Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học xác định các Cơ sở “cảnh quan học” của khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam là rất cần thiết để giúp các nhà
Trang 1báo cáo đề tμi NCKH cấp bộ
Cơ sở “cảnh quan học”
của khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường đại học Kiến trúc Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: TS KTS Doãn Quốc Khoa
Tham gia: PGS.TS.KTS Huỳnh Đăng Hy – Hội QH phát triển ĐT VN
TSKH Phạm Hoàng Hải – Viện Địa lý ThS.KTS Nguyễn Hồng Diệp – Viện QH đô thị & NT Bộ XD KTS Nguyễn Văn Hoà - Viện Kiến trúc nhiệt đới
KTS Đặng Đình Chính - Viện Kiến trúc nhiệt đới
Trang 2Mục lục
Chương I- tổng quan về khai thác yếu tố tự nhiên trong
1.1- Khai thác yếu tố tự nhiên trong QHXD đô thị thế giới 4
1.1.1- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ trung đại 4
1.1.2- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị thế giới cận hiện
đại
10
1.2- Khai thác yếu tố tự nhiên trong QHXD Việt Nam 16
1.2.1- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ trung đại 16
1.2.2- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị cận đại 20
1.2.3- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị hiện đại 22
1.2.4- Nội dung khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy định
pháp lý về QHXD đô thị
33
1.2.5- Các nghiên cứu liên quan đến khai thác YTTN trong lĩnh
vực kiến trúc và QHXD Việt Nam
Trang 31.4.4- Cảnh quan học ở Việt Nam 75
1.5- Kết luận chương 1 79
Chương II- cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự
2.1- Cảnh quan đô thị 82
2.1.2- Các thành tố và cấu trúc của cảnh quan đô thị 84
2.1.3- Các quy luật vận động của cảnh quan đô thị 88
2.2- Vai trò của yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị 92
2.2.1- Vai trò của YTTN trong các chức năng của không gian đô
thị
92
2.2.2- Vai trò YTTN trong mô hình cơ cấu không gian đô thị 94
2.2.3- Vai trò YTTN trong bố cục không gian kiến trúcđô thị 96
2.2.4- Vai trò của YTTN trong xây dựng phát triển đô thị 99
2.3- Phân vùng và phân loại cảnh quan tự nhiên Việt Nam phục
2.4- Phương pháp đánh giá cảnh quan 113
2.5- Khai thác YTTN trong Kiến trúc cảnh quan và quy hoạch
2.6- Kết luận chương II 125
Chương III- mô hình vμ giải pháp khai thác yếu tố tự nhiên
trong đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị 127
3.1- Quan điểm, mục tiêu và mô hình cấu trúc đô thị trên cơ sở
khai thác yếu tố tự nhiên 127
Trang 43.1.1- Quan điểm, mục tiêu khai thác yếu tố tự nhiên trong quy
3.2.1- Đánh giá yếu tố tự nhiên trong đồ án QH chung đô thị 134
3.2.2- Giải pháp chọn đất xây dựng đô thị trên cơ sở khai thác
3.3- Ví dụ ứng dụng đề tài trong thực tiễn 146
3.3.1- Khai thác yếu tố tự nhiên trong định hướng phát triển
Phụ lục 3: Đánh giá điều kiện tự nhiên đảo Phú Quốc đối với các
ngành du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp theo chuyên ngành cảnh quan
học
191
Trang 5phần Mở đầu 1- Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu :
Thông thường “cảnh quan đô thị” được hiểu theo nghĩa của nhận thức thị
giác (là hình ảnh mà con người thu nhận được trong quá trình tiếp xúc với
không gian đô thị) hoặc theo cách của kiến trúc cảnh quan (là hệ thống các
thành phần của không gian mở đô thị: các công viên, khu cây xanh – mặt nước,
các đường phố, quảng trường, các sân vườn công trình ) Tuy nhiên, còn một
cách hiểu khái niệm “cảnh quan” khác thường sử dụng trong ngành địa lý liên
quan đến việc nghiên cứu cấu trúc chức năng và đánh giá tổng hợp điều kiện tự
nhiên phục vụ cho hoạt động khai thác lãnh thổ
Trong cấu trúc không gian đô thị, yếu tố tự nhiên (YTTN) có vai trò đặc
biệt quan trọng, vừa là nền tảng hình thành đô thị, vừa là thành phần trong tất
cả các không gian chức năng của đô thị Vấn đề nhận thức, đánh giá đặc điểm
và nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác YTTN là một khía cạnh quan trọng
trong các nội dung thiết kế quy hoạch xây dựng (QHXD) đô thị: đánh giá đặc
điểm hiện trạng; luận chứng các cơ sở quy hoạch; đề xuất giải pháp quy hoạch:
về không gian, hạ tầng kỹ thuật – môi trường
Tuy nhiên, trong quá trình lập đồ án QHXD đô thị hiện nay, các yếu tố
tự nhiên thường nghiên cứu tách rời từng yếu tố, chưa thể hiện rõ tính tổng
hợp, đồng nhất chưa thấy rõ quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa các yếu tố và sự
vận động biến đổi theo các quy luật tự nhiên đáng ra không thể tuỳ tiện làm
biến đổi Đây chính là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến
môi trường tự nhiên, đến sự phát triển bền vững, giảm hiệu quả kinh tế và
không tạo được bản sắc địa phương
Môn “Cảnh quan học” là một chuyên ngành của Địa lý học, chuyên
nghiên cứu cấu trúc cảnh quan lãnh thổ, phân định các đơn vị cảnh quan (các
thể tổng hợp tự nhiên), nghiên cứu cấu trúc chức năng và đánh giá chúng nhằm
đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế lãnh thổ, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường Việc nghiên cứu cảnh quan không đơn thuần
chỉ là hệ thống tự nhiên mà còn bao gồm các hệ thống tự nhiên - kỹ thuật do có
sự tham gia tác động của con người
Như vậy giữa QHXD với cảnh quan học có mối liên quan chặt chẽ do
có chung đối tượng nghiên cứu: các yếu tố, điều kiện tự nhiên trên một khu vực
nhất định và các tác động của chúng với hoạt động con người cũng như ngược
lại Các kết quả nghiên cứu của cảnh quan học chính là cơ sở cho QHXD, từ
quy hoạch vùng, quy hoạch chung cho đến các quy hoạch chi tiết Đồng thời,
không gian xây dựng cũng là đối tượng của cảnh quan học để nghiên cứu về
tác động của con người đối với tự nhiên và ngược lại
Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Liên Xô (cũ) đã vận dụng các
nghiên cứu về địa lý, đặc biệt là môn “cảnh quan học” làm một trong những cơ
sở của công tác quy hoạch xây dựng (QHXD) đô thị Trong thành phần lập đồ
án QHXD, thường có sự tham gia của chuyên gia “cảnh quan học” ở Trung
Trang 6Quốc hiện nay, môn “Cảnh quan học” là một trong những cơ sở quan trọng của
QHXD Chuyên ngành “Quy hoạch cảnh quan” với việc ứng dụng các tiến bộ
công nghệ thông tin và viễn thám, là một phương tiện hữu hiệu trong nghiên
cứu QHXD, góp phần nâng cao chất lượng đồ án và bảo vệ môi trường cảnh
quan thiên nhiên
"Cảnh quan học" hiện là một chuyên ngành của Viện Địa lý thuộc Viện
Khoa học công nghệ Việt nam Trong những năm qua, Viện đã nghiên cứu và
lập các bản đồ phân vùng cảnh quan của cả nước và từng vùng lãnh thổ Cảnh
quan được phân chia thành các hạng và các nhóm, loại cảnh quan khác nhau,
trong đó mỗi vùng có các đặc điểm đặc trưng, điều kiện tự nhiên và những tiềm
năng tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tự nhiên khác nhau Các nghiên cứu của
Viện Địa lý về cảnh quan đã được ứng dụng phục vụ cho các ngành kinh tế
trong hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và
bền vững, ví dụ như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản
Tuy nhiên, đối với ngành QHXD cho đến nay chưa có sự gắn kết chặt chẽ và
sử dụng có hiệu quả các nghiên cứu của chuyên ngành cảnh quan thuộc Viện
Địa lý vào thực tiễn QHXD
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học xác định các Cơ sở “cảnh
quan học” của khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô
thị Việt Nam là rất cần thiết để giúp các nhà QHXD và quản lý QH nhận thức,
đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý các YTTN, đảm bảo
tính tổng hợp và hài hoà giữa cấu trúc nhân tạo – tự nhiên, góp phần nâng cao
chất lượng của đồ án và phát triển đô thị bền vững
2- Mục đích nghiên cứu:
Xác định các cơ sở lý luận của “Cảnh quan học” phục vụ cho việc
nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác các YTTN trong QHXD đô thị Việt
Nam Cụ thể:
- Nhận thức về yếu tố tự nhiên và vai trò của YTTN trong QHXD đô thị
- Phân loại cảnh quan tự nhiên phục vụ QHXD đô thị
- Đề xuất quan điểm, nguyên tắc mô hình và giải pháp khai thác YTTN
trong QHXD
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý,
các nhà thiết kế quy hoạch xây dựng ở trung ương và địa phương và là tài liệu
tham khảo trong giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo kiến trúc sư
3- Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:
Đối tượng: Khía cạnh khai thác YTTN trong nội dung đồ án QHXD đô thị
Giới hạn nghiên cứu:
- Khía cạnh khai thác sử dụng các YTTN trong phần quy hoạch không gian
- Loại QHXD: đồ án QH chung đô thị
Trang 74- Phương pháp nghiên cứu:
- Điều tra khảo sát, thu thập thông tin số liệu, tài liệu về cảnh quan học
và quy hoạch xây dựng đô thị
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các số liệu
- Phương pháp hội thảo lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý khoa
học cảnh quan và quy hoạch xây dựng đô thị
- YTTN: yếu tố tự nhiên
- NCKH: nghiên cứu khoa học
Kết luận
Mở đầu
cơ sở cảnh quan học của khai thác YTTN trong QHXD đô thị
Cảnh quan
đô thị
YTTN trong QHXD phát triển
đô thị
Kết luận
Khai thác YTTN Trong QHXD
đô thị thế giới
Kết luận
tổng quan về cảnh quan học và
vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên
khai thác YTTN trong QHXD
đô thị Việt Nam
Cảnh quan
học
Kết luận
Phân vùng phân loại cảnh quan
tự nhiên trong QHXD
Ví dụ ứng dụng thực tiễn
Quan điểm, Mục tiêu cấu trúc
đô thị trên cơ sở khai thác YTTN
Khai thác YTTN trong đồ án quy hoạch chung đô thị
Kết luận
kiến trúc cảnh quan và quy hoạch cảnh quan
két luận và kiến nghị
Mở đầu
Nâng cao chất lượng khai thác YTTN trong QHXD đô thị
Xu hướng QHXD đô thị với vấn đề khai thác YTTN
Kết luận
Mở đầu
cơ sở cảnh quan học của khai thác YTTN trong QHXD đô thị
Cảnh quan
đô thị
YTTN trong QHXD phát triển
đô thị
Kết luận
Khai thác YTTN Trong QHXD
đô thị thế giới
Kết luận
tổng quan về cảnh quan học và
vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên
khai thác YTTN trong QHXD
đô thị Việt Nam
Cảnh quan
học
Kết luận
Phân vùng phân loại cảnh quan
tự nhiên trong QHXD
Ví dụ ứng dụng thực tiễn
Quan điểm, Mục tiêu cấu trúc
đô thị trên cơ sở khai thác YTTN
Khai thác YTTN trong đồ án quy hoạch chung đô thị
Kết luận
kiến trúc cảnh quan và quy hoạch cảnh quan
két luận và kiến nghị
Trang 8Chương I- tổng quan về khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị vμ cảnh quan học
1.1- vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên trong quy hoạch
xây dựng đô thị thế giới
1.1.1- Vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ
trung đai
1.1.1.1- Khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ trung đại phương Tây
(Trung cận đông và châu Âu)
a- Cảnh quan đô thị Ai cập thời cổ đại (từ 3000 năm tr.CN):
Các đô thị Ai cập đều quy tụ dọc 2 bên bờ sông Nil thể hiện vai trò của
yếu tố mặt nước trong chọn địa điểm và là cơ sở hình thành hệ thống đô thị của
Ai cập cổ đại Trong cơ cấu không gian đô thị, khu vực có địa hình cao, đồi
núi được dành cho các khu tôn giáo như ở thành phố Thebes Những kiến thức
