Mọi phân tích,khám phá trong văn chương cuối cùng cũng quy tụ vào sự lí giải về con người.Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác cuả mỗi nhà văn, trongsáng tác của mỗi
Trang 1MỤC LỤC
Trang
II Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 6
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học VN từ CM
Trang 2I Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Văn học là nhân học – khoa học về con người Ở bất kì thời đại nào, con
người cũng là đối tượng trung tâm trong sự phản ánh của văn học Mọi phân tích,khám phá trong văn chương cuối cùng cũng quy tụ vào sự lí giải về con người.Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác cuả mỗi nhà văn, trongsáng tác của mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học là nội dung cơbản của nghiên cứu văn học, cũng là một phạm trù quan trọng trong thi pháp học.Thành quả của những nghiên cứu ấy sẽ giúp cho việc nhìn nhận và đánh giá nhânvật văn học cũng như việc khám phá tư tưởng của nhà văn có căn cứ khoa học, có
sự chính xác và mang tính hệ thống
Văn học Việt Nam thời kì từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đã trảiqua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường Ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường, donhu cầu và quan niệm thẩm mĩ khác nhau, do những yêu cầu, đòi hỏi xã hội đặt ravới văn chương khác nhau nên quan niệm nghệ thuật về con người ít nhiều cũng có
sự khác biệt Chính sự đổi mới trong quan niệm về con người là một nhân tố quantrọng thúc đẩy nền văn học vận động, là cơ sở quan trọng để phân chia các giaiđoạn, thời kì văn học
Trong giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trường phổ thông, trọng tâm của đọc hiểuvăn bản văn học là tìm hiểu hình tượng nghệ thuật Có hình tượng thiên nhiên, hìnhtượng loài vật, đồ vật, hình tượng con người,… Song tất cả đều được tìm hiểukhám phá trong mối liên hệ với con người Những năm gần đây, việc đổi mới trongthi cử đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy bao quát, hệ thống, có khả năngphân tích nhân vật, tác phẩm trong sự đối chiếu, so sánh, nhiều dạng đề so sánhvăn học được đưa vào trong thi cử, kiểm tra đánh giá Hệ thống hóa quan niệmnghệ thuật trong cả một chặng đường gần một thế kỉ văn học hiện đại là một việclàm cần thiết, có tính ứng dụng cao trong học tập và giảng dạy Ngữ văn ở phổthông, nhất là cấp phổ thông trung học Nó cũng đặc biệt có ý nghĩa với giáo viêncác trường THPT chuyên trong việc bồi dưỡng các chuyên đề cho học sinh giỏi
Trang 3Với ý nghĩa ấy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đếnnay”
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong lí luận, phê bình vănhọc hiện đại không phải là nội dung mới mẻ Đã có nhiều bài báo nghiên cứu quanniệm nghệ thuật về con người của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải, Lê Minh Khuê,… đăng trên các tạp chí chuyên ngành hay được in trong cácsách bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên Ngữ văn Cũng có cả những cuốn chuyên
luận về đề tài này được xuất bản như Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 của Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết,…
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi tiến hànhtìm hiểu đề tài quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học từ 1945 đến naymột cách hệ thống, đi sâu vào những vấn đề liên quan gần gũi với việc giảng dạyphần văn học hiện đại ở trường trung học phổ thông
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của một nhà văn,một chặng đường văn học đã là một việc làm hết sức công phu Tìm hiểu quanniệm nghệ thuật về con người trong cả một thời kì văn học gần 70 năm mà trong
đó có nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường nhỏ quả là đề tài rộng lớn và đòi cần sựnghiên cứu công phu gấp nhiều hơn nữa Nó đòi hỏi người viết không chỉ phải cóvốn kiến thức tác phẩm cực kì sâu rộng mà còn phải có năng lực phân tích, tổnghợp, khái quát vấn đề sắc bén
Do thời gian nghiên cứu có hạn, cũng căn cứ vào đặc trưng một đề tài tham dựhội thảo trao đổi chuyên môn giữa các trường THPT chuyên, chúng tôi không cótham vọng giải quyết vấn đề trọn vẹn, thấu đáo như các nhà nghiên cứu chuyênsâu Ở đây, xin kế thừa thành quả nghiên cứu của người đi trước, cùng với một sốkết luận mới mẻ mà bản thân rút ra được trong quá trình giảng dạy và tự học, tự
Trang 4bồi dưỡng đề hoàn thành đề tài Khối lượng tác phẩm văn học ra đời từ năm 1945đến nay là rất lớn, đó là cơ sở tư liệu nghiên cứu để rút ra những kết luận khoa học,song chúng tôi chỉ xin đi sâu vào tư liệu là tác phẩm được giảng dạy trong nhàtrường và tác phẩm của các nhà văn gần gũi với trường phổ thông Thêm nữa thời
điểm “đến nay” cũng chỉ xin dừng ở mốc hết thế kỉ XX Văn học hơn mười năm
đầu thế kỉ XXI còn là một hiện tượng hết sức phức tạp, chưa được đưa vào giảngdạy trong nhà trường nên với kiến thức còn hạn hẹp của giáo viên phổ thông,chúng tôi xin phép chưa đề cập đến trong phạm vi đề tài này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phântích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từCách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975
Chương 3: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từnăm 1975 đến hết thế kỉ XX
NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
I ĐỐI TƯỢNG TRUNG TÂM CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù ra đời
từ xa xưa và vẫn luôn đồng hành với cuộc sống con người “Ở đâu có cuộc sống, ở
Trang 5đó có thơ ca” (Biê-lin-xki) Và “con người, về bản chất, là nghệ sĩ Ở đâu, họ cũngmong muốn mang cái đẹp vào cuộc sống của mình” (M Goóc-ki) Văn học sẽ tồntại đến chừng nào sự sống con người còn tồ n tại bởi sứ mệnh cao cả của nó chính
là phát hiện cái đẹp trong cuộc sống và đưa cái đẹp từ cuộc sống vào trong nghệ thuật.Giống như các hình thái ý thức xã hội khác, văn học cũng có đối tượng nghiêncứu đặc thù Các nhà duy vật từ A-rix-tôt, qua Đơ-ni Đi-đơ-rô đến Séc-nư-sép-xki,Biê-lin-xki, C.Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đều khẳng định: Đối tượng của nghệ thuậtnằm trong hiện thực khách quan, và đối tượng đó phải mang tính thẩm mĩ
