1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo hội THẢORÈN LUYỆN kĩ NĂNG NGHỊ LUẬN về vấn đề xã hội đặt RA TRONG tác PHẨM văn học

33 593 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 192,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên ở cả ba dạng bài nghị luận xã hộinghị luận về một hiện tượng đời sống, nghị luận về một tư tưởng - đạo lí, nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học các vấn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Môn Ngữ Văn là một môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị

trí quan trọng trong các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho họcsinh

Trong trường THPT việc rèn kĩ năng viết văn có vai trò rất quan trọng Các bàiviết văn không chỉ đánh giá học sinh về mặt điểm số mà còn rèn luyện tính kiên nhẫn,cách nói năng, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh

Trong chương trình giảng dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn sovới trước đây, nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội,tạo cho học sinh năng lực chủ động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mìnhtrước nhiều vấn đề trong cuộc sống

Thể văn nghị luận xã hội được đưa vào chương trình học tập từ trung học cơ sở Các

em đã được học lí thuyết về phương pháp làm các dạng bài nghị luận xã hội và cũngđược viết nhiều bài làm văn thực hành Tuy nhiên ở cả ba dạng bài nghị luận xã hội(nghị luận về một hiện tượng đời sống, nghị luận về một tư tưởng - đạo lí, nghị luận

về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học) các vấn đề nêu ra để yêu cầunghị luận vô cùng phong phú, rộng lớn Muốn làm tốt các dạng bài này, các em phảinắm chắc phương pháp nghị luận nói chung và cách viết từng dạng bài cụ thể, mặtkhác các em phải có vốn kiến thức xã hội, văn hóa cần thiết để làm bài Điều này phụthuộc rất nhiều vào quá trình học tập, quá trình tự tích lũy, bồi dưỡng kiến thức củamỗi học sinh

Với kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học làmột trong ba tiểu loại của dạng bài nghị luận xã hội Điểm khác của tiểu loại này sovới hai kiểu bài nghị luận trên là tuy cùng bàn về một vấn đề xã hội, rất gần với một

tư tưởng đạo lí, một hiện tượng xã hội nhưng vấn đề xã hội đó được rút ra từ tác phẩmvăn học Nói cách khác là nhân một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm nào đó màbàn rộng ra, phân tích ở khía cạnh ý nghĩa xã hội của nó, nhìn nhận và đánh giá vấn

Trang 3

đề trong bối cảnh thực tế của cuộc sống xã hội hôm nay Vậy để làm gì có thể củng

cố, rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh với kiểu bài nghị luận về một vấn đề xãhội đặt ra trong tác phẩm văn học? Chúng tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm mình đãtích lũy được qua quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT

2 Mục đích của đề tài:

Đề tài này với mong muốn giúp các em viết tốt bài văn nghị luận xã hội theocấu trúc đề thi mới rõ ràng, mạch lạc, hoàn chỉnh, chúng tôi đưa ra giải pháp mới, đólà: rèn luyện cho học sinh kĩ năng nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tácphẩm văn học

3 Ý nghĩa của đề tài:

Trong tình hình hiện nay khi kĩ năng làm văn của học sinh chưa tốt và nhiều

em chưa có kĩ năng làm văn, đề tài này góp phần vào việc phát hiện ra và khắc phụcnhững lỗi viết văn mà học sinh trường THPT đang mắc phải Người viết cũng hivọng, đồng nghiệp và học sinh sẽ có thêm tư liệu về các kĩ năng làm văn nghị luận xãhội

4 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh THPT

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này tôi dùng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so

sánh và một số phương pháp khác

B NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I Các khái niệm:

1 Nghị luận: Bàn bạc và đánh giá một vấn đề (theo Từ điển tiếng Việt- Hoàng

Phê)

2 Văn nghị luận

Trang 4

- Văn nghị luận : là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc người nghe

một tư tưởng, quan điểm nào đó (Ngữ văn lớp 7 tập 2).

