1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Quản lý đất ngập nước

93 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dệẽ AÙN KIEÅM SOAÙT BAÛO TOÀN TAẽI KHU BAÛO TOÀN THIEÂN NHIEÂN XUAÂN THUÛYVũ Thị Minh Phương Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam Giới Thiệu BirdLife Quốc tế là một hiệp hội toà

Trang 1

Quản Lý Đất Ngập Nước

******

DỰ ÁN KIỂM SOÁT BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN THỦY 2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM 6 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC, TIỀN GIANG 12 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở LÁNG SEN THUỘC ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN 18 ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MUỖI ĐỐI VỚI CƯ DÂN Ở QUANH KHU BẢO TỒN TRÀM CHIM VÀ LÁNG SEN 29 ĐÁNH GÍA TÌNH HÌNH SỨC KHOẺ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VÙNG DỰ ÁN 36 PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG HỔ TRỢ QUẢN LÝ DỰA TRÊN SỰ QUẢN LÝ HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC VÙNG NHIỆT ĐỚI 55 KẾT QUẢ QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC LUNG NGỌC HOÀNG TỈNH CẦN THƠ 64 NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA VIỆC QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN U MINH THƯỢNG 70 TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TỰ NHIÊN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 77 ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CÁC DỰ ÁN LIÊN QUAN HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC 82 VIỆC BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ NHỮNG VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM- NHỮNG KINH NGHIỆM VÀ TRIỂN VỌNG TỪ IUCN 90

Trang 2

Dệẽ AÙN KIEÅM SOAÙT BAÛO TOÀN TAẽI KHU BAÛO TOÀN THIEÂN NHIEÂN XUAÂN THUÛY

Vũ Thị Minh Phương

Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam

Giới Thiệu

BirdLife Quốc tế là một hiệp hội toàn cầu bao gồm các Tổ chức Phi Chính phủ hoạt

động trong lĩnh vực bảo tồn ở hơn 100 quốc gia cùng nhau nỗ lực bảo tồn các loài chim trên trái đất và sinh cảnh của chúng, và qua đó, cùng nỗ lực hoạt động vì tính đa dạng sinh học và việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên

BirdLife Quốc tế đã bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 1988, và đến năm 1997

đã là một trong một số ít các NGO được cấp giấy phép mở văn phòng đại diện tại Việt Nam Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam là một tổ chức phi lợi nhuận

Trong lĩnh vực bảo tồn đất ngập nước, năm 1999 - 2000, Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam đã thực hiện một dự án do Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tài trợ nhằm xác định các cùng đất ngập nước quan trọng tại đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất chiến lược cho việc quản lý chúng Trước đó, năm 1996, BirdLife cũng đã thực hiện một dự án tương tự do DANIDA tài trợ nhằm xác định các cùng đất ngập nước quan trọng tại đồng bằng Bắc Bộ và đưa ra các đề xuất cho công tác quản lý Trong dự án này, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy đã được xác định là nơi cần ưu tiên cao nhất cho công tác bảo tồn

Thông tin chung về Xuân Thủy

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy nằm ở huyện Giao Thủy (20o17'B -

106o23'Đ), tỉnh Nam Định trong vùng đồng bằng Bắc Bộ Khu bảo tồn nằm trong vùng á nhiệt đới gió mùa và khí hậu có sự khác nhau theo mùa thể hiện rõ rệt trong nhiệt độ và lượng mưa Trong khoảng giữa tháng Bảy và tháng Tám hàng năm, vùng này thường bị ảnh hưởng của bão và lốc nhiệt đới Tháng Tám năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã chính thức

đề cử 12.000 ha của vùng này trở thành khu Ramsar đầu tiên của cả nước theo Công ước về

Đất ngập nước (Công ước Ramsar) Tháng Một năm 1995, 5.640 ha của vùng này đã được quyết định thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Vùng có ranh giới phía Bắc là cửa Ba Lạt (một cửa chính của sông Hồng) và phía Tây là sông Vọp Ranh giới phía Nam và phía

Đông của khu bảo tồn không thật sự rõ ràng do đây là các vùng bãi ngập triều Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm hai cồn lớn là cồn Ngạn và cồn Lu, và một vài cồn cát nhỏ hơn

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy có độ đa dạng sinh học các loài chim rất cao Nhiều loài chim nước đến trú đông ở vùng, và rất nhiều loài chim ven biển sử dụng vùng này là điểm dừng chân trong các chuyến di cư mùa xuân và mùa thu Có 9 loài đang hoặc

sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu có cư trú đều đặn tại đây là: Cò thìa mặt đen Platalea minor (Nguy cấp - EN), Cò trắng Trung Quốc Egretta eulophotes (EN), Choắt lớn

mỏ vàng Tringa guttifer (EN), Mòng bể mỏ ngắn Larus saundersi (EN), Chàng bè chân xám Pelecanus philippensis (Sắp Nguy cấp -VU), Rẽ mỏ thìa Calidris pygmeus (VU), Giang sen Mycteria leucocephala (Gần bị đe dọa - NT), Choắt chân màng lớn Limnodromus semipalmatus (NT) và Te vàng Vanellus cinereus (NT) Đây là nơi ghi nhận

Trang 3

sự có mặt của khoảng 26% tổng số quần thể toàn cầu của loài Cò thìa mặt đen (vào thời

điểm cao nhất) và 2% ước tính tổng số quần thể toàn cầu của loài Mòng bể mỏ ngắn

Các kiểu sinh cảnh đại diện tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy hiện đang

được quản lý theo những phương pháp có thể đe dọa làm suy giảm các giá trị đối với bảo tồn đa dạng sinh học Khu bảo tồn có khoảng 800 ha diện tích rừng ngập mặn (ưu thế là

trang Kandelia candel) phần lớn phân bố lẫn trong các ao nuôi trồng thủy sản Tại các ao

đầm đó, việc nuôi trồng thủy sản được tiến hành theo các phương pháp truyền thống nuôi hỗn canh cả cua, tôm và cá Tuy nhiên, việc canh tác này đang trở nên thâm canh qua mức dẫn đến làm ngăn chặn sự tái phát triển của thảm thực vật Hơn nữa, các đảo cát nằm trong khu bảo tồn, nơi có thảm thực vật cồn cát và thực vật vùng nước mặn đang được trồng rừng

bằng phi lao Casuarina equisetifolia, một loài cây có nguồn gốc ngoại lai, điều này cũng

sẽ làm suy giảm diện tích của các sinh cảnh tự nhiên Do kết quả của sự lắng đọng trầm tích, bờ biển của khu bảo tồn đang bồi lấn dần ra biển, hàng loạt các đảo và bãi bồi đang

được hình thành ở phía Nam của cửa Ba Lạt Các bãi bùn là sinh cảnh lý tưởng cho việc kiếm ăn của các loài như Cò thìa mặt đen, Choắt mỏ thìa và một vài loài chim bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu khác Tuy nhiên, tại một số vùng bãi bùn, việc trồng mới các loài

cây ngập mặn (chủ yếu là trang Kandelia candel) đang diễn ra với mục tiêu cải tạo đất và

bảo vệ bờ biển Điều này sẽ làm thay đổi bản chất của chất nền và đe dọa làm cho các bãi bùn không còn phù hợp với các loài chim đang quan trọng Hơn nữa, việc đánh bắt thủy sản và khai thác nghêu, sò không bền vững ở các bãi ngập triều đều trực tiếp hay gián tiếp gây ra các ảnh hưởng có hại đến các loài đang bị đe dọa trên toàn cầu

Cò thìa mặt đen Platalea minor tại khu BTTN Xuân Thủy

Trong khuôn khổ của báo cáo này, chúng tôi xin lấy Cò thìa mặt đen Platalea minor làm ví dụ như sinh vật chỉ thị về ảnh hưởng của quy hoạch phát triển đối với tính đa

dạng sinh học của một vùng đất ngập nước

Cò thìa mặt đen là loài chỉ phân bố ở vùng Đông á, chúng sinh sản tại bán đảo Triều Tiên và di cư trú đông đến Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao

và đồng bằng Bắc Bộ ở Việt Nam Tại Việt Nam, điểm trú đông quan trọng nhất của chúng

là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy Cò thìa đã từng bị suy giảm nghiêm trọng tại tất cả các vùng sinh sản và trú đông và liệt vào mức bị đe dọa "Tối nguy cấp" (Critical) trên toàn cầu Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, do hàng loạt các nỗ lực bảo tồn của cộng đồng quốc tế, số lượng chúng đã gia tăng đáng kể và trong ấn phẩm mới xuất bản của BirdLife,

Các loài chim bị đe dọa ở Châu á (BirdLife International, 2001) loài này đã được đưa

xuống phân hạng Nguy cấp (Endangered) Thật đáng tiếc là số lượng cò thìa trú đông tại Xuân Thủy đang giảm trong khi tại các vùng trú đông chính ở các nước khác thì số lượng

đều tăng, điều này cho thấy chất lượng sinh cảnh phù hợp đối với cò thìa tại đây đang suy giảm Hơn nữa, các vùng phân bố khác của Cò thìa khác tại đồng bằng Bắc Bộ (Nghĩa Hưng, Thái Thụy ) đều không có ghi nhận nào trong các đợt đếm hàng năm của 3 năm

gần đây Việc mất các bãi bùn trống do trồng ồ ạt các rừng trang Kandelia candel có lẽ là

nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm này Do các vùng rừng ngập mặn đang bị cải tạo thành các ao nuôi trồng thủy sản không được tiêu nước theo chế độ phù hợp với cò thìa (và hàng loạt các loài chim phụ thuộc vào các vùng đất ngập nước nông khác), không có nơi kiếm ăn thay thế nào được đưa ra với cách quản lý hiện tại Những điểm nghỉ chân phù hợp với cò thìa ngày càng bị thu hẹp, trong khi việc bắt cua cáy và các loài nhuyễn thể luôn gây

ra sự nhiễu loạn khắp nơi trong vùng Số lượng chó nuôi quá lớn tại đây cũng góp phần gây nhiễu loạn tại các ao thủy sản

Do đó, điều rất cần thiết nhất trong lúc này là phải xem xét lại kế hoạch trồng rừng ngập mặn tại các bãi bùn Tiền đầu tư cho kế hoạch này có thể được được sử dụng để mang

Trang 4

lại nhiều lợi ích trực tiếp đối với người dân hơn là qua việc phá hủy các bãi ngập triều rất

có giá trị

Dự án KNCF/BirdLife tại Xuân Thủy

Xuân Thủy tuy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam nhưng nguồn vốn đầu tư cho khu vực rất hạn chế, các cán bộ ít được đào tạo, cơ sở vật chất hạ tầng kém và rất thiếu thốn về trang thiết bị Do những khó khăn như vậy, các cán bộ quản lý ở Xuân Thủy chưa đủ khả năng để hoạch định và thực hiện quản lý đất ngập nước hiệu quả Kết quả của những khó khăn trên là các sinh cảnh quan trọng đang bị xuống cấp do các hoạt động không phù hợp với công tác bảo tồn đa dạng sinh học như thâm canh nuôi trồng thủy sản do sức ép của thị trường, việc đánh bắt thủy sản và khai thác nghêu, sò không bền vững ở các bãi ngập triều, do mật độ dân số quá cao và thiếu đất canh tác nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ Các quá trình này đang đe dọa

sự toàn vẹn của vùng và, do đó, một yêu cầu cấp bách phải được đặt ra là hệ thống hóa và thực hiện các biện pháp quản lý để thúc đẩy việc khai thác bền vững các tài nguyên thiên nhiên của vùng theo cách phù hợp với các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học

Tổ chức BirdLife Quốc tế tin tưởng rằng các loài chim có thể sử dụng để kiểm soát những thay đổi về chất lượng môi trường và các thông tin đó sẽ có thể được sử dụng để hướng dẫn và phát triển các phương pháp quản lý bảo tồn thích hợp Do đó, BirdLife đã tiến hành kêu gọi nguồn vốn từ Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Keidanren (KNCF) - Nhật Bản,

để xây dựng một dự án có tên gọi "Kiểm soát bảo tồn tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy", dự án nhằm:

hỗ trợ các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy việc bảo tồn tính đa dạng sinh học ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy, khu Ramsar duy nhất của Việt Nam

Các mục tiêu cụ thể của dự án bao gồm:

1 Tăng cường năng lực chuyên môn về kiểm soát và nghiên cứu loài của các cán

bộ khu bảo tồn

2 Thiết lập một chương trình kiểm soát đối với các loài quan trọng tại khu bảo tồn

3 Cải thiện công tác quản lý khu bảo tồn thông qua cải thiện môi trường làm việc

và cung cấp trang thiết bị

Số lượng Cò thìa mặt đen tại 3 điểm trú đông chính theo con số điều tra quốc tế

Trang 5

Các mục tiêu này sẽ được thực hiện thông qua việc thiết lập một chương trình kiểm soát loài có khả năng cung cấp các dữ liệu để định hướng công tác quản lý khu bảo tồn Dự

án cũng được thiết kế để đảm bảo tăng cường thể chế và xây dựng năng lực cho các cán bộ khu bảo tồn thông qua cung cấp trang thiết bị và đào tạo Dự án sẽ được thực hiện qua một giai đoạn hai năm, từ tháng Mười năm 2000 đến tháng Ba năm 2002 và sẽ bao gồm các hoạt động sau:

1 Cung cấp trang thiết bị và cơ sở hạ tầng thiết yếu (hoạt động 1)

2 Đào tạo cho cán bộ khu bảo tồn (hoạt động 2); và

3 Thiết lập một chương trình nghiên cứu và kiểm soát sinh thái (hoạt động 3)

Chương trình kiểm soát tập trung vào hai loài là Cò thìa mặt đen và Moòng bể mỏ

ngắn Larus saundersi đã bắt đầu được tiến hành với sự tham gia tích cực của các cán bộ

khu bảo tồn Cùng với công tác tuần tra thường xuyên cũng như tham gia với các chuyến