Thuộc về thế giới khách quan, đối tượng phản ánh của văn học rất đa dạng vàphong phú, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và đời sống nội tâm của con người Đó cóthể là thế giới thần linh, ma quỷ, là một hình ảnh thiên nhiên, một hình tượng thuộcthế giới loài vật, cây cỏ, đồ vật hay là những con người với những tính cách, số
phận cụ thể,… Tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài là câu chuyện tưởng
tượng về thế giới loài vật thân quen nơi đồng ruộng ở vùng ven đô mà nhà văn gắn
bó từ thời thơ ấu, đằng sau đó là những bài học nhân sinh giản dị mà sâu sắc, thấmthía, là lí tưởng của nhà văn về một “thế giới đại đồng” cho con người, nơi ấy chỉ
có công bằng, không có áp bức, không có chiến tranh Bài thơ “Sóng” của Xuân
Quỳnh là những khám phá mới mẻ về đặc tính và bản chất của những con sóngbiển, cũng là hành trình khám phá những bí ẩn trong tâm hồn người phụ nữ đang
yêu Văn học dù phản ánh đối tượng nào trong hiện thực khách quan thì cũng luôn đặt nó trong mối liên hệ với con người Hiện thực trong văn chương là “hiện thực
trong mối quan hệ thẩm mĩ với con người” Điều đó cũng có nghĩa, con người là
trung tâm chú ý, là đối tượng chủ yếu, nổi bật của nghệ thuật
Nhà văn, nhà phê bình văn học Nga Mác-xim Gooc-ki có nêu một định nghĩa
nổi tiếng, phản ánh đúng được bản chất quan trọng của văn học: “Văn học là nhân học” Văn học tái hiện muôn mặt đời sống con người, từ đời sống xã hội đến đời
sống riêng tư, từ quan hệ đẳng cấp đến quan hệ giới tính, từ đời sống vật chất đếntâm hồn, từ tâm lí, phong tục tập quán đến tín ngưỡng, thói quen, thị hiếu thẩm mĩ,
… Văn học là tấm gương soi muôn mặt của đời sống con người Nhà văn Nguyễn
Trang 6Minh Châu cũng đồng quan điểm khi khẳng định: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Là “khoa học về con người”, lấy
con người làm đối tượng trung tâm, song không giống như sinh lí học nghiên cứumặt sinh học với đặc điểm về cấu trúc cơ thể, cơ chế hoạt động của các cơ quan, bộphận trên cơ thể người, văn học nghệ thuật quan tâm trước hết tới bản chất xã hộicủa con người, nghiên cứu con người trong “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.Con người trong văn chương là con người cụ thể - lịch sử, hiện lên trong khônggian và thời gian nhất định Đó là con người với những tính cách riêng biệt độcđáo, những số phận cụ thể
Lựa chọn con người làm đối tượng trung tâm, luôn khám phá hiện thực trongmối liên hệ với con người, đó chính là đặc thù của đối tượng nghệ thuật
II QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC
Trong nghiên cứu văn học xưa nay, người ta quan tâm nhiều đến thi pháp học
Đó là bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộcsống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng, là khoa học về hìnhthức nghệ thuật Cùng với việc nghiên cứu đặc điểm về thể loại, kiểu tác giả, ngônngữ, các yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật,… trong văn chương thì nghiêncứu quan niệm nghệ thuật về con người được xem là một phạm trù rất quan trọngcủa thi pháp học
*Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người”
Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: Quan niệm nghệ thuật về con
người “là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.” [2, tr.275]
Giáo sư Trần Đình Sử trong giáo trình về Thi pháp học đã cho rằng: “Quan
niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánhgiá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong
tác phẩm của mình” [8,tr.15] Đó là “sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã
Trang 7được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiệncon người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng
nhân vật trong đó.” Một cách đơn giản, quan niệm nghệ thuật về con người được
hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn
Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học, tuy nhiên, trướcnay người ta chỉ chú ý xem nhân vật mang những phẩm chất gì ? Tính cách nhân vật như thếnào ? Ngoại hình được khắc hoạ ra sao, tâm lý nhân vật có gì đặc sắc ? Ngôn ngữ nhân vật có được
cá tính hoá hay không ? v.v Sau đó, đem so nhân vật với thực tại để xem nhà văn nói đượccái gì chưa ai nói, miêu tả có giống với các nguyên mẫu thực tế hay không, vốn sốngnhà văn giàu có nhường nào,… Và tiêu chuẩn đánh giá ở đây là hiện thực sống động Sự chútrọng đến hình tượng khách thể của con người như vậy là cần thiết, song xem nhẹ việc tìm hiểuquan niệm của nhà văn về con người, tức là các nguyên tắc lý giải, cảm thụ của nhà văn về hìnhtượng sẽ dẫn đến việc giản đơn hoá bản chất của sáng tác văn học, xem nhẹ vai trò sáng tạo tưtưởng của nhà văn, rút gọn tiêu chuẩn tính chân thực vào một điểm là miêu tả giống haykhông giống so với hiện thực
Quan niệm nghệ thuật về con người mở ra một hướng khác, nó hướng người takhám phá, phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan, sáng tạo của chủ thể nhà văn, ngay
cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng có thật Tuy nhiên,quan niệm nghệ thuật không phải là bất cứ cách cắt nghĩa, lý giải nào về con người, mà là cáchcắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việcmiêu tả con người Mà chỉ ở trong giới hạn đó mới có khác biệt với các quan niệm thôngthường và mới có tính sáng tạo
*Đặc điểm của quan niệm nghệ thuật về con người
Nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm có ýthức của người nghệ sĩ, kết tinh tài năng, tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ Do
vậy, quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ, gắn liền với thế giới quan nghệ sĩ trong sáng tác Chẳng hạn, chúng ta có
thể nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác
Trang 8của Nam Cao so với Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố, trong sáng tác của NguyễnThi so với Nguyễn Trung Thành hay Nguyễn Minh Châu,…
Văn học gắn liền với cuộc sống, thời đại nào văn học ấy Quan niệm nghệ
thuật về con người cũng mang dấu ấn thời đại, gắn liền với sự vận động của lịch
sử Cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con người của nhà văn đều là
sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà văn sáng tác Cho nên, ở mỗi thời kì, giai đoạn văn học khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có