thiên văn học đã được vận dụng trong nhận thức về cảnh quan đô thị, ví dụ như
việc bố trí các công trình đền đài trên 2 bên bờ sông Nil của thành phố Tepbo
“liên quan đến mặt trời mọc vào mùa hè, vào mùa đông, liên quan đến một số
sao trời” Đặc điểm YTTN cũng là cơ sở cho bố cục không gian Các cạnh dài
của đô thị có mạng không gian hình học luôn song song với đường đi của mặt
trời (thích ứng với điều kiện khí hậu), ví dụ như mạng không gian của thành
phố Kahun Đặc điểm địa hình là cơ sở của mạng không gian tự do như ở
thành phố Tel En Amana, trục không gian chính của thành phố là con đường
lớn rộng 60m chạy lượn theo sông Nil từ Nam lên Bắc
b- QHXD đô thị Lưỡng hà cổ đại:
Một số yếu tố cảnh quan tự nhiên là cơ sở cho việc chọn địa điểm xây
dựng đô thị như sông Ơ-phơ-rat đối với thành phố Babilon hoặc địa hình đồi
núi đối với thành phố Hafaga, Hattousa Yếu tố tự nhiên cũng quyết định giải
pháp tổ chức cơ cấu chức năng đô thị Ví dụ tiêu biểu là thành phố Babilon với
sông Ơ-phơ-rat chảy ở giữa chia thành phố làm 2 phần, đại lộ Rước lễ lớn nhất
chạy song song với sông, từ đó chia ra các đường nhỏ thành mạng lưới gần như
thẳng góc với nhau (Hình 1.02g) Một số đô thị có cấu trúc không gian tự do
phù hợp với đặc điểm địa hình đồi núi ví dụ như thành phố Hattousa và thành
phố Hafaga (Hình 1.02e và Hình 1.02h)
c- Đô thị Hy Lạp cổ đại:
Về lý luận, vai trò của các YTTN trong xây dựng đô thị thời này đã được
nhận thức khá đầy đủ, tiêu biểu như quan điểm của 2 triết gia nổi tiếng Plato:
(428-348 TrCN) và Aristotl (384 – 322 TrCN) về việc lựa chọn địa điểm xây
dựng đô thị “phải dựa trên hướng gió, các nguồn nước và tài nguyên yếu tố tự
nhiên, các thành phố nên có rừng” và “Vị trí thành phố không nên quá xa hoặc
Trang 9quá gần bờ biển Thành phố phải đón được hướng gió tốt (gió Đông hoặc có
thể hướng Bắc) và khai thác lợi dụng địa hình tốt cho các chức năng tôn giáo
và phòng thủ”
Thực tiễn xây dựng đô thị thời kỳ này "đa số các ĐT đều được chọn xây
dựng dưới chân núi, trong thung lũng hay gần biển" nhằm khai thác yếu tố địa
hình hoặc mặt nước, ví dụ như thành phố Aten, thành phố Pergame Trong tổ
chức cơ cấu, các khu có địa hình cao được dành cho chức năng tôn giáo như
Acropon ở thành phố Aten Bố cục không gian kiến trúc đô thị thời này có 2
dạng sơ đồ chính: ô cờ và tự do ở các đô thị có bố cục tự do, các đường phố,
những quảng trường công cộng cùng với các công trình kiến trúc được hình
thành trong sự kết hợp với địa hình tự nhiên, do đó các đô thị này thường có
các hình thái không gian rất đa dạng như ở TP Aten Đối với dạng cấu trúc
hình học, mặt bằng đô thị tuy có dạng ô bàn cờ nhưng cấu trúc tổng thể mặt
bằng (đường bao, đường phân chia các khu chức năng) vẫn tuân theo hình thể
tự nhiên của địa hình Các đường phố trực giao chủ yếu cũng theo hướng Bắc -
Nam, Đông - Tây đảm bảo cho các công trình xây dựng có được môi trường vi
khí hậu tốt Ví dụ đô thị Milet, thành phố Olymthe, thành phố Priene
d- Đô thị La M∙ cổ đại
Thời kỳ này, lý luận về kiến trúc được hoàn thiện thêm với "Mười cuốn sách
về kiến trúc " của Vitruvius ( Thế kỷ I CN), trong quy hoạch đô thị, ông đã sử
dụng hoa gió
Trong thực tiễn, vị trí xây dựng đô thị thường được chọn trên đỉnh đồi núi
hoặc các khu đất cao hơn xung quanh Bố cục mạng không gian cũng có 2
dạng Dạng quy tắc, dạng ô bàn cờ đều đặn, phát triển theo 2 trục đường chính
chạy theo hướng Bắc-Nam và Đông - Tây nhằm thích ứng với điều kiện khí
hậu Đặc điểm này thể hiện trong tổ chức không gian ở thành phố Trever, ở các
Trại lính La Mã mà sau này một số là tiền thân cho các thành phố Trung đại,
thành phố Timgad ở Algieri Loại tự do, xuất phát từ việc khai thác yếu tố địa
hình và mặt nước, ví dụ như cấu trúc không gian thành phố Rôma với việc khai
thác các ngọn đồi, thành phố Pompei, thành phố Constantinople
e- Đô thị Châu Âu trung cổ
Đây là thời kỳ mà kinh tế - xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của Giáo hội
Thiên chúa, Nhận thức về khai thác yếu tố tự nhiên vẫn là sự tiếp tục của truyền
thống HY - LA nhưng ở mức độ triệt để hơn trong khai thác cảnh quan cho
chức năng sử dụng của đô thị Vị trí xây dựng đô thị được phân bố rải rác
trong vùng nông thôn và thường chọn vị trí trên đồi cao (vì mục đích quân sự)
Không gian đô thị ít có dạng hình học mà chủ yếu tự do, nhằm khai thác, kết
hợp chặt chẽ và hài hoà với yếu tố địa hình của cảnh quan tự nhiên Các yếu tố
như đồi núi, bán đảo thung lũng được khai thác làm giới hạn và góp phần
định hình không gian kiến trúc cho đô thị QHXD đô thị Trung đại được đánh
giá là “thích ứng tinh vi với địa hình, khí hậu, góp phần tạo nên giá trị đặc sắc
của không gian kiến trúc đô thị Trung đại” Điển hình cho các đô thị thời kỳ
Trang 10này: Mont Sait Michel với việc khai thác cả quả đồi và mặt nước xung quanh
Hầu hết sự hình thành và phát triển các thành phố Châu Âu thế kỷ XIV đều gắn
liền với một con sông nhất định
g- Đô thị Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – XVI)
Thành tựu đáng kể của lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị là lĩnh vực
lý luận với các hình mẫu lý tưởng về QHXD đô thị Về nhận thức, vai trò các
yếu tố cảnh quan được coi trọng trong QHXD Leon Battista Alberty
(1404-1472), đã khẳng định “đô thị phải được thiết kế để thích ứng với các điều kiện
tự nhiên, vừa tiện dụng vừa đẹp Thành phố và môi trường xung quanh thành
phố như những thành phần hữu cơ phụ thuộc vào nhau, nghệ thuật xây dựng đô
thị không chỉ đóng khung trong những gì có ở bên trong tường thành phố mà
còn phải hoàn thiện ngoại vi thành phố, cải thiện khí hậu và tạo thành kiến
trúc phong cảnh
Do những điều kiện lịch sử , thời kỳ Phục hưng hầu như không có các
đô thị mới hoàn toàn được xây dựng trọn vẹn mà chủ yếu là cải tạo và xây dựng
các tổng thể kiến trúc trong các đô thị được xây dựng từ trước Các YTTN đặc
biệt là mặt nước được khai thác triệt để và khéo léo, tạo nên các di sản kiến trúc
ĐT như các TP Venis, Phloranxơ, Roma
h- Thời kỳ đô thị Barocco và Cổ điển châu Âu (thế kỷ XVII-XVIII)
Về lý luận, một số trào lưu tư tưởng thời kỳ này có ảnh hưởng tích cực
đến nhận thức và lý luận về đô thị nói chung cũng như khai thác yếu tố tự
nhiên trong QHXD đô thị nói riêng Tiêu biểu trong số đó là René Descartes
(1596-1650) Là một trong những người đặt nền tảng cho tư duy khoa học hiện
đại, quan điểm của ông trong thiết kế đô thị là "Thành phố không phải là kết
quả của ngẫu nhiên mà là của tư duy và ước muốn của con người " Tiêu biểu
cho thực tiễn QHXD đô thị thời kỳ này là Điện Versailes xây dựng vào thế kỷ
XVII ở Pháp Khai thác và sử lý bề mặt địa hình, kết hợp mặt nước nhân tạo,
cây xanh và các công trình kiến trúc - điêu khắc KTS Le Notre đã tạo nên một
tổng thể cảnh quan vườn - công viên hài hoà Sông Send và 2 khu rừng
Boulogne và Vincennes ở 2 đầu thành phố đã được Haussmann khai thác triệt
để trong quy hoạch cải tạo thành phố Paris của ông ở nước Nga, sông Neva
và vịnh Phần lan là yếu tố quyết định vị trí xây dựng một TP mở ra biển Bắc
của đế quốc Nga đang phát triển: TP Saint Peters-bourg Các YTTN cũng là
cơ sở cho bố cục không gian thành phố với việc khai thác đảo Vaxiliepxki, khai
thác ở nam sông Neva, xây dựng pháo đì Petropaplopxcaia, toà nhà Bộ Hải
quân cũng như mạng đường tán xạ hướng về mặt nước sông Neva ở Hà lan,
cơ cấu không gian thành phố Amsterdam là sự phát triển trên cơ sở hệ thống
kênh đào, tạo nên giá trị đặc sắc mà các giai đoạn quy hoạch xây dựng tiếp sau
vẫn khai thác phát huy
Trang 111.1.1.2- Đô thị Trung Hoa
a-Về lý luận
Là một trong những cái nôi văn minh của loài người, ở Trung hoa các
nguyên tắc TCKG kiến trúc nói chung và đô thị nói riêng được xuất phát từ
việc thích ứng với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kỹ thuật vật liệu xây dựng, vừa
đáp ứng về chức năng hoạt động đồng thời vừa chịu ảnh hưởng và là phương
tiện biểu hiện các quan niệm, tư tưởng của văn hoá nhận thức và tổ chức xã hội
Các nguyên tắc này được hình thành gắn với nguyên lý của triết lý âm dương –
ngũ hành, tạo nên một lý thuyết khá hoàn chỉnh: Phong thuỷ (hay thuyết Địa
lý) Thuyết Phong thuỷ được vận dụng trong xây dựng từ kiến trúc cho người
sống như nhà cửa, làng xóm, đô thị (dương trạch) cho đến lăng mộ (âm trạch)
Hầu hết việc xây dựng các đô thị nổi tiếng của Trung hoa thời cổ trung đại đều
ít nhiều liên quan đến việc vận dụng các nguyên tắc của thuyết Phong thuỷ
Tiêu biểu là kinh đô Trường An, Bắc Kinh, Nam Kinh …
Thông qua hệ khái niệm trong Phong thuỷ như Khí, Long, Huyệt, Sa,
Thuỷ, Hướng có thề thấy Phong thuỷ chính là khía cạnh khai thác YTTN trong
TCKH kiến trúc nói chung và xây dựng đô thị nói riêng
- Khái niệm “khí”: trong thuyết Phong thuỷ khái niệm Khí chính là khái niệm
Khí theo văn hoá nhận thức truyền thống Trung hoa, không chỉ biểu thị các
yếu tố khí hậu (gió, mưa, nắng, độ ẩm ) mà còn thể hiện thành phần không
cảm nhận được mà theo triết học cổ chính là bản nguyên của thế giới vạn vật
- Khái niệm “sơn long” và “sa”: theo Phong thuỷ, Sơn long là mạch lạc của núi
(khái niệm “Mạch” là nguồn gốc), đất là thịt của long, đá là xương, thảo mộc là
râu tóc của Long Sa là các núi nhỏ (tiểu sơn) tuỳ theo tương quan vị trí mà có
các tên gọi là Thanh long (phương Đông) Chu tước (phương Nam), Huyền vũ
(phương Bắc), Bạch hổ (phương Tây) Hoặc mức độ xa gần, lớn nhỏ như: án
sơn là núi nhỏ che phía trước, Triều sơn là các núi phía trước khu đất xây
dựng nhưng to lớn và xa hơn án sơn … Như vậy, thực chất các khái niệm này
biểu hiện các yếu tố địa hình, địa chất, đất và thực vật của cảnh quan tự nhiên
- Khái niệm thuỷ long và thuỷ khẩu: theo Phong thuỷ, Thuỷ long là hệ thống
lưu vực sông ngòi, thuỷ khẩu là dòng nước chảy vào và ra tại khu vực Như vậy,
khái niệm thuỷ chính là biểu hiện yếu tố mặt nước của cảnh quan tự nhiên
- Khái niệm Huyệt: theo Phong thuỷ, Huyệt là nơi tụ “khí”, tức là vị trí, là nơi
mà “khí” có tác dụng tốt nhất đối với con người Theo quan niệm hiện đại thì
là nơi có môi trường khí hậu và hệ sinh thái tốt cho sức khoẻ vật chất – tinh
thần đối với con người
- Khái niệm Hướng: theo Phong thuỷ, có các hướng mộc, hoả, kim, thuỷ hoặc
càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài Thực chất đây là các hướng Đông
(mộc, chấn)- Tây (kim, đoài) - Nam (hoả, ly) - Bắc (thuỷ, khảm) và Đông Nam
(tốn), Tây Nam (Khôn), Đông Bắc (cấn), Tây Bắc (càn) đối với vị trí người
quan sát
Trang 12Theo Phong thuỷ, giữa các yếu tố tự nhiên có mối quan hệ đồng nhất với
vai trò quyết định của yếu tố Khí, các yếu tố khác chỉ là biểu hiện của Khí và
ngược lại Do có đặc điểm tự nhiên (long, thuỷ) khác nhau mà mỗi vị trí khác
nhau sẽ có chất lượng môi trường khí tốt xấu khác nhau (đối với con người)
Cùng một vị trí nhưng ở các hướng khác nhau, môi trường khí của công trình