điều tra với sự hướng dẫn của các chuyên gia từ BirdLife, anh em đã tiến hành đếm, ghi nhận và báo cáo số lượng của Cò thìa và một số loài chim ăn ven biển khác Qua đó, nhận thức cán bộ khu bảo tồn về ý nghĩa của việc bảo tồn sinh cảnh đối với các loài chim đã

được nâng cao Cùng với các hoạt động dự án, việc giải thích về nguyên nhân tăng giảm số lượng của các loài chim nước tại khu bảo tồn sẽ dần dần được diễn giải, và ban quản lý cũng như người dân và các cấp chính quyền tại Xuân Thủy sẽ có nhận thức đúng đắn hơn

về ảnh hưởng của các hoạt động phát triển đến môi trường thiên nhiên, đặc biệt là đến tính

đa dạng sinh học, và từ đó sẽ có những tác động tích cực vào các quy hoạch phát triển trong vùng

ra một cách ồ ạt ở khắp Việt Nam Do đó việc quy hoạch quản lý đất ngập nước cần phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng và mọi hoạt động phát triển tại các vùng đất ngập nước chỉ nên tiến hành sau khi có đánh giá tác động môi trường thích hợp

3 Mọi hoạt động phát triển ở các vùng đất ngập nước đã xảy ra thiếu cân nhắc về khía cạnh môi trường, thì hậu quả của nó đến đa dạng sinh học và cuộc sống của con người sẽ rất lâu dài và các vùng đất ngập nước như vậy sẽ không thể nào xoay chuyển lại hiện trạng ban đầu

Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam đã và đang nỗ lực hợp tác với mọi cá nhân và tổ chức của Việt Nam và quốc tế hành động để bảo tồn các vùng đất ngập nước Các vùng đất ngập nước không phải là đất hoang và mọi ngành, mọi cấp cần có trách nhiệm tham gia bảo vệ chúng

Trang 6

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC

Ở VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM

Nguyễn Văn Lũ

Vườn Quốc Gia Tràm Chim

I Giới Thiệu

Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm ở hạ lưu sông Mêkông và Trung tâm Đồng Tháp Mười thuộc huyện Tam Nông, giáp 05 xã Phú Hiệp, Phú Đức, Phú Thành B, Phú Thọ, Tân Công Sính và thị trấn Tràm Chim – tỉnh Đồng Tháp Vườn Quốc gia Tràm Chim ở vào khoảng 10037’đến 10045’ độ vĩ bắc; 105o28’ đến 105036’ độ kinh đông Cách sông Mêkông 25 km về phía tây; gần biên giới Việt Nam – Campuchia

Tổng diện tích tự nhiên là: 7588 ha Trong đó:

• Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 6.809ha

• Phân khu phục hồi sinh thái: 653 ha

• Phân khu hành chánh dịch vụ - du lịch: 46ha

Vườn Quốc gia Tràm Chim có hệ sinh thái đất ngập nước điểm hình của vùng hạ lưu sông Mêkông và vùng Đông Nam Á, một hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học và được Chính phủ công nhận là Vườn quốc gia theo quyết định số 253/TTg, ngày 29/12/1998

II Tài Nguyên Của Vườn Quốc Gia Tràm Chim

2.1 Thực vật

Có hơn 130 loài thực vật bản địa với 06 kiểu quần xã thực vật đặc trưng:

• Quần xã sen

• Quần xã lúa ma

• Quần xã cỏ ống

• Quần xã năn

• Quần xã mồm mốc

• Quần xã rừng tràm

2.2 Động vật

Có 198 loài chim, thuộc 25 chi, 49 họ, trong đó 88% được tìm thấy vào mùa khô Số lượng các loài chim ở đây chiếm ¼ tổng số các loài chim tìm thấy ở Việt Nam Trong số 198 loài chim có 16 loài quí hiếm được ghi vào sách đỏ thế giới (tiêu biểu là loài sếu đầu đỏ và chim công đất (ô tác)… đang bị đe doạ tuyệt chủng ở qui mô toàn cầu)

Trang 7

- Về môi trường sống có:

• 42% loài sử dụng đầm lầy nước ngọt

• 10% sử dụng các đồng cỏ

• 8% sử dụng rừng ngập nước

• 2% sử dụng các con kênh có cây bụi, cây gỗ

• 38 % còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên

Thuỷ sản có hơn 55 loài cá đã được thống kê Trong đó:

• 12 loài cá nước tĩnh (thường gọi là cá đồng)

• Hơn 40 loài cá ưa nước chảy (thường gọi là cá sông)

Thuỷ sinh vật có:

• 185 loài thực vật nổi

• 93 loài động vật nổi

• 90 loài động vật đáy

2.3 Tài nguyên đất

Có 02 nhóm đất chính

• Nhóm đất xám trên nền phù sa cổ

• Nhóm đất phèn: Đất phèn tìm tàng và phèn hoạt động

III Tình Hình Kinh Tế - Xã Hội Của Các Hộ Dân Cư Sống Xung Quanh Vườn Quốc Gia Tràm Chim

Tổng số dân thuộc 5 xã và thị trấn sống xung quanh vùng đệm là: 39.376 người, bao gồm 7950 hộ So với số dân toàn huyện Tam Nông là: 92.621 người, chiếm 42,5% Trong đó:

• Hộ nghèo, khó chiếm 20%

• Hộ không có việc làm hoặc đời sống không ổn định chiếm 18%

Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên khoảng 1,6% làm cho tình trạng nghèo đói gia tăng do:

• Dư thừa lao động

• Thiếu vốn sản xuất

• Người dân càng có ít công ăn việc làm

Trong những năm gần đây, nhà nước và chính quyền các cấp, các tổ chức phi chính phủ…, rất quan tâm hỗ trợ, đầu tư cho vay vốn sản xuất, chăn nuôi… Nhiều hộ đã tổ chức sản xuất đạt hiệu quả, nâng cao thu nhập và đời sống từng bước được cải thiện

Trang 8

Mặt khác do dự án vùng đệm của Vườn Quốc gia chưa có nguồn đầu tư phát triển được nên người dân dựa vào tài nguyên của Vườn mà xâm phạm Thống kê năm

2000 cho thấy có 550 vụ vào vườn trái phép:

• Xử phạt hành chánh 15 vụ

• Cảnh cáo 13 vụ

• Khởi tố 04 vụ

• Số còn lại giao chính quyền địa phương giáo dục

IV Quá Trình Quản Lý

4.1 Quản lý tài nguyên thực vật

Quần xã sen:

• Diện tích năm 1997 là: 63,8ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 230ha

Quần xã lúa ma:

• Diện tích năm 1997 là: 678,4ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 680ha

Quần xã năn:

• Diện tích năm 1997 là 898,8ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 500ha

Quần xã mồm mốc:

• Diện tích năm 1997 là 305,1ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 351ha

Quần xã cỏ ống:

• Diện tích năm 1997 là 1965,9ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 2000ha

Quần xã rừng tràm:

• Diện tích năm 1997 là 3018,9ha

• Diện tích năm 2000 khoảng 3100ha

Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển ngày một rộng ra của các quần xã thì yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đó Cơn lũ năm 2000 ngập lâu và sâu kèm theo lượng phù sa nhiều cũng làm cho một số loài thực vật không thể phát triển được, hoặc chết đi như: Tràm non, sen, súng, cỏ năn…

4.2 Quản lý tài nguyên động vật:

4.2.1 Tài nguyên chim nước:

Đối với chim nước sinh sống trong Vườn Quốc gia

Hàng năm cán bộ chuyên môn cùng với nhân viên bảo vệ tiến hành giám sát, quản lý và thống kê chim nước Vườn Quốc gia như sau:

Đối với cán bộ chuyên môn:

Trang 9

• Quản lý, theo dõi tập tính sinh trưởng, sinh sản các loài chim

• Tổ chức, hướng dẫn, tổng hợp và điều tra tất cả các loài chim đang sinh sống ở Tràm Chim

• Cuối tháng thống kê một lần và báo cáo các ngành hữu quan

Đối với nhân viên bảo vệ:

• Cùng cán bộ kỹ thuật thống kê một số loài chim hàng ngày như: Sếu, già đẩy, cò trắng, giang sen, điên điển, còng cọc, nhạn, ô tác (công đất), diệc (lửa, xám)

Đối với chim nước sinh sống ngoài Vườn Quốc gia:

- Điều tra các bãi ăn khác của chim nước, đặc biệt là sếu cổ trụi, công đất tại các điểm ngoài Vườn Quốc gia Tràm Chim như: Kiên Giang, Long An… Khu vực đồng bằng sông Cửu Long

- Thời gian điều tra từ tháng 1 đến tháng 12 hàng năm sẽ có khoảng 12 đợt đi điều tra

- Báo cáo kết quả sau mỗi đợt điều tra

4.2.2 Các loài động vật thuộc 2 lớp bò sát và lưỡng cư như: rắn, ếch, nhái, rái cá…

- Bước đầu tìm hiểu về tính đa dạng loài sinh cảnh, chức năng của các loài bò sát và lưỡng cư trong hệ sinh thái

- Thu thập số liệu khảo sát, thu mẫu cá thể điển hình của các loài tiếp cận cố định mẫu formol trong lọ thuỷ tinh, bằng hình ảnh

4.2.3 Tài nguyên thuỷ sản:

Quản lý nguồn tài nguyên thuỷ sản nhằm mục tiêu:

• Tái tạo và bảo tồn tính đa dạng sinh học của khu hệ thuỷ sinh vật

• Đa dạng hoá, nâng cao và duy trì năng suất nguồn lợi thuỷ sản

Sản lượng cá hàng năm khoảng 195-210 tấn, trong đó:

• Cá sông ước chiếm 60% tổng sản lượng cá trong Vườn Quốc gia

• Cá Đồng ước chiếm 40% tổng sản lượng cá trong Vườn Quốc gia

So với những năm trước thì sản lượng cá năm 2001 giảm khoảng 1/3 (điều tra thực tế) Nguyên nhân:

• Điều tiết nước để phục hồi thảm thực vật và cho tràm phát triển…

• Nước nhiễm phèn nặng

• Nước lũ năm 2000 làm cho thuỷ sản trong vườn ra ngoài sông dân đánh bắt

Năm 2000 Vườn Quốc gia Tràm Chim thực hiện mô hình nuôi cá sặc rằn, thả bổ xung vào vườn hơn 20kg cá giống

4.2.4 Tài nguyên nước:

Mục tiêu của quản lý nước là:

Trang 10

• Duy trì và tái tạo những đặc điểm địa mạo thuỷ văn và cảnh quan thiên nhiên

• Điều tiết nước và chất lượng nước cho phù hợp với điều kiện sinh sống của các quần xã thực vật

Cao trình mặt đất khu Tràm Chim < 1,20m > 2,20m

Cao độ trung bình toàn vùng khoảng 1,5m Trong đó:

• Khu C: 1,4-1,6m

• Nơi cao nhất: trên 2,0m

• Nơi thấp nhất:1,2-1,3m

Mực nước cao nhất năm 2000 tại Tràm Chim: 4,61m (ngày 25-09-2000)

Mực nước cao nhất năm 2001 tại Tràm Chim: 4,27m (ngày 22-09-2001)

4.2.5 Công tác trồng rừng và phòng chống cháy rừng:

- Hàng năm Vườn Quốc gia đều tổ chức trồng rừng và cây phân tán ven các tuyến đê bao (chương trình 5 triệu ha rừng)

- Xây dựng được lực lượng phòng chống cháy rừng các xã, thị trấn được 180 người, thường xuyên tập huấn hàng năm

- Vệ sinh rừng, chăm sóc tỉa thưa rừng

- Đốt cỏ chủ động vào mùa khô (ở những điểm dễ cháy)

- Kết hợp với chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch tuần tra quản lý và phối hợp thực hiện

4.2.6 Công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao đời sống nhân dân

Thường xuyên cử cán bộ chuyên trách kết hợp cùng các ngành chức năng tỉnh, huyện, xã đi tập huấn trong nhân dân để mọi người hiểu được vai trò, chức năng của Vườn Quốc gia trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

Vườn Quốc gia Tràm Chim phối hợp cùng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ huyện Tam Nông, trường Đại học Cần Thơ cho vay vốn ở hai xã: Phú Đức, Phú Hiệp, thực hiện mô hình Lâm-Ngư do tổ chức Oxfam tài trợ (39.000USD)

Tổ chức nhân đạo của Pháp tài trợ cho Vườn Quốc gia 9.000.000 đồng để làm tranh ảnh tuyên truyền

Vườn Quốc gia Tràm Chim cùng với Hội các ngành sinh học Việt Nam và chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ môi trường toàn cầu tổ chức chiến dịch truyền thông môi trường cộng đồng kỷ niệm ngày lâm nghiệp Việt Nam 28-11 tại xã Phú Đức

Ngoài ra còn có sự tài trợ (500.000.000 đồng, vốn quay vòng) của Đại sứ quán Anh, Đại sứ quán Đan Mạch cho nhân dân các xã Phú Thọ, xã Tân Công Sính… vay từ năm 1996 đến nay

4.2.7 Công tác nghiên cứu khoa học:

Trang 11

Đơn vị thường xuyên cử cán bộ theo dõi sự biến động của các loài thực vật như: Sen, lúa trời, năn Quản lý điều tiết nước để có giải pháp hữu hiệu phát triển và bảo tồn các loài trên

Trong những năm vừa qua đã và đang tiến hành một số đề tài nghiên cứu khoa học như:

• Nghiên cứu một số giải pháp diệt trừ cây mai dương

• Nghiên cứu ảnh hưởng của nước và lửa lên sự đa dạng sinh học

• Mô hình nuôi cá sặc rằn

V Kiến Nghị

Bên cạnh những thành quả đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Tràm Chim, chúng tôi cũng gặp nhiều khó khăn Do đó chúng tôi xin kiến nghị một số ý kiến như sau:

- Sự xâm lấn của loài ngoại lai (mai dương) mà chưa có cách phòng trừ hữu hiệu, cần sự can thiệp của các nhà khoa học, các trường Đại học