- Văn nghị luận: thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề (theo Từ điển tiếng Việt- Hoàng Phê )

- Văn nghị luận : là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ýkiến của mình bằng cách dùng lý luận bao gồm cả lý lẽ và dẫn chứng để làm rõ mộtvấn đề thuộc về chân lý nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình với

những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất (theo Bảo Quyến – Rèn luyện làm văn nghị luận – NXB Giáo dục, 2003)

3 Văn nghị luận xã hội

- Văn nghị luận xã hội hiểu đơn giản là những bài nghị luận về một hiện tượng

đời sống hoặc một tư tưởng đạo lí (theo Thanh Vân – Nghị luận xưa nhưng không cũ – Web: phongdiep.net)

- Nghị luận xã hội là kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội ( – Rèn luyện làm văn nghị luận – NXB Giáo dục, 2003)

Khái niệm xã hội được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề thuộc mọiquan hệ, mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vựcđời sống xã hội như chínhtrị, kinh tế, giáo dục, môi trường, dân số v.v…

Nghị luận xã hội có thể đề cập tới rất nhiều mặt của đời sống xã hội Từ nhữngvấn đề có tầm nhân loại như chiến tranh hòa bình, tình trạng ô nhiễm môi trường,những vấn đề nhân sinh quan như quan niệm về lẽ sống và cái chết, về hạnh phúc vàtình yêu đến những vấn đề xã hội cụ thể như nạn tham nhũng, tệ cờ bạc, ý thức vềpháp luật…, tóm lại là mọi vấn đề liên quan tới đời sống của con người và xã hội đề

có thể trở thành đề tài của bài nghị luận xã hội Tuy nhiên, đề tài của bài nghị luận xãhội thông thường hướng vào những vấn đề có tính chất thời sự, có ý nghĩa thiết thực

và cấp bách đối với xã hội

II Các chủ đề nghị luận xã hội

Trang 5

Nghị luận xã hội được sử dụng trong việc bàn bạc đánh giá nhận định…về mọiphương diện trong đời sống xã hội, vì vậy mỗi tài liệu lại có một cách chia chủ đềkhác nhau

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, trong cuốn “Muốn viết được bài văn hay”(NXB GD – 1994) thì nghị luận xã hội có thể chia ra thành 6 chủ đề lớn như sau:

- Nghị luận về một vấn đề đạo đức nhân sinh

- Bình luận vấn đề tư tưởng văn hóa

Còn SGK Ngữ văn lớp 12 (NXB GD- 2008) lại chia thành 3 chủ đề lớn:

- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Dù chia chủ đề như thế nào thì văn nghị luận xã hội đều tập trung bàn bạc, trao đổimột vấn đề nào đó liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội về vật chất hoặc đời sốngtinh thần của con người

III Những yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội

1 Yêu cầu chung

Bài nghị luận xã hội dù ngắn hay dài đều phải đạt được những yêu cầu sau:

1 1 Bài nghị luận xã hội phải thể hiện sự hiểu biết chính xác tường tận về vấn

đề hay hiện tượng xã hội được bàn bạc Người viết nghị luận phải chỉ ra được thựcchất cũng như xu hướng vận động của vấn đề hay hiện tượng đó

Trang 6

1 2 Bài nghị luận xã hội đòi hỏi người viết phải có chính kiến, phải bộc lộ

công khai lập trường quan điểm, tư tưởng của mình Một bài bình luận xã hội khôngthể thiếu phần đề xuất những ý kiến, nhận định, đánh giá về vấn đề xã hội được đem

ra bàn bạc Trên cơ sở đó, người viết có thể đề nghị một giải pháp thích hợp

1 3 Bài nghị luận xã hội đòi hỏi phải có tính thời sự cao Nó phải hướng tới

mục đích định hướng tư tưởng và hành động cho người đọc, thuyết phục họ tham giatích cực vào việc giải quyết những vấn đề xã hội đang được đặt ra

