn văn học này

Trong thơ, Xuân Diệu chính là thi sĩ đầu tiên cần phải nhắc tới khi ông đã có hẳn một tập

thơ nói về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung Riêng chung thể hiện những tình cảm thiết

tha gắn bó, biết ơn cách mạng, biết ơn cuộc đời đã xóa đi những vết thương tâm hồn trong quá

khứ, đã đưa ông trở về với nhân dân Xưa lệ sa ta oán hận đất trời mà nay Giọt nước mắt ta chan

chứa tình người Cái tôi cá nhân đã trở lại đặc biệt với những đề tài viết về tình yêu, hạnh phúc,

Trang 13

vốn là thứ tình cảm riêng tư nhất của con người, là sự tự ý thức về nhu cầu, khát vọng của bảnthân Khi con người quay trở về với cuộc sống đời thường, những tình cảm cá nhân ấy lại có cơhội trỗi dậy, trở thành nguồn cảm hứng của các nhà thơ Xuân Diệu vẫn tiếp nối tiếng thơ tình

yêu và tuổi trẻ từ trước cách mạng với Riêng chung (1960) và nhiều tập thơ sau này nữa Xuân

Quỳnh lại đem đến những cung bậc tình yêu đầy nữ tính nhưng cũng thật táo bạo, nồng nàn với

những Chồi biếc, hay Thuyền và biển,… Cái riêng ấy không mâu thuẫn, đối lập với cái chung

mà đã tìm được sự giao hòa, đồng điệu cùng tập thể Ta không còn thấy cô đơn, lạnh nhạt, hờ

hững như trong Thơ mới, mà là thấu hiểu, yêu thương và chia sẻ: Hôm nay em đến chơi/Ta đón

nhau từ cửa/Miệng chưa nói ra lời/Đã hiểu nhau một nửa (Em đến chơi) Anh yêu em như yêu đất nước (Nguyễn Đình Thi) nên xa em càng nhớ thương em, xa nước càng thêm yêu đất nước là

những lời bộc bạch thật chân thành của Tế Hanh Tình yêu riêng tư đã lớn lên trong tình yêu đấtnước Và trong tình yêu nước, tình yêu đôi lứa mới thật sự toàn vẹn, đủ đầy, hạnh phúc Điều đó

lí giải vì sao ngay từ ngày đầu đến với cách mạng, Tố Hữu đã cảm nhận sâu sắc sự ràng buộc

giữa cá nhân và mọi người: Tôi buộc lòng tôi với mọi người/Để tình trang trải với trăm nơi/Để

hồn tôi với bao hồn khổ/Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời (Từ ấy) Bởi chỉ có hòa mình vào

khối đời chung ấy, ta mới lớn hơn, mạnh hơn, mới làm chủ được chính bản thân mình Tư tưởng

đó tiếp tục được thể hiện rõ nét trong tập Gió lộng (1961) Tố Hữu nhìn nhận vấn đề riêng – chung như là một lẽ sống của người cách mạng, là quy luật tất yếu của sự sống: Một ngôi sao

chẳng sáng đêm/Một thân lúa chín chẳng nên mùa màng/Một nười - đâu phải nhân gian?/Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi! (Tiếng ru) Ánh sáng của một ngôi sao chẳng đáng kể để làm

bầu trời lấp lánh, một bông lúa không thể làm nên mùa màng, một con người chẳng thể nào thaythế được thế gian Những cá nhân ấy chỉ có ý nghĩa khi hòa vào cộng đồng rộng lớn mà thôi.Nghĩa tình cách mạng hay những niềm vui do cuộc sống mới đem lại đều được thể hiện cảm

động trong sự thống nhất riêng chung: Con đã về đây ơi mẹ Tơm/ Hỡi người mẹ khổ để dành

cơm/Cho con cho đảng ngày xưa ấy/Không sợ tù gông chấp súng gươm (Mẹ Tơm) Tình cảm

của người con với mẹ Tơm vừa là riêng tư của bản thân tác giả vừa là tình cảm của những đứa

con cách mạng hướng về người mẹ Việt Nam với trái tim vĩ đại Buồng mẹ buồng tim giấu chúng

con Khi nước nhà độc lập, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Tố Hữu say xưa viết

về cuộc sống mới, con người mới với niềm tự hào sâu sắc: Đi ta đi! Khai phá rừng hoang/Hỏi

núi non cao, đâu sắt đâu vàng/Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?/ Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy/ Hỏi đâu thác nhảy cho điện quay chiều? Hỡi những chàng trai, những cô gái yêu/ Trên những đèo mây những tầng núi đá/ Hai bàn tay ta làm nên tất cả/Xuân đã đến rồi Hối

hả tương lai/ Khói những nhà máy mới ban mai (Bài ca mùa xuân 1961)