- Cần phát triển dự án vùng đệm gắn với phát triển du lịch sinh thái, có sự tham gia của cộng đồng dân cư sống quanh Vườn Quốc gia Vì đời sống nhân dân ổn định, thì áp lực đối với Vườn Quốc gia mới giảm và phát triển bền vững

- Tổ chức nghiên cứu thường xuyên và lâu dài về chế độ thuỷ văn của khu vực Vườn Quốc gia Tràm Chim và các vùng lân cận trong mối quan hệ với việc bảo tồn nguồn gien và bảo tồn đa dạng sinh học Hiện nay Vườn Quốc gia Tràm Chim đang thiếu cán bộ chuyên môn và trang thiết bị kỹ thuật để thực hiện công việc này

- Vườn Quốc gia Tràm Chim mới định hình nên còn nhiều khó khăn Từ thực tế này Vườn Quốc gia Tràm Chim đề nghị các Viện, các trường Đại học và các tổ chức quốc tế quan tâm giúp đỡ để Vườn Quốc gia Tràm Chim có điều kiện quản lý, thực hiện tốt nhiệm vụ

Trang 12

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC

Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

Nguyễn Hoàng Hạnh

Sở Khoa Học - Công Nghệ và Môi trường Tiền Giang

I Giới Thiệu

Huyện Tân Phước: là Huyện nằm phía Bắc trong vùng Đồng Tháp Mười của

Tỉnh Tiền Giang Diện tích tự nhiên toàn Huyện 32.862ha, dân số năm 1999 là 50.974 người, mật độ bình quân 155 người/km2 (so với Tỉnh 762người/km2 thấp nhất trong

Tỉnh) Đặc điểm tự nhiên của Huyện đáng chú ý là:

Đất đai: chủ yếu là đất phèn, có 3 đơn vị đất chính:

• Đất phèn hiện tại tầng phèn nông: diện tích 20.150ha chiếm 61,31% diện tích tự nhiên

• Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn sâu và rất sâu: diện tích 9.897ha chiếm tỷ lệ 30,11%

• Đất phù sa xám nâu đã phát triển có tầng loang lỗ: 2.699ha chiếm 8,21%

Nguồn nước, thuỷ văn:

• Nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt phụ thuộc vào chế độ nước của 2 sông: Sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây Một đặc điểm quan trọng: Đây là

vùng giáp nước giữa 2 sông vì vậy việc lấy nước và tiêu thoát khó khăn là vùng hiện tại chất lượng nước xấu nhất của cả vùng Đồng Tháp Mười

Các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hầu hết nguồn nước có pH: 3,5-4 các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 khoảng 30% diện tích ở phía Tây có pH: 4-5,5 có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

• Lũ hàng năm gây ngập toàn bộ khu vực từ tháng 9 đến cuối tháng 11,

đỉnh lũ thường xuyên xuất hiện nửa cuối tháng 11 Mức ngập trung bình mặt ruộng từ 0,5-2m, khu vực phía Bắc ngập sâu hơn phía nam

Theo định nghĩa về đất ngập nước theo Công ước Ram Sar (1971) có thể xem

toàn bộ đất Huyện Tân Phước (và cả Tỉnh Tiền Giang) là vùng đất ngập nước bao gồm

hệ thống kênh rạch, rừng Tràm, ruộng lúa, các trảng cỏ ngập nước theo mùa và đầm lầy với 2 hệ sinh thái chính là Rừng Tràm ngập nước nội địa và hệ sinh thái Nông nghiệp

II Tài Nguyên và Tính Đa Dạng Sinh Học của Huyện Tân Phước

Hệ thực vật có đến 540 loài (không kể cây trồng) thuộc 112 họ Trong đó, có

nhiều loại thực vật quý hiếm chỉ Đồng Tháp Mười mới có như: Lúa ma (Oryzaninuta), Lúa trời (Oryzarufipogon), Mai liễu, Lốp bốp, Vên vên, Liễu, Sóng vuông, Dùi trống,

Mặt quỹ, Cây bùi, Mồng gà, Ngoại mộc cam, Trùng hùng nam, Côm, An kích, Trâm

Trang 13

nam, Nắp bình, Mày miên, Thủy cẩm, Kim nhũ Các loài cây này rất quan trọng sẽ là nguồn gốc gen thuần chủng để tạo ra các giống cây trồng mới sau này Đặc biệt là Lúa

ma, Lúa trời là giống gen quý cần được bảo vệ tốt để tạo ra các giống lúa trong nước trong tương lai có tính thích nghi cao với Đồng Tháp Mười

Ngoài Tràm và các loại cây dùng làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp, nguồn dược liệu Đồng Tháp Mười rất phong phú với 122 loài cây thuốc như: Nhàu, Hắc cửu, Mốp gai, Cam thảo nam, Cỏ bấc, Cỏ mực, Ké đầu ngựa, Ké hoa đào, Lức, Thảo quyết minh, Vòi voi, Lổ bình, Lưỡi rắn chúng chữa được nhiều loại bệnh khác nhau, có cả cây quý mới ghi thêm vào sách thuốc Đây là nguồn tài nguyên trong tương lai có thể tạo ra mặt hàng thuốc mà chỉ Vùng Đồng Tháp Mười mới có

Nhiều loại cỏ chăn nuôi mọc tự nhiên ở Đồng Tháp Mười được xếp vào loại cỏ chăn nuôi trâu bò có chất lượng tốt: Cỏ mật, Cỏ chỉ, Cỏ nước, Cỏ đuôi phụng, Cỏ bắp.v.v…

Trong tổng số 198 loài Cá nước ngọt ở Tiền Giang có 42 loài sống trong vùng Đồng Tháp Mười, hiện nay chỉ gặp 10-12 loài thuộc nhóm cá đen có nguồn gốc tại chỗ Các loài động vật phổ biến ở Đồng Tháp Mười có thể phục hồi như: Heo rừng, Khỉ, Mèo, Rái cá, các loại Ruà, Rắn, Gà Rừng, Trăn, Cá sấu…

Rõ ràng đa dạng sinh học Đồng Tháp mười rất phong phú và quý giá, nếu bảo tồn và khai thác tốt sẽ cho nguồn lợi kinh tế lớn mà vẫn giữ được sự ổn định và cân bằng sinh thái cho thế hệ mai sau

Tuy nhiên, sự đa dạng này đã bị phá hoại và vẫn đang bị đe doạ bởi hàng loạt

các yếu tố như khai hoang, cải tạo đất nông nghiệp, ô nhiễm, cháy rừng, sử dụng đất không phù hợp .Thực tế đáng suy nghĩ là việc khai thác cải tạo đất ở các Tỉnh Long

An, Đồng Tháp cho tăng trưởng kinh tế khá cao, nhưng riêng Tân Phước khai thác cải

tạo đất vừa qua cho hiệu quả và tăng trưởng kinh tế thấp (vì bất lợi của điều kiện tự

nhiên, nhất là nguồn nước)

Đối với hệ sinh thái Rừng Tràm (đầm lầy nội địa): sau năm 1975 vùng Tân

Phước cây Tràm vẫn là cây chính với diện tích trên 13.000ha, còn lại là Bàng, Đưng, Năng ngọt, Cỏ mồm và các loại cây khác (không có lúa) Rừng Tràm đã bị phá huỷ đến

1990 chỉ còn lại 875ha và khôi phục đến nay rất chậm: Diễn biến diện tích Rừng Tràm từ 1990 – 2000 như sau:

Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000

Diện tích 875 875 1.105 1.395 2.225 2.638 1.867 1.764 1.952 1.987 2.296

Đối với hệ sinh thái Nông nghiệp: đất nông nghiệp tăng nhanh, từ 11.562ha

(35,18%) năm 1994 lên 24.079ha (73%) năm 2000 Trong đó đất ruộng lúa 9.886ha

(30%), trồng cây lâu năm 9.900ha (30%) Kết quả sử dụng đất Nông nghiệp cho thấy ngoài cây Khóm có tính thích nghi cao và kinh tế, còn lại các cây trồng khác cho hiệu quả kém hoặc chưa khẳng định được như: Lúa, cây ăn quả, cây lương thực khác (mì, khoai lang…)

Trang 14

Việc quản lý và khai thác vùng đất ngập nước Tân Phước (nhất là thời gian

1980-1990) không đem lại hiệu quả kinh tế cao, đa dạng sinh học bị phá hoại nguyên nhân chủ yếu là do:

(1) Thiếu hiểu biết các điều kiện tự nhiên cơ bản của vùng này, nhất là đất và nước

(2) Aùp lực của dân số (mật độ dân số Tiền Giang đông nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long) và đòi hỏi phát triển kinh tế, nhất là giải quyết lương thực phẩm

(3) Từ đó chưa có chính sách quản lý, khai thác, bảo vệ vùng đất này một cách khoa học

(4) Thiếu nguồn vốn và cán bộ có năng lực

III Kết Quả Bước Đầu Về Quản Lý và Bảo Vệ Đất Ngập Nước

3.1 Điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất

Trong qui hoạch phát triển kinh tế-xã hội Huyện Tân Phước 2001-2010, qui hoạch sử dụng đất đã được điều chỉnh hợp lý trên cơ sở nghiên cứu cơ bản điều kiện tự nhiên và đánh giá thực tiễn, trong đó đáng chú ý là:

- Về sản xuất lúa và lương thực: giảm bớt diện tích lúa từ 9.886ha năm 2000 xuống còn 8.300ha, đi vào thâm canh với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với đăïc điểm của vùng, không tăng diện tích cây hàng năm

- Giữ vững ổn định cây công nghiệp dài ngày đã có là Khóm khoảng 8.000ha và tăng diện tích cây ăn quả lâu năm từ 400ha lên 980ha gắn với cải tạo vườn tạp trong từng hộ gia đình và áp dụng mô hình thâm canh vườn gắn với mô hình VAC

- Về Lâm Nghiệp: Mục tiêu đặt ra là bảo vệ vùng đất ngập phèn, gia tăng độ

che phủ, góp phần điều tiết nước và chất lượng nước, bảo tồn sinh thái, đồng thời tăng thu nhập thông qua việc khai thác có quản lý, tỉa thưa và một sản phẩm phụ từ rừng

• Về diện tích: phục hồi đến 2010 có 5.620ha rừng Tràm Trong đó

4.320ha trồng tập trung gồm 1.700ha được xác định thuộc khu bảo tồn và vùng đệm của Khu bảo tồn sinh thái do Nhà nước quản lý, 2.300ha Tràm kinh doanh Có 1.300ha Tràm trồng theo hệ thống nông-lâm kết hợp

• Hiện nay trong định hướng chuyển đổi cơ cấu diện tích cây trồng

2001-2005 của Chính phủ, trong đó dự kiến phục hồi 100.000ha rừng Tràm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Dự kiến của Tiền Giang phát triển rừng

Tràm tăng thêm khoảng 4.000ha để đạt khoảng 10.000ha năm 2010

• Cây Bạch đàn được trồng dọc theo các tuyến giao thông thuỷ lợi khỏang 1.500ha Không phát triển mở rộng diện tích loại cây này Sản lượng khai thác, tỉa thưa năm 2010 khoảng 17.045m3 gồ, và 40.382m3 củi, trong đó riêng gỗ Tràm là 7.100m3 và củi 26.459m3

Trang 15

• Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2010 ước tính 16.081 triệu đồng tăng bình quân 3,37% năm; giá trị tăng thêm năm 2010 khoảng 12.865 triệu đồng tốc độ tăng bình quân 3,77% năm (giá so sánh cố định 1994)

• Nhu cầu đầu tư cho phát triển lâm nghiệp từ 2001-2005 là 31.498 triệu đồng và giai đoạn 2006-2010 là 17.662 triệu đồng (chưa tính điều chỉnh qui hoạch theo chính phủ tăng thêm 4.000 Tràm)

• Riêng trong 2 năm 2000 và 2001 Tỉnh đã tăng cường đầu tư cho phục hồi bảo vệ rừng sinh thái: năm 2000 ngân sách Tỉnh đầu tư trồng 400ha, năm

2001 trồng 213ha Tràm vùng sinh thái, đầu tư xây dựng sân chim và mua thả nuôi dưỡng một số loài động vật hoang dã 1,4 tỷ đồng Tổ chức Oxfam America đã đầu tư cho 171 hộ dân vay trồng 121ha Tràm ở 2 xã Thạnh Hoà, Mỹ Phước với mức vay 8 triệu đồng/ha, thời gian vay 7 năm, lãi suất 6%/năm (Dự án do Sở KH-CN & MT quản lý).Cũng từ nguồn vốn này đã tạo ra phong trào trồng Tràm ở khu vực Dự án (dân tự trồng thêm khoảng 50ha) Như vậy đến cuối năm 2001, tổng diện tích Tràm ở Tân Phước đạt khoảng 2.700ha

- Về Thủy sản: trong định hướng qui hoạch 2001-2010 tăng diện tích nuôi thuỷ sản từ 36ha lên 225ha diện tích nuôi bao gồm trong ao đìa, mương vườn và ruộng lúa (trong mùa lũ) Phát triển hình thức nuôi các loại cá đen trong rừng Tràm Hạn chế khai thác thuỷ sản trên dòng chảy và đánh bắt tự nhiên để bảo vệ nguồn giống

• Định hướng thuỷ sản trên góp phần bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở vùng đất ngập nước và có hiệu quả kinh tế cao hơn Theo định hướng trên sản lượng nuôi trồng 2010 đạt khoảng 678 tấn trên năm, tốc độ tăng bình quân 17,96%/năm, sản lượng đánh bắt năm 2010 khoảng 94 tấn, tăng bình quân 7,63%

• Giá trị sản xuất thuỷ sản 2010 đạt 8637 triệu đồng tăng trung bình 16,2% và giá trị tăng thêm 5873 triệu đồng tăng trung bình 16,2% (so giá cố định 1994)