sự khác nhau Dễ thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại
khác xa với quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học hiện đại Quan niệmnghệ thuật về con người trong văn học giai đoạn chống Pháp cũng khác ít nhiều sovới giai đoạn chống Mỹ, và khác với con người trong văn học giai đoạn đổi mới
Là một hình thái ý thức xã hội, văn học tác động qua lại với các hình thái ýthức khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, triết học Quan niệm nghệ thuật về con
người cũng là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng Cho nên dù quan niệm con người trong mỗi thời có thể đa dạng, nhưng vẫn mang dấu ấn của quan niệm thống trị trong thời ấy Chẳng hạn,
thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo của Chúa trời; từ thờiPhục hưng đến Khai sáng thì con người được xem là sản phẩm của tự nhiên – con người trầnthế, con người tự làm chủ bản thân mình Từ thế kỷ XIX thì con người được xem là sản phẩmvừa của tự nhiên vừa của xã hội, nhưng do hoàn cảnh xã hội quy định Con người trong vănhọc trung đại Việt Nam ít nhiều bị chi phối bởi tư tưởng trung quân Con người trong văn họccách mạng chịu sự chi phối bởi tư tưởng mác xít.v.v
Do chức năng và hệ thống phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm
nghệ thuật trong các thể loại văn học khác nhau cũng có sự khác nhau
Đó là những điểm cơ bản cần biết trước khi đi sâu vào tìm hiểu các biểu hiện của quanniệm nghệ thuật về con người
* Ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành nhân tố vận động của nghệ
thuật Và khi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn thay đổi thì văn học cũng được đổi mới Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định
Trang 9“một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới” Có người còn nhấn
mạnh hơn: “Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật
“ Nhưng ở đây cần phân biệt : con người mới xuất hiện trong thực tế là một việc, mà sự suy nghĩ mới về con người ấy lại là một chuyện khác Quả là sự vận động của thực tế làm nảy sinh
những con người mới, nhưng còn có một khía cạnh khác nữa là đổi mới cách giải thích và cảmnhận về những con người ấy cũng làm cho văn học đổi thay căn bản Trong lịch sử văn học,việc sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến Shakespeare,Racine hầu như chẳng sáng tạo, hư cấu ra cốt truyện và nhân vật nào mới Cốt truyện và nhânvật của họ đều vay mượn trong truyền thuyết, lịch sử hoặc huyền thoại, nhưng cách giải thích
và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật mới Cũng vẫn là con người đã biết,nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới cũng tạo thành sángtác văn học mới
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn hướng vào con người trong mọi
chiều sâu có thể có, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn
vốn có của một hiện tượng văn học Những tác phẩm minh hoạ, sử dụng nhân vật như nhữngcon cờ trên ván cờ tư tưởng, tất nhiên rất xem nhẹ việc khám phá về con người Tác giả của
chúng bằng lòng với một quan niệm thông dụng nào đó, cho nên nội dung nhân văn trong sáng
tác của họ thường nghèo nàn Nghệ sĩ đích thực là người suy nghĩ về con người, cho con người,nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá quan niệm nghệ thuật
về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ
* Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người
Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả, biểu hiện tập trung nhất
quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Theo tác giả Trần Đình Sử trong Dẫn luận Thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện qua các phương diện cơ bản như
sau:
Trước hết là cách xưng hô, gọi tên nhân vật của nhà văn Các tác giả Khái Hưng, Nhất
Linh gọi nhân vật bằng “chàng, nàng” thể hiện một quan niệm khác với cách gọi “hắn, y, thị”
của Nam Cao, và gọi “anh, chị, ông” trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Mà người ta không thể tuỳ
tiện thay đổi nếu không thay đổi luôn cả cách cảm thụ cuộc sống tương ứng với cách xưng hô
Trang 10ấy trong văn học
Cách miêu tả chân dung, số phận nhân vật cũng là một biểu hiện của quan niệm về con
người Miêu tả chân dung con người như Từ Hải của Nguyễn Du, quan phủ trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Thị Nở trong Chí Phèo (Nam Cao) đều gợi lên những quan niệm về con người
chứ không phải giản đơn là đặc điểm riêng cá biệt của nhân vật hoặc là đặc điểm chủng loại củacác nhân vật đó
Quan niệm về con người của nhà văn còn bộc lộ qua hành động được lặp đi lặp lại của nhân vật , thái độ của nhân vật đối với sự sống, cái chết, qua các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ ,… Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống, trong sự lặp lại có quy luật, có sự
liên hệ chi phối lẫn nhau
− Sự đổi mới và đa dạng của văn học trước hết là đổi mới và đa dạng trong quanniệm nghệ thuật về con người
− Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta thâm nhập vào cơ chế tưduy của văn học, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức (thể loại, phongcách) văn học Đó chính là nội dung ẩn chứa bên trong mọi yếu tố hình thức văn học, phânbiệt với nội dung cụ thể mà mỗi tác phẩm biểu hiện
Chương 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NĂM 1975
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI, VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975
Trang 11Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc ta,chấm dứt gần một thế kỉ bị thực dân Pháp đô hộ, lật đổ chế độ phong kiến, xâydựng nhà nước độc lập, dân chủ Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bảnTuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa Vừa mới ra đời, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị chủ nghĩa đếquốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt.Với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, ở phía Bắc, hai mươi vạn quânTưởng Giới Thạch kéo vào Việt Nam Ở miền Nam, quân đội Anh giúp thực dânPháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai Dựa vào thế lực của quân đội nướcngoài, các lực lượng phản cách mạng trong nước lần lượt ngóc đầu dậy chống pháchính quyền cách mạng.
Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ còn phải đốimặt với hàng loạt khó khăn: Chính phủ mới ra đời chưa được nước nào trên thếgiới công nhận Nền kinh tế kiệt quệ, tài chính cạn kiệt, kho bạc nhà nước hầu nhưtrống rỗng Trong giáo dục thì có tới 90% dân số mù chữ Chính quyền cách mạng
ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, rồi liên tiếp gây hấn ởnhiều nơi, vi phạm các bản Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 kí với Việt Nam.Trước những yêu sách ngày càng không thể chấp nhận được của thực dân Pháp,đúng 20h ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ phát lời kêu gọi toàn quốc khángchiến Toàn thể dân tộc Việt Nam chính thức bước vào cuộc trường kì chín nămchống thực dân Pháp lần thứ hai
Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 kết thúc thắng lợi, “được ghi vào lịch sử dântộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỉ XX, và đi vàolịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá vào thành trì của hệ thống nôdịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” (Lê Duẩn) Hiệp định Giơ-ne-vơ được kíkết, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền với hai chế độ khác nhau: miền Bắchoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam bị đế quốc Mĩ và các lựclượng tay sai thống trị
Trang 12Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1954 đến 1964đạt được nhiều thành tựu Từ năm 1965, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội,thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam, vừa phải chiến đấu chốngcác cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của đế quốc Mĩ Cùng với những thành tựuđáng kể, trong công tác lãnh đạo, ta còn có những sai lầm, đặc biệt ở lĩnh vực cảicách ruộng đất Thái độ chủ quan, nóng vội dẫn đến gò ép, vi phạm nguyên tắc tựnguyện đã gây bức xúc trong nhân dân, tạo kẽ hở để kẻ thù lợi dụng phá hoại, chia
rẽ nhân dân với chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc
Ở miền Nam, đế quốc Mĩ thay chân Pháp Chúng lập ra chính phủ bù nhìn doNgô Đình Diệm làm thủ tướng, liên tiếp thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt(1961 – 1965), Chiến tranh cục bộ (1965 – 1968), Việt Nam hóa chiến tranh (1969– 1973) hòng nhanh chóng tiêu diệt chính quyền cách mạng, bình định toàn cõiViệt Nam Quân dân miền Nam và nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt,tài tình của Đảng Cộng sản đã từng bước đánh bại âm mưu của kẻ thù Chiến dịch
Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi, miền Nam được giải phóng,đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm 1975 là lịch sử của ba mươi năm đấu tranhcách mạng nhiều hi sinh, gian khổ, có những tổn thất, mất mát không gì đo đếmđược nhưng cũng là những trang sử hào hùng, chói lọi Đó là minh chứng hùnghồn nói lên sức sống mãnh liệt, khát vọng hòa bình và tinh thần yêu nước quật khởicủa dân tộc Việt Nam Một dân tộc nhỏ bé đã anh dũng đứng lên chiến đấu vàchiến thắng hai nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới ở thế kỉ hai mươi, sự thật
ấy đã làm sáng tỏ chân lí: Khi một dân tộc đoàn kết, thống nhất ý chí, dám đấutranh và hi sinh cho lí tưởng cao đẹp, dân tộc ấy sẽ chiến thắng Thành quả củacách mạng Việt Nam “là một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩaanh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiếncông vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tínhthời đại sâu sắc” (Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại ĐH đại biểu lần thứ IV)
Trang 13II ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, văn học có cội nguồn là đời sống
và là sự phản ánh đời sống Hoàn cảnh lịch sử ba mươi năm đấu tranh cách mạng
đã tác động sâu sắc đến đời sống văn học, làm cho bộ mặt nền văn học cách mạng
có những thay đổi quan trọng
Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòađược thành lập, Đảng đứng ra lãnh đạo công khai mọi mặt đời sống xã hội Vănhọc Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 là nền văn học
của chế độ mới, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản nên có tính thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và kiểu nhà văn.Ngay sau khi đất nước giành độc lập, Hội Văn hóa cứu quốc đã tổ chức Đại hội lầnthứ nhất (tháng 9/1945), tiếp đó là Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ratại Hà Nội vào tháng 11/1946 Theo ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn nghệ
sĩ đã hướng vào cuộc sống xây dựng và chiến đấu của dân tộc Trào lưu văn họccách mạng đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy sự phát triển nền văn học mới của dân tộc Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, văn nghệ sĩ cũng lên đường ra trận tham gia chiến dịch Họtheo sát bước chân người lính xung kích, dân công, thanh niên xung phong ra hỏatuyến, theo người công nhân vào nhà máy, theo người nông dân ra cánh đồng.Cuộc sống chiến đấu của dân tộc và sự dấn thân vào thực tế của nhà văn đã cho ra
đời nhiều tác phẩm giàu tính hiện thực và tính chiến đấu Văn hóa nghệ thuật thực
sự là một mặt trận mà anh chị em nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy Các nhà văn
đã quán triệt tinh thần khẩu hiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kháng chiến hóa vănhóa, văn hóa hóa kháng chiến”
Nhìn đại thể, văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có ba đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó
sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước Nội dung và đề tài phản ánh của văn
Trang 14học theo sát các sự kiện, diễn biến của cách mạng, đáp ứng nhu cầu phục vụ kịpthời các nhiệm vụ cách mạng.