Quan niệm nghệ thuật về con người với sự thống nhất riêng – chung có ý nghĩa quantrọng đối với các tác giả trong việc lựa chọn cách thể hiện như xây dựng nhân vật, kết cấu tácphẩm, ngôn ngữ,… trong những tác phẩm truyện, kí Các nhân vật có tính điển hình, vừa mangnhững nét chung tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của quần chúng nhân dân lại vừa mangđược những nét riêng về diện mạo, tính cách, về con đường đi của mỗi cá nhân trước những biến

cố lịch sử của xã hội Anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên, chị Tư Hậu trong Một chuyện

chép ở bệnh viện,… là những nhân vật như thế

Xã hội mới đã đem đến nhiều cơ hội làm thay đổi cuộc đời của con người, góp phần

khẳng định sự thống nhất riêng – chung trong văn học Mùa lạc của Nguyễn Khải, Cái sân gạch của Đào Vũ, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Riêng chung của Xuân Diệu hay Ánh sáng và phù sa

của Chế Lan Viên,… đều cho thấy sự biến đổi về số phận và tính cách của nhân vật theo hướng

ngày càng trở nên tốt đẹp khi sống trong môi trường tập thể Đào là nhân vật chính của Mùa lạc

Trang 14

từ một số phận có nhiều bất hạnh (cuộc sống không gia đình, không người thân, cô đơn, nay đâymai đó khi đã luống tuổi) đến một cuộc đời hạnh phúc, có ý nghĩa (có gia đình, có bạn bè, có

tương lai, có những ước mơ trong cuộc sống) Đào lên nông trường với tâm lí con chim bay mãi

cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã chịu nhưng ở nơi đây, Đào đã xóa đi mặc cảm tự ti

để hăng say lao động, tìm được niềm vui, hạnh phúc trong sự gắn bó, chan hòa, trong tình yêuthương với mọi người Cũng trong mạch cảm hứng về sự hồi sinh ấy, Chế Lan Viên lại nói về sự

đổi đời của chính bản thân mình qua tập Ánh sáng và phù sa : ánh sáng dọi soi tôi và phù sa bồi

đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tưởng tôi Nếu như trước đây ông luôn băn

khoăn với câu hỏi Ta là ai? thì nay câu hỏi mà nhà thơ muốn trả lời là Ta vì ai? Tìm được đáp

án, Chế Lan Viên đã thắp lại triệu chồi xanh, phá cô đơn và hòa hợp với người

Không phải ngay từ đầu người ta đã tìm thấy sự thống nhất mà đó là cả một quá trình đấutranh để tự vượt lên Nếu như không thể hiện nhân vật với những dằn vặt như vậy thì rất dễ tạo

nên cái nhìn hời hợt, dễ dãi, không phản ánh đúng hiện thực đời sống Ánh sáng và phù sa của

Chế Lan Viên đã diễn tả sâu sắc sự phấn đấu trong tâm tưởng, trong tâm hồn của nhà thơ để từ

bỏ quá khứ với những lầm lạc, cô đơn của mình, hướng tới hòa nhập với nhân dân: Suốt một đời

ăn gạo của nhân dân/Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy/Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy/Chửa vì đời bằng một bữa cơm ăn (Đi thực tế) Quá khứ là ngọn gió siêu hình, là câu hỏi

hư vô, là câu thơ nước chảy đã khiến nhà thơ khi nghĩ lại không khỏi nuối tiếc, day dứt, ân hận:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn (Người đi tìm hình của nước).

Cuối cùng nhà thơ đã vượt thoát ra khỏi nỗi buồn đau, bế tắc, không còn phải mải miết chạy theo

cái mông lung, ám ảnh của một cánh chim thu lạc cuối ngàn như trước cách mạng nữa Giờ đây

Chế Lan Viên đã tìm lại được niềm tin và sức mạnh, tìm thấy chính bản thân mình trong cuộcđời rộng lớn của nhân dân Thực ra quá trình đấu tranh ấy cũng là quá trình giải quyết mối quan

hệ giữa cái riêng và cái chung mà Chế Lan Viên gọi là đi từ thung lũng đau thương đến cánh

đồng vui, từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người, từ phù du đến phù sa