3.2 Xây dựng và thực hiện các chính sách đồng bộ để quản lý khai thác và phát triển kinh tế – xã hội

Gia tăng mức đầu tư kinh phí cho việc phục hồi và bảo tồn rừng Tràm khu vực

do nhà nước quản lý trong kế hoạch hàng năm Tuy nhiên mức gia tăng này chưa đạt yêu cầu mực tiêu đặt ra

Ngân hàng Nông nghiệp tăng cho hộ nông dân vay vốn, chủ yếu là vốn vay ngắn hạn nhằm giải quyết cuộc sống, giảm bớt áp lực lên việc phá huỷ và khai thác rừng, khai thác đất hoang (Bàng, Năng, …) một cách hợp lý Vốn cho vay phục hồi rừng đòi hỏi dài ngày (5 – 7 năm) và lớn 7 – 8 triệu/ha cho rừng Tràm nên khả năng đáp ứng của Ngân hàng rất ít

Trang 16

Tăng đầu tư ngân sách Nhà nước cho cơ sở hạ tầng như: hệ thống kênh thuỷ lợi để phân lô chống cháy rừng, điều tiết nước, quản lý chặt chẽ vùng đệm sinh thái, cải thiện điều kiện giao thông, Y tế…

Tập trung giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân (50 năm đối với đất rừng) Đây là vấn đề quan trọng để người dân an tâm sản xuất, bảo vệ rừng (một nguyên nhân quan trọng gây cháy rừng nhiều trước đây là rừng chung của Nhà nước không phát huy được vai trò bảo vệ của người dân)

Chú trọng hơn công tác nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, sử dụng và bảo vệ tốt hơn vùng đất này như: Theo dõi đánh giá diễn biến chất lượng nước, giống thích nghi (giống Tràm, cây ăn quả…); mô hình nuôi thuỷ sản mùa lũ trong điều kiện nước phèn, kỹ thuật canh tác…

Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phục hồi phát triển và khai thác hợp lý rừng (kể cả du lịch sinh thái) Mong muốn hợp tác với các tổ chức Quốc tế để có sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật

VI Các Vấn Đề Cần Thiết Để Quản Lý Bảo Vệ Vùng Đất Ngập Nước

- Cần tiếp tục nghiên cứu để có một chiến lược quản lý, Bảo vệ và khai thác đất ngập nước ở Tiền Giang Ngoài hệ sinh thái rừng Tràm nội địa đặc trưng

ở Tân Phước, Tỉnh Tiền Giang còn có vùng cửa sông ven biển với 4 cửa sông lớn: Sông Soi Rạp, sông Cửa Tiểu, sông Cửa Trung và Cửa Đại Đây là vùng có tính đa dạng sinh học cao nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long về rừng ngập mặn và thuỷ hải sản vùng ven bờ cửa sông Hơn 20 năm qua bãi bồi vùng cửa sông tăng thêm hơn 1.000ha, khả năng phát triển rừng ngập mặn lên đến 6.000ha Trong khi đó rừng hiện trạng chỉ còn 1.270ha, nguồn lợi thuỷ sản giảm súc nghiêm trọng (cả về giống loài, sản lượng khai thác), ô nhiễm nước vùng ven biển cửa sông tăng nhiều, tranh chấp giữa khôi phục bảo vệ rừng với nuôi thuỷ sản tăng thêm… Do vậy rất cần xây dựng một Dự án khôi phục và Bảo tồn đa dạng sinh học rừng ngập mặn vùng cửa sông-ven biển Tiền Giang

- Tìm kiếm các nguồn đầu tư cho phục hồi rừng Tràm và rừng ngập mặn là yêu cầu cần thiết, trong đó nguồn hỗ trợ từ các Tổ chức Quốc tế là quan trọng Bởi vì nhìn vào thực lực của nền kinh tế Tỉnh và khả năng đầu tư của Chính phủ thấy rõ rằng vốn đầu tư là rất khó khăn

- Cần tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cộng đồng và của giới lãnh đạo trong việc quản lý khai thác và bảo vệ đất ngập nước

- Chính phủ và Tỉnh cần phải xây dựng một qui chế để phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các nghành trong việc quản lý bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập nước (Về pháp luật đã giao nghành KH – CN & MT nhưng phối hợp quản lý như thế nào với nghành Địa chính, Nông nghiệp, lồng ghép trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư với Sở Kế hoạch…)

Trang 17

- Đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dưới nhiều hình thức: học dài hạn, tập huấn ngắn hạn, tham quan nghiên cứu, Hội thảo, Thông tin khoa học trong lĩnh vực khai thác, Bảo vệ đất ngập nước

Kết quả bước đầu về Quản lý Bảo vệ đất ngập nước ở Tiền Giang còn ít và còn

nhiều việc phải tiếp tục thực hiện Sở KH – CN & MT Tiền Giang mong muốn có sự cộng tác và giúp đỡ của các Viện, Trường, Cơ quan Nghiên cứu quản lý và các Nhà

Khoa học trong và ngoài nước, các tổ chức Quốc tế để việc quản lý, bảo vệ đất ngập nước của Tỉnh có bước tiến triển mạnh hơn

Trang 18

Đặc Điểm Tự Nhiên và Tính Đa Dạng Sinh Học

Vùng Đất Ngập Nước Láng Sen, Tỉnh Long An

Lê Phát Quới Sở Khoa Học - Công Nghệ và Môi Trường Long An

Tóm tắt

Láng Sen là một bồn trũng nội địa vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An

Với hình thái địa mạo đa dạng và là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm

lầy ngập nước Sự duy trì thảm thực vật ven sông, đồng cỏ tự nhiên và gia

tăng diện tích tràm trong đã làm phong phú quần thể động thực vật Kết

quả khảo sát sơ bộ tại đây cho thấy hiện diện 156 loài thực vật hoang dã

thuộc 60 họ; 149 loài động vật có xương sống thuộc 46 họ, trong đó có 13

loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; các loài thủy sản trên sông rạch, ao

khá phong phú Do hạn chế thời gian nghiên cứu nên chỉ nghi nhận được

có 11 loài động vật đáy Với tính đa dạng sinh học như thế, việc thành lập

một khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước tiêu biểu cho vùng Đồng

Tháp Mười là cần thiết

I Mở Đầu

Láng Sen được xem như một bồn trũng nội địa thuộc vùng trũng rộng lớn Đồng Tháp Mười (Hình 1), là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy ngập nước với nhiều quần thể động thực vật phong phú mang tính đặc trưng Qua nhiều năm khai thác cho mục đích sản xuất nông nghiệp đã làm cho vùng nầy mất đi các động thực vật tiêu biểu của chúng Nhận thức được vấn đề nầy, vào năm 1994, UBND Tỉnh Long An đã ra quyết định thành lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, khu bảo tồn vẫn chưa hình thành

Một nghiên cứu sơ bộ được tiến hành từ năm 1999 – 2000 đã được thực hiện để có thể đánh giá tổng quan về tài nguyên tự nhiên làm luận cứ khoa học cho việc thành lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen

Báo cáo nầy chỉ trình bày tổng quan về đặc điểm tự nhiên và khả năng mở rộng của khu vực Láng Sen trong hướng thành lập khu bảo tồn tự nhiên tiêu biểu cho vùng Đồng Tháp Mười

II Vị Trí và Các Yếu Tố Tự Nhiên

2.1 Vị trí – diện tích

Láng Sen nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: 10o45’ - 11o50’ Vĩ độ Bắc và

105o45’-105o50’ Kinh độ Đông Diện tích tự nhiên của Láng Sen khoảng 5.000 ha, bao gồm phần lớn diện tích thuộc xã Vĩnh Lợi và một phần thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân

Trang 19

Hưng tỉnh Long An (H.1) Trong đó có một giới hạn tự nhiên khá đặc biệt là một “cù lao” diện tích khoảng 1.500 ha là một vùng đầm lầy có nhiều habitat thích hợp cho động thực vật ưa nước và nơi dễ khôi phục các hệ sinh thái đồng cỏ, bải ăn của nhiều loài chim nước, được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ Tây

2.2 Một số đặc điểm tự nhiên

2.2.1 Địa hình khu vực Láng Sen đuợc xem như một bồn trũng có cao độ từ 0.42

– 1.8 m (so với mực nước chuẩn tại mũi Nai – Hà Tiên) Với địa hình như thế, khu vực nầy được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long

2.2.2 Địa chất khu vực phần lớn thuộc trầm tích Holocene và những gò

Pleistocene (hoặc Pleistocene muộn) nổi lên ở một số nơi trong vùng Ngoài ra, vài vạt trũng thấp là lòng sông cổ với lớp đất mặt tích tụ nhiều chất hữu cơ (H.2)

2.2.3 Các nhóm đất hiện diện trong vùng là kết quả từ những quá trình và yếu

tố hình thành đất, trong đó tính đa dạng của vật liệu trầm tích đóng vai trò quan trọng

Các nhóm đất chính: Đất xám (Aeric Paleaquults, Aquic Arenic Paleustults, Typic Plinthaquults ), đất phèn hoạt động (Typic Sulfaquepts, Umbric Sulfaquepts, Hydraquentic Sulfaquepts), đất phù sa có tầng sinh phèn trung bình (Aquic sulfic Tropaquepts), đất phù sa có tầng phèn trung bình (Sulfic Tropaquepts), , đất phù sa phát triển (Typic Tropaquepts)

8 Umbric Sulfaquepts Holocene

Trang 20

2.2.4 Chế độ thủy văn tại đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long và

thay đổi do ảnh hưởng biến đổi về chế độ dòng chảy trong toàn vùng Tân Hưng – Vĩnh Hưng Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ Láng Sen được tiếp nước chủ yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long An, kinh

79, kinh 28 và sông Lò Gạch Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là kinh 79 và rạch Bông Súng Ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô) Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện

Ngập lũ: vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2.5 đến 3 mét trong các năm lũ lớn

(tương đương lũ 1996, 2000) Thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng Do mạng lưới kinh mương được phát triển và mỏ rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây Vùng ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cá He, rạch Cái Nổ

Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực

(Bảng 1 & 2) Tuyến kinh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, pH thường thấp dưới 4.5 Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa mùa lũ, đồng thời độ đục cũng tăng lên ít nhiều Tuyến sông Bông Súng có chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định và cao hơn

Bảng 1 pH nước vùng Láng Sen vào đầu mùa lũ (30/8 – 2/9/1999)

Rạch Bông Súng 5.73 Rìa rừng tràm cù lao 4.95 – 5.10

Vùng giữa Cái He (*) 5.92

Bảng 2 Độ pH nước vùng Láng Sen sau lũ (28 – 29/1/2000)

Kinh Ngang – kinh 79 4.18 Trung tâm Láng Sen (*) 6.21 Ngọn rạch Cái He (*) 6.91

Ghi chú: (*) vùng Láng Sen – Cái He

2.2.5 Bồi lắng phù sa trong nội đồng chỉ xảy ra khi lượng phù sa theo dòng nước

lũ đưa về Một lượng lớn phù sa phủ trên đồng ruộng đã được ghi nhận vào cuối trận lũ năm 2000 Với lớp trầm tích phù sa khá dầy đã gây ra hiện tượng những cánh đồng bị chết hàng loạt

2.3 Cảnh quan tự nhiên và các kiểu nơi sống của loài động thực vật

2.3.1 Cảnh quan; mặc dù diện tích khu vực tương dối nhỏ nhưng chịu chi phối

Trang 21

đầy đủ đặc tính chung của cảnh quan Đồng Tháp Mười: cảnh quan thảm thực vật thân gổ chịu ngập ven sông, bải lầy ven sông, các lung, láng, lòng sông cổ …các dạng địa mạo nầy thể hiện tính đa dạng về sinh vật, đa dạng về habitat của chúng

2.3.2 Các kiểu nơi sống của loài động thực vật

a Thủy vực nước chảy; Gồm hệ thống sông rạch tự nhiên và các kênh đào

Thành phần thực vật ở các kênh đào thưa thớt và ít loài, ở các sông rạch tự

nhiên thành phần thực vật phong phú hơn, gồm các loài: Súng (Nymphaea sp), Rau tràng (Nymphoides nouchali), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea), Ráng gạt nai (Ceratopteris thalictroides), Mồm mở (Hymenachne acutigluma)

Đây là nơi sống của nhóm cá ưa nước chảy Nhóm này gồm các loài cá chủ yếu sống tại các dòng chảy chính, kênh hoặc sông lớn và thường di cư ngược dòng về thượng lưu hoặc di cư đến vùng ngập lụt theo mùa để sinh sản hoặc sinh trưởng Chúng thường được gọi chung là nhóm cá trắng gồm các loài

phần lớn thuộc họ cá Chép (Cyprinidae) như cá Linh (Henycorhynchus siamensis), cá Ngựa (Hampala spp), cá Mè vinh (Barbodes gonionotus), cá

He (Barbodes spp), … và các loài trong họ cá Tra (Pangasiidae), họ các

Nheo (Siluridae), họ cá Thát lát (Notopteridae) … Đây là nhóm cá di cư ra vào trong khu vực theo sự lên xuống của nước lũ hàng năm ở Đồng bằng sông Cửu Long

b Đai rừng tự nhiên hỗn loài ven sông, rạch; ngập nước thay đổi từ 3 tháng

đến gần quanh năm (tùy theo độ cao của từng địa điểm) Do quá trình khai phá, ở Láng Sen ước tích chỉ còn lại 15 - 20% so với diện tích trước năm

1975 Độ rộng bình quân của đai rừng này hiện nay chỉ còn khoảng 10 - 15

m Thành phần thực vật có cấu trúc phức tạp, phong phú về loài và dạng sống, trong đó các loài thường gặp bao gồm:

• Nhóm cây thân gỗ: Trâm (Syzygium cinereum), Bún (Crateva nurvala), Trâm bầu ba lá (Combretum trifoliatum), Côm háo ẩm (Elaeocarpus hygrophilus), Chiếc khế (Barringtonia acutangula);