Thứ hai, nền văn học hướng về đại chúng Đại chúng vừa là đối tượng phản
ánh, vừa là công chúng, vừa là lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học Hướng vềđại chúng nên văn học cũng tìm đến những hình thức thể hiện giản dị, trong sáng,đậm chất dân tộc
Thứ ba, nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng
mạn Ra đời và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, văn học không thể là tiếngnói riêng của cá nhân mà phải nói lên tiếng nói chung của dân tộc và thời đại.Nhân vật trung tâm của văn học tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó sốphận mình với đất nước, nhân dân Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứnglãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan cách mạng.Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 chia thành ba chặng đường nhỏ: Chặngđường từ 1945 đến 1954 gắn với cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp.Tiếp theo là chặng đường từ 1955 đến 1964, gắn với công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ, thống nhất đất nước ở miền Nam.Cuối cùng là chặng đường từ 1965 đến 1975 – chặng cuối của công cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc Không khí khẩn trương, sôi nổi, ác liệt củacuộc kháng chiến tác động mạnh mẽ vào văn học, thổi bùng lên hơn bao giờ hếttrong văn chương tiếng hát ngợi ca lòng yêu nước và bầu nhiệt huyết sục sôi củachủ nghĩa anh hùng cách mạng
Nhìn chung, nền văn học ba mươi năm đấu tranh cách mạng đã phản ánh đượchiện thực đất nước trong một thời kì đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng hết sức vẻvang của dân tộc ta, thực sự là tấm gương phản chiếu những phương diện cơ bảnnhất của tâm hồn dân tộc Văn học đã nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tinhthần dân tộc, góp phần quan trọng vào việc động viên, cổ vũ chiến đấu Văn họcViệt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phongcủa những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”
Trang 15III QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975
1 Hình tượng con người trong văn học chống Pháp và chống Mĩ trên đại thể
là “đại đồng tiểu dị” – bên cạnh những đặc điểm chung cũng có đôi chút khác biệt
Con người trong văn học chặng đường chống Pháp 1945 – 1954 là con
người tập thể, con người quần chúng Họ xuất thân từ các thành phần giai cấp khácnhau, đến từ các miền quê khác nhau lần đầu được giác ngộ lí tưởng cách mạng,thức tỉnh về sức mạnh của cộng đồng Với tấm lòng trong sáng, vô tư, với tinh thầnsẵn sàng hi sinh vì lí tưởng, họ từ giã gia đình, quê hương ra đi, tham dự vào cácbiến cố lịch sử, tự nguyện ghé vai gánh vác trách nhiệm với lịch sử, với dân tộc
Đó có thể là những người lính nông dân tiếp nối truyền thống các nghĩa sĩ Cần
Giuộc khi xưa“vì dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” Từ những miền
quê nghèo trên khắp mọi miền đất nước, họ tụ hội về đây dưới ngọn cờ đại nghĩa,sẵn sàng hi sinh thân mình cho lí tưởng hòa bình dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc,của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Tôi với anh hai người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
(Đồng chí, 1948 – Chính Hữu)
Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “một, hai”
[…] Ba năm rồi gửi lại quê hương Mái nhà tranh, tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya
Trang 16(Tây Tiến, Quang Dũng)
Câu thơ mang phong vị cổ điển, trong khẩu khí toát lên khí chất ngang tàngcủa người tráng sĩ xưa ra trận coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Có khác là ở chỗ,người tráng sĩ xưa ra trận vì lí tưởng trung quân; còn người chiến sĩ nay ra đi theotiếng gọi sông núi, vì lí tưởng “trung với nước, hiếu với dân”
Tâm lí con người trong văn học chống Pháp là tâm lí tập thể, ít có những dằnvặt, suy tư, giằng xé nội tâm Tâm hồn họ trong sáng, giản đơn, dứt khoát, toàn tâm
vì sự nghiệp chung, hòa mình trong tập thể
Con người trong văn học chặng đường chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa
xã hội 1955 – 1975 là “con người trong sự thống nhất riêng – chung”, con người
kết tinh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mang khuynh hướng sử thi và
cảm hứng lãng mạn Đó là con người xả thân, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng cao đẹp
của cả dân tộc – lí tưởng hòa bình, độc lập, thống nhất tổ quốc Trong tiểu thuyết
Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu cũng từng suy ngẫm về sự khác biệt giữa hai thế hệ cầm súng xưa và nay – giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ: “Có cái gì khác nhau trong vẻ đẹp của lớp người cầm súng trước đây và lớp người hôm nay? Ngày xưa, những người lính nông dân cầm súng để chiến đấu cho tổ quốc, đồng thời cho mảnh vườn và mái nhà của mình Hôm nay […] họ từ giã gia đình, trường học và từ giã một cuộc sống tương lai đẹp đẽ hết sức đảm bảo đã bắt đầu được xây cho họ Vậy thì trong cuộc trường chinh hôm nay, họ đang chiến đấu cho
Trang 17cái gì? Họ từ bỏ cả trái hạnh phúc đang ửng hồng trong vườn nhà mình để chiến đấu cho mục đích gì?” Từ những năm 1965, rất nhiều thanh niên miền Bắc đã tự
nguyện gác bỏ giấc mơ học đường, xếp vào ba lô những ước mơ đẹp đẽ nhất đểvào Nam chiến đấu vì lí tưởng hòa bình, thống nhất tổ quốc Đó là sự hi sinh lớn
lao nhưng hoàn toàn chân thành, tự nguyện Việt, Chiến (Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi), Khuê, Lữ, Cận (Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu) là
những thanh niên đều ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, sống cùng thời đại, cùngchung lí tưởng Họ đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ từ tuổi thơ đithẳng tới chiến trường, vẫn còn những nét hồn nhiên ngây thơ trong cuộc sốnghàng ngày nhưng lại cực kì nghiêm túc trong tư cách người chiến sĩ gánh vác trên
vai trách nhiệm với tổ quốc, với nhân dân Nói như nhân vật Khuê trong Dấu chân người lính: “Lớp tuổi chúng mình chưa kịp bước vào đời thì thằng giặc Mĩ đã đến gọi chúng mình ngay trước cửa trường học”
Hình tượng nhân vật trong văn học chống Mĩ tiêu biểu cho quan niệm nghệthuật về con người trong văn học cách mạng của cả giai đoạn 1945 – 1975 màchúng tôi sẽ trình bày dưới đây
2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong nền văn học cách mạng từ 1945
đến 1975 có sự vận động qua các chặng đường, song trên đại thể có những đặcđiểm chung cơ bản như sau:
- Hình tượng nhân vật trung tâm là người chiến sĩ – anh hùng trên mặt trận
vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường như dân quân du kích,thanh niên xung phong, dân quân hỏa tuyến,… Trong những năm miền Bắc xâydựng chủ nghĩa xã hội, văn học còn tập trung viết về những con người mới xã hộichủ nghĩa, những người anh hùng trên mặt trận lao động sản xuất Họ gánh váctrên vai những nhiệm vụ nặng nề mà cao cả của dân tộc, mang trong mình nhữngphẩm chất cao đẹp, kết tinh vẻ đẹp tinh thần và lí tưởng cao cả của cộng đồng
- Điểm khác biệt cơ bản của con người trong văn học chống Pháp và chống
Mĩ so với con người trong các giai đoạn văn học trước đó và trong văn học đổi mới
là con người mang đậm tính sử thi GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: “Xu
Trang 18hướng sử thi hóa là chủ đạo, chi phối từ tiểu thuyết, thi ca đến kịch bản sân khấu”.