Sự thống nhất riêng – chung thể hiện trong quan niệm con người văn học giai đoạn 1955–

1964 đã chi phối nhiều phương diện trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn, nhất là xây dựngnhân vật trong truyện kí và cái tôi trữ tình trong thơ Một số tác giả đã khá thành công trong việcthể hiện sự đổi thay số phận, cuộc đời của con người theo hướng ngày càng tốt đẹp hơn, bộc lộđược những tình cảm sâu nặng của cá nhân với quê hương, đất nước, với đồng bào miền Namruột thịt Tuy nhiên bên cạnh những thành công ấy cũng cần phải nhìn nhận một số hạn chế doquan niệm nghệ thuật con người giai đoạn này mang lại Có những nhân vật được xây dựng quácông thức, khuôn sáo mang tính chất minh họa, đời sống nội tâm, cá tính không được chú ý làmnổi bật,… Phương diện đời tư, thế sự ít được khai thác mà chủ yếu là để thể hiện cái chung, cáicộng đồng

* Chặng đường văn học từ 1964-1975

Hoàn cảnh lịch sử, xã hội

Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trên cả nước, kéo dài suốt mười năm với nhiều hisinh mất mát nhưng cuối cùng đã giành được thắng lợi trọn vẹn Thơ văn chặng đường này cũngtham gia tích cực vào những sự kiện lớn lao đó, phản ánh cuộc kháng chiến vĩ đại của quân vàdân ta Quan niệm nghệ thuật về con người một lần nữa có sự chuyển biến để phù hợp với tìnhhình lịch sử, xã hội mới và phục vụ cách mạng

Quan niệm nghệ thuật về con người

Trang 15

Nếu giai đoạn 1955 – 1964 đánh dấu sự trở lại của con người cá nhân được khai tháctrong sự thống nhất với lí tưởng chung của tập thể thì giai đoạn này với sự chi phối của hoàncảnh lịch sử, con người cá nhân đã nhường chỗ cho con người của cộng đồng, dân tộc Vẫn tiếptục kế thừa quan niệm đã có trong những năm trước đó nhưng quan niệm nghệ thuật về conngười trong văn học 1964 – 1975 đã có sự phát triển mới, được đẩy lên mức độ cao nhất, lí

tưởng nhất, đó là con người sử thi Thực ra ở giai đoạn trước đó trong thơ, cái tôi sử thi cũng đã xuất hiện nhưng đến chặng đường này mới đạt tới đỉnh cao Con người sử thi thường được thể

hiện ở thang giá trị cao nhất, đẹp nhất, hoàn hảo nhất Tâm trạng của tác giả khi thể hiện nhữngnhân vật sử thi hay cái tôi trữ tình mang tính sử thi là sự sùng bái và ngưỡng mộ Lời nói của sửthi là lời của nhân dân, lời của cộng đồng… Văn học sử thi hướng tới cái chung, cái cao cả, sựkiện lịch sử, số phận toàn dân, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nó thường phản ánh những sựkiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân Vì thế, sử thi không phải là những số phận cánhân mà là tiếng nói của cộng đồng, của dân tộc trước thử thách quyết liệt Nhân vật trung tâmkhông đại diện cho con người cá nhân, mà đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại với tính cáchdường như kết tinh đầy đủ những phẩm chất cao quý của cộng đồng Con người sống chủ yếuvới hiện tại và tương lai

Phẩm chất cao đẹp của con người sử thi được thể hiện trước hết ở lí tưởng cao cả về độc

lập tự do và chủ nghĩa xã hội, ý thức sâu sắc được tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc (Nguyễn Văn Long) Trong thơ, Tố Hữu đã dặt dân tộc ta vào

vị trí của “người lính đi đầu” trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, hướng tới lí tưởng xã hội chủ nghĩa: Nếu được làm hạt giống để mùa sau/Nếu lịch sử chọn

ta làm điểm tựa/Vui gì hơn là người lính đi đầu/Trong đếm tối, tim ta làm ngọn lửa! (Chào xuân 67) Tầm vóc của con người, của dân tộc được tôn vinh với tất cả niềm tự hào, kiêu hãnh Cùng

với lí tưởng cao đẹp, cái tôi Tố Hữu ý thức rất sâu sắc về lịch sử và truyền thống dân tộc tạo nên