• Nhóm dây leo: Bòng bòng leo (Lygodium scandens), Vác (Cayratia trifolia), Mây nước (Flagellaria indica);

• Nhóm cỏ, cây bụi: Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Chóc gai (Lasia spinosa), Đình lịch (Hygrophila salicifolia), Choại co (Cyclosorus sp)

c Đồng cỏ ngập nước theo mùa; thời gian ngập nước khoảng 5 - 6 tháng/năm

và dễ bị cháy vào mùa khô Đồng cỏ ngập nước theo mùa thường phân bố ngay sau đai rừng ven sông Trước đây, ở Láng Sen, kiểu nơi sống này có diện tích lớn nhất nhưng hiện nay chỉ còn sót lại những đám nhỏ có diện tích thường dưới 0,5 ha phân bố rải rác trong các lô rừng tràm, ruộng lúa, những lô có diện tích lớn hơn (2-3 ha) là những đồng cỏ mới được phục hồi lại sau khi không trồng lúa nữa (do năng suất thấp) Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loài thân thảo sống chung với nhau như

Trang 22

Mồm (Ischaemum sp), Năng ngọt (Eleocharis dulcis), Lúa hoang (Oryza rufipogon), U du (Cyperus sp), Rau mác (Monochoria sp)

d Lung, trấp; đây là những vùng đất thấp trũng có thời gian ngập nước quanh

năm hoặc gần như quanh năm nên ít cháy vào mùa khô Thực vật của các

lung, trấp bao gồm các loài thủy sinh như Sen (Nelumbo nucifera), Súng (Nymphaea sp), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea) hoặc chịu ngập nước như Lúa hoang (Oryza rifipogon), Lác hến (Scirpus grossus), Mồm (Ischaemum sp), Cỏ đắng tán (Fuirena umbellata) Vào các tháng mùa khô, các lung, trấp

là nơi trú ẩn của các loài bò sát như rắn Ri cá, rắn Bông súng, Rùa, Cua đinh và các loài cá thuộc nhóm cá nước tĩnh như Lươn, các loài thuộc họ cá Lóc, họ cá Trê, họ cá Rô đồng

e Rừng Tràm; đây là kiểu nơi sống nhân tạo được phát triển mạnh sau từ năm

1983 đến nay Rừng tràm thường được trồng trên các đất trồng lúa kém hiệu quả kinh tế Về mặt đa dạng sinh học, được phân loại như sau:

• Rừng tràm từ 1 - 3 tuổi: rừng chưa khép tán, ở mặt đất có sự hiện diện

của nhiều loài cây thân thảo Ngoài ra rừng non còn tạo nên lớp tán rậm rạp, tiếp xúc với mặt đất, tạo điều kiện tốt cho các loài động vật sinh

sống như Chàng nghịch (Rallus aquaticus), Bìm bịp (Centropus sinensis và C bengalensis), Chim sâu (Alcippe poioicephala), Trao trảo (Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina temia), Quốc (Amaurornis phoenicurus), Cò ma (Nycticorax nycticorax), Cò lửa

• Rừng tràm từ 4 tuổi trở lên: rừng đã khép tán, mật độ thường trên 6.000

cây/ha Dưới tán rừng gần như không có các loài thực vật thân thảo sinh sống Ngoài ra, do dưới tán rừng trống trải rừng nên rừng ở độ tuổi này thường không thích hợp cho các loài động vật sinh sống Các loài chim

thường gặp như Phướng (Phaenicophaeus tristis), Cò ma (Nycticorax nycticorax), Tu hú (Eudynamys scolopacea), Chim sâu (Alcippe poioicephala), Trao trảo (Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina temia)

f Ruộng lúa; đây là kiểu nơi sống nhân tạo có diện tích lớn nhất trong vùng

điều tra Ruộng lúa (phần lớn là 2 vụ) thường được hình thành từ những nơi trước đây là những đồng cỏ ngập nước theo mùa, ít bị phèn [Phân Viện Địa Lý TP Hồ Chí Minh bổ sung các yếu tố vật lý như loại đất, pH, độ mặn ]

• Thực vật hoang dại thường gặp ở ruộng lúa vào các tháng lũ (các tháng không canh tác) bao gồm Ngò nước (Limnophila heterophylla), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), Súng (Nymphaea sp)

• Các loài chim thường gặp ở ruộng lúa bao gồm Mỏ nhác (Limosa limosa), Se sẻ (Passer montanus), Dòng dọc (Ploceus spp), Chim sâu (Alcippe indicus), Cà cuốc (Pseudibis gigantea)

g Đê nhân tạo; các đê nhân tạo có kích thước đáng chú ý trong vùng điều tra

gồm đê rạch Cá Sách và đê kênh Cá Nổ Kiểu nơi sống này không bị ngập

Trang 23

nước Thực vật hoang dại thường gặp bao gồm: Cỏ ống (Panicum repens), Bìm vàng (Merremia hederaceae), Cỏ lông tây (Brachiaria mutica)

Các kiểu nơi sống từ (b) đến (f) là môi trường sống chính của nhóm cá ưa nước

tĩnh Đây là các loài cá có khả năng sống trong điều kiện môi trường khắc nghiệt như nước cạn, oxy hòa tan thấp, chua phèn, ít di cư và thường được gọi là chung là nhóm cá đen Nhóm này gồm các loài cá thuộc họ cá Lóc (Channidae), các loài thuộc họ cá Trê (Clariidae), họ cá Rô đồng (Anabantidae), họ cá Sặc (Belontiidae) Đây là nhóm cá chính đặc trưng của khu vực, chúng có nguồn gốc tại chỗ và có khả năng tồn tại quanh năm trong khu vực

III Tính Đa Dạng Sinh Học

Tính đa dạng sinh học trong khu vực Láng Sen được ghi nhận với sự hiện diện của nhiều loài động thực vật đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười

3.1 Thảm thực vật:

Tại khu vực Láng Sen khá phong phú với 156 loài thực vật hoang dã trong đó có

152 loài đã xác định được tên khoa học thuộc 60 họ được tìm thấy (Appendix 2), trong

đó khuyết thực vật (Pteridophyta) 7 loài, song tử diệp (Dicotyledonae) 88 loài và đơn tử diệp (Monocotyledonae) 57 loài Các họ có số loài nhiều nhất là Poaceae (24 loài), Cyperaceae (19 loài), Rubiaceae (6 loài) và Papilionoideae (6 loài) Trong đó có 4 loài

chưa xác định được tên Số loài và số chi nằm trong các họ của 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen tóm tắt ở Bảng 3

Bảng 3: Số loài của 60 họ thực vật ở Láng Sen

Trang 24

Dựa vào dạng sinh trưởng, 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen được chia ra:

• Cây thân gỗ: 26 loài

• Cây thân thảo: 101 loài

• Dây leo hoặc dây bò: 8 loài

3.2 Phiêu sinh vật :

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần phiêu sinh trong vùng không

nhiều với Cyanophyta: 2 loài, Chlorophyta: 14 loài, Bacillariophyta: 8 loài Có thể việc

giới hạn về thời gian và số mẫu nghiên cứu nên chưa thể hiện được số liệu chính xác thành phần phiêu sinh vật đang hiện diện trong vùng

3.3 Nguồn thủy sản

Do trong đợt khảo sát mực nước trên đồng khá cao nên chưa thể tiến hành thu mẫu, kết qủa thu được do điều tra các hộ tại địa phương Các loài điều tra được gồm có: cá trạch, thát lát, cá rô, cá linh, cá mè, lóc, lia thia đồng, cá chốt, cá lìm kìm, cá trê, lươn, ếch, rắn (3 loài), rùa, tôm

Ngoài ra, một số loài thực vật thủy sinh khác đã phát hiện như Marsilea quadrifolia, Ceratopteris siliquosa, Salvinia cucullata, Lemna tenera, Eriocaulon sp., Limnophylla heterophylla, Najas sp., Blyxa sp., Valisneria gigantia, Rotala wallichii, Myriophyllum tetandrum, Hydrilla verticilata

Thành phần động vật đáy chỉ ghi nhận được 11 loài trong 3 ngành (Bảng 4)

Trang 25

Bảng 4: Thành phần động vật đáy

Ngành Sinotaia lithophaga (Heude) Ngành Fluta alba (Zuiew)

Mollusca Bellamya filosa (Reeve) Vertebrata Trichopsis vittatus

Gyraulus convexiusculus (Hutton) Arthropoda

Corbicula cyreniformis (Prime)

Limnoperna siamensis (Morelet)

3.4 Động vật:

Để có thể ghi nhận được nhiều thông tin về động vật, nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp phỏng vấn dân địa phương kết hợp với khảo sát thực tế (đối với lớp Chim, phỏng vấn thông qua hình ảnh), có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó:

• lớp Lưỡng thê: 4 loài

• lớp Bò sát: 17 loài

Số loài và số chi nằm trong các họ của 128 loài động vật điều tra được ở Láng Sen tóm tắt ở bảng 5

Bảng 5: Số loài của 46 họ động vật ở Láng Sen

Trang 26

20 Rallidae 7 8 IV Lớp Thú 4 6

Bảng 6: Những loài tìm thấy ở Láng Sen có trong Sách Đỏ Việt Nam

I Lớp Bò sát

II Lớp Chim

III Lớp Thú

Ghi chú:

• E (Endangered) = đang nguy cấp, đang bị đe dọa tuyệt chủng

• V (Vulnerable) = sẽ nguy cấp, có thể bị đe dọa tuyệt chủng

• R (Rare) = hiếm, có thể sẽ nguy cấp

• T (Threatened) = đang bị đe dọa

IV Sử Dụng và Bảo Vệ Đất Ngập Nước

Qua nhiều năm khai thác cho mục đích phát triển nông nghiệp, đất trong khu vực đã biến đổi rất lớn Kể từ năm 1978, diện tích tràm và đồng cỏ bị thu hẹp dần và được thay thế bằng những cánh đồng lúa

Vào năm 1997, sau khi có sự thông báo của chính quyền địa phương về việc thành lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen cùng với giá lúa thương mãi thấp, giá trị kinh

Trang 27

tế của tràm khá cao thì diện tích tràm tại khu vực nầy đã tăng đáng kể nhất là trên những vùng đất phèn trồng lúa cho năng suất lúa thấp Để có thể sử dụng tài nguyên c9ất ngập nước co hiện quả hơn, Huyện Tân Hưng quy hoạch diện tích đất cho cây tràm là 9.150 ha, phần lớn diện tích trồng được tập trung tại những vùng đất phèn, trũng thấp của khu vực Láng Sen Một số diện tích lung, láng trũng thấp được bố trí trồng sen kết hợp với việc tạo nơi sống cho nguồn thủy sản

Theo quyết định mới nhất của UBND Tỉnh Long An vào năm 2000, huyện tiếp tục duy trì khu vực bảo tồn sinh thái rừng tràm Đồng Tháp Mười với diện tích 2.000 ha trong khi chờ đợi kế hoạch kết hợp khu vực nầy với khu vực Láng Sen để trở thành Khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười với diện tích lớn hơn (H 3) Để có thể thực hiện kế hoạch trên, kết họp với chương trình dân sinh vùng lũ, Tỉnh và huyện đã và đang tiến hành xây dựng cụm và tuyến dân cư tập trung dọc theo kinh 79 để di dời tái định cư cho những hộ dân đang ở trong khu vực Láng Sen

(ha)

Tràm (ha)

Tràm quy hoạch (ha)

Tuy nhiên, dự án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Tân Hưng và Vĩnh Hưng đã không đề cập đến việc giữ lại những trãng cỏ tự nhiên sẽ là một trở ngại trong việc làm bải ăn cho các loài chim

V Nhận Xét

Mặc dầu chỉ với những số liệu khảo sát ban đầu nhưng cho thấy Láng Sen là một vùng đất ngập nước với hệ thống sông rạch tự nhiên và sự đa dạng về địa mạo so với các vùng ngập nước khác của Đồng Tháp Mười Đây là một trong những yếu tố tự nhiên góp phần cho sự đa dạng về nơi sống, về loài và về cảnh quan tự nhiên Nếu được quản lý và bảo vệ tốt thì Láng Sen sẽ góp phần đáng kể vào việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của vùng nội địa hạ lưu Mê Kông

Đai rừng tự nhiên ven sông, dù đã bị tàn phá ít nhiều, là một kiểu nơi sống trở thành hiếm có hiện nay của vùng Đồng Tháp Mười Thủy vực nước chảy tự nhiên (sông, rạch) là một kiểu sinh cảnh không cóù nhiều ở các khu bảo vệ đất ướt nước ngọt khác của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Do đó, việc đề xuất và thực hiện xây dựng một dự án Khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười tại khu vực Láng Sen với một diện tích ở rộng hơn (bao gồm cả diện tích của Khu bảo tồn sinh thái rừng tràm ĐTM và lâm trường Vĩnh Lợi) là cần thiết Một khu bảo tồn sinh thái như vậy sẽ góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động du lịch sinh thái

Trang 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Austin, M P and Margules, C R.,1986 Assessing representativeness Trong Usher,

M B (ed.) Wildlife conservation evaluation Chapman and Hall, London

2 Buckton, S T., Nguyen Cu, Nguyen Duc Tu and Ha Quy Quynh, 1999 The Conservation of Key Wetland Sites in the Mekong Delta - Conservation Report Number 12 BirdLife International Vietnam Programme in collaboration with the Institute of Ecology and Biological Resources

3 Corrick, A H and Norman, F I, 1980 Wetlands of Victoria In National Parks

Service, Department of Natural Resources and Environment, Victoria Manual of Wetlands Management Crown (State of Victoria), 1996

4 Ho Chin, 1997 The Plain of Reeds - 10 years for Reclamation and Development (1985 - 1995) Internal Paper

5 Ho, Pham Hoang, 1991 Vegetation in Vietnam Vol I, II, III

6 Kent, M and Coker, P., 1992 Vegetation Description and Analysis-A Practical Approach Belhaven Press, London

7 Larson, J S., 1976 Models for evaluation for freshwater wetlands in Manual of Wetlands Management (National Parks Service, Department of Natural Resources

and Environment, Victoria, 1996), Crown (State of Victoria)