1 4 Bài nghị luận xã hội là một kiểu bài nghị luận có tính chất tổng hợp cao,

đòi hỏi phải sử dụng hầu như tất cả các thao tác nghị luận Một mặt, bài nghị luận xãhội coi trọng việc giải thích làm sáng tỏ nội dung cụ thể của những thuật ngữ, hiệntượng, vấn đề…được đề cập đến; mặt khác, nó đòi hỏi phải phân tích những phươngdiện, những khía cạnh cụ thể của các hiện tượng, vấn đề xã hội đang bàn bạc Bàinghị luận xã hội cũng yêu cầu những nhận định, đánh giá phải có căn cứ xác đáng;những ý kiến, nhận xét cần phải được chứng minh

1 5 Trong nhà trường, bài nghị luận xã hội đòi hỏi học sinh chẳng những có

hiểu biết cụ thể, trình bày rõ ràng, thuyết phục một vấn đề xã hội đem bàn luận màcòn phải nêu được suy nghĩ riêng của mình Học sinh phải biết vận dụng những kiếnthức trong thực tế đời sống hay trong sử sách để luận giải các vấn đề xã hội, đồng thờiphải có một ngôn ngữ sắc bén, chính xác, gợi cảm, có khả năng khơi động được tưtưởng và tình cảm xã hội của người đọc

2 Yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

Nghị luận xã hội là một dạng đề văn khó, nghị luận xã hội trong các tác phẩmvăn học càng khiến cho học sinh thêm khó khăn hơn, chính vì vậy với các vấn đề nghịluận đều cần học sinh phải biết triển khai, tổng quát vấn đề, nhất là với dạng đề nghịluận xã hội trong các tác phẩm văn học càng cần học sinh phải biết cách nhận thức,tổng hợp để rút ra được vấn đề xã hội và nhìn nhận chúng thông qua các tác phẩm vănhọc

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 7

I Vai trò vị trí của văn nghị luận xã hội :

1 Trong đời sống

Nghị luận xã hội là loại văn được ứng dụng hết sức rộng rãi trong đời sống Ta

có thể dễ dàng bắt gặp nó trên bất kỳ một một phương tiện thông tin đại chúng nào,nằm dưới dạng các bài bình luận, xã luận về một vấn đề nào đó, một hiện tượng nào

đó thuộc lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v…hay những buổi trò chuyện, thuyếtgiáo của các nhà giáo dục, bài giảng đạo đức của các mục sư, linh mục, … Dẫu tồn tạidưới dạng nói hay dạng viết thì nghị luận xã hội luôn có một vị trí quan trọng trongđời sống xã hội Bởi nó giúp con người nhận thức một cách đầy đủ, cập nhật, kháchquan các vấn đề liên quan đến đời sống , để từ đó định hướng tốt cho sự phát triểntích cực theo quy luật vận động của xã hội

Trong những năm gần đây , việc cho thêm câu hỏi nghị luận xã hội vào đề văn

là một việc làm cần thiết và là một tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự phát triển của đờisống xã hội và vị trí quan trọng của loại văn này trong các nhà trường ,trong đời sống

xã hội

Nghị luận xã hội là một yêu cầu cần thiết trong đời sống đặc biệt là cho họcsinh Bởi vì qua đó, có thể kiểm tra chính xác năng lực tư duy, óc sáng tạo, sự hiểubiết của học sinh; mặt khác tránh tình trạng "đạo văn" hay lệ thuộc nhiều vào sách vở

2 Trong nhà trường

Văn nghị luận nói chung, văn nghị luận xã hội nói riêng được đưa vào chươngtrình phổ thông cả hai cấp học (THCS và THPT) với vị trí trọng yếu trong hệ thốngthể loại văn bản được lựa chọn đưa vào tìm hiểu và rèn luyện kỹ năng thành lập

2 1 Chương trình trung học cơ sở:

Nghị luận xã hội được hướng dẫn khá kỹ ở lớp 9 với phần khái luận lẫn cáchlàm bài và đề cập đến cả hai loại bài NLXH, với 4 bài cụ thể:

- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

- Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý

Trang 8

- Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý

Ngoài ra còn được bổ trợ thêm qua phần đọc hiểu một số văn bản dạng nghịluận xã hội như:

- Bàn về đọc sách (Chu Quang Tiềm)

- Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi)

- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Vũ Khoan)

Nhận xét: Nhìn chung chương trình THCS chỉ mang tính giới thiệu và thực

hành NLXH ở mức độ sơ giản, chưa tập trung vào việc khắc sâu tri thức và rèn luyện

kỹ năng làm bài dạng nghị luận này Nói đúng hơn đó chỉ là bước đệm để hoàn thiện

ở chương trình THPT

2 2 Chương trình Trung học phổ thông (THPT)

Trong chương trình THPT, dạng nghị luận xã hội được thực hành khá kỹ, bắtđầu từ lớp 11 Ngay bài viết số 1 ở đầu năm học lớp 11 đã được định hướng làm bàiNLXH, sau đó khi hướng dẫn häc sinh tiếp cận hàng loạt các thao tác lập luận nhưphân tích, bác bỏ, bình luận, so sánh… và các ngữ liệu SGK đều lấy dạng NLXH

Cụ thể:

- Bài :Thao tác lập luận phân tích có một đoạn ng÷ liệu viết về vấn đề dân số;

- Bài: Luyện tập thao tác lập luận phân tích có một đoạn ng÷ liệu viết về vấn

đề khoa học

- Bài :Thao tác lập luận bác bỏ có một đoạn ngữ liệu viết về vấn đề tiếng mẹ

đẻ, một đoạn viết về hút thuốc lá

- Bài :Thao tác lập luận bình luận: ngữ liệu luyện tập một đoạn bàn về giao

thông, một đoạn bàn về pháp luật

- Bài: Luyện tập thao tác lập luận bình luận : ngữ liệu một đoạn viết về lời

cảm ơn, một đoạn viết về vấn đề áo phao phòng chết đuối cho học sinh đi học quasông suối

- Bài viết số 6 lại tiếp tục được định hướng làm bài nghị luận xã hội

Ở phần văn học cũng được tích hợp một số văn bản dạng NLXH như:

- Về luân lý xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

Trang 9

- Đọc thêm: Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An

Ninh)

- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng Ghen)

Các ngữ liệu trong bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận cũng chọn dạng

NLXH:

- Cao trào chống Nhật cứu nước (Trường Chinh)

- Việt Nam đi tới (Báo QĐNDVN năm 2007)

- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta

Đến lớp 12 thì phần nghị luận XH được đề cập ngay từ đầu năm học với ba bài

lý thuyết cụ thể:

- Nghị luận xã hội và nghị luận văn học

- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Và bài viết làm văn số 1 cũng được ấn định là văn NLXH

Nhận xét: Như vậy nghị luận xã hội có vị trí hết sức quan trọng trong nhà

trường phổ thông Ở đó học sinh không chỉ được tiếp cận dạng bài NLXH mà cònđược luyện tập thực hành thành lập văn bản một cách khá kỹ càng

II Thực trạng vấn đề

Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan trọng, không chỉ cung cấp tri thức màquan trọng hơn cả là góp phần hoàn thiện nhân cách con người nhưng một thực tế chothấy nhiều năm trở lại đây, đa số học sinh không còn hứng thú trong việc học vănnữa,“Gần 100% học sinh THPT chỉ cần học văn để thi đỗ tốt nghiệp mà thôi”(TheoPGS.TS Đỗ Ngọc Thống- Phó Vụ trưởng Vụ GD Trung học, Bộ GD&ĐT)

Từ việc bản thân các em học sinh không thích học môn Ngữ văn, dẫn đếnkhông tìm tòi, nghiên cứu để am hiểu các vấn đề xung quanh, lười suy nghĩ, không cónhiều cảm xúc, trí tưởng tượng chưa phong phú, ít khi đọc sách tham khảo về mônvăn, đặc biệt là những bài văn mẫu Từ đó dẫn đến thực trạng có rất nhiều học sinh

Trang 10

không biết làm văn nghị luận xã hội nói chung, nghị luận xã hội trong tác phẩm vănhọc nói riêng.

Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này chúng tôi đưa ra giải pháp:

- Trước khi làm bài văn nghị luận xã hội trong tác phẩm văn học, chúng tôihướng dẫn các em ôn tập lại kiến thức đã học về hai dạng nghị luận xã hội (nghị luận

về tư tưởng đạo lí và nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống)

- Sau đó hướng dẫn các em các bước làm bài văn nghị luận xã hội đặt ra trongtác phẩm văn học

Theo chúng tôi nguyên nhân trọng yếu nhất là học sinh không biết cách nói ranhững điều mình có, nghĩa là học sinh thiếu hẳn phương pháp cách thức làm bài vàcác kỹ năng làm văn nghị luận xã hội, đặc biệt là cách làm bài văn nghị luận về vấn

đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

CHƯƠNG III:

NHỮNG GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ

VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

I Học sinh nắm một số lưu ý về văn nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

1 Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghịluận xã hội không phải kiểu bài nghị luận văn học Cần tránh tình trạng làm lạc đềsang nghị luận văn học

2 Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo lí hoặcmột hiện tượng đời sống

3 Đề tài: Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩmvăn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã họctrong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà họcsinh chưa được học

II Học sinh nắm được các thao tác cơ bản

Trang 11

1 Giải thích:

1.1 Yêu cầu đặt ra :

Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩabên trong Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc hiểuđược thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ

1.2 Công việc cụ thể:

Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vàonghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế nhị bóngbẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến người ta nóinhư vậy

Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừadùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu đúng đắn, sâu sắc cótính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết ý Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi đã tìmhiểu được chân lý Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộc sống hàngngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận dụng phù hợp, và mỗichúng ta phải như thế nào?

=> Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:

- Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói.(giải thích)

- Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy?(tại sao?)

- Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn?(để làm gì)

2.Chứng minh:

2.1.Yêu cầu đặt ra:

Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ Khi ta đã chấp nhận cái chân

lý thể hiện trong một phát ngôn nào đó, nhiệm vụ là ta sẽ phải thuyết phục người kháccũng chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng rút ra từ thực tế cuộc sống xưa vànay, từ lịc sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn chứng là những lý lẽ dẫndắt, phân tích tạo ra lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho người đọc

2.2.Công việc cụ thể:

Trang 12

Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh , không những chỉ

bản thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình với mìnhcách hiểu đúng nhất

Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng Từ thực tế cuộc sống rộng lớn, tư liệulịch sử rất phong phú, ta phải tìm và lựa chọn từ trong đó những dẫn chứng xác đángnhất, tiêu biểu, toàn diện nhất (nên chỉ cần vài ba cái để làm sáng tỏ điều cần CM).Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ và kèm theo dẫn chứng phải

có lý lẽ phân tích - chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bật trong các dẫnchứng kia Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao, ta phải sắp xếp chúng ->một hệ thống mạch lạc và chặt chẽ: theo trình tự thời gian, không gian, từ xưa đếnnay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại miễn sao hợp logic Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hôm nay để

đề xuất phương hướng nỗ lực Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống, làm việc tốthơn Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng, thích hợp với từngngười, hoàn cảnh, sự việc

=> Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:

- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên

- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh

- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực

3 Bình luận:

Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫnchứng minh Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu đối vớivăn bình luận, nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng, ngắn gọn hơn sovới chỉ một thao tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung cho phần việc quan trọngnhất là bình luận - phần mở rộng vấn đề

Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránhphiến diện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có ba khả năng:

- Hoàn toàn nhất trí

- Chỉ nhất trí một phần (có giới hạn, có điều kiện)

Trang 13

III Cách làm dạng đề nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

1 Hệ thống lí thuyết làm văn nghị luận xã hội

1.1 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.1.1 Khái niệm, đề tài, yêu cầu và các thao tác chính:

1.1.1.1 Khái niệm: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp

những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc sống

1.1.1.2 Đề tài

Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm:

- Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,…

- Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:

+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng,…

+ Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn,…+ Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi,

- Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em,

- Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,…

- Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống

1.1.1.3 Yêu cầu

- Hiểu được vấn đề cần nghị luận qua phân tích, giải thích để xác định vấn đề

- Phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh,bàn bạc, bãi bỏ,… nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập luận

Trang 14

- Phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề.