âm hưởng sử thi trang nghiêm, hào hùng trong những trang thơ Những hình tượng Mị Châu,Sơn Tinh, Thạch Sanh, Phù Đổng,… xuất hiện trong thơ ông không chỉ tô đậm ý thức về lịch sửtruyền thống của dân tộc mà còn tạo sự kết nối với hiện tại và tương lai Trong cái nhìn của TốHữu, lịch sử chính là dòng chảy liên tục và ở mỗi đoạn đều in dấu những chiến công vĩ đại, thểhiện sức mạnh to lớn và phẩm chất cao đẹp của nhân dân ta Khi nhận thức về Tổ quốc, về lịch

sử dân tộc, con người sử thi bao giờ cũng đứng trên trục không gian và thời gian với tầm vĩ mô

để phát hiện và chiêm nghiệm Tố Hữu đối diện với cả hai mươi thế kỉ; nhìn Nam, Bắc, Tây,

Đông (Chào xuân 67), Chế Lan Viên thấy Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi; đội triệu tấn bom

mà hái mặt trời hồng (Thời sự hè 72, bình luận) Đất Nước hiện lên thật bao la tráng lệ trong

chiều rộng không gian địa lí Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc/Nước là nơi

con cá ngư ông móng nước biển khơi (Đất Nước, Nguyễn Khoa Điểm), Một đảo vắng Hòn Ngư còn chớp bể/Một rặng núi Kì Sơn còn lắm lúc mưa nguồn (Chế Lan Viên) Bên cạnh đó, hình

ảnh đất nước còn được khám phá trong chiều dài thời gian lịch sử và bề sâu văn hóa Một mạchnguồn văn hóa dân gian âm thầm chảy trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã làm nên một góc

nhìn rất riêng Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi/Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày

xưa mẹ thường hay kể/Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn/Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc/Tóc mẹ thì búi sau đầu/Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn,… (Đất Nước) Trong cảm nhận của nhà thơ, Đất Nước hiện lên thật bình dị, trong

miếng trầu giao duyên nên nghĩa nên tình, trong búi tóc của mẹ, trong kho tàng truyện cổ tích, cadao bà thường hay kể,…nhưng cũng thật lớn lao khi khơi dậy trong tâm thức người đọc cả một

bề dày và chiều sâu văn hóa nghìn đời của dân tộc rất đáng tự hào Chế Lan Viên lại chiêm

Trang 16

nghiệm Đất Nước từ những trang sử hào hùng suốt bốn ngàn năm của dân tộc: Hỡi sông Hồng

tiếng hát bốn ngàn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng/Chưa đâu và trong cả những ngày đẹp nhất/Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn/Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc/Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng) Câu hỏi Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? không chỉ là

câu hỏi hướng về quá khứ mà còn là câu hỏi của hiện tại và tương lai Như vậy Đất Nước khôngchỉ được nhìn nhận trong quá khứ, mà còn được nhìn nhận trong mối tương quan với thời đại,với nhân loại để khẳng định sứ mệnh lịch sử của dân tộc Việt Nam, vai trò, ý nghĩa của cuộc

chiến đấu chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta Cuộc chiến đấu của chúng ta còn là Vì ba ngàn

triệu trên đời

Lí tưởng cao đẹp, nhận thức sâu sắc sẽ thúc đẩy ý chí và hành động của con người sử thitrong cuộc kháng chiến chống Mĩ, bảo vệ Tổ quốc Bởi vì họ thấu hiểu trách nhiệm và sứ mệnh

của mình: Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai (Bằng Việt) Những nhân vật trong văn

học thời kì chống Mĩ đều là những con người sử thi tiêu biểu cho khát vọng, cho ý chí chiếnđấu và quyết thắng của cả dân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Đặt nhân vậtvào trong những tình huống thử thách ngặt nghèo, giữa ranh giới của sự sống và cái chết là mộtcách bộc lộ rõ nhất ý chí cách mạng của con người Khi bị trọng thương, bị lạc đồng đội, chỉcòn một mình trong rừng, hai mắt không còn nhìn thấy, chân không đi nổi, toàn thân đau điếng

và nhỏ máu, Việt (Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi) vẫn không hề sợ hãi Nghe tiếng súng giặc vây bốn bề, cậu vẫn nghĩ: Tao sẽ chờ mày Trên trời có mày, dưới đất có mày.