Đó là nét riêng của văn học 1945 đến 1975
+ Trong nền văn học mang đậm tính sử thi, nhân vật được phản ánh chủ yếu trong mối quan hệ với cộng đồng, giai cấp, dân tộc Con người chủ yếu được
khám phá ở phương diện con người đại diện cho cái chung với việc thực hiện bổnphận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân Họ nêu luôn cao ý thức chính trị, sống với lẽsống lớn và tình cảm lớn Nhân vật luôn có ý thức nhân danh cộng đồng mà suy
nghĩ và hành động, sẵn sàng chiến đấu và hi sinh Chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thi) anh hùng Núp (Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc), chị Sứ (Hòn Đất, Anh Đức), chính ủy Kinh, các chiến sĩ trẻ như tiểu đội trưởng Khuê,
Lữ, Cận (Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu), chú bé Lượm, người con gái
Việt Nam, người chiến sĩ Điện Biên – những “Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi”trong thơ Tố Hữu,… chính là hiện thân của dân tộc và thời đại trong thế kỉ anhhùng Họ là những anh hùng bởi cả cuộc đời đã hi sinh tuổi thanh xuân, hi sinhtính mạng và một phần xương máu của mình, tạm cất đi bao ước mơ và khao khátcủa tuổi trẻ để làm tròn bổn phận người công dân với tổ quốc, với dân tộc
Con người, nhất là ở chặng đường chống Pháp, ít được xem xét ở phương diệncon người cá nhân – cá thể, con người trong các mối quan hệ riêng tư trong cuộcsống hàng ngày (vốn là đặc điểm của văn học những năm đầu thế kỉ) Cái tôi cá thểthậm chí còn bị phủ định cực đoan, nói như Hoài Thanh: “Đoàn thể tái tạo chúngtôi trong bầu không khí của giang sơn Chúng tôi – những nạn nhân của thời đạichữ Tôi, hay muốn gọi là tội nhân cũng được, thấy rằng đời sống cá nhân không có
ý nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể.” Nhân vật không thể hiện những cátính riêng, không có những nhu cầu, đòi hỏi cho riêng mình Cái riêng tư, đờithường nếu được nói đến thì chủ yếu cũng là để nhấn mạnh thêm trách nhiệm vàtình cảm của cá nhân đối với cộng đồng Ngay cả tình cảm riêng tư nhất là tình yêulứa đôi cũng không tách rời với những “tình cảm lớn” Nguyễn Đình Thi với người
yêu “Chia tay trong đêm Hà Nội” đã có cử chỉ thân mật: “Anh ôm chặt em và ôm
Trang 19cả khẩu súng trường bên vai em” Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu cũng không
ngần ngại thổ lộ với người bạn gái:
Chào xuân đẹp! Có gì vui đấy Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy Như buổi đầu hò hẹn, say mê Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
Mà nói vậy: “Trái tim anh đó Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều Phần cho thơ, và phần để em yêu…”
(Bài ca xuân 1961)
+ Trong sử thi, nhân vật người anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp, sức mạnh, phẩm
chất cao cả của cộng đồng ở thời đại mà tác phẩm ra đời Trong văn học cách
mạng cũng vậy, nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng và đạo đức chung của dân tộc, đại diện cho tinh hoa, khí phách của toàn dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước Nhân vật ở mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi lứa
tuổi luôn được nhìn nhận, khám phá và miêu tả trong cuộc sống chiến đấu của cảdân tộc Chính ngọn lửa hai cuộc chiến tranh đã soi tỏ khuôn mặt các thế hệ anhhùng của dân tộc Việt Nam Họ chính là hiện thân đẹp đẽ của dân tộc và thời đại
Nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh
Châu, như mọi cô gái Việt Nam khác, có một tình yêu thủy chung, một niềm tinmãnh liệt vào tương lai Sống giữa sự tàn phá của chiến tranh, bao năm cô vẫn chờđợi người con trai chưa hề gặp mặt, chưa hứa hẹn một điều gì, bởi vì trong lòng
cô “cái sợi chỉ xanh nhỏ bé và óng ánh, qua thời gian và bom đạn vẫn không phai nhạt, không hề đứt” Chỉ là câu nói đùa nhưng người đọc thấy được cách Nguyệt
hành xử rất phù hợp với truyền thống đạo lí của dân tộc, sống có trước có sau, trọn
vẹn nghĩa tình: “Anh đã cho em đi nhờ xe, lúc khó khăn lại bỏ anh ư”
Trong văn học cách mạng có kiểu nhân vật gắn thù nhà với nợ nước Conngười gắng vượt lên những đau khổ mất mát riêng tư để phấn đấu vì lợi ích dân
Trang 20tộc Vận mệnh cá nhân luôn gắn liền với số phận của cả cộng đồng Lịch sử gia
đình người nông dân Nam Bộ trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của
Nguyễn Thi có những trang đau thương, lại có những trang vô cùng chói lọi Đócũng là đặc trưng của lịch sử dân tộc Việt Nam suốt mấy ngàn năm lịch sử “Giánhư chúng ta minh họa lịch sử dân tộc thì có trang nào, dòng nào không phải vẽ
một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu?” (Nguyễn Trung Thành, Đường chúng ta đi) Ông nội Việt là du kích, bị Tây bắn chết hồi chín năm Ba Việt tham
gia công tác chi bộ, bị Tây chặt đầu Má cũng bị giặc bắn chết khi cùng bà con lên
Mỏ Cày đấu tranh,… Tình yêu nước và khát vọng diệt thù của hai chị em Việt vàChiến bắt nguồn từ mối thù nhà và từ tình yêu sâu nặng với gia đình, với quêhương Ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, họ đã xung phong tòng quân giết giặc với
quyết tâm sắt đá: “Đã làm thân con gái ra đi tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!” (nhân vật Chiến).