- Người thực hiện nghị luận phải có lí tưởng và đạo lí

1.1.1.4.Các thao tác lập luận cơ bản

Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giảithích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận

1.1.1.5 Nội dung cơ bản của bài làm:

- Giới thiệu, giải thích tư tưởng đạo lý cần bàn

- Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đếnvấn đề cần bàn

- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lý

1.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ratrong đời sống để bàn bạc Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm

ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá

Đề tài bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của HS nhưtai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử,nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận độnggiúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt,

1.2.1 Các thao tác lập luận cơ bản

Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giảithích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận

1.2.2 Nội dung cơ bản

- Nêu rõ hiện tượng bàn luận và vấn đề đặt ra trong hiện tượng đời sống bànluận

Trang 15

- Phân tích mặt đúng mặt sai, mặt tích cực, mặt tiêu cực, mặt lợi mặt hại …củahiện tượng đời sống

- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xãhội đó

2 Diễn giải sơ đồ cấu trúc tổng quát cách làm cho dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và về một hiện tượng đời sống.

Cách 1: Tìm ý và lập dàn ý dựa vào dàn ý khái quát.

Đây là cách thông thường người viết hay làm nhất, nhưng sẽ thuận lợi chonhững học sinh có khả năng tư duy và viết bài tốt, còn những học sinh yếu thì hơi khó

sử dụng Người viết bám vào khung dàn ý khái quát và định ra một dàn ý cụ thể, thậmchí còn có thể biến tấu trên khung này nếu năng lực tư duy tốt

DÀN Ý KHÁI QUÁT

* Dàn ý khái quát văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý

a) Mở bài

- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận

- Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu chứa nội dung tư tưởng, đạo lý

- Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai

Trang 16

- Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viếthoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận

- Rút ra bài học

- Nêu cảm xúc, suy nghĩ hành động của bản thân về vấn đề

* Dàn ý khái quát văn nghị luận về một hiện tượng đời sống

a, Mở bài

- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận

- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng

b, Thân bài

- Nêu thực trạng của hiện tượng

- Xác định nguyên nhân của thực trạng hiện tượng

- Đánh giá, phân tích mặt tốt - xấu, tích cực – tiêu cực, lợi – hại…của vấn đề

- Đề xuất giải pháp cho vấn đề: phát huy, khắc phục…

c, Kết bài:

- Tóm tắt chốt lại vấn đề

- Rút ra bài học

- Nêu suy nghĩ và hướng hành động của bản thân đối với vân đề

Cách 2: Tìm ý và lập dàn ý theo khung câu hỏi

Đây là cách tìm ý và lập dàn ý rất phù hợp với năng lực của học sinh trungbình, yếu vì nó có một hệ thống câu hỏi được lập thành một bộ khung; khung câu hỏinày được xây dựng dựa trên cơ sở dàn bài khái quát, nhưng nó được cụ thể thành cáccâu hỏi dễ hiểu, dễ trả lời học sinh chỉ việc thuộc các câu hỏi này, khi tìm ý và lậpdàn ý chỉ cần trả lời các câu hỏi đó là tìm được ý, thậm chí viết thành văn bản luôn,nếu là học sinh khá Tuy nhiên nó hơi hạn chế về mặt sáng tạo Học sinh đôi pkhi máymóc, cứ cho rằng đây là “bảo bối” cho sẵn và dựa hẳn vào đó mà không suy nghĩthêm:

Ngày đăng: 03/01/2016, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w