Cả khu rừng này chỉ có mình tao Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày Đối với Việt,

chúng chỉ là những kẻ tàn bạo nhưng hèn nhát: mày chỉ giỏi giết gia đình tao nhưng đối với tao

mày chỉ là thằng chạy… Tư thế của Việt vẫn là tư thế sẵn sàng chiến đấu, vẫn nguyên vị trí này,… Bị giặc đốt mười đầu ngón tay bằng dẻ tẩm nhựa xà nu, Tnú không cảm thấy lửa cháy ở mười đầu ngón tay nữa Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng Máu anh mặn chát

ở đầu lưỡi Răng anh đã cắn nát môi anh rồi Anh đau đớn đến cùng cực, và càng đau đớn hơn,

khi kẻ thù đã dùng chính lửa xà nu vốn rất gắn bó với dân làng để đốt cháy bàn tay anh Nhưng

Anh không kêu lên Anh Quyết nói: người cộng sản không thèm kêu van Tnú vẫn nhớ lời dặn

của anh Quyết và anh đã ứng xử như một người anh hùng trung dũng, bất khuất Tội ác của kẻthù và phẩm chất kiên cường của Tnú đã thổi bùng lên sự phẫn uất và ý chí chiến đấu của dânlàng Xô Man Kết quả bão táp nổi lên và kẻ thù phải đền tội Hành trình lên đường chiến đấu

của những con người ấy là minh chứng cho chân lí cách mạng trong lời cụ Mết: Chúng nó đã

cầm súng, mình phải cầm giáo (Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành), trong câu nói nổi tiếng

của Chị Út Tịch: Còn cái lai quần cũng đánh (Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thi),… bởi họ hiểu rằng Còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc nổi cả (Anh Trỗi trong Sống như Anh).

Vẻ đẹp trong đời sống tư tưởng, tình cảm đã làm nên sự toàn vẹn của con người sử thitrong thời kì chống Mỹ Tình yêu thương, lòng vị tha, đức hi sinh,…khiến cho khoảng cách sửthi được được kéo gần lại, hình tượng người anh hùng trở nên gần gũi, bình dị hơn và cũng cósức sống hơn Người đọc thấy sự gan góc, dũng cảm phi thường của chị Út Tịch nhưng cũngthấy được sự thủy chung tình nghĩa của người vợ với chồng, tình thương sâu sắc của một người

mẹ đối với con Tnú mưu trí, mạnh mẽ, quyết liệt trước kẻ thù và cũng giàu tình yêu thươngbuôn làng, rừng núi, yêu gia đình Khi xa nhà, anh nhớ da diết tiếng chày giã gạo vang lên mỗibuổi chiều Nó gắn liền với hình ảnh của những người phụ nữ Strá dịu dàng, tần tảo như mẹanh, như Mai, như Dít Nó mang theo cả nhịp sống bình yên, đầm ấm của quê nhà Nỗi xúcđộng đã khiến chân anh vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ ngã quẹo vào làng Tnú nhớ từng khuôn

Trang 17

mặt người làng Xô Man từ những cụ già đến những đứa trẻ lau nhau, mặt mày lem luốc khói

xà nu Đặc biệt là cụ Mết vẫn quắc thước như xưa, mắt vẫn sáng, bàn tay nặng trịch, giọng nói

ồ ồ dội vang lồng ngực, ngực căng như một cây xà nu lớn… Và còn cả Dít nữa Anh thấy trong

Dít hình ảnh của Mai với đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt… Nhớ lại quá khứ đau thương, nhìn cảnh vợ con bị tra tấn: Tnú nhảy xổ vào giữa bọn lính… Hai cánh tay rộng lớn như hai

cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai Anh đã không thể nghe theo tiếng gọi của lí

trí, không nghe theo lời khuyên của cụ Mết khi chứng kiến cảnh vợ con bị hành hạ Dù biếtrằng sẽ phải trả giá bằng tính mạng của mình, Tnú vẫn xông vào giữa vòng vây của bọn lính,dang đôi cánh tay vững chắc che chở cho mẹ con Mai

Có thể nói, tính chất khái quát, điển hình là đặc điểm nổi bật của con người sử thi, mỗicon người đều là đại diện tiêu biểu, kết tinh cho những gì tốt đẹp nhất của giai cấp, cộng đồng,dân tộc, thể hiện trọn vẹn ý chí, sức mạnh, phẩm chất của cả một tập thể Vì thế cảm hứng ngợi

ca, tự hào, ngưỡng mộ là cảm hứng chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm thời kì này Các nhânvật được xây dựng thường đạt đến mức lí tưởng hóa, vừa là một thành công khi thể hiện đượcsức mạnh và vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam nhưng không tránh khỏi sự ca ngợi mộtchiều, có tính phiến diện về cuộc sống và con người trong chiến tranh Nhận ra được điều này,những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, một số tác giả đã có xu hướng đi sâu vào hiệnthực, không chỉ ngợi ca mà còn chú ý đến sự khắc nghiệt của chiến tranh, những hi sinh, mấtmát, hiện thực có phần gai góc khiến cho yếu tố sử thi bắt đầu nhạt dần Nhưng nói chungthành tựu nổi bật vẫn là hình tượng con người sử thi