Nợ nước không chỉ gắn với thù nhà, ở nhân vật Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, món nợ ấy còn gắn với mối thù cho quê hương “Cả rừng
xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương” Những cánh rừng xanh
tươi biểu trưng cho sự sống đang trở thành đối tượng tiêu diệt của kẻ thù Như xà
nu, cuộc đời Tnú cũng chịu bao đau thương do kẻ thù gây ra Lúc nhỏ đi làm liênlạc cho cán bộ, lưng Tnú ngang dọc những vết dao tra tấn của kẻ thù Lớn lên, lậpgia đình, anh trải qua giờ phút đau thương tột cùng khi phải bất lực tận mắt chứngkiến cái chết thê thảm của vợ con Đôi bàn tay Tnú cũng hóa thành mười ngọnđuốc sống Mười ngọn lửa ấy đã châm bùng lên khối căm hờn vốn âm ỉ chất chứatrong lòng mỗi người dân Xô Man, biến thời khắc đau thương trở thành thời khắcnổi dậy hào hùng trong lịch sử ngôi làng Biến đau thương, căm thù thành hànhđộng, anh từ giã quê hương làng bản ra đi kháng chiến, tham gia lực lượng quânđội giải phóng Đôi bàn tay đau thương ấy đã biến thành đôi bàn tay căm thù, bàntay giết giặc Anh chiến đấu để trả thù nhà, nợ nước, cũng là để giữ cho cánh rừng
xà nu mãi một màu xanh bất tận
Trang 21Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng phấn đấu hi sinh vì độc lập dân tộc, vìchủ nghĩa xã hội chính là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của con người thời đại Môhình nhân cách người anh hùng trong văn học cách mạng, nói như GS Nguyễn
Đăng Mạnh là phải đủ “yêu, căm, chiến, lạc” Trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng, nhà văn Chu Lai cũng thừa nhận quan niệm nghệ thuật một thời về con người: “Có một thời, giá trị nhân phẩm con người không phụ thuộc vào những khuyết tật lặt vặt, những cá tính khó xài, những khôn ngoan lọc lõi, mà chỉ phụ thuộc vào chuyện anh có dám hết mình thủy chung với cách mạng, với bạn bè, có dám xả thân ăn thua đủ với kẻ thù đang ở thế mạnh không Đó là hạt nhân của nhân cách, của lòng cao thượng và vị tha.” Tiêu chuẩn định giá con người ấy đã chi phối cách
xây dựng hình tượng người anh hùng của cả một giai đoạn văn học Con người ítđược xem xét ở phương diện con người cá nhân, con người đời tư thế sự trongnhững mối quan hệ phồn tạp đan xen, con người nhân bản với cả những tốt – xấu,thiện – ác, cao cả - thấp hèn,… Hình tượng do vậy mà cũng thiếu đi tính chân thực.Người anh hùng trong văn học cách mạng luôn đặt tình cảm cách mạng lêntrên lợi ích cá nhân Trong những hoàn cảnh cấp bách, họ thậm chí “lạnh lùng” hisinh tình cảm cá nhân, gia đình cho lợi ích dân tộc mà không phải dằn vặt, day dứt,
đau khổ nhiều Ta nhớ hình ảnh chị Út Tịch trong tác phẩm Người mẹ cầm súng
của Nguyễn Thi với những câu nói đầy khẩu khí của người phụ nữ miền Nam anh
hùng: “- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì!” và “Còn cái lai quần cũng đánh” Vợ chồng chị đi công tác cách mạng vắng nhà như cơm bữa Đàn con của
anh chị từ nhỏ đã sống tự lập, thừa kế phẩm chất và lí tưởng anh hùng từ cha mẹ.Chị Út có thai đến tháng thứ bảy vẫn nhất định đòi theo chồng đi đánh bót Đường
Trâu bởi chị suy nghĩ thật đơn giản và mạch lạc rằng: “Xưa nay có ai đánh giặc
mà chờ sanh xong mới đánh?” Trước ngày hành động, anh chị đã cho bốn đứa con
nhỏ tản cư Thế nhưng lúc chuẩn bị xông vào bót “một ý nghĩ vụt đến trong Út, ýnghĩ mà người mẹ cầm súng nào cũng phải nghĩ tới Đó là con! Chỉ một tiếng gọn
như vậy, nhưng lại đọng bao tình sâu nặng Út nói với chồng: - Bữa nay mình sẽ giựt được một cây súng, một thùng đạn, nhưng mấy đứa nhỏ nhà mình tản cư
Trang 22trong kia chắc nó bắt nó chặt đầu mất Tịch suy nghĩ rất lung Nhưng nó phản vận rồi, lúc này không cướp thời cơ mà đánh là bỏ luôn, Tịch nói: - Em đang có thai, còn gà mái thì còn gà giò Cứ đánh!” Sẵn sàng đánh đổi tính mạng của bốn đứa
con để hoàn thành nhiệm vụ với cách mạng với suy nghĩ chị Út đang có thai, “còn
gà mái thì còn gà giò”, quyết định chóng vánh của anh Tịch xét trong quan hệ vớicộng đồng là cao cả, nhưng xét trong quan hệ cá nhân, gia đình, ta thấy có gì đóchưa thật thỏa đáng
Cũng là con người thời đại đặt tình cảm với cách mạng lên trên tình cảm cá
nhân, nhưng ở nhân vật Thơm trong vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng diễn
biến tâm lí và tính cách lại không giản đơn như thế Suốt diễn biến của vở kịch,nhà văn miêu tả sự chuyển biến lô gic trong con người Thơm: từ nhẹ dạ cả tin, từcon người thờ ơ với cách mạng, cô nhận thức được lẽ phải và đứng hẳn về phíacách mạng Thơm đã bộc lộ rõ bản lĩnh “dòng máu cụ Phương” – một gia đìnhgiàu truyền thống cách mạng, thể hiện trí tuệ, sự gan dạ để bảo vệ cách mạng Khibuộc phải lựa chọn giữa tình cảm riêng tư (phản lại người chồng Việt gian) với đại
nghĩa cách mạng, cô đã quyết định bảo vệ đại nghĩa và chính nghĩa Với Bắc Sơn,