8 Magurran, A E., 1998 Ecological Diversity University Press, Cambridge

9 MARK B BUSH , 1997 Ecology of a Changing Planet.Prentice Hall, Inc

10 Ministry of Foreign Affairs, 1995 Biological Diversity” Development Cooperation Information Department, The Hague, Netherlands

11 MOSTE, 1992 Vietnam Redbook , Part: Animal Science and Technology Publishhouse

12 MOSTE, 1996 Vietnam Redbook , Part: Vegetation Science and Technology Publishhouse

13 Nilsson, C (1986) Methods of selecting lake shorelines and nature reserves Trong

Manual of Wetlands Management (National Parks Service, Department of Natural

Resources and Environment, Victoria, 1996), Crown (State of Victoria)

14 Peenen, Van 1969 Preliminary identification Manual for mammals of South Vietnam UNM Washington

15 Peterken, G F., 1968 International selection of areas for reserves Trong Manual of Wetlands Management (National Parks Service, Department of Natural Resources

and Environment, Victoria, 1996), Crown (State of Victoria)

16 Pressey, R L., 1984 A method for description and evaluation of coastal floodplain

wetland Trong K Myers, C R Margules and I Musto (eds) Survey methods for nature conservation Volume 1 SCIRO, Canberra

17 Thoi, Duong Huu, 1998 Basis of Ecology National University Publish House, Hanoi

18 Tien, Dao Van 1977 Spine Animals Vol I, II University and Technological School , Publish House, Hanoi

19 Tran, Nguyen Ngoc, 1990 The Mekong Delta: Resources -Environment – Development Science and Technology Publish house Hanoi

20 VIE/91/G31, 1994 Biodiversity Action Plan for Vietnam Hanoi

21 VIE/91/G31, 1994 Biodiversity Action Plan for Vietnam Hanoi

22 Vietnam GEF (UNDP - VIE/91/G31),1996 Guidelines of Biodiversity Surveys for Natural Reserve Area MARD, Hanoi

Trang 29

ÑIEĂU TRA VAØ KHẠO SAÙT VEĂ ẠNH HÖÔÛNG CỤA MUOÊI ÑOÂI VÔÙI

CÖ DAĐN ÔÛ QUANH KHU BẠO TOĂN TRAØM CHIM VAØ LAÙNG SEN

Nguyễn Văn Huỳnh và Trần Thanh Hải

Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp, Đại Học Cần Thơ

Tóm lược

Đây là một khảo sát đầu tiên về thành phần lòai và mật độ của muỗi ở các khu bảo tồn này trong mùa khô từ tháng 1 dến tháng 8-2001, là thời gian không có lũ, được coi là thích hợp cho muỗi phát triển Muỗi được điều tra tại 4 địa điểm ở khu bảo tồn Tràm Chim và một ở Láng Sen, bằng cách thu thập mẫu muỗi đến cắn người vào ban đêm (từ lúc 6 giờ sáng đến 6 giờ tối) và mẫu lăng quăng sống trong nước tự nhiên bằng cách múc 20 quặng ở mỗi địa điểm (không thu thập trong lu hủ, chum vại)

Kết quả cho thấy muỗi rất nhiều và thật sự làm khó chịu cho đời sống của người dân ở chung quanh các khu bảo tồn này Có một lòai muỗi đòn sóc (Anopheles nigerrimus) và ít nhất là 2 lòai muỗi thường (Culex bitoeniorynchus và C tritoeniorynchus) đã được phát hiện và định danh C bitoeniorynchus là lòai phổ biến nhất (gần 70% tổng số), họat động suốt đêm, nhỏ con và còn được gọi là muỗi vàng ở Láng Sen Lòai A nigerrimus với mật số khá cao (chiếm gần 30% tổng số), họat động mạnh vào đầu hôm, cắn rất đau và được coi là có khả năng truyền bệnh Sốt Rét

Ruộng lúa xung quanh khu bảo tồn có nhiều lăng quăng sinh sản (vào đầu và cuối vụ lúa sau khi vừa thu họach xong), nhưng trảng cỏ và rừng tràm thì có thể coi là không thích hợp cho muỗi sinh sản do chất lượng nước (rất chua phèn vào đầu mùa mưa, có nhiều động vật là thiên địch của lăng quăng sống trong nước vào đầu mùa nắng), mặc dù có rất nhiều muỗi trong tán rừng tràm cũng như khu nhà ở chung quanh

Cần có chương trình phòng trừ muỗi để bảo vệ sức khỏe cho cư dân trong vùng

I Giới Thiệu

Tràm Chim là khu bảo tồn (KBT) Sếu và vùng sinh thái nhập nước đặc trưng của Đồng Tháp Mười trong vùng châu thổ sông Cửu Long Mục tiêu của KBT là bảo vệ phần rừng ngập nước còn lại, tránh sự lấn chiếm và tàn phá của con người do áp lực dân số ngày càng gia tăng Ngòai ra, khu vực Láng Sen tương tự ở lân cận cũng được coi là KBT của tỉnh Long An

Trang 30

Mức sống của cư dân nơi đây rất thấp vì trừ một số ít bám trụ lâu đời còn đa số là

di dân trôi nổi kiếm sống bằng đánh bắt cá, làm mướn theo thời vụ lúa và thu hái củi trong rừng tràm Do đó, để có thể bảo vệ KBT thì cần có một chương trình phát triển đời sống của dân chúng nơi đây để họ vừa sinh sống ổn định và hợp pháp vừa bảo vệ được KBT Và trong chương trình này, vấn đề phát triển kế họach chăm sóc sức khỏe cho cư dân là cần thiết

rau-cá-Qua thảo luận với bệnh viện huyện Tam Nông, công tác ưu tiên hàng đầu là đánh giá về hiện trạng y tế và đặc biệt là vấn đề muỗi đối với đời sống cư dân Do đó, bài báo cáo này trình bày các kết quả điều tra được về thành phần lòai, mật số, nơi sinh sản của muỗi trong mùa không ngập lũ từ tháng 1 đến 8/2001 và cho ý kiến về biện pháp cần có để phòng trừ muỗi

II Phương Tiện và Phương Pháp

2.1 Chọn địa điểm

Ở Tràm Chim, có 4 địa điểm được chọn nhằm đại diện cho các kiểu sinh cảnh như Nhà khách của KBT, UBND xã Phú Đức, Phú Thọ và bên trong rừng của xã Phú Thành B (Hình 1)

Ở Láng Sen, chỉ có một địa điểm được chọn là ở Vàm Cả He thuộc ấp Láng Sen của xã Vĩnh Đại (Hình 2), vì hầu hết các nơi khác từ Láng Dài trở xuống đều không còn tìm được các khu vực tự nhiên nổi tiếng là lung sen hay rừng tràm thuở trước, khắp nơi đang được vét và đào kinh mới cho giao thông thuận tiện

2.2 Điều Tra Muỗi Cắn Người Vào Ban Đêm

Vì mục đích khảo sát về y tế nên trong việc điều tra chỉ thu thập muỗi cắn người mà thôi Công tác được thực hiện mỗi tháng một lần gồm 2 đêm liên tiếp, từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2001, vì đây là khỏang thời gian có nhiều muỗi đến cắn người và nước lũ cũng đã rút nên có lẽ thích hợp cho muỗi sinh sản trong rừng và ruộng lúa ở chung quanh Muỗi được bắt trong khỏang thời gian từ 6 giờ tối cho đến 6 giờ sáng Người bắt muỗi ngồi

ở một chổ bên ngòai trời cho muỗi đến cắn rồi dùng ống hút côn trùng để bắt muỗi và chuyển muỗi vào giữ mẫu trong chai nhỏ có chứa dung dịch cồn 70% Mỗi giờ thu thập từ 20-50 con tùy theo thời điểm có nhiều hay ít muỗi Muỗi đãî được phân lọai và ghi thành phần lòai, ước tính mật số vào mỗi giờ của đêm Số liệu được trình bày dưới dạng sự biến động về thành phần lòai theo giờ trong đêm, theo tháng trong năm và theo địa điểm điều tra được

2.3 Điều Tra Âúu Trùng Của Muỗi Trong Nước

Nhằm mục đích khảo sát ảnh hưởng của mặt nước trong KBT đến sự phát triển của muỗi nên chỉ điều tra trên các mặt nước tự nhiên chớ không trong lu hủ, miểng dừa đọng nước mưa hoặc chứa nước dùng cho sinh họat Điều tra cũng được tiến hành đồng thời với

Trang 31

muỗi cắn người nói trên Lăng quăng được thu thập bằng cách dùng ca nhựa có cán, với kích thước rộng 15 cm và sâu 10cm, để vợt lấy 20 mẫu tại mỗi địa điểm Tại các địa điểm đã chọn ở trên, lăng quăng đã được lấy mẫu hoặc là trong rừng tràm, trảng cỏ ngập nước, ruộng lúa lân cận và trong các kinh mương cụt có nước đọng, nếu có Lăng quăng đã được giữ trong chai nhỏ chứa dung dịch cồn 70% để đếm mật số, phân lọai và định danh Số liệu cũng được phân tích và trình bày như trên

Mẫu muỗi và ấu trùng đã được định danh dựa theo các tài liệu của Borel (1930), Belkin (1962) và Nguyễn Công Tỷ (1993) Ngòai ra, mẫu cũng được gởi cho Phân Viện Nghiên Cứu Sốt Rét và Ký Sinh Trùng ở tp Hồ Chí Minh để nhờ định danh

III Kết Quả và Thảo Luận

3.1 Sự khó chịu do muỗi gây ra cho cư dân ở quanh KBT

Một phỏng vấn nhỏ được thực hiện cho cư dân ở quanh KBT Tràm Chim với 2 câu hỏi: “Ở đây muỗi có nhiều dữ không?” và “Ngủ có mùng không?” Kết quả trình bày trong Bảng 1 cho thấy muỗi thật sự là vấn đề đối với sức khỏe của dân ở tất cả 4 địa điểm Mọi người đều trả lời là ngủ có mùng và một số ít có cả mùng cho trâu Hầu hết đều cho rằng muỗi nhiều là do sinh sản trong rừng, chỉ có một người ở tại thị trấn Tam Nông thuộc xã Phú Đức thì cho là muỗi sinh sản trong ruộng lúa là chính

Bảng 1 Ý kiến của cư dân sống quanh KBT Tràm Chim và Láng Sen về mức độ quan

trọng của muỗi đối với đời sống 2/2001*

Muỗi nhiều và gây khó chịu về sức khoẻ

* Hỏi 20 người ở mỗi địa điểm : “Muỗi có nhiều và gây khó chịu không?”

3.2 Thành phần lòai và mật số của muỗi cắn người vào ban đêm

Nhìn chung, muỗi rất nhiều vào ban đêm ở tất cả các địa điểm đã khảo sát Muỗi họat động từ trời sập tối cho đến khi trời sáng, mạnh nhất là lúc dầu đêm từ 6-8 giờ tối Muỗi đòn sóc có mật số ít hơn muỗi thường nhưng chúng rất “hiếu chiến” và có mật số cao vào lúc đầu đêm

Kết quả trình bày trong Hình 3 và 4 cho thấy các lòai muỗi thuộc 2 chi (genus) là

Culex (muỗi thường) và Anopheles (muỗi đòn sóc), trong đó Culex chiếm đa số với

Trang 32

khỏang 70% về mật số nói chung ở tất cả các địa điểm và các tháng điều tra từ 1 đến 8/2001 Xét cụ thể về địa điểm và thời gian cho thấy các kết quả như sau:

- Các địa điểm ở ngay tại rừng như Phú Thành B và Láng Sen có mật số muỗi đòn sóc cao hơn hết và đôi khi chiếm hơn 30% mật số, chúng cũng họat động mạnh ngay cả từ lúc 3 giờ khuya cho đến sáng (Hình 3)

- Theo các tháng trong năm thì không có mấy khác biệt về thành phần lòai (Hình 4) Nhưng xét về mật số muỗi đến cắn người ở ngòai trời thì rất khác biệt:

1 Rất nhiều và háu đói trong các tháng từ 1 đến 5 hoặc đến đầu tháng 6 khi trời còn ít mưa và ít gió

2 Rất ít khi đã có mưa nhiều, có gió Tây-Nam thổi mạnh và nước đã bắt đầu lên đồng Tuy nhiên, nếu ở trong nhà hay nơi kín gió thì mật số muỗi đến cắn người vẫn có khá nhiều vào lúc này

Do đó, các yếu tố của thời tiết như nhiệt độ, ẩm độ không khí và đặc biệt là tốc độ của gió Tây-Nam có ảnh hưởng đến họat động kiếm ăn của muỗi vào ban đêm

Công tác phân lọai và định danh cho thấy chỉ có một lòai muỗi đòn sóc là

Anopheles nigerrimus và có ít nhâït là 3 lòai muỗi thường là Culex bitoeniorynchus, C

tritoeniorynchus and C marquesensis Đặc điểm về hình thái và phân lọai của chúng được

trình bày trong Bảng 2 và Hình 5:

- A nigerrimus dễ nhận diện do cách đậu khi cắn của lọai muỗi đòn sóc, kích

thước khá lớn và kim chích có vẽ to vì hai xúc biện môi màu đen cũng phát triển dài dọc theo kim chích

- C bitoeniorynchus là lọai muỗi nhỏ con, rất phôí biến ở mọi nơi và mật số râït

cao ở Tràm Chim cũng như ở Láng Sen Ở Láng Sen, chúng thường dược gọi là muỗi vàng (vì có màu vàng), rất hăng máu và chích rất đau