2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay

2.1 Hoàn cảnh lịch sử và những chuyển biến về xã hội, văn hóa, tư tưởng

Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nướcđược thống nhất, bước vào thời kì hòa bình, xây dựng và phát triển Những năm đầu, dư âm củacuộc kháng chiến vẫn còn trong cuộc sống và trong lòng người, khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn vẫn được tiếp nối trong văn học Bên cạnh đó, những điều kiện lịch sử mới cũngdần làm thay đổi cách nhìn nhận của con người

Cuộc chiến tranh vừa trải qua một lần nữa được nhìn nhận và đánh giá toàn diện, khôngchỉ ở thắng lợi vĩ đại cùng ý nghĩa lớn lao đối với đất nước mà còn cả ở những hậu quả mà chiếntranh để lại Đất nước bị chia cắt, nền kinh tế lạc hậu, thấp kém, các làng mạc, thành phố bị tànphá, bao nhiêu người đã ngã xuống, những hi sinh, mất mát quá lớn về cả vật chất lẫn tinh thần,

… Thêm vào đó là sự cấm vận, cô lập của các thể lực thù địch càng đẩy Việt Nam vào tình thểkhó khăn Sự khủng hoảng và tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đã tácđộng không nhỏ đến tình hình trong nước Trước hoàn cảnh ấy, yêu cầu phải có sự đổi mới đểđưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng khó khăn, khủng hoảng là điều cần thiết Đại VI (1986) củaĐảng đã đề ra chủ trương mở cửa, từng bước đưa nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với thếgiới trên mọi bình diện chính trị, kinh tế, văn hóa,…

Sự chuyển biến trên lĩnh vực kinh tế, chính trị sẽ dẫn đến sự chuyển biến trong lĩnh vựcvăn hóa, tư tưởng Trong thời chiến, cuộc sống cá nhân, riêng tư của con người bị thu hẹp đếnmức tối thiểu để nhường chỗ cho đời sống chung của cộng đồng Con người được nhìn nhận chủyếu với tư cách của con người dân tộc, con người chính trị, con người của giai cấp Khi hòa bìnhlập lại, quay trở về cuộc sống muôn mặt đời thường, với những thật – giả, tốt- xấu, trắng – đenlẫn lộn, ý thức cá nhân đã thức tỉnh với những nhu cầu mới, quan niệm thẩm mĩ mới Nhiều giátrị trước đây được coi là bền vững nhưng giờ đây đang lung lay, rạn nứt trong khi những giá trịmới lại đang trong quá trình hình thành Trong tình hình ấy, đời sống văn hóa – tư tưởng cũng có

Ngày đăng: 03/01/2016, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2. Trần Ban, Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, www.yersin.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
3. Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Nguyễn Thị Kim Dung, Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyên Ngọc, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyên Ngọc
5. Nguyễn Đăng Điệp, Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh, vannghequandoi.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Thị Thúy Hằng, Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975
9. Nguyễn Khải Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Văn Long, Báo cáo một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945, doc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945
11. Nguyễn Văn Long (cb), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, Tập 2, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
12. Hồ Tấn Nguyên Minh, Quan niệm về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, www.vanhoanghean.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
13. Võ Anh Minh, Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người , Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Vinh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người
14. Lã Nguyên, Văn học Việt Nam 1975-1991, languyensp.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1975-1991
15. Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Nguyễn Phương, Sự đổi mới quan niệm về con người trong văn học Việt Nam mười năm cuối thế kỉ XX, text.123doc.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đổi mới quan niệm về con người trong văn học Việt Nam mười năm cuối thế kỉ XX
17. Trần Đình Sử , Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề trong quan niệm con người của Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Tạp chí văn học 8/2001, tr 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề trong quan niệm con người của Văn học Việt Nam thế kỉ XX
19. Nguyễn Huy Thiệp, Truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
20. Phạm Thị Thu Thủy, Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, caodanghaiduong.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
21. Nguyễn Ngọc Tư, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2005.-------------------------------- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w