kiến trúc cũng có chất lượng khác nhau đối với cuộc sống con người
Hoạt động tổ chức không gian kiến trúc trên cơ sở khai thác yếu tố tự
nhiên thể hiện qua các khái niệm: mịch (tìm) Long, sát (xem xét) Sa, quan
(quan sát) Thuỷ,
- Mịch long là tìm tổ tông cha mẹ, xét khí mạch và phân biệt sinh khí âm
dương Tổ tông của núi là nơi xuất sứ của sơn mạch, là nơi khởi nguyên của
dãy núi Cha mẹ là phần đầu của sơn mạch Xét khí mạch là xem sơn mạch liền
hay đứt quãng … như vậy mịch long là đánh giá đặc điểm các yếu tố địa hình
- địa chất, đất, thực vật
- Quan thuỷ là quan sát hình thái dòng nước (thẳng/cong, rộng/hẹp, trong/đục,
nông/sâu, vuông/méo …) làm cơ sở đánh giá chất lượng yếu tố nước
- Điểm huyệt là từ các đặc điểm của các yếu tố tự nhiên (Long, Sa, Thuỷ) mà
tìm ra vị trí thích hợp cho việc xây dựng công trình, nơi có môi trường khí hậu
tốt nhất cho cuộc sống con người (sinh khí)
- Lập hướng là chọn hướng cho công trình xây dựng sao cho tạo được môi
trường khí hậu có lợi nhất đối với con người
Về phương pháp, Phong thuỷ có 2 trường phái chính là Hình pháp và lý
pháp Theo các nhà nghiên cứu về Phong thuỷ thì Hình pháp là quan sát kết cấu
đất và nước xung quanh công trình kiến trúc để làm cơ sở bố cục kiến trúc Lý
pháp là dựa vào 2 phương diện thời gian và không gian để khảo sát quan hệ
giữa con người và môi trường
Như vậy, thực chất của Phong thuỷ chính là khía cạnh khai thác YTTN
trong TCKG kiến trúc: thông qua đặc điểm YTTN để tìm vị trí và xác định
hướng cho công trình kiến trúc (cho đến cả cụm, quần thể và tổng thể đô thị)
sao cho có lợi nhất đối với hoạt động và sức khoẻ con người
b- Về thực tiễn
+ Về lựa chọn vị trí xây dựng đô thị,
Vị trí xây dựng các đô thị cổ - trung đại của Trung hoa trong mối tương
quan với yếu tố tự nhiên được tổng kết thành các loại sau:
- Loại quần sơn vây quanh, các công trình kiến trúc đều dựa theo thế núi
mà xây dựng thành các tầng lớp khác nhau (yếu tố nước vẫn có nhưng nằm
trong đô thị và chỉ là các mạch nước , hồ nước nhỏ )
- Loại 3 mặt là núi, một mặt là sông
- Loại dựa núi kề sông
Trang 13- Loại thuỷ khẩu giao nhau (các ngã 3 sông, các vị trí sông đổ ra biển
hoặc hồ lớn
- Loại kề bên nước (cạnh hồ, biển)
Ví dụ cụ thể như kinh thành Bắc kinh với vị trí địa lý nằm giữa Bình
Nguyên Hoa Bắc, được bao bọc bởi các dãy núi Yên sơn (phía Tây Bắc), núi
Thái hoàng (Tây Nam), bình nguyên Hoa bắc (phía Nam) và phía Đông là vịnh
Bột Hải, tạo cho Bắc kinh có địa thế “phía bắc dựa vào núi non hiểm trở, phía
Nam khống chế bình nguyên” Thành Trường An được xây dựng thời Nhà Tùy
(phía Đông Nam thành phố cũ) có địa thế dựa lưng vào Long thủ sơn và 3 mặt
tiếp xúc với sông nước Thành Lạc Dương có vị trí "Bắc giáp Mãng Sơn, Nam
liền với Lạc Thuỷ, Đông áp sát Giang Hoài, tây kẹp Quan Lũng"
+ Về tổ chức cơ cấu chức năng đô thị, các đô thị Trung hoa hầu hết là mô
hình tập trung kiểu “tam trùng thành quách” nhưng tuỳ theo đặc điểm cảnh
quan tự nhiên mà theo dạng quy tắc hay bất quy tắc Loại cơ cấu quy tắc với
phần Đô nằm ở trung tâm, xung quanh là phần Thị thường được sử dụng tại
khu vực có địa hình bằng phẳng Ví dụ như Kinh thành Trường an, kinh thành
Bắc kinh Loại cơ cấu bất quy tắc thường sử dụng ở đô thị có địa hình phức
tạp, phần Đô không nằm ở trung tâm mà chọn vị trí có địa hình cao, các khu
Thị phân bố tự do nhằm khai thác tốt các yếu tố cảnh quan địa hình - mặt
nước Ví dụ như thành Hàng châu Việc phân khu chức năng với khu Đô được
ưu tiên nhất đã biểu hiện tư tưởng xã hội tập trung quân chủ của thời kỳ này
+ Về bố cục không gian kiến trúc
Sơ đồ mạng không gian đô thị truyền thống Trung hoa cũng có 2 dạng
bố cục chính là hình học và tự do Một trong những cơ sở cho việc sử dụng
một trong hai dạng bố cục này là dựa trên yêu cầu thích ứng và khai thác cảnh
quan tự nhiên mà quan trọng nhất là sự phù hợp với địa hình và mặt nước: ở
vùng địa hình bằng phẳng (miền Bắc) không gian đô thị thường bố cục vuông
vức, các trục không gian trực giao theo hướng Đông – Tây, Bắc – Nam tạo môi
trường khí hậu tốt, tiêu biểu là sơ đồ mạng không gian kinh đô Bắc kinh và
Tràng an
ở miền Nam, địa hình phức tạp chính là một trong những cơ sở hình
thành nên đô thị có mạng không gian tự do, bố cục không theo quy tắc, lựa
theo thế đất đồi núi mà bố trí, ví dụ như thành Lâm an (Hàng châu) nổi tiếng
về việc kết hợp các yếu tố cảnh quan thiên nhiên như núi Phượng hoàng, sông
Tiền đường, Tây hồ trong bố cục không gian Thành Bình giang (nay là Tô
châu) cũng có cảnh quan trữ tình: Thành phố có một mạng lưới kênh đào chảy
qua bên trong nhưng đã kết hợp và thích ứng được với mạng phố phường hình
chữ nhật Thành phố Nam kinh nằm ở hạ lưu sông Trường giang, có cấu trúc
không gian tự do uốn lượn dọc theo đồi núi sông hồ Vẻ đẹp hào hoa của thành
phố chủ yếu là dựa trên việc khai thác các sông nhánh, đồi núi
Trang 141.1.2- vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị thế giới
cận hiện đại
1.1.2.1- Vấn đề khai thác YTTN trong lý luận QHXD đô thị
a- Lý luận quy hoạch đô thị vệ tinh và thành phố vườn
Howard (1850-1928) trên cơ sở phê phán thành phố công nghiệp đã đề xướng
ý đồ tư tưởng về thành phố vườn và thành phố vệ tinh với các đặc điểm tổ chức
không gian là:
- Phân bố dân cư thành từng đơn vị (quy mô 32000 người), tập trung
xung quanh thành phố mẹ có quy mô lớn hơn (58000 người), liên hệ bằng giao
thông nhanh
- Thành phố được bao quanh bởi các khu cây xanh và đất đai sản xuất
nông nghiệp
Thực tế đã có 2 đô thị được xây dựng theo lý thuyết này, đó là thành phố
vườn Letchworth xây dựng 1903 và Welwyn ở Pháp
- Raymong Unvin thông qua cuốn sách "Thực tiễn quy hoạch đô thị" xuất bản
năm 1922, đã đặt cơ sở cho lý thuyết quy hoạch đô thị theo mô hình thành phố
vệ tinh: Một thành phố chính với mạng lưới các thành phố nhỏ bao xung quanh
cách thành phố chính khoảng 40 - 50 Km
Như vậy, vấn đề tăng cường mối quan hệ giữa ĐT với các yếu tố tự
nhiên là một cơ sở hình thành mô hình thành phố vườn và thành phố vệ tinh:
bố trí phân tán các ĐT quy mô nhỏ trong vùng sản xuất nông nghiệp và cây
xanh
b- Lý thuyết thành phố công nghiệp của Tony Garnie
Trên cơ sở coi tính chất sản xuất công nghiệp là động lực cho xuất hiện
và phát triển đô thị Tuy nhiên Ông thể hiện quan điểm không nên xây dựng
thành phố quá lớn ( quy mô 35 ngìn dân) Gacnie đề xuất phương án cơ cấu
thành phố, trong đó bố trí hợp lý rõ ràng các khu nhà ở, khu công nghiệp, khu
vực giải trí, giao thông vận tải và các hệ thống cây xanh gần như song song với
nhau để khi cần thiết phát triển thì các yếu tố cùng được mở rộng theo một
hướng song hành (Đây chính là khởi đầu cho các ý tưởng về thành phố tuyến)
đưa hệ thống cây xanh thành một thành phần trong cơ cấu không gian thành
phố và bố trí các khu chức năng phù hợp với điều kiện khí hậu và cảnh quan
trong
c- Lý thuyết quy hoạch thành phố tuyến và dải
- Lý thuyết thành phố tuyến của Soria y Mata (1844-1921): ý đồ tổ chức không
gian đô thị dọc theo trục giao thông chính với chiều dài không hạn chế, chiều
rộng của dãy công trình 2 bên khoảng vài trăm mét Nhà ở dạng thấp tầng có
vườn riêng Sơ đồ này đã đưa đô thị tiếp cận nhiều hơn với thiên nhiên, phát
Trang 15huy ưu điểm của hình thức thôn xóm mà vẫn gắn liền với các điều kiện kỹ
thuật đô thị hiện đại
- Lý thuyết thành phố dải: Sơ đồ này đã được Milutin áp dụng cho quy hoạch
thành phố Stalingrat năm 1930 và thành phố Novgorod KTS Le Coorbusier
cũng đưa ra sơ đồ thành phố công nghiệp theo mô hình dải vào năm 1942 Các
công trình được tổ chức thành từng dải chức năng khác nhau dọc theo trục giao
thông chính được trang bị đầy đủ các công trình kỹ thuật đô thị Chiều rộng
được khống chế còn chiều dài phát triển tuỳ theo yêu cầu của đô thị
Như vậy với việc thu hẹp chiều ngang, kéo dài thành phố dọc theo trục
giao thông – kỹ thuật hoặc các trục cảnh quan lớn như dòng sông, bờ biển,
thung lũng, mô hình thành phố tuyến và dải đã tăng cường khả năng khai thác
các YTTN so với cơ cấu tập trung
d- Lý thuyết quy hoạch ĐT theo đơn vị
Khái niện về "Đơn vị ở láng giềng" được C Perry đề xuất năm 1922 và
"Hệ thống Radburn" được C.Stein và Henry Wright xây dựng trên thực tế năm
1928 Đây là hai mô hình khởi đầu cho lý thuyết về quy hoạch đô thị theo đơn
vị Yếu tố thiên nhiên đã được chú trọng thông qua việc để dành một diện tích
đáng kể cho cây xanh và không gian sân bãi bên trong đơn vị ở Với hình thể
tương đối tự do, có thể chủ động trong khai thác lợi dụng các yếu tố thiên
nhiên, mô hình này có nhiều ưu điểm trong tổ chức không gian cảnh quan Lý
thuyết này được phổ biến rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là các nước XHCN đã
tìm thấy ở lý thuyết này sự phù hợp với tư tưởng của Chủ nghĩa xã hội Mô
hình tiểu khu và khu nhà ở đã được xây dựng nhiều ở Liên Xô và các nước
XHCN cũng như Việt Nam (như ở Hà Nội là các tiểu khu Kim Liên, Nguyễn
Công Trứ, Giảng Võ, Trung Tự, Thành Công, Vĩnh Hồ )
Như vậy, khía cạnh khai thác YTTN trong QHXD theo mô hình này là
phân chia không gian ĐT thành các đơn vị và để dành một diện tích đáng kể
cho cây xanh và không gian sân bãi bên trong đơn vị cũng như sử dụng các
yếu tố địa hình và mặt nước bên ngoài làm thành ranh giới và chuyển tiếp
không gian giữa các đơn vị
e- Lý luận đô thị của Le Corbusier:
Là một đại diện tiêu biểu cho trào lưu kiến trúc và quy hoạch đô thị chức
năng, qua các tác phẩm: "Tiến tới một nền kiến trúc" năm 1923, "Quy hoạch
đô thị của 3 cơ sở con người" năm 1959, "Quy hoạch đô thị" năm 1925, "Thành
phố tươi sáng" năm 1935, "Hiến chương Athenes" năm 1943 Quan điểm của
Ông là hướng tới sự hoàn mỹ trong quy hoạch đô thị bằng các toà nhà tháp rải
rác trong vòm cây xanh Do ảnh hưởng của yêu cầu vệ sinh, ông chủ trương
thành phố sẽ biến từ từ thành một thành phố - vườn hoa theo chiều cao Đặc
điểm các phương án quy hoạch đô thị của ông là sử dụng cấu trúc trực giao và
ô vuông, chữ nhật, coi trọng yếu tố thiên nhiên và cây xanh Ông đã đưa ra mô
hình quan hệ tay ba giữa đô thị - các điểm dân cư nông thôn và vùng trồng trọt
Trang 16Như vậy, Tư tưởng của Le Corbusier là tăng cường khai thác các yếu tố
cảnh quan như môi trường khí hậu, cây xanh phục vụ cho cải thiện điều kiện
vệ sinh và sức khoẻ cho dân cư đô thị
g- Quan niệm động về phát triển đô thị:
Quan điểm động về đô thị đó là “thành phố không thể coi là khối lượng
vật chất cố định bất biến mà phải được coi là một cơ thể sống” Khởi đầu của
quan điểm này trong quy hoạch đô thị hiện đại là N.A Ladovxki với việc đề
xuất sơ đồ cơ cấu quy hoạch thành phố Moxkva của công bố 1930-1933 Quan
niệm động về đô thị được Đôxiadis (KTS Hy lạp) nâng lên thành “Lý thuyết đô
thị động” Trong mô hình đô thị động này yếu tố thiên nhiên đã không phải là
yếu tố chủ yếu quyết định hướng phát triển đô thị
Cũng quan niệm động về phát triển đô thị nhưng có một cách giải quyết
khác, đó là nghiên cứu của Botxatop (Liên xô cũ) Với nhận xét sự hình thành
phát triển đô thị là cả một quá trình lâu dài, chịu sự tác động thường trực của
các điều kiện kinh tế, xã hội, kỹ thuật Botxarov đã đề ra một cách phát triển đô
thị như sau: Khi xây dựng đô thị không nên bắt đầu từ trung tâm thành phố
Tiểu khu đầu tiên sẽ có trung tâm công cộng của nó mà cũng là trung tâm của
đô thị mới xuất hiện Đến khi thành phố có một khu nhà ở thì trung tâm công
cộng thành phố chính là trung tâm công cộng khu ở đó Cứ thế tiếp tục và cuối
cùng là trung tâm công cộng chung của đô thị sẽ được xây dựng giai đoạn cuối
để có thời gian lường hết các đổi thay có thể xảy ra
Như vậy, theo cách quan niệm này, đô thị sẽ phát triển dần dần theo thời
gian từ các đơn vị và do đó sẽ có khả năng khai thác, lợi dụng các yếu tố thiên
nhiên trong quá trình xây dựng
h- Frank Lloy Wright (1863-1959) với mô hình thành phố phân tán:
Xuất phát từ quan điểm tôn trọng và đánh giá cao vai trò của thiên nhiên,
Wight đã đề xuất quan điểm kiến trúc hữu cơ với nguyên tắc cơ bản là mối liên
hệ kiến trúc với thiên nhiên, sự gắn bó và hướng về tự nhiên lớn của kiến trúc
Theo Ông, kiến trúc phải mô phỏng thiên nhiên, đề cao tính tự nhiên, tính
nguyên thuỷ, tính trữ tình, tính địa phương và sự đa dạng hoá không cùng (của
tự nhiên) Hữu cơ là sự cấu thành vật chất của giới tự nhiên và sinh vật trong
giới tự nhiên và kiến trúc hữu cơ là sáng tạo kiến trúc dựa trên quan điểm hữu
cơ của tự nhiên, là xét đến sự phụ thuộc của thành phần vào tổng thể và ngược
lại Wight quan niệm về thiên nhiên: Không phải chỉ những gì bao quanh
chúng ta, chỉ là mây, cây cối, mưa, gió, đất và cuộc sống sinh vật mà còn phải
có một thiên nhiên vật chất và tình cảm, một công cụ của con người gắn với nội
tâm, một thiên nhiên của con người bên trong thiên nhiên lớn Ông coi trọng
cảnh quan đến mức đặt mặt đất, phong cảnh và khí hậu lên bình diện đầu tiên
Đối với quy hoạch xây dựng đô thị, Ông cho rằng đô thị đã trở thành trại
giam của tâm hồn Quan điểm của Ông là phân tán các chức năng đô thị vào
trong thiên nhiên dưới dạng các đơn vị nhỏ Phát huy tác dụng của vị trí, sự đa
dạng của địa hình Để cụ thể hoá quan điểm đó, cùng với các học trò, Ông đã
Trang 17đề xuất một đồ án "Đô thị phân tán" có tên là “Broadacro City” Là một thành
phố kết hợp các thành phần nông thôn vào và đô thị, kề bên tòa Thị chính là
trang trại có hoa và cánh đồng Một số lượng lớn dân cư đô thị vẫn ở theo mô
hình trang trại (số người ở trong các trang trại lên đến 1800 người)
Như vậy, quan điểm khai thác triệt để tự nhiên, công trình - đô thị phải
gắn bó, hoà nhập với môi trường cảnh quan tự nhiên là tư tưởng chủ đạo của
Ông
i- Kurokawa với Hệ thống triết học mang tên là Cộng sinh
Đó là "sự cộng sinh giữa kiến trúc và thiên nhiên , sự cộng sinh giữa con
người và kỹ thuật, sự cộng sinh giữa các nền văn hoá, sự cộng sinh giữa quá
khứ và hiện tại, sự cộng sinh giữa nội và ngoại thất, sự cộng sinh giữa kiến trúc
bản xứ và kiến trúc thuần tuý, sự cộng sinh giữa tượng trưng và ý nghĩa "
Như vậy, sự "cộng sinh"giữa thành phần nhân tạo với tự nhiên và có
tầm quan trọng đặc biệt, nằm ở vị trí đầu tiên trong quan điểm của Ông về vấn
đề kiến trúc và QHXD đô thị
1.1.2.2- Vấn đề khai thác YTTN trong thực tiễn QHXD đô thị hiện đại
Giai đoạn hiện đại, các YTTN vẫn được khai thác cho các chức năng của
không gian đô thị phù hợp với điều kiện phát triển của thời hiện đại Một số đô
thị mới được xây dựng trong giai đoạn hiện đại đã đạt được chất lượng cao về
khai thác YTTN, ví dụ như:
a- Thành phố Luân Đôn: nhằm khắc phục tình trạng phát triển quá mức về
quy mô, Abecrombi đã quy hoạch một vành đai cây xanh xung quanh thành
phố góp phần tăng cường thành phần thiên nhiên trong không gian đô thị
b- Quy hoạch thành phố Amsterdam đã thể hiện sự độc đáo của giải pháp
khai thác mặt hồ nước cho xây dựng với việc phát triển các đơn vị nhà ở mới về
phía đông
c- Thành phố vườn Letchworth xây dựng 1903 và Welwyn ở Pháp được xây
dựng theo mô hình thành phố vườn và vệ tinh, kết hợp tốt giữa công trình kiến
trúc với địa hình và cây xanh Ưu thế của mô hình này còn được vận dụng
nhiều ở nước Anh sau này, ví dụ như thành phố Harlou, Cumbecnau
d- Thành phố Canbera ở úc: thành phố được chọn xây dựng tại khu vực có
điều kiện không chỉ thuận lợi cho xây dựng mà có phong cảnh đẹp Trên cơ sở
đặc điểm các quả đồi và hồ nước mà cơ cấu không gian ĐT được tổ chức thành
7 đơn vị bố trí phân tán trên các quả đồi, khu cây xanh nghỉ ngơi nằm dưới
thung lũng, xung quanh các mặt nước Mạng không gian kiến trúc ĐT hình
thành trên cơ sở nối kết không gian ĐT với các yếu tố địa hình, mặt nước
e- Thành phố Braxilia: Việc khai thác các yếu tố tự nhiên (hướng nắng, hồ
nước) là một trong những cơ sở cho hình thể độc đáo như một chiếc máy bay
của thành phố: Trục chính của thành phố hướng về trung điểm của hồ nước lớn
Trang 18phía đông, các nhánh của hồ nước ôm sát 2 đầu cánh của thành phố tạo nên sự
hoà hợp tương đối cao giữa thành phố và tự nhiên
g- QHXD thành phố Tolyatti đã ứng dụng mô hình cơ cấu ĐT mềm dẻo và
giải pháp quy hoạch dựa trên đặc điểm tự nhiên: Hệ thống môdun cơ sở của cấu
trúc thành phố xuất phát từ quy mô các bộ phận trong môi trường thiên nhiên
Mạng lưới chính là 5x5 Km được chọn vì “phù hợp với cơ cấu đất đai của nhà
máy ô tô và quy mô của từng ngọn đồi”
Là một thành phố dải, nằm kẹp giữa bờ vịnh biển và địa hình núi Sau
trận động đất 1995 , thành phố được cải tạo và phát triển các đơn vị đô thị bố
trí phân tán trên núi và mặt biển Các đơn vị ĐT này không thuần tuý một chức
năng mà thường là hỗn hợp, kể cả các khu đảo nhân tạo trên biển, ngoài chức
năng chính là công nghiệp và cảng vẫn có khu ở, cây xanh
i- Thành phố Hồng kông:
Là một đô thị phát triển vào loại sớm nhất ở châu á, tổ chức không gian
đô thị hoàn toàn du nhập kiểu tổ chức không gian đô thị của Mỹ, lấy kỹ thuật
làm sức mạnh Tất cả các khoảng đất hiếm hoi tiếp giáp với mặt vịnh thuận lợi
cho xây dựng đều bị phủ kín bởi những cái hộp giống hệt nhau từ Tây sang
Đông Theo đánh giá của các nhà kiến trúc, tổ chức không gian đô thị ở đây đã
phá vỡ mối liên kết vốn có giữa con người và thiên nhiên, con người và con
người Sau những năm 90, đã có những cải biến trong tổ chức không gian đô thị
với việc chú ý hơn đến cảnh quan tự nhiên, đưa một số khu xây dựng phân tán
trong các thung lũng và sườn núi phía trong
1.1.2.3- Ví dụ cụ thể về khía cạnh khai thác YTTN trong đồ án QHXD
TP Matxcơva và Sinhgapo
a- Khai thác yếu tố tự nhiên trong Quy hoạch thành phố Matscơva
Matscơva - thủ đô của Liên Bang Nga, một thành phố Thủ đô được quy hoạch
và quản lý quy hoạch xây dựng, bảo vệ môi trường vào loại tốt của thế giới Kế
thừa các thành tựu của giai đoạn trước, năm 1999 Chính phủ Liên Bang Nga đã
phê duyệt đồ án quy hoạch chung phát triển TP Matscơva đến năm 2020, trong
đó nội dung bảo vệ và khai thác cảnh quan tự nhiên khá đậm nét, thể hiện qua
các mục tiêu, biện pháp, tiêu chí như:
+ Một trong những Mục tiêu chính phát triển xây dựng đô thị M - phát triển
bền vững thành phố và hình thành môi trường sống thuận lợi cho các thế hệ dân
cư M hiện tại và tương lai đó là An toàn sinh thái môi trường sống và bền
Trang 19• Làm tăng sự muôn vẻ của thảm thực vật, động vật và hệ sinh thái bền
vững;
• Làm tăng diện tích đất đai của tổ hợp tự nhiên từ 34 đến 40 m2/ đầu
người M, trong đó đất đai cây xanh sử dụng chung từ 17,3 đến 24 m2/người
+ Những yêu cầu sinh thái cơ bản cho phát triển xây dựng đô thị M, là:
• Làm trong lành triệt để môi trường sống ở các khu chưa có tiện nghi
sinh thái bền vững, trước hết ở các khu trung tâm
• Bảo vệ các tổ hợp thiên nhiên trên lãnh thổ hiện hữu khỏi tác động bất
lợi của con người, thực thi các biện pháp về phục hồi và tái tạo tổ hợp thiên
nhiên của lãnh thổ xây dựng do hậu quả các hoạt động kinh tế, cũng như hình
thành các mảng xanh mới và bảo vệ các vùng nước mặt
• Nâng cao tiện nghi môi trường sống, trong đó bằng cách lục hoá lãnh
thổ và cải thiện điều kiện vi khí hậu ở các khu ở và các khu công cộng thành
phố
Nội dụng bảo vệ và khai thác cảnh quan tự nhiên được lồng ghép vào các
chương trình viễn cảnh và quy hoạch đợt đầu phát triển kết cấu hạ tầng thành
phố, gìn giữ và phát triển lãnh thổ của tổ hợp thiên nhiên, cải tạo các khu ở và
tổ chức lại các khu sản xuất, phát triển các trung tâm công cộng, sự nghiệp và
văn hoá, các công trình du lịch và nghỉ ngơi, hoàn thiện xây dựng đồng bộ và
tổ chức thẩm mỹ môi trường thành phố, lập và thực hiện các kế hoạch xây dựng
đô thị phát triển lãnh thổ vùng hành chính, các quận và các đơn vị lãnh thổ
khác của Matscơva, các đồ án quy hoạch chi tiết và đồ án xây dựng từng khu
thành phố
Chi tiết xem Phụ lục 1
b- Khai thác yếu tố tự nhiên trong thực tiễn quy hoạch và phát triển thành
phố Sinhgapo:
Quá trình QHXD và phát triển Singgapo có thể được coi là một điển hình
thành công của việc tổ chức mối quan hệ nhân tạo – tự nhiên trong không gian
ĐT Là một ĐT xây dựng trên toàn bộ hòn đảo rộng 600 Km2 Sau thời kỳ đầu,
thành phố có cấu trúc tập trung và phát triển lan toả dần ra xung quanh, sau
quy hoạch 1958, chuyển sang xây dựng các khu ĐT mới phân tán ra ngoại đô
Các khu ĐT này mang hình thái ĐT vườn, kiểu đang thịnh hành ở nước Anh và
được thiết kế tổng thể hoàn toàn phù hợp với khí hậu nhiệt đới biển ở đây Các
khu đô thị mới được phân tán ra vùng ngoại đô Các khu ở ổ chuột trong nội
đô được thay thế bằng các khu cây xanh, mặt nước tạo thành các lá phổi nhỏ
ngay trong nội đô
Chi tiết xem Phụ lục 2
Trang 201.2- vấn đề Khai thác yếu tố tự nhiên trong quy hoạch
xây dựng đô thị Việt Nam
1.2.1- khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ trung đại
1.2.1.1- Vấn đề khai thác YTTN trong lý luận QHXD đô thị
Trong quá trình giao lưu văn hoá với Trung hoa thời cổ trung đại (giai
đoạn lịch sử từ trước đến thế kỷ XIX, khi đất nước bị Pháp đô hộ), Việt Nam đã
tiếp thu thuật Phong thuỷ và vận dụng trong kiến trúc nói chung và tổ chức
không gian ĐT nói riêng Trong "Bản sắc văn hoá Việt Nam", GS Phan Ngọc
đã đề cập đến thực tế này: "Học thuyết này (Phong thuỷ ) du nhập vào Việt
nam rất sớm ảnh hưởng của Phong thuỷ thấy rất rõ trong việc định đô, tức
chọn đất thích hợp để dựng kinh đô Trong thư mục Hán Nôm của Viện Hán
Nôm có đến 70 quyển về Phong thuỷ chứng tỏ người Việt ham và tin Phong
thuỷ " [48,356] ảnh hưởng của phong thuỷ đối với kiến trúc truyền thống Việt
Nam cũng được các nhà nghiên cứu về kiến trúc khẳng định như GS Ngô Huy
Quỳnh trong "Tìm hiểu lịch sử Kiến trúc Việt nam", PGS Vũ Tam Lang trong
"Kiến trúc cổ Việt nam", Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng trong "Mỹ thuật
của Người Việt", Chu Quang Trứ trong "Kiến trúc dân gian truyền thống Việt
nam", Viện Sử học trong "Đô thị cổ Việt nam", Nguyễn Khắc Đạm trong
"Thành cổ Việt nam "Nguyễn Bá Lăng trong sách "Kiến trúc Phật giáo Việt
nam" … Như vậy về lý luận, quy hoạch xây dựng ĐT Việt Nam giai đoạn cổ
- trung đại đã sử dụng thuyết phong thuỷ Trung hoa trong trong nhận thức và
giải pháp TCKG đô thị
Việc vận dụng các nguyên tắc Phong thuỷ đạt tới mức khá hoàn thiện
trong xây dựng kinh đô Phú Xuân Địa điểm Kinh đô Huế được các sử quan
Triều Nguyễn đánh giá vừa theo cách nhìn chiến lược vừa theo cách nhìn của
Phong thuỷ "Nơi miền núi miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam miền
Bắc, đất cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thuỷ thì có cửa Thuận an, cửa
Tư hiền, đường bộ thì có Hoành sơn, ải Hải vân chặn ngăn; sông lớn giăng
phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững trãi, ấy là
do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua " [83, 310-311] Về không
gian toàn vùng, kinh đô Phú xuân không được vị thế tốt như Phong châu, Cổ
loa, Thăng long nhưng trong không gian cụ thể của khu vực thì đáp ứng được
các tiêu chí của phong thuỷ:
- Vị trí xây dựng nằm trên khu đất được bao bọc bởi nhiều tầng mặt nước: sông
Hương và sông Kim long, Bạch yến, An cựu
- Chủ sơn là núi Kim long, nằm về phía Tây có đỉnh cao nhất vùng
- Minh đường: là khu vực phía Nam kinh thành cho đến chân núi Ngự bình,
khu rộng vừa phải (khoảng 3 Km về phía Nam) thời điểm đó còn là vùng đất tự
nhiên, thoáng rộng
- Thuỷ khẩu: là đoạn sông Hương phía trước Kinh thành, một con sông có vẻ
đẹp thơ mộng trữ tình, dòng chảy đoạn phía trước Kinh thành êm đềm phẳng
Trang 21lặng, mặt nước trong sáng như một tấm gương, đoạn trước kinh thành không
thẳng mà hơi cong, ôm vòng lấy toàn bộ kinh thành, khi qua Kinh thành thì
quanh lại ôm lấy cạnh phía Đông Bắc Sông Hương kết hợp với sông An cựu,
sông Hộ thành tạo thành nhiều tầng lớp thuỷ khẩu, đáp ứng đúng các yêu cầu
về mặt nước theo nguyên lý của phong thuỷ Nguyên lý TCKG theo thuyết
Phong thuỷ cũng được vận dụng trong bố cục không gian kiến trúc: Trục không
gian chủ đạo (thần đạo) là toạ Càn, hướng Tốn (hướng Tây Bắc - Đông Nam) là
hướng tốt theo nguyên lý Phong thuỷ Phía trước có án sơn là núi Ngự bình, hai
bên có 2 cồn đất đóng vai trò Thanh long (cồn Hến) – Bạch hổ (cồn Dã viên)
Mặc dù xây dựng theo mô hình VauBan nhưng bố cục mạng không gian về cơ
bản vẫn là theo nguyên lý truyền thống (Nếu lấy 4 trục đường nối với 4 cổng
chính của thành thì thấy đây chính là sơ đồ cửu cung với đặc điểm trung cung
có cạnh dài gấp đôi các ô xung quanh) Không gian trọng tâm chính là khu
Hoàng thành và Tử cấm thành
Việc vận dụng thuyết Phong thuỷ ở Việt Nam không máy móc dập
khuôn mà có sự sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của cảnh quan Mô hình
“dựa núi” ở Thăng Long chỉ là tượng trưng bởi đây là vùng cảnh quan đồng
bằng thấp, các dãy núi gần nhất là Ba vì, Tam đảo cách xa hơn 30 Km đường
chim bay Trục “thần đạo” của kinh đô Phú Xuân không theo hướng chính
Bắc - Nam như nguyên tắc Phong thuỷ “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên
hạ” (vua quay mặt về phương nam để nghe thiên hạ tâu bày) mà là hướng Tây
Bắc - Đông Nam, là hướng phù hợp nhất điều kiện địa hình – mặt nước là núi
Ngự bình (tiền án) và sông Hương, đồng thời là hướng tạo được môi trường
khí hậu tốt hơn cả cho bố trí các công trình kiến trúc
Như vậy, với việc vận dụng thuyết Phong thuỷ, nhận thức về YTTN
trong TCKG đô thị dựa trên cơ sở tư tưởng hài hoà - thống nhất giữa yếu tố
tự nhiên và nhận thức Việc vận dụng lý luận Phong thuỷ trong QHXD đô thị
là một nhân tố góp phần nâng cao chất lượng khai thác yếu tố tự nhiên phục vụ
các chức năng cũng như đảm bảo tính bền vững của đô thị
1.2.1.2- Đặc điểm khai thác YTTN trong thực tiễn QHXD đô thị
a- Khai thác YTTN trong chọn đất xây dựng đô thị:
Kinh thành Cổ Loa được chọn xây dựng tại vùng giáp ranh giữa trung
du và vùng cao châu thổ Đây là vùng có địa hình bãi bồi, thềm bậc 1 của sông
Hồng, nơi còn nhiều gò đống là thềm sót của sông xưa, cao hơn so với vùng
ngập trũng xung quanh Các gò đống tại đây có khả năng lợi dụng để tạo nên
các vòng tường thành kiên cố với chi phí ít nhất về sức lực và tiên của Vị trí
xây dựng Cổ Loa nằm ở giao điểm của các nhánh sông Hồng tụ về mà nhánh
chính là sông Hoàng Giang, chảy từ miền Yên Lãng (Vĩnh Phúc) qua đầm Vân
Trì, qua Cổ Loa ngược lên phía bắc rồi đổ vào sông Cầu Tại đây còn có nhiều
đầm vực có thể liên kết với nhau thành một hệ thống mặt nước phục vụ tốt cho
giao thông, cấp thoát nước và cũng là hào nước tự nhiên cho chức năng quân
sự
Trang 22Vị trí xây dựng Kinh đô Hoa Lư được chọn nằm trên vùng thung lũng lọt
giữa các dãy núi đá vôi hiểm trở, cạnh bờ Nam của sông Hoàng Long Núi cao
bao quanh gần như kín ba mặt Tây, Nam và phía Đông, có thể kết nối tạo nên
tạo nên những bức tường thành cao vô cùng kiên cố Cạnh thung lũng về phía
Tây Bắc là Sông Hoàng Long, một con sông lớn thời bấy giờ, bắt nguồn từ
vùng rừng núi Hoà Bình, Nho Quan chảy ra sông Đáy, là con đường giao thông
thuận tiện từ Kinh thành ra Bắc vào Nam
Kinh đô Thăng Long được chọn xây dựng trên vùng đồng bằng, xung quanh
được bao bọc bởi các sông, ao hồ: Phía Đông giáp sông Hồng, phía Bắc giáp
sông Tô Lịch và Hồ Tây, phía Nam là sông Kim Ngưu (cũ) và các hồ đầm
nước Vị trí trung tâm, thuận lợi giao thông (nhất là đường thuỷ), địa thế cao
ráo, không gian thoáng rộng cả 4 phía có sông bao bọc che chắn Chiếu dời đô
của Lý Thái Tổ đã miêu tả“đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân
cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước
Việt, chỗ ấy là hơn cả "
Vị trí được chọn xây dựng kinh thành Phú Xuân là khu vực Kẻ Huế cũ,
là nơi mà theo Ô châu cận lục của Lê Quý Đôn “non sông kỳ tú, ruộng đất mở
mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phương, cảnh vật
tươi vưi, phong vật quý giá” Khu vực này thuộc loại cảnh quan đồng bằng
chân núi điển hình của vùng duyên hải miền Trung Cao độ của khu vực xây
dựng kinh thành cao hơn xung quanh (các vùng đồng bằng phía Đông Bắc và
Tây Bắc) Khu đất nằm giữa sông Hương và sông Kim Long, Bạch Yến nối
thông ra biển qua phá Tam Giang và cửa Tư Hiền rất thuận lợi cho giao thông
thuỷ và khả năng khai thác tạo thành các hào nước quân sự, một yếu tố đặc biệt
quan trọng trong cấu trúc thành của đô thị thời đó
b- Khai thác YTTN trong tổ chức cơ cấu không gian đô thị
Cơ cấu không gian đô thị Thăng Long gồm phần Đô và phần thị Phần
Đô của Thăng Long gồm 2 vòng bao bọc lấy nhau Vòng ngoài gọi là Đại La
thành, vòng thành trong gọi là Cung thành Các khu thị (khu buôn bán, các
làng thủ công nghiệp) bố trí phân tán trong phạm vi giữa Cung thành và La
thành và cả bên ngoài La thành Theo sách Đô thị cổ Việt Nam, thời Nhà Lê,
phần “Thị” của Thăng Long rất phát triển và được đánh giá “là thành phố lớn
của á châu, được các nhà buôn ngoại quốc sánh với Venise của ý và Paris của
Pháp” và sự phồn thịnh là “nhờ lợi thế gần sông nước của đô thị Sông Hồng
lúc này còn ăn sâu vào trong, thông với hồ Tả Vọng, Hữu Vọng, nối liền với
sông Tô Lịch, hồ Tây, sông Kim Ngưu ” Khu buôn bán được phát triển ở phía
đông Hoàng thành chính là trên cơ sở khai thác yếu tố sông Hồng, sông Tô
Lịch cho hoạt động giao thương (trên bến dưới thuyền) Khu sản xuất của
Thăng Long thời kỳ này bao gồm 2 cụm phường thủ công chính: cụm phía bắc
tập trung quanh hồ Tây, hồ Trúc bạch và ven sông Tô Lịch với nghề dệt lụa ở
Trúc Bạch, Yên Thái, Bái An, dệt gấm và lĩnh ở Trích Sài, nhuộm thâm ở Võng
Thị, làm giấy lệnh ở Yên Thái, giấy sắc ở Nghĩa Đô, đúc đồng ở Ngũ Xã Việc
tập trung các phường nghề trên chính là nhằm khai thác các yếu tố cảnh quan
Trang 23thuận lợi cho sản xuất và phục vụ sản xuất ở đây Cụm phía đông gồm nhiều
nghề thủ công phong phú đa dạng nằm xen lẫn với các phố buôn bán Các thôn
phường nông nghiệp của đô thị vẫn tập trung ở phía bắc, phía tây (thập tam
trại), phía tây nam, trồng lúa và chuyên canh đặc sản
Cơ cấu không gian Kinh đô Phú Xuân cũng gồm 2 phần chính là khu
kinh thành (phần Đô) và khu dân dụng (phần Thị) nằm phân tán xung quanh
Phần Đô nằm trong Kinh thành, bao gồm khu ở, thờ cúng và hành chính của
triều đình Kinh thành được xây dựng theo một bố cục mặt bằng gần vuông, từ
ngoài vào được chia thành ba lớp thành bao bọc lấy nhau Đó là Kinh thành,
Hoàng thành và Tử Cấm thành Các YTTN được khai thác triệt để khai thác sử
dụng trong cơ cấu không gian kinh thành Nắn chỉnh một số đoạn của sông
Kim Long, Bạch Yến kết hợp với đào mới và sử dụng một đoạn của Sông
Hương phía trước tạo thành hệ thống Hộ thành hà bao bọc xung quanh Kinh
thành Các đoạn sông khác của Kim Long, Bạch Yến được khai thác thành Ngự
Hà và các hồ nước Khu thị của Phú Xuân bao gồm nhiều khu chức năng phân
bố rải rác về các phía của Kinh thành Cảng Thanh Hà và Bao Vinh cũng như
các làng Kim Long, Vĩ Dạ, Phường Đúc luôn kề cận và kéo dài dọc theo bờ
sông Hương hoặc các chi lưu của nó
Như vậy, cơ cấu không gian đô thị Thăng Long và Phú Xuân chính là mô
hình phân tán, hay chính xác hơn là kết hợp tập trung với phân tán Phần Đô có
cấu trúc tập trung và là trung tâm của toàn đô thị, phần thị phân tách thành
nhiều khu chức năng phân bố rải rác bên ngoài phần Đô Đây chính là mô hình
“trong thành ngoài thị” như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã khẳng định Có thể
thấy được những ưu điểm của mô hình này trong quá trình lịch sử phát triển
của Thăng Long và Phú Xuân: Cơ cấu đô thị có tính chất mềm dẻo, đạt được
hiệu quả cao nhất về khai thác các yếu tố tự nhiên cho tổng thể cũng như từng
khu chức năng, sự phát triển, biến đổi của khu chức năng này không làm ảnh
hưởng nhiều đến các khu khác, cấu trúc đô thị duy trì được sự cân bằng ổn định
về môi trường – sinh thái khá lâu dài ở Hà Nội, những ưu điểm trên đã mất đi
trong giai đoạn gần đây khi cơ cấu của đô thị bị chuyển hoá thành dạng tập
trung Còn ở thành phố Huế, những ưu điểm này vẫn còn khá rõ nét nhưng có
khả năng cũng mất đi nếu chuyển sang mô hình cơ cấu tập trung
c- Khai thác YTTN trong bố cục kiến trúc đô thị
Trong bố cục không gian kiến trúc của Thăng Long, trục không gian
chính của phần Hoàng thành (phần Đô) quay hướng Nam, như vậy mạng
không gian và các công trình kiến trúc cũng được bố cục theo hướng Bắc –
Nam, đây cũng chính là hướng có lợi nhất để tạo được cấu trúc về khí hậu cho
tổng thể cũng như mỗi công trình ở đây Vì là vùng đồng bằng, yếu tố địa hình
không nổi bật trong bố cục kiến trúc nhưng các mốc địa hình nhỏ trong không
gian đô thị như núi Nùng, Khán sơn cũng được khai thác trong bố cục trục
không gian chính của hoàng thành Vai trò yếu tố mặt nước có tính chủ đạo
trong bố cục kiến trúc Kinh đô Thăng Long Tương quan vị trí của Hồ Tây và
Đại Hồ là cơ sở định vị cho khu Hoàng thành Các công trình cung điện, tôn
Trang 24giáo bên ngoài Hoàng thành được tổ chức thành hệ thống xung quanh Hồ Tây
như cung Từ hoa, Chùa Trấn Quốc, Quán Trấn Võ Quốc tử giám được bố trí
trên hòn đảo của Đại Hồ Hồ Tả và Hữu Vọng (Hoàn Kiếm) là trung tâm bố
cục các công trình của phủ Chúa Trịnh trong giai đọan thế kỷ XVII - XVIII
Bố cục kiến trúc của kinh thành Phú Xuân đã sử dụng các yếu tố cảnh
quan là sông Hương (mặt nước), núi Ngự bình và 2 cồn đất trên sông Hương
(địa hình) làm mốc định vị các trục không gian và công trình chủ đạo Các trục
không gian khác đều vuông góc, song song hoặc hướng về trục không gian chủ
đạo này, tạo nên bố cục kiến trúc có tính thống nhất, trật tự và thứ bậc cao Đặc
biệt yếu tố mặt nước được khai thác triệt để trong bố cục kiến trúc như: sông
Ngự Hà chảy xuyên qua Kinh thành nối thông 2 đầu ra sông Hộ thành hà tạo
thành trục không gian cảnh quan tự nhiên ngay trong lòng Kinh thành Các hồ
Thái Dịch, hồ Ngự Hà bên trong Hoàng thành, các hồ Học Hải, Tịnh Tâm
(chính là đoạn còn lại của sông Kim Long được tận dụng) vừa là các không
gian chức năng vừa là các yếu tố bố cục không gian kiến trúc của Kinh thành
Cấu trúc 3 vòng thành được kết hợp với 3 vòng hào nước: hộ thành hà, hào
thành và hào bao quanh Đại Nội tạo nên không gian nhiều tầng lớp
Bố cục kiến trúc các khu Thị của Phú Xuân như khu cảng thị Thanh Hà,
Bao Vinh, làng Kim Long, Vĩ Dạ, An Cựu, hình thành trên cơ sở dọc theo
sông Hương, sông An cựu Các trục không gian chính đều song song với trục
bờ sông tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa không gian tự nhiên và nhân tạo
Kinh thành Phú Xuân có một giá trị đặc biệt về việc khai thác các yếu tố
tự nhiên trong tổ chức không gian Năm 1993, Uỷ ban di sản thế giới đã nhận
định và xét chọn Quần thể di tích cố đô Huế vào danh mục Tài sản văn hoá
nhân loại
Như vậy: thông qua các đô thị được xây dựng giai đoạn này như Cổ Loa,
Hoa Lư, Thăng Long, Phú Xuân có thể thấy cha ông ta đã khai thác triệt để
các điều kiện tự nhiên trong tổ chức không gian đô thị Không kể các đô thị đã
bị huỷ haọi do thời gian, riêng đô thị Phú Xuân đã là một bài học tuyệt vời về
khía cạnh khai thác YTTN trong QHXD đô thị truyền thống Các YTTN không
chỉ là cơ sở cho giải pháp quy hoạch mà còn là thành phần trọng yếu tạo nên
hình thái không gian đặc sắc ở tiêu chí hài hoà nhân tạo nước- tự nhiên
1.2.2- vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị cận đại
1.2.2.1- Về lý luận
Sau khi bình định xong Việt Nam, để phục vụ cho khai thác thuộc địa
đối với nước ta Trên cơ sở các địa danh có các đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho
khai thác trong xây dựng phát triển đô thị như vị trí, tài nguyên khoáng sản,
phong cảnh đẹp Thực dân Pháp đã xây dựng một loại các đô thị, cải tạo phát
triển các đô thị cũ như Hà Nội, Sài Gòn, Huế ; xây dựng đô thị mới có tính
chất khác nhau như Hải Phòng (thành phố công nghiệp và cảng), Nam Định,
Vinh, Đà Nẵng (thành phố công nghiệp), Hòn Gai, Cẩm Phả, Lào Cai (thành
phố phục vụ khai thác mỏ), Đà Lạt, Tam Đảo, SaPa, Nha Trang, Đồ Sơn
Trang 25(thành phố nghỉ mát núi hoặc tắm biển) Việc cải tạo phát triển các đô thị cũ
hoặc xây dựng đô thị mới, hoàn toàn do người Pháp thực hiện Các KTS Pháp
sang Việt Nam trực tiếp quy hoạch ví dụ như KTS Ernest Hebrand, Pineau,
KTS Lagisquet … và thuần tuý sử dụng lý luận QHXD đô thị của phương
Tây Như vậy, nhận thức về YTTN và nguyên tắc, giải pháp khai thác YTTN
trong QHXD đô thị thời kỳ này hoàn toàn dựa trên cơ sở lý luận QHXD đô thị
phương Tây
1.2.2.2- Đặc điểm khai thác yếu tố tự nhiên trong thực tiễn QHXD đô thị
Thông qua thực tiễn xây dựng phát triển một số đô thị thời Pháp thuộc,
các nguyên tắc và giải pháp khai thác YTTN trong QHXD đô thị thời này có
một số đặc điểm:
a- Về vị trí xây dựng đô thị, yếu tố địa hình – mặt nước là một trong những
nhân tố quyết định địa điểm xây dựng đô thị Đối với thành phố Hải phòng là
sông Cấm, một cửa nối đồng bằng Bắc bộ thông ra vịnh Bắc bộ, đủ điều kiện
để xây dựng cảng biển lớn phục vụ cho toàn vùng Bắc bộ Vùng cao nguyên
hoang vu nhưng có khí hậu mát quanh năm, phong cảnh đất đai, thực vật hoàn
toàn phù hợp với yêu cầu của một ĐT nghỉ mát đã là tiền đề cho việc hình
thành thành phố Đà Lạt Tương tự như Đà Lạt là các đô thị như SaPa, Tam
Đảo, Bạch Mã … điều kiện bờ biển thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng là tiền đề
hình thành các đô thị như Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu …
b- Trong tổ chức cơ cấu chức năng đô thị, yếu tố địa hình – mặt nước là một
cơ sở hình thành mô hình cơ cấu cũng như phân khu chức năng không gian đô
thị ở Hải phòng, hình thái tổng thể giai đoạn đầu của thành phố được định
hình với giới hạn là sông Cấm, Tam Bạc, Bonal (khu phố Pháp và khu buôn
bán) Những năm 1925- 1926, sông Bonal được lấp một phần để phát triển ĐT
ra phía Đông và Nam làm thành khu ở của người bản địa Khu công nghiệp và
cảng được bố trí phân tán dọc theo sông Cấm (nhà máy xi măng, điện Cửa
Cấm, nhà máy Tơ, Thuỷ tinh ) ở Đà lạt, cơ cấu đô thị có dạng nhánh (hình
cây) là mô hình cơ cấu khai thác tốt nhất đặc điểm địa hình và mặt nước tại
đây Đa số các đô thị nhỏ có cơ cấu hình dải, nằm dọc theo một vài yếu tố tự
nhiên như bờ sông, bờ biển hoặc chân núi, thung lũng …
và sử dụng triệt để các YTTN trong bố cục kiến trúc ĐT Đối với quy hoạch TP
Hải Phòng, mạng không gian được tổ chức theo dạng ô cờ bám sát hình thái
của sông Cấm, Tam Bạc, sông đào Bonal Yếu tố bức xạ mặt trời là cơ sở của
việc tổ chức 1 trục chính chạy đúng hướng Đông – Tây (trục Điện Biên Phủ
ngày nay) Sông đào Bonal (sau này bị lấp một phần tạo thành dải bunva cây
xanh trung tâm ĐT) là trục bố cục trung tâm cho kiến trúc ĐT ở thành phố Đà
lạt, mạng không gian được tổ chức dạng tự do, uốn lượn theo địa hình và mặt
nước Các yếu tố tự nhiên như các hồ nước, các mốc địa hình, thảm thực vật
là nhứng yếu tố chủ đạo trong bố cục tthh toàn đô thị cũng như trung tâm bố
cục không gian từng khu vực
Trang 26Như vậy vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị cận đại có một số
đặc điểm: quy mô đô thị chủ yếu là nhỏ và vừa, mức độ phát triển công nghiệp
và đô thị hoá chưa cao, các YTTN vẫn còn tương đối nguyên vẹn, lại được quy
hoạch theo những nguyên lý đã được rút kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển đô
thị công nghiệp phương Tây (các lý luận thành phố không tưởng, thành phố
vườn, ) nên đô thị thời này duy trì được sự kết hợp tốt giữa công trình nhân
tạo với các yếu tố thiên nhiên Trong kiến trúc đã có sự kết hợp phong cách
kiến trúc Pháp với việc thích ứng với đặc điểm tự nhiên và hình thức kiến trúc
truyền thống, tạo thành phong cách Đông Dương Trong QHXD đô thị điều
này cũng ít nhiều được thể hiện, đó là nội dung khai thác YTTN trong TCKG
Các kiến trúc sư Hebra, Pineau không chỉ tạo dấu ấn về kiến trúc công trình
mà cũng để lại những đồ án quy hoạch một số đô thị Việt nam mà điều kiện
cảnh quan tự nhiên được sử dụng làm cơ sở cho giải pháp TCKG đô thị Mô
hình cơ cấu một số đô thị, các khu phố cũ (khu phố Pháp) ở Hà Nội, Huế, TP
HCM, Hải Phòng, Đà Lạt dù phải chịu một số biến dạng bởi công trình mới
nhưng thật sự vẫn là bài học tốt về khai thác YTTN trong TCKG đô thị
1.2.3- vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị từ 1954
đến nay
1.2.3.1- Các giai đoạn QHXD đô thị
a- Giai đoạn 1945-1975,
ở miền Bắc các đô thị được xây dựng phát triển theo nguyên tắc quy
hoạch của Liên xô và các nước XHCN thành hệ thống tầng bậc, kết hợp chặt
chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu quốc phòng, chống
chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ Thời kỳ này việc xây dựng đô thị ở miền
Bắc, nhất là các khu công nghiệp mới, vừa có những bài học tốt về khai thác
yếu tố tự nhiên đảm bảo chức năng hoạt động đô thị và yêu cầu quốc phòng
Đồng thời, cũng để lại những bài học kinh nghiệm đắt giá trong sử lý mối
quan hệ đô thị - thiên nhiên Trong QHXD thành phố Việt Trì, các khu công
nghiệp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đô thị và vùng lân cận
Trong QHXD thành phố Hải Phòng, do ưu tiên cho yêu cầu phát triển kinh tế
nên toàn bộ dải đất ven sông Cấm được chuyên dùng cho bố trí cảng, bến bãi
và công nghiệp đã ngăn cách khu dân dụng của thành phố với yếu tố tự nhiên
quan trọng nhất này trong tạo lập môi trường, đáp ứng yêu cầu nghỉ ngơi cũng
như đưa hình ảnh sông nước tạo đặc trưng cho hình thái đô thị
b- Giai đoạn 1975 – 1986 trong điều kiện phát triển kinh tế theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung Nhiều đô thị được các nước XHCN giúp nghiên cứu quy
hoạch, ví dụ như quy hoạch thành phố Hà Nội do chuyên gia Liên Xô giúp, quy
hoạch thành phố Vinh do chuyên gia CHDC Đức giúp, quy hoạch thành phố
Hải Phòng do chuyên gia Ba Lan giúp Các đồ án quy hoạch này đều được
được nghiên cứu một cách công phu và bài bản, thể hiện được các thành tựu
trong QHXD đô thị thế giới Vấn đề khai thác các YTTN được coi trọng ở tất
Trang 27cả các khía cạnh: TCKG, QH hạ tầng kỹ thuật và môi trường Không chỉ lợi
dụng, thích ứng với tự nhiên mà đã đưa ra các giải pháp kỹ thuật công nghệ để
cải tạo, biến đổi các yếu tố tự nhiên phục vụ cho yêu cầu phát triển đô thị Tiêu
biểu là:
- QH thành phố Hà Nội (do chuyên gia Liên Xô giúp) năm 1976 với phương
án phát triển lên vùng Vĩnh Yên nhằm khai thác điều kiện địa hình - địa chất
có lợi ở đây Đối với TP Hà Nội cũ, hồ Tây được sử dụng làm trung tâm của bố
cục không gian toàn thành phố
- Trong QH khu nhà ở Quang Trung thuộc TP Vinh (do chuyên gia CHDC Đức
giúp), đặc điểm gió Lào cũng được các chuyên gia CHDC Đức khắc phục bằng
giải pháp TCKG
- Trong quy hoạch TP Hải Phòng (do chuyên gia Ba Lan giúp) , các giải pháp
kỹ thuật được đề xuất để khắc phục nhược điểm về cao độ thấp và cấu trúc địa
chất kém của đảo Đình Vũ, biến khu vực hoang sơ này thành cụm cảng và công
nghiệp cảng hiện đại Do các nguyên nhân về kinh tế - xã hội các đồ án quy
hoạch này hầu hết đều không thực hiện được và phải điều chỉnh thay đổi trong
các giai đoạn sau
c- Giai đoạn 1986 đến nay, do tác động của sự phát triển kinh tế thị trường và
các chính sách mở cửa, chính sách nhà, đất, đầu tư xây dựng các đô thị Việt
Nam phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, trở thành những nhân tố
tích cực của quá trình đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Lý luận
QHXD đô thị có sự kết hợp cả lý luận QHXD thời kỳ Liên Xô cũ với lý luận
QHXD Phương Tây qua các dự án hợp tác về nâng cao năng lực QHXD giữa
Việt Nam với một số nước như Ôxtraylia, Canada, Hà Lan, CH Pháp cũng
như các học viên, nghiên cứu sinh Việt Nam thực hiện chương trình học tập,
nghiên cứu ở nước ngoài
Một loạt đồ án QHXD đô thị được nghiên cứu trong giai đoạn này vẫn
chú trọng khía cạnh khai thác YTTN trong TCKG
1.2.3.2- Thực tiễn khai thác YTTN trong QH chung một số đô thị vùng
núi
+ QHXD thành phố Lào Cai với việc tổ chức cơ cấu dải bám 2 bên sông Hồng
Các đồi thấp vẫn được bảo vệ và chuyển thành các khu cây xanh, các mốc
không gian tự nhiên khai thác trong bố cục kiến trúc đô thị
+ QHXD thị xã Bắc Cạn và thị trấn Sa Pa đã tôn trọng đặc điểm tự nhiên sử
dụng cơ cấu kết hợp giữa dải với tập trung đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm
địa hình núi và các thung lũng
Tuy nhiên, cần rút kinh nghiệm về khai thác YTTN trong quy hoạch
chung Thành phố Điện Biên
Là đô thị mới được hình thành đầu những năm 90 để làm thủ phủ tỉnh
Điện Biên Đất xây dựng đô thị được chọn trên chính khu di tích trận địa Điện
Biên Phủ (khu di tích chiến thắng hào hùng chấn động địa cầu của 8 năm
Trang 28kháng chiến chống Pháp) Xây dựng và phát triển thành phố Điện Biên hiện tại
vừa phá vỡ cảnh quan thiên nhiên khu vực, đồng thời cũng làm hỏng di tích
chiến thắng Điện Biên Phủ Đây là điều đáng tiếc, tại thung lũng Điện Biên, ta
có thể chọn vị trí xây dựng thành phố ở phía Bắc và phía Đông các khu di tích,
nơi đây còn có đất đồng thời có thể phát triển đô thị về phía đồi núi thấp càng
tạo nên nét độc đáo của đô thị miền núi tây bắc,
1.2.3.3- Thực tiễn khai thác YTTN trong QH chung một số đô thị cao
nguyên và đồi
+ QHXD thành phố Đà Lạt
Cấu trúc không gian Đà Lạt được quy hoạch theo mô hình "bàn tay xoè
năm ngón" hay “cấu trúc cành nhánh” với trung tâm điểm là hồ Xuân Hương
Quan điểm bảo vệ cảnh quan thiên nhiên từ thời Pháp vẫn được duy trì một
cách nghiêm ngặt
+ QHXD thành phố Thái Nguyên, các đồi trong thành phố được bảo vệ và
đóng góp vào bố cục không gian chung
Tuy nhiên, cần rút kinh nghiệm về khai thác YTTN trong quy hoạch
chung Thành phố Việt Trì: khu đất phía nam thành phố ven sông Hồng, đầu
hướng gió mát thịnh hành mùa hè đã được bố trí các XNCN, gây ô nhiễm thành
phố, nhân dân thành phố không được sử dụng các cảnh quan phía nam thành
phố, ven sông Hồng cho nhu cầu vật chất – tinh thần của mình
1.2.3.4- Thực tiễn khai thác YTTN trong QH chung một số đô thị vùng
đồng bằng
a- QHXD Thành phố Hà Nội:
- Trong chọn đất xây dựng phát triển đô thị: Giai đoạn đầu thành phố chỉ phát
triển mở rộng ra xung quanh, chủ yếu là phía Tây- Nam và phía Tây, mô hình
cơ cấu không gian thành phố vẫn là tập trung Những đồ án sau để đáp ứng yêu
cầu kinh tế – xã hội, một loạt các đô thị vệ tinh của Hà nội được quy hoạch trên
cơ sở khai thác các vùng có cấu trúc địa chất tốt thuận lơị cho xây dựng công
trình như khu vực Vĩnh Yên, Xuân Hoà (đồ án 1975, 1977) và vùng Xuân Mai,
Hoà Lạc, Sơn Tây (đồ án 1996, 1998) Ngay tại thành phố trung tâm, khu vực
có địa hình cao như phía Tây, Tây bắc, Tây Nam và khu Bắc sông Hồng cũng
được chọn làm hướng phát triển chính của thành phố
- Trong tổ chức cơ cấu không gian (đối với thành phố trung tâm): các quy
hoạch trước 1992 đều tổ chức cơ cấu không gian Hà nội theo mô hình tập
trung Trong các đồ án quy hoạch sau, mô hình cơ cấu thành phố chuyển thành
dạng kết hợp tập trung với phân tán (Chùm đô thị), nhằm khai thác tốt các yếu
tố tự nhiên của vùng lân cận Hà nội để giảm bớt sự phát triển quá mức và
không thể đáp ứng nổi tại khu thành phố cũ Cơ cấu không gian của thành phố
trung tâm cũng được tổ chức theo dạng kết hợp tập trung với dải (hình sao)
được hình tượng hoá là mô hình “bàn tay xoè” nhằm đưa thiên nhiên vào gần
Trang 29trung tâm thành phố (quy hoạch năm 1992) Tại các đồ án năm 1996 và 1998,
yếu tố cây xanh – mặt nước được quy hoạch thành một hệ thống nhiều cấp
không chỉ đáp ứng các yêu cầu chức năng mà còn giải quyết đồng bộ vấn đề
môi trường – kỹ thuật đô thị Khu vực Bắc sông Hồng cũng có sự chuyển đổi
về mô hình cơ cấu: từ việc tổ chức thành 3 cụm không gian tập trung (ở đồ án
1996) được chuyển thành mô hình cơ cấu phân tán (đồ án quy hoạch 1998) có
ưu điểm về khai thác yếu tố tự nhiên tốt hơn
- Trong bố cục kiến trúc: Mạng không gian kết hợp giữa hình học và tự do
Một số trục, tuyến không gian được quy hoạch trên cơ sở khai thác địa hình –
mặt nước như tuyến vành đai 2 (sông Tô lịch và sông Hồng) Yếu tố mặt nước
được triệt để khai thác thành các trung tâm bố cục không gian từ cấp thành phố
đến các khu đô thị như hồ Tây, hồ Gươm, đầm Vân Trì, hồ Yên Sở, hồ Linh
Đàm, các sông như sông Hồng, sông Đuống, Cà Lồ, Tô Lịch được khai
thác thành các tuyến không gian cây xanh – mặt nước chính Những tuyến này
liên kết với các khu cây xanh – mặt nước khác (khu Mễ trì, Yên Sở, Linh Đàm,
Hồ Tây, đầm Vân Trì, khu Cổ Loa ) và với vành đai không gian xanh bao
quanh thành phố (sông Nhuệ và vùng ngoại đô) tạo thành hệ thống không gian
mở hoàn chỉnh cho thành phố
Bài học về khai thác yếu tố mặt nước trong quy hoạch Hà Nội
Đặc điểm của khu vực Thủ đô Hà Nội là có rất nhiều hồ lớn nhỏ và ở
cạnh sông Hồng Hồ lớn nhất của Thủ đô là Hồ Tây Thủ đô Hà Nội là thành
phố được Đảng và Chính phủ quan tâm, cho lập quy hoạch phát triển sớm nhất
từ sau ngày giải phóng Đồ án đầu tiên được lập từ năm 1958 (các Kiến trúc sư
Việt Nam và Đoàn chuyên gia Liên Xô lập) Từ đó đến nay đã nhiều lần lập
quy hoạch chung điều chỉnh và bổ sung Nhưng nhìn vào ảnh bản đồ thực trạng
phát triển Thủ đô Hà Nội chụp từ vệ tinh thì thấy một khung cảnh đáng buồn
Hầu như Hà Nội phát triển tự phát Các nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp (hồ
ao, các khu cây xanh sẵn có trước kia như khu gò Đống Đa, lăng Hoàng Cao
Khải, đường cây từ viện Pasteur đến nhà hát lớn…) đã bị xoá dần Các hồ tự
nhiên như các hồ Linh Quang, Văn Chương (khu Văn Chương), hồ Xã Đàn
(Nam Đồng), hồ Hoàng Cầu, hồ Thành Công (Đống Đa), hồ Mẻ (cạnh Đại học
Y), hồ Đầm Hồng, hồ Đền Lừ, hồ Kim Đồng, hồ Linh Đàm, Đầm Tròn (Cầu
Bươu), hồ Phùng Khoang (Thanh Xuân), các hồ ở Mễ Trì… đã bị dân lấn
chiếm bao quanh Quanh các hồ này không được quy hoạch thành công viên
cây xanh của khu vực từ quận đến phường và đơn vị ở Đặc biệt hồ lớn nhất
như hồ Tây vẫn để dân và các cơ quan tự do xây dựng ra sát hồ, biến bờ hồ
từng đoạn thành của riêng cơ quan mình Hồ Tây đã biến thành cái ao sau của
quận Tây Hồ Đồ án quy hoạch chung Hà Nội được lập năm 1980, được Chính
phủ duyệt năm 1982 đã có ý tưởng rất tốt: Hồ Tây và khu đất bao quanh hồ Tây
trung bình rộng khoảng 50-100m được dành để xây dựng công viên văn hoá
nghỉ ngơi trung tâm thành phố Bao quanh công viên trung tâm này là một đại
lộ chính trung tâm thành phố Bên kia phố chính này là hệ thống các công trình
chính trị - văn hoá - dịch vụ của Thủ đô Từ công viên trung tâm Hồ Tây có
những “nêm” cây xanh lan toả vào khu xây dựng thành phố, gắn bó các công
Trang 30viên khu vực - nơi có các ao hồ tự nhiên và tiếp tục lan toả ra vành đai xanh
ngoại thành thành phố Hệ thống các trung tâm chính trị - văn hoá - dịch vụ của
các quận cũng nằm ở các lõi cây xanh này Đây là một đồ án quy hoạch chung
của Thủ đô Hà Nội tốt nhất từ trước đến nay về ý tưởng khai thác không gian
mở, mặt nước hiện có rất đặc thù của Thủ đô Hà Nội Đồ án quy hoạch chung
Hà Nội tới năm 2000 được duyệt năm 1982 đương nhiên chỉ có chủ yếu vùng
đất phía nam sông Hồng Còn khu đất phía bắc chỉ để phát triển sau năm 2000
Các đồ án điều chỉnh và được duyệt các lần sau vào năm 1992 và 1998 thì đã
vô cớ bỏ mất các thành tựu khoa học quy hoạch được duyệt năm 1982 Nhìn
vào đồ án quy hoạch chung được duyệt năm 1998 và có điều chỉnh bổ sung cục
bộ nhiều lần 10 năm qua, hệ thống cây xanh, hệ thống công viên chính thành
phố và công viên chính các quận, phường không được thể hiện rõ Khu vực bao
quanh hồ Tây chỉ được tô màu vàng ký hiệu là khu ở bình thường của đô thị
Một trong những cảnh quan quý nhất của Hà Nội là khu vực hồ Tây đã và
đang bị xoá hỏng Cơ hội tạo cảnh quan độc đáo từ điều kiện thiên nhiên sẵn
có là hồ Tây và khu vực bao quanh hồ Tây trước đây đã bị bỏ lỡ Có thể nói đồ
án quy hoạch chung Hà Nội hiện hành (đồ án được duyệt năm 1998) là một
bước lùi về học thuật khai thác cảnh quan, tạo bản sắc Thủ đô so với đồ án quy
hoạch chung được duyệt 1982 Chính vì ý tưởng khai thác yếu tố tự nhiên để bố
trí hệ thống trung tâm công cộng thành phố không rõ nên nay cần bố trí các
công trình quan trọng như trung tâm Hội nghị quốc gia, nhà Quốc hội; bảo tàng
quốc gia… đã phải rất vất vả đi tìm địa điểm khắp nơi: Trung tâm Hội nghị
quốc gia phải đặt xây dựng ở góc đường vành đai 3 và đường đi Hoà Lạc; nhà
Quốc hội thì chỉ được tìm địa điểm quanh quảng trường Ba Đình Trong lúc dải
đất rất quý phía tây hồ Tây lại được bố trí khu đô thị mới Ciputra Có thể nói,
đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội hiện nay là một đồ án chưa tốt về mặt ý
tưởng khai thác cảnh quan tự nhiên
Một số vấn đề mới trong QHXD Hà Nội thời điểm hiện nay liên quan
đến khai thác YTTN đó là
- Dự án QHXD 2 bên sông Hồng với việc khai thác dải đất bãi ven sông để xây
dựng đô thị Ngoài việc bố trí các khu cây xanh sinh thái, nghỉ ngơi thì việc
xây dựng các khu đô thị mới có quy mô và òâng cao lớn, mật độ khá dày đặc
có khả năng sẽ làm biến đổi cấu trúc cảnh quan tn cả về thuỷ văn, địa chất và
có nguy cơ đối với sự bền vững của cảnh quan đô thị sẽ hình thành
- Việc mở rộng Hà Nội (nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây vào Hà Nội) cũng như đồ án
QHXD vùng Thủ đô gồm 7 tỉnh xung quanh Hà Nội hiện tại đặt ra vấn đề
nghiên cứu, đánh giá và đề xuất quan điểm, giải pháp đối với hệ thống cảnh
quan cấp khu vực liên tỉnh và mối liên quan đến cả vùng Bắc bộ như hệ thống
núi, đồi phía Tây (không chỉ thuộc Hà Tây mà cả Hoà Bình, Hà Nam, Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang cũng như hệ thống lưu vực các sông ngòi
trên địa bàn và các vùng cảnh quan sinh thái đặc thù trong khu vực và lân cận
b- Thành phố Hồ Chí Minh:
Trang 31Hai đồ án QH thành phố HCM năm 1992 và năm 1996 đều sử dụng mô
hình phát triển thành phố HCM thành chùm đô thị chính là để tăng khả năng
khai thác các ưu điểm của cả phần đô thị tập trung và các huyện ngoại thành
xung quanh, khai thác nhiều hơn cảnh quan thiên nhiên tạo thành dạng đô thị
sinh thái Theo quy hoạch, thành phố HCM được phát triển theo các hướng:
- Phần phát triển theo hướng Đông Bắc thành phố, vượt sang bên kia và
chạy dài theo bờ sông Sài gòn Khu đô thị này đối diện với đô thị hiện tại qua
dòng sông Sài gòn – yếu tố cảnh quan tự nhiên chính thành phố
- Phần phát triển theo hướng Nam với đô thị mới Phú mỹ hưng Khu đô
thị mới này mang đặc trưng sinh thái rất cao vì có kênh rạch chằng chịt, là loại
đô thị đảo có cảnh quan đặc thù của vùng Nam bộ
- Phần phát triển về phía Nam, Đông Nam nhằm khai thác ưu thế của cửa
sông và biển, gắn với các khu vực phát triển: Nam Nhà bè, Cần giờ, Nhơn trạch
Một trong những vấn đề nan giải hiện nay mà thành phố phải giải quyết
đó là việc chọn đất, hướng phát triển đô thị về phía địa hình thấp, trũng dẫn đến
tình trạng ngập úng (nhất là khi triều cường hoặc mưa lớn); vấn đề bảo vệ sông
Đồng Nai, sông Sài Gòn không thể chỉ nghiên cứu đoạn chảy qua thành phố mà
phải nghiên cứu đánh giá và có giải pháp mang tính tổng hợp và quy mô toàn
vùng Đông Nam bộ
c- Thành phố Huế (đồ án 1998):
- Về chọn đất xây dựng, do diện tích đất thuận lợi cho xây dựng (khu vực đất
cao phía nam sông hương) không còn nhiều nên quy hoạch đã xác định TP
phát triển cả 4 hướng nhưng vẫn ưu tiên hướng về Phú Bài và vùng lân cận núi
Ngự Bình, nơi có dị cao và địa chất tốt
- Về tổ chức cơ cấu không gian Thành phố Huế được quy hoạch theo mô hình
thành phố trung tâm và các đô thị vệ tinh (Các đô thị ven biển và hành lang
Quốc lộ 1: thị trấn Thuận An, Tứ Hạ - Đồng Lâm, Phú Bài) Đối với thành phố
trung tâm có cơ cấu tập trung, trên cơ sở thành phố hiện tại, mở rộng ra các
phía tạo thành các khu đô thị mới gắn liền với các khu đô thị cũ
- Về bố cục không gian kiến trúc: Các YTTN quan trọng như sông Hương,
vùng đồi gò phía Tây nam luôn được chú trọng khai thác trong TCKG TP, là cơ
sở hình thành các trục không gian chính:
- Trục cảnh quan sông Hương: Kéo dài từ cảng Thanh Hà, Bao Vinh đến
hết lăng Gia Long, gắn kết các khu di tích bảo tồn (Kinh thành) với khu phố
Pháp, các cảng thị cổ với hệ thống các lăng tẩm đình chùa và cảnh quan vùng
gò đồi phía Tây - Nam
- Trục không gian văn hoá là trục chuyển tiếp từ trục Thần đạo trong Đại
nội qua Ngọ Môn, Phu Văn Lâu, Nghinh Lương Đình tới núi Ngự Bình, Tam
Thai và kết thúc là khu Đại học Huế
- Trục cảnh quan thiên nhiên: Bắt đầu từ Đàn Nam Giao đến Lăng Gia
Long Đây là vùng núi đồi chập trùng phía Tây Nam thành phố,
Trang 32d- Một số QHXD đô thị khác
- Thành phố Hà Đông được hình thành và phát triển hai bên bờ sông Nhuệ
Nhưng thực tiễn phát triển và các đồ án quy hoạch chung đã lập trước đây
không biết khai thác cảnh quan con sông này, biến sông này thành trục cảnh
quan của thành phố, để bố trí trung tâm thành phố, để bố trí công viên ven bờ
sông cho dân chúng nghỉ ngơi Hiện nay ven sông này đã bị dân lấn chiếm, xây
dựng manh mún, lộn xộn, gây ô nhiễm môi trường ven sông
+ Đô thị mới Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đây là đô thị mới và đang
được hình thành phát triển từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX (khoảng 10-12
năm) Đô thị được hình thành theo sự hình thành hải cảng nước sâu trên sông
Thị Vải, đồng thời nằm trên đường quốc lộ 51 từ thành phố Hồ Chí Minh và
Biên Hoà đi Bà Rịa Vũng Tầu Tuy đô thị mới hình thành, có quy hoạch được
lập, thẩm định và phê duyệt của cấp chính quyền Nhưng đây là một đồ án quy
hoạch chung kém nhất về ý tưởng khai thác các yếu tố thiên nhiên; tương lai
thành phố chẳng được phát triển bền vững vì sẽ bị ô nhiễm do cảng và các khu
công nghiệp tập trung lớn bao quanh hai mặt đầu hướng gió thịnh hành của đô
thị ở phía tây và phía bắc đô thị Phía đông đô thị bị chắn bởi các dãy núi cao
Thị Vải, Phú Mỹ là một đô thị chạy dài ven sông Thị Vải mà khu dân dụng của
đô thị không có hướng mở ra sông Bộ mặt kiến trúc đô thị không được ngoảnh
mặt ra sông, soi bóng xuống sông Thị Vải Ven sông Thị Vải không được bố trí
một công viên công cộng hay đường bờ sông dân dụng nào
+ Thành phố Vinh ở cạnh sông Lam, núi Quyết và có hướng phát triển ra Cửa
Hội, Cửa Lò Đồ án quy hoạch chung thành phố Vinh được lập và duyệt năm
2000 đã có ý tưởng khai thác tốt cảnh quan sông Lam và núi Quyết, biến các
khu này là bộ mặt thành phố, là nơi nghỉ ngơi giải trí của dân chúng trong
thành phố Đồng thời khu trung tâm của thành phố được hình thành từ thành
cũ, khu công viên Bác Hồ ở ngã ba Trường Thi và có hướng phát triển cùng với
khu thành phố ra phía Cửa Lò, Cửa Hội là hợp lý
+ Quy hoạch chung phát triển thị xã Hội An đến năm 2020 là hợp lý, khai thác
tốt các yếu tố tự nhiên của vùng xung quanh Phố cổ Hội An được bảo tồn, tôn
tạo Các khu đô thị mới phát triển ra các vùng xung quanh ở phía bắc, đông và
tây thị xã Hội An Toàn bộ dải đất giữa biển đông và sông Đế Vọng có cảnh
quan rất đẹp, có bãi biển tốt được quy hoạch thành các khu nghỉ ngơi, du lịch
ven biển
1.2.3.5- Thực tiễn khai thác YTTN trong QH chung một số đô thị vùng
ven biển
a- Bài học tốt
YTTN của địa phương rất tốt Toàn bộ dải đất ven vịnh Quy Nhơn được dành
để xây dựng thành phố Tất cả các công trình chính trị, văn hoá, dịch vụ đều
được bố trí có sự liên hệ trực tiếp với phía biển Toàn bộ dải đất ven vịnh Quy
Nhơn được dành làm công viên, bãi tắm; các công trình được xây dựng chủ yếu
Trang 33ở phía bên kia đường phố biển các khu đô thị mới được phát triển một phần về
phía tây, bao quanh hồ Phú Hoá; một khu đô thị mới khác phát triển về phía
bắc khu kinh tế Nhơn Hội Toàn bộ công nghiệp của thành phố đều được tập
trung bố trí vào các khu công nghiệp Phú Tài, ở phía tây quốc lộ 1; khu kinh tế
Nhơn Hội được bố trí ở phía tây núi Phương Mai, gần với khu cảng nước sâu
Cảng nước sâu Quy Nhơn được bố trí ở cửa Đầm Thị Nại Tương lai xa, thành
phố Quy Nhơn có thể phát triển toàn bộ dải đất bao quanh phía tây Đầm Thị
Nại Có thể nói, đồ án quy hoạch chung phát triển thành phố Quy Nhơn đã thể
hiện được ý tưởng khai thác tốt đặc điểm thiên nhiên của địa phương; đồng
thời cũng thể hiện được các ý tưởng tiến bộ về khoa học quy hoạch xây dựng
đô thị (khai thác tốt truyền thống quy hoạch của đất nước cũng như kinh
nghiệm tiến bộ của thế giới)
+ Thành phố Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Hoà, là đô thị nghỉ mát nổi
tiếng ở Nam Trung bộ Cấu trúc thành phố được thiết kế và xây dựng rất hợp lý
Toàn bộ dải đất ven biển được dành cho khu dân dụng thành phố Dải đất ven
biển phía đông thành phố được dành làm công viên cây xanh gắn liền với bãi
tắm biển của thành phố Thành phố được phát triển cả hai bên cửa sông Cái,
chủ yếu ở phía nam cửa sông Khu vực cảng, kể cả cảng cá chỉ dành một
khoảng đất khiêm tốn phía nam thành phố Các khu công nghiệp tập trung được
bố trí ở phía tây thành phố, gắn với quốc lộ 1 và dải đất ven chân núi Các đồi,
các khu cao điểm trong thành phố được bố trí các công trình tín ngưỡng (kiến
trúc Chàm hoặc tượng Phật,…) và công trình kiến trúc tiêu biểu khác Cấu trúc
thành phố Nha Trang của đồ án quy hoạch chung đã được kế thừa thành quả
của người xưa và phát triển hợp lý
+ Quy hoạch chung thành phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên cũng thể hiện tốt ý
tưởng khai thác yếu tố tự nhiên thuận lợi có cư dân đô thị Thành phố được phát
triển dọc theo bờ biển ở cửa sông Đà Rằng (chủ yếu phía bắc cửa sông Đà
Rằng) Toàn bộ dải đất ven biển ở phía đông thành phố được dành cho đô thị,
các khu du lịch, công viên nghỉ dưỡng cho dân cư thành phố Các khu đất trũng
giữa thành phố và đường quốc lộ 1 cũng được chỉnh trang, tạo thành công viên
bên trong thành phố
Khu công nghiệp tập trung được bố trí xây dựng ở phía tây bắc thành
phố, gắn liền với tuyến quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Bắc - Nam Duy chỉ có
vấn đề là khu chôn lấp chất thải rắn được dự kiến ở phía bắc thành phố là
không hợp lý; nằm trên hướng phát triển tương lai của thành phố và khu xử lý
rác sẽ làm ô nhiễm môi trường thành phố và nước biển Tóm lại, đồ án quy
hoạch chung thành phố Tuy Hoà cũng là một trong các đồ án quy hoạch chung
khai thác tốt các yếu tố thiên nhiên của khu vực
+ Thành phố Phan Rang và thành phố Phan Thiết cũng là những thành phố
được lập đồ án quy hoạch chung có ý tưởng khai thác yếu tố thiên nhiên rất tốt
Thành phố chủ yếu phát triển ra phía bờ biển, phát triển dọc theo bờ biển Khu
xây dựng thành phố, bãi biển và các khu cây xanh phía đất liền được kết hợp
một cách hài hoà
Trang 34Ngoài các đô thị nêu trên, hầu hết các đô thị thời kỳ này đều sử dụng
điều kiện tự nhiên làm một nhân tố quan trọng trong QHXD Đối với TP Đà
nẵng là việc khai thác các yếu tố mặt nước (vịnh Đà nẵng, bãi biển Thanh Bình,
sông Hàn ) yếu tố địa hình (bán đảo Sơn Trà, núi Ngũ Hành Sơn, núi Phước
Tường ) Đối với TP Vũng Tàu là các yếu tố bờ biển (cảng, du lịch), Núi Lớn ,
Núi Nhỏ Yếu tố quan trọng tạo nên động lực phát triển về du lịch và công
nghiệp – cảng của thành phố Hạ Long là vịnh Hạ Long với cảnh quan đẹp,
khả năng XD cảng nước sâu Cái Lân
+ Một số đô thị mới khác: Các đô thị mới được quy hoạch như thành phố Vạn
Tường, Chân mây, vấn đề khai thác YTTN là một trong những cơ sở đầu
tiên cho việc chọn địa điểm xây dựng cũng như chọn mô hình cơ cấu và bố cục
kiến trúc đô thị mới này Khả năng khai thác vịnh Chân Mây làm cảng biển
nước sâu quyết định xây dựng Đô thị mới Chân Mây Đặc điểm vịnh và bờ
biển Dung Quất là một cơ sở quan trọng khi chọn vị trí xây dựng khu công
nghiệp lọc hoá dầu và các khu công nghiệp khác tại đây cũng như thành phố
Vạn Tường ở phía Nam
Ví dụ về quy hoạch theo mô hình đô thị sinh thái: Nghiên cứu thực địa tại
thành phố Hải Phòng
Thời gian gần đây, một số đô thị được nghiên cứu QH chung đã vận
dụng tư tưởng sinh thái trong TCKG Tiêu biểu là quy hoạch chung TP Đà Lạt,
thành phố Nha Trang hoặc quy hoạch chung TP Hạ Long, quy hoạch chung
Phú Quốc Một ví dụ cụ thể là nghiên cứu thực địa tại thành phố Hải Phòng
đối với khu đô thị mới 353
Được sự tư vấn của Công ty TECOS và nguồn tài trợ từ Ngân hàng Thế
giới, Công ty cổ phần Tư vấn dịch vụ Công nghệ Tài nguyên – Môi trường
(TECOS) vừa “ra mắt” dự án “Phương án thiết kế sinh thái cho các khu phát
triển đô thị - Nghiên cứu thực địa tại thành phố Hải Phòng” Dự án này do Viện
Kiến trúc cảnh quan và Quy hoạch vùng - Trường Đại học Quốc gia Seoul (Hàn
Quốc) thực hiện
Mục tiêu của dự án nhằm đánh giá tiềm năng sinh thái của khu phát triển
đô thị đường 353 (Hải Phòng - Đồ Sơn); phát triển các phương án đối với mô
hình phát triển đô thị sinh thái bền vững ở VN; chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm
trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách quy hoạch sinh thái có sự
tham gia của cộng đồng
Phương pháp luận của quá trình thiết kế đô thị sinh thái: xác định các
khái niệm về thành phố bền vững, về quy trình quy hoạch đô thị sinh thái
Đồng thời, đưa ra những phân tích về điều kiện tự nhiên, KT - XH của khu vực
đường 353 - Hải Phòng Từ đó đưa ra các phương án thiết kế phù hợp trên cơ sở
tiếp thu kinh nghiệm thành công trong việc thiết kế đô thị sinh thái của Hàn
Quốc và một số quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức
Về giải pháp, Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã đưa ra 3 phương án quy
hoạch sinh thái để Hải Phòng lựa chọn
Trang 35Phương án 1: Thiết kế đô thị sinh thái được khái quát hóa thông qua việc
xây dựng các mạng lưới nước, mạng lưới cây xanh, mạng lưới không khí, mạng
lưới con người và mạng lưới văn hóa Mỗi mạng lưới đều đưa ra những quan
điểm riêng về đô thị sinh thái nhưng đều hướng tới mục tiêu đặt yếu tố môi
trường lên hàng đầu
Phương án 2: Phương án thiết kế thực tế nhất dựa trên các tiêu chuẩn của
một đô thị mới do UBND TP Hải Phòng đề xuất Phương án này nhằm hướng
tới khả năng thỏa mãn nhu cầu của người dân như tiện nghi và hiện đại
Phương án 3