- C tritoeniorynchus là lòai muỗi lớn con, màu đen, mật số ít hơn nhiều so với 2

lòai trên, và C marquesensis chỉ xuất hiện đôi lúc vì ấu trùng của chúng chỉ

phát triển trong nước thúi có nhiều chất hữu cơ

Tên của các lòai muỗi này khác với tên của các lòai muỗi thông thường ở Việt Nam đã được đề cập đến bởi Nguyễn Công Tỷ (1993), như A maculipennis và C fatigans (đồng

nghĩa với C quinquefasciatus, theo Belkin, 1962) Đặc biệt, A.maculipennis được ghi

nhận là phân bố ở những vùng bị nhiễm mặn Theo Trần Xuân Mai (1994) và Bộ môn Ký sinh trùng, Đại Học Y Hà Nội (1997) thì lòai muỗi đòn sóc phổ biến nhất từ Phan Thiết trở vào là A sundaicus sinh sản trong nước mặn Mẫu gởi cho Phân Viện Sốt rét và Ký sinh

trùng ở tp Hồ Chí Minh định danh được là A punctulatus, có thể chỉ đến nhóm mà thôi

Do đó, trong báo cáo này muỗi được định danh theo Borel (1930) là chính xác hơn hết mặc dù tài liệu quá cũ làm cho tên khoa học có thể đã được đổi khác sau này Mong nhận được các ý kiến và tài liệu định danh cập nhật hơn

3.3 Thành phần lòai và mật số của ấu trùng muỗi trong nước

Trang 33

3.3.1 Mật số của ấu trùng

a Ở KBT Tràm Chim, lăng quăng được lấy mẫu trước tiên là trong ruộng lúa nằm

ở ven KBT dọc theo các tuyến kinh, kế đó là trong trấp cỏ (ngay bên trong đê và kinh bao), và sau cùng là ở trong rừng tràm Kết quả trình bày trong Bảng 3 cho thấy có rất nhiều lăng quăng sống trong ruộng lúa nhưng rất ít lăng quăng trong trấp cỏ và trong rừng tràm Vào ngày 9-10 tháng 2/2001, ruộng lúa đang

ở thời kỳ từ mạ cho đến đẻ nhánh và được giữ nước, thích hợp cho lăng quăng phát triển, cả trong ruộng và đường nước phân chia ô; trong khi đó thì ở trấp cỏ và rừng tràm mực nước cao khỏang 20 cm, pH nước cao hơn 6.0 và có nhiều cá tép hay động vật nhỏ khác sống trong nước, đóng vai trò thiên địch ăn lăng quăng Cũng có cùng ghi nhận như vậy vào tháng 5/2001 cho đầu vụ Hè-Thu với rất nhiều lăng quăng sống trong nước của ruộng lúa đang thời kỳ đẻ nhánh Tuy nhiên, lúc nầy thì nước trong trấp cỏ và rừng tràm rất chua, do nước mưa đọng lại và hòa tan rất nhiều phèn, rất trong và có màu đỏ, không có con gì sống được

Mặt khác, mật số muỗi lại rất cao tại khu nhà ở lẫn trong rừng tràm vào ban đêm từ tháng 1-5/2001 Như vậy, có thể suy ra rằng, rừng tràm không thích hợp cho muỗi sinh sản nhưng hấp dẫn chúng (thành trùng), có lẽ là do nhiều CO2của tán lá rừng hô hấp thải ra vào ban đêm Cần nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ giả thuyết này

b Ở Láng Sen cũng có cùng ghi nhận như trên đối với ruộng lúa và rừng tràm, mặc dù đa số rừng ở đây là do dân trồng và quản lý Đặc biệt hơn là đa số ruộng lúa ở đây không có nước đọng trong giai đọan lúa từ đang đẻ nhánh rộ đến khi có đòng, vì dân ở xa vào đây làm ruộng nên họ chỉ đến để bơm nước tưới 7 hoặc 10 ngày một lần Do đó, ít có điều kiện cho muỗi phát triển trong giai đọan này

3.3.2 Thành phần lòai của ấu trùng

Kết quả trình bày trong Hình 6 cho thấy cũng tương tự như thành phần lòai của muỗi ở tất cả các địa điểm, với Culex chiếm hơn 70% và Anopheles ít hơn 30% Không ghi

nhận có sự hiện diện của ấu trùng C marquesensis

IV Kết Luận và Đề Nghị

Muỗi rất nhiều và ảnh hưởng xấu đến đời sống của cư dân ở chung quanh các KBT, đặc biệt là từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm, nhâït là khi trời có ít gió

Một lòai của Anopheles (A nigerrimus) và ít nhất là 2 lòai của Culex (C bitoeniorynchus và C tritoeniorynchus) đã được ghi nhận và định danh Lòai C bitoeniorynchus là phổ biến nhất và họat động suốt đêm, trong khi đó lòai A nigerrimus,

có khả năng truyền bệnh Sốt Rét, thì thường họat động mạnh vào đầu hôm Tuy nhiên, tỉ lệ

Trang 34

bị bệnh Sốt Rét hàng năm được bệnh viện huyện ghi nhận là rất thấp có thể là do không có nguồn bệnh

Trấp cỏ hay các mặt nước trong rừng được ghi nhận là không thích hợp cho muỗi sinh sản, nhưng ruộng lúa ở chung quanh thì có nhiều muỗi sinh sản trong giai đọan mạ, lúa non hay sau thu họach có mặt nước trống hay có nhiều chất hữu cơ đang phân hũy

Một chương trình phối hợp để phòng trừ muỗi thì cần thiết để ổn định đời sống của

cư dân và tránh bệnh Sốt Rét

Tài liệu tham khảo

Belkin, J.N 1962 The mosquitoes of the South Pacific (Diptera, Culicidae) University of California Press, Berkley and Los Angeles, USA 608 tr

Borel, E 1930 Les moustiques de la Cochinchine et du Sud-Annam Masson & Cie, Paris

Trang 35

Bảng 2 Phân lọai và mô tả các lòai muỗi thu mẫu được ở các KBT Tràm Chim và Láng

Sen của Đồng Tháp Mười 2001

Họ Culicidae

Họ phụ Culicinae

1 Tộc Anophelini

Phức hợp HYRCALUS

- Anopheles nigerrimus Giles

Muỗi cái có kích thước trung bình đến khá lớn, với bụng dài 3 mm, đầu-ngực 2 mm và kim chích 2 mm Môi dưới hòan tòan đen ngọai trừ đầu cuối có một vòng ttrắng Xúc biện môi màu đen, với 3 vòng trắng

ở cuối mỗi đốt và một ở cuối cùng

2 Tộc Culicini

2.1 Nhóm PIPIENS :

- Culex bitoeniorynchus Giles

Muỗi cái có kích thước nhỏ (bụng dài 2,6 mm, kim chích 2 mm) với một băng đen lớn ở cuối mỗi đốt bụng Âúu trùng có ống thở rất dài, 1,6-1,7 mm, hình thon nhọn (khác với C quinquefasciatus rất ngắn

(0,9 mm) và C fatigans ngắn, hình bầu dục dài) Rất phổ biến

- Culex tritoeniorynchus Giles

Muỗi cái lớn: cánh dài 4 mm, kim chích 2,2 mm, bụng 3 mm Tòan thân màu đen Môi dưới màu đậm nhưng đốt thứ 2 có màu nâu lợt và rất rõ Cẳng và bàn chân sau rất dài với vòng trắng ở cuối mỗi đốt Âúu trùng có ống thở rất dài và nhọn, 1,9 mm

2.2 Nhóm ATRICEPS :

- Culex marquesensis Stone & Rosen (?)

Muỗi rất lớn: cánh dài 4,1mm, kim chích 3,0 mm, bụng 4,9 mm, đùi trước 1,8 mm Tòan thân màu đen với nhiều băng ngang màu trắng ở cuối mỗi đốt của thân mình Môi dưới hòan tòan đen và có một vòng trắng, chân không có băng trắng

Trang 36

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỨC KHOẺ CỦA CỘNG ĐỒNG

TRONG VÙNG DỰ ÁN

Trương Bá Nhẫn,

Khoa Y, Trường Đại Học Cần Thơ

Phần I: Mở Đầu

Tràm Chim và Láng Sen là 2 khu vực đặc biệt nằm trong vùng nông thôn sâu của tỉnh Đồng Tháp và Long An Hai khu vực này hiện nay còn giữ lại 1 số nét đặc trưng của hệ sinh thái Đồng Tháp Mười với đất ngập nước và nhiễm phèn nặng Trong những năm qua, chủ trương khai thác Đồng Tháp Mươi và Tứ giác Long Xuyên đã mang lại hiệu quả vô cùng to lớn Sản lượng lương thực tăng không ngừng Tuy nhiên, việc bảo tồn hệ sinh thái vùng Đồng Tháp Mười để duy trì đa dạng sinh học và bảo tồn gien của nhiều loại động thực vật quý trở thành yêu cầu quan trọng Để giải quyết vấn đề này, vườn quốc gia Tràm Chim được thành lập đưa vào hoạt động từ nhiều năm nay Hiện nay tỉnh Long An cũng dự định thành lập khu bảo tồn ở Láng Sen cũng nhằm mục đích này Tuy nhiên do áp lực của phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số mà việc duy trì hoạt của vườn quốc gia gặp nhiều khó khăn do người dân ở vùng đệm (lân cận) vườn quốc gia thỉnh thoảng xâm nhập vào vườn quốc gia để đốn củi, đánh bắt cá và chim Để giải quyết căn bản vấn đề này cần phải có chiến lược quản lý, khai thác và phát triển vườn quốc gia hoàn chỉnh để duy trì chức năng của vườn quốc gia Ngoài ra cũng cần phải phát triển hệ thống hổ trợ cho nhân dân sống ở vùng đệm phát triển sản xuất và nâng cao đời sống Một trong những yếu tố góp phần phát triển kinh tế xã hội là phải đảm bảo cho người dân có sức khỏe tốt để có thể lao động sản xuất phục vụ cho cuộc sống của mình Vì vậy cần phải đánh giá đúng mức tình hình sức khỏe bệnh tật, các yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, cũng như các dịch vụ sức khỏe có sẳn tại địa phương Thực hiện được điều này sẽ đóng góp cho việc duy trì chức năng bảo tồn đa dạng sinh học của vườn quốc gia

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định các bệnh và các vấn đề sức khỏe thường gặp ở khu vực Tràm Chim và Láng Sen,

2 Tìm hiểu các nguồn nước được sử dụng ở khu vực này và chất lượng của các nguồn nước này,

3 Đánh giá tình hình suy dinh dưởng ở trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưởng của trẻ em

Phần II: Bệnh Tật và Các Dịch Vụ Y Tế Tại Tràm Chim và Láng Sen

2.1 Các dịch vụ y tếá có sản tại Tràm Chim và Láng Sen

Các xã trong khu vực vùng đệm của Tràm Chim và các xã ở Láng Sen đều có hệ thống

y tế rộng khắp tương tự như các xã khác trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Ở mỗi xã có trạm y tế cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân như khám chữa các bệnh

Trang 37

thông thường, sơ cấp cứu ban đầu khi có bệnh nặng Ngoài ra ở mổi ấp còn có các tổ y tế ấp và lực lượng cộng tác viên chăm sóc sức khỏe ban đầu

Về dịch vụ y tế, các xã trong khu vực này đều có các dịch vụ y tế tương đối phát triển Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện trong các xã trong khu vực này bao gồm: chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, chương trình bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, phòng chống bướu cổ và muối iốt, kiểm soát bệnh lao, phòng chống tiêu chảy… Sau đây là kết quả hoạt động của một số chương trình y tế quốc gia thực hiện ở Tam Nông, Đồng Tháp

Bảng 1 Kết quả hoạt động của một số chương trình y tế được thực hiện tại huyện Tam Nông,

Đồng Tháp trong năm 1998-1999

Tỷ lệ tiêm chủng đạt được của chương trình tiêm chủng mở rộng

Số trẻ được chương trình ARI bao phủ

Số trẻ bị viêm phổi / viêm phổi năng 1022 1169

Số trẻ được chương trình CDD bao phủ:

Số ca lao được chương trình phòng chống lao quản lý

Số ca có BK (+) / tổng số BN lao được quản lý 219 / 284 218 / 287 Số ca có BK (+) / số ca lao mới 133 / 167 133 / 183 Số ca có BK (+) / số ca lao được trị khỏi 117 / 159 126 / 157 Số ca có BK (+) / Số ca tử vong do bệnh lao 3 / 6 6 / 10

Số BK (+) / Số mẫu đàm xét nghiệm 93 / 845 95 / 880

Chương trình phòng chống sốt rét

Số lam sốt rét được thực hiện

Số mùng đã cấp cho các xã vùng sâu 0 250

Chương trình phòng chống HIV / AIDS

Chương trình vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch

Số hộ có hố xí hợp vệ sinh 1074

33.33% 5/12 41.66%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của Trung Tâm Y Tế huyện Tam Nông)

Trang 38

Qua tổng kết này cho thấy dù ở vùng nông thôn sâu nhưng ngành y tế đã tổ chức thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

2.2 Các bệnh thuờng gặp ở Tam Nông

Mô hình bệnh tật ở Tam Nông cũng tương tự như bệnh tật ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Các bệnh phổ biến ở đây bao gồm nhiều nhất là bệnh nhiễm trùng như viêm đường hô hấp ở trẻ em, bệnh cúm, bệnh lao phổi, tiêu chảy, thương hàn, hội chứng lỵ Ngoài ra các bệnh mạn tính như hội chứng dạ dày tá tràng, tăng huyết áp, hen phế quản, các tai nạn, ngộ độc, tự tử cũng gặp khá phổ biến Hầu hết các bệnh lý có tần suất mắc cao thuộc về các bệnh nhiễm trùng Điều này thể hiện tình hình kinh tế – xã hội ở đây chưa phát triển nhiều Sau đây là bảng trình bày 10 bệnh thường gặp ở huyện Tam Nông trong hai năm 1998 và 1999

Bảng 2 Bảng phân bố tần số mắc của mười bệnh thường gặp ở trung tâm y tế và trong bệnh

viện Tam Nông

1998 1999

1/Cúm 2499 1/Tai nạn 227 1/Cúm 2870 1/Tai nạn 325 2/Tiêu chảy 1429 2/ Lao phổi 130 2/Viêm phổi 1377 2/ Lao phổi 131 3/Viêm phổi 833 3/Tiêu chảy 129 2/Tiêu chảy 1316 3/Tiêu chảy 130 4/Tai nạn 654 4/TH 91 4/Tai nạn 1010 4/Tăng HA 98 5/ PQPV 554 5/Viêm phổi 81 5/ PQPV 465 5/TH 93 6/ Lỵ 436 6/Tự tử 80 6/ Lỵ 445 6/Viêm phổi 90 7/TH 254 7/Tăng HA 66 7/TH 205 7/ SXH 80 8/ Lao phổi 167 8/HC DDTT 52 8/ Lao phổi 183 8/B đường TH 52 9/ SXH 156 9/Cúm 24 9/ SXH 113 9/Tự tử 53 10/ Ngộ độc 107 Viêm họng 23 10/ Ngộ độc 98 10/ Hen PQ 23

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của Trung Tâm Y Tế Tam Nông 1999)

Ngoài các bệnh thường gặp, các bệnh thường nặng đưa đến tử vong cũng là những vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được chú ý Sau đây là danh sách 10 bệnh gây tử vong thường gặp nhất ở tại Tam Nông

Bảng 3 Bảng phân bố tần số mắc mười bệnh gây tử vong cao nhất ở Tam Nông

1998 1999

1/ TBMMN 77 1/NMCT 4 1/ TBMMN 64 1/TBMMN 3 2/ Suy kiệt 49 2/Shock NT 4 2/ Suy kiệt 56 2/Tự tử 3 3/ Lao phổi 24 3/Tự tử 2 3/ Chêt đuối 31 3/NT huyết 3 4/ Chết đuối 24 4/NTH 1 4/ Suy tim 15 4/ Lao phổi 3 5/ K gan 14 5/ Phù phổi 1 5/ Lao phổi 14 5/ NMCT 1 6/ BLN 14 6/RLNT 1 6/ K gan 14 6/ Suy hô hấp 1 7/ Xơ gan 16 7/Xơ gan 1 7/ BLN 12 7/BLN 1 8/ Chu sinh 9 8/VNMN 1 8/ Tai nạn 8

9/ Viêm phổi 9 9/BLSS 1 9/ NMCT 8

10/ Tiểu đướng 9 10/ AIDS 6

(Báo cáo tổng kết hoạt động của Trung Tâm Y Tế Tam Nông 1999)

Các bảng trên cho thấy là các bệnh nhiễm trùng nhất là nhiễm trùng hô hấp là những bệnh có ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhiều nhất Ngoài ra tai nạn, các loại và bệnh mạn tính và ung thư cũng có gặp ở khu vực này

Trang 39

Phần III: Phương Pháp Nghiên Cứu

Phương pháp khảo sát được ứng dụng trong nghiên cứu này bao gồm cả việc thu thập dử liệu thứ cấp có sẳn ở địa phương và thu thập dử liệu sơ cấp bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

3.1 Thu thập dử liệu thứ cấp

Dử liệu có sẳn về dân số, các chương trình y tế đang được thực hiện tai khu vực này, các bệnh thường gặp, các nguyên nhân gây tử vong thường gặp, và các dịch vụ y tế có sẳn ở địa phương được ghi nhận để cung cấp hình ảnh tổng quát về sức khỏe bệnh tật ở Tràm Chim và Láng Sen (trình bày ở phần trước)

3.2 Khảo sát định tính

Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng để thu thập thông tin ở các nhóm đại diện cho cộng đồng bao gồm: cả nam và nữ, các đại diện cho chính quyền xã, Ban Đại diện ấp, ban ngành đoàn thể như phụ nử, thanh niên, hội chủ thập đỏ, đại diện cho Mặt trận, Hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội chủ thập đỏ, ngành y tế, ngành giáo dục … để tìm hiểu các vấn đề sức khỏe thường gặp ở địa phương, các giải pháp cần phải thực hiện để nâng cao sức khỏe cho người dân

3.3 Khảo sát định lượng

Khảo sát cắt ngang nhằm thu thập các thông tin liên quan đến suy dinh dưởng của trẻ

em < 5 tuổi được thực hiện Sử dụng chương trình EPI-INFO để nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS để xác định trẻ bị suy dinh dưởng theo cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi Lựa chọn

2 nhóm trẻ cực đoan (suy dinh dưởng nặng và dinh dưởng tốt) để thu thập thêm thông tin liên quan đến các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưởng ở trẻ em để xác định các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưởng ở trẻ em liên quan đến kinh tế xã hội, kiến thức nuôi con của mẹ, dinh dưởng và bệnh tật của trẻ em và tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở đây

Ngoài ra chât lượng nước và cách sử dụng nước của người dân ở địa phương cũng được quan tâm khảo sát Các mẫu nước sông, nước mưa, và nước giếng được lấy và gởi đến Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng TP HCM để phân tích chất lượng nước về mặt lý hoá, vi sinh nhằm xác định chất lượng của các nguồn nước này

Phần IV: Kết Quả Khảo Sát

Tràm Chim nằm trong huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp Đây là khu vực vùng sâu của tỉnh này Toàn huyện có 20307 hộ với 93,518 người Trong đó nữ chiếm 50.1% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1.6% Tỷ suất sinh năm 1999 là 20.01%o Còn Láng Sen là 1 khu vực vùng sâu của tỉnh Tân Hưng Hiện nay khu vực này chưa thành lập khu bảo tồn như ở Tràm Chim

4.1 Bệnh tật ở Tràm Chim và Láng Sen

Để thu thập thông tin liên hệ đến mô hình sức khỏe – bệnh tật ở cộng đồng, phương pháp khảo sát định tính được sử dụng trong trường hợp này nhằm tìm ra các bệnh tật phổ biến ở vùng đệm của vườn quốc gia Tràm Chim và xã Vỉnh Đại và Vỉnh Lợi ở Láng Sen Qua 5 buổi thảo luận nhóm với đại diện của chính quyền địa phương, các đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nông dân tập thể, và các nhóm phụ nữ thuộc các từng lớp

Trang 40

nghèo, trung bình, khá giả và những người dân sống ở các xã này thì các bệnh sau đây là những bệnh thường gặp nhất ở Tràm Chim và Láng Sen

+ Cảm sốt, viêm đường hô hấp, viêm xoang:

Về mặt bệnh tật, ở khu vực này các chứng và bệnh thông thường như nhức đầu, ho, sốt v.v… Viêm đường hộ hấp cấp như nhức đầu, nóng ho, sổ mủi gặp ở tất cả 5 xã khảo sát Ngoài

ra một bệnh đường hô hấp khác được người dân đề cập đến nhiều trong khu vực này là bệnh viêm xoang Như một thành viên của các đoàn thể ở Phú Đức nhận xét:

Buị và khói xe đưa đến bệnh đường hô hấp rồi thì viêm xoang và nhức đầu

Người dân ở đây cho là nguyên nhân đưa đến bệnh viêm xoang là do khói, bụi Nhận xét này phù hợp với kiến thức y học về nguyên nhân của viêm xoang Thêm vào đó, có 1 phụ nử ở Phú Thọ cho là “ Dân ở đây (bị) nóng ho đa số” Có người “bị nhức đầu tối ngày” Nhức đầu là triệu chứng của nhiều bệnh nhiễm trùng, và không nhiễm trùng Nhưng vì người dân nhận thấy triệu chứng nhức đầu gặp phổ biến ở đó và đa số trường hợp bị nhức đầu biến mất khi được điều trị với các thuốc thông thường Vì vậy họ cho là nhức đấu là bệnh phổ biến ở đó

+ Bệnh đường ruột:

Ngoài các bệnh đường hô hấp, các bệnh lý đường ruột cũng được đề cập đến như là bệnh thường gặp trong khu vực khảo sát Cả những người đại diện cho chính quyền, các đoàn thể và người dân trong khu vực khảo sát đều cho tiêu chảy là bệnh thường gặp trong vùng Khi đề cập đến các bệnh phổ biến ở trong vùng, những người phụ nữ ở xã Phú Thành cho là “ bệnh đường ruột ở người lớn" Từ "bệnh đường ruột gây tiêu chảy và sốt” Ngoài ra người dân cũng chỉ ra nguyên nhân của bệnh đường ruột là do nguồn nước không đảm bảo

Bệnh đường ruột chủ yếu là tiêu chảy xảy ra rất nhiều do nguồn nước không đảm bảo

Như vậy tiêu chảy cũng là 1 trong những bệnh phổ biến trong khu vực khảo sát Ngoài tiêu chảy thì thương hàn cũng có xảy ra ở đây Tuy nhiên về mức độ phổ biến thì ý kiến người dân khá trái ngược nhau Có người cho là bệnh này nhiều, nhưng người khác cho là bệnh này không nhiều nhưng nặng có khi phải chuyển đi bệnh viện tỉnh như: “Bệnh thương hàn có, nhưng không nhiều, có trường hợp phải chuyển đi Long An” Ngoài tiêu chảy và thương hàn là hai bệnh nhiễm trùng đường ruột chủ yếu thì hội chứng lỵ cả amíp và trực trùng không được các thành viên tham gia khảo sát đề cập đến Điều này có thể là do bệnh này không có hoặc có nhưng mức độ không phổ biến

• Bệnh đường ruột ở người lớn Từ đó gây tiêu chảy và sốt

• Bệnh đường ruột chủ yếu là tiêu chảy xảy ra do nguồn nước không đảm bảo

+ Nhức mỏi và đau nhức khớp xương:

Ngoài ra vấn đề nhức mình mẩy, đau nhức khớp cũng là vấn đề sức khỏe phổ biến trong khu vực Tình trạng nhức mỏi và đau nhức khớp xương hay gặp cả ở những thanh niên và người già Dù nhức mỏi, đau khớp không ảnh huởng đến tính mạng của người dân nhưng vì chúng là bệnh phổ biến của cộng đồng ở Tràm Chim, Láng Sen Hơn nữa nhức mỏi, viêm đa khớp, viêm thần kinh toạ là những bệnh lý mạn tính gây trở ngại khá lớn cho sức khỏe cộng đồng và tiêu tốn nhiều tiền của và dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân

• Thanh niên mang bệnh nhức đa số bởi vì mần nặng quá Mần nặng quá phải mang bịnh

Ngày đăng: 03/01/2016, 20:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. pH nước vùng Láng Sen vào đầu mùa lũ (30/8 – 2/9/1999) - Quản lý đất ngập nước
Bảng 1. pH nước vùng Láng Sen vào đầu mùa lũ (30/8 – 2/9/1999) (Trang 20)
Bảng 3:  Số loài của 60 họ thực vật ở Láng Sen - Quản lý đất ngập nước
Bảng 3 Số loài của 60 họ thực vật ở Láng Sen (Trang 23)
Bảng 5:  Số loài của 46 họ động vật ở Láng Sen - Quản lý đất ngập nước
Bảng 5 Số loài của 46 họ động vật ở Láng Sen (Trang 25)
Bảng 4: Thành phần động vật đáy - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4 Thành phần động vật đáy (Trang 25)
Bảng 6: Những loài tìm thấy ở Láng Sen có trong Sách Đỏ Việt Nam - Quản lý đất ngập nước
Bảng 6 Những loài tìm thấy ở Láng Sen có trong Sách Đỏ Việt Nam (Trang 26)
Bảng 1.  Kết quả hoạt động của một số chương trình y tế được thực hiện tại huyện Tam Nông, - Quản lý đất ngập nước
Bảng 1. Kết quả hoạt động của một số chương trình y tế được thực hiện tại huyện Tam Nông, (Trang 37)
Bảng 2.  Bảng phân bố tần số mắc của mười bệnh thường gặp ở trung tâm y tế và trong bệnh - Quản lý đất ngập nước
Bảng 2. Bảng phân bố tần số mắc của mười bệnh thường gặp ở trung tâm y tế và trong bệnh (Trang 38)
Bảng 3. Bảng phân bố tần số mắc mười bệnh gây tử vong cao nhất ở Tam Nông. - Quản lý đất ngập nước
Bảng 3. Bảng phân bố tần số mắc mười bệnh gây tử vong cao nhất ở Tam Nông (Trang 38)
Bảng 4.1. Phân bố trẻ suy dinh dưởng theo phái tính: - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4.1. Phân bố trẻ suy dinh dưởng theo phái tính: (Trang 49)
Bảng 4.2 Phân bố suy dinh dưởng của trẻ em theo học lực của mẹ - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4.2 Phân bố suy dinh dưởng của trẻ em theo học lực của mẹ (Trang 49)
Bảng 4.3. Tỷ lệ suy dinh dưởng ở con các bà mẹ theo nghề nghiệp - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4.3. Tỷ lệ suy dinh dưởng ở con các bà mẹ theo nghề nghiệp (Trang 49)
Bảng 4.7. Tỷ lệ suy dinh dưởng của nhóm trẻ có mẹ mù chữ - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4.7. Tỷ lệ suy dinh dưởng của nhóm trẻ có mẹ mù chữ (Trang 51)
Bảng 4.7. Tỷ lệ suy dinh dưởng của nhóm trẻ thuộc các thành phần xã hội khác nhau - Quản lý đất ngập nước
Bảng 4.7. Tỷ lệ suy dinh dưởng của nhóm trẻ thuộc các thành phần xã hội khác nhau (Trang 51)
Bảng trên cho thấy rằng việc đánh bắt cá ở các con sông với quyền khai thác không - Quản lý đất ngập nước
Bảng tr ên cho thấy rằng việc đánh bắt cá ở các con sông với quyền khai thác không (Trang 61)
Hình Sơ đồ tổ chức bộ máy của lâm trường - Quản lý đất ngập nước
nh Sơ đồ tổ chức bộ máy của lâm trường (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w