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng không chỉ đặt ra và giải quyết được vấn đề lớn củacách mạng (vấn đề quan hệ giữa cách mạng và quần chúng) mà còn thể hiện đượctài năng trong việc khắc họa tính cách, tâm lí nhân vật
+ Con người trong văn học chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã
hội tìm thấy ý nghĩa đời mình trong sự gắn bó với tập thể, với cộng đồng, với cách mạng và kháng chiến. Trước khi hòa mình vào tập thể, họ thường có hoàncảnh eo le, bế tắc, có số phận bất hạnh Nhưng khi hòa vào cuộc đời chung, họ cảmthấy tự tin và trưởng thành, lại tìm thấy hạnh phúc Họ tìm thấy sự đổi đời, sự hồisinh nhờ cách mạng
Nhân vật trữ tình trong thơ Chế Lan Viên cũng không giấu giếm niềm vui khigiác ngộ ra chân lí cách mạng:
Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào
Thấy nghìn núi trăm sông diễm lệ
Trang 23(Chim lượn trăm vòng)
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu)
Về với nhân dân, với Chế Lan Viên, là tìm về với bến đậu bình yên trong tâmhồn, về với cội nguồn sức sống, về với mạch nguồn sáng tạo không bao giờ vơicạn Cách mạng không chỉ tái sinh cuộc đời mà còn làm hồi sinh một hồn thơ đã cólúc tưởng như bế tắc
Đọc những trang văn ở phần đầu của truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài),người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho số phận cô Mị Người con gái miềnnúi trẻ trung, đầy bản lĩnh, yêu đời và phơi phới xuân tình ấy cuối cùng cùng phảirơi vào kiếp sống nô lệ, vùi chôn cả tuổi thanh xuân với bao khát vọng trong nhữngtháng ngày “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Còn A Phủ, cái mầm sốngkhỏe đã vượt qua được sự sàng lọc nghiệt ngã của tự nhiên, sống tự do giữa đất trờikhi rơi vào tay bọn thống trị xảo quyệt cũng trở thành người nô lệ ngoan ngoãn Cả
Mị và A Phủ không từng nghĩ sẽ tự giải thoát cho mình khỏi kiếp sống nô lệ, kiếpsống bị “vật hóa” ấy Cho đến một ngày sự đè nén áp bức bị đẩy đến cùng cực, họmới tự phát liều lĩnh giải thoát cho mình Mị và A Phủ lưu lạc đến Phiềng Sa, gặpcán bộ và được giác ngộ cách mạng, họ đã trở thành những người du kích tiêu biểu
ở vùng giải phóng Cuộc đời của Mị và A Phủ đã được cách mạng hồi sinh
Những năm 1958 – 1960, hưởng ứng cuộc vận động chính trị của Đảng vàNhà nước kêu gọi thanh niên miền xuôi lên Tây Bắc xây dựng vùng kinh tế mới,
nhà văn Nguyễn Khải cho ra đời truyện ngắn Mùa lạc Cuộc đời cô Đào trước khi
lên nông trường Điện Biên gặp nhiều điều đau buồn Chồng chết sớm, đứa concũng bỏ cô mà đi Đào phải bôn ba kiếm sống với nỗi đau chưa tắt, với cô quạnh
bao trùm: “đòn gánh trên vai, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gai, Cẩm Phả lấy muồng, khi ngược Lào Cai buôn gà, vịt…” Số phận bất hạnh, bơ vơ,
Trang 24lạc lõng giữa cuộc đời đã tạo nên ở chị trạng thái tinh thần “muốn chết, nhưng đời
còn dài nên phải sống” Đào lên nông trường “với tâm lí con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã chịu” Ở nông trường, Đào
hăng hái lao động bởi cô hiểu chỉ có lao động mới tìm thấy niềm vui và hạnh phúc
Số phận của Đào dần dần thay đổi Cô đã tìm lại được chút niềm vui trong laođộng, với những bạn bè xung quanh Cuối cùng, hạnh phúc cũng mỉm cười với côkhi ở nơi đây, cô gặp được người đàn ông yêu thương mình thật lòng Mảnh đất xa
lạ giờ gắn bó máu thịt, trái tim khô cằn giờ trở nên êm dịu, mát lành Cách mạng vàcuộc sống mới xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho con người niềm vui sống
Cách mạng không chỉ làm thay đổi chế độ xã hội Cách mạng còn có sứcmạnh cải tạo cuộc sống, mang lại sự hồi sinh cho tâm hồn con người
+ Người anh hùng trong văn học cách mạng là biểu tượng đẹp đẽ của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng Con người được tô đậm những nét phi thường và được xây dựng bằng bút pháp lí tưởng hóa Đó là những con người có chí lớn,
quyết tâm lớn và có đủ sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách, lập nên nhữngchiến công phi thường Lời văn vì thế thường mang giọng điệu ngợi ca với chất trữtình ấm áp, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng Đây là lời của nhân vật
Trần Văn nói với Loan trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng: “Tôi không băn khoăn rằng tôi sẽ sống hay chết trong cuộc chiến đấu này Điều quan trọng là mình có mặt Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn năm không còn bóng giặc; chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hi sinh lần cuối cùng cho tự do của tổ quốc.” Tác phẩm viết về Hà Nội những ngày
đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng được sáng tác năm 1958, khicuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi Nhân vật nói với người khác mà như nóivới chính mình, như một lời thề thiêng liêng với Tổ quốc trong thời khắc sinh tử.Câu nói trang trọng, xúc động, hào hùng mà tô đậm được cái nét phi thường củacon người trong hoàn cảnh không bình thường của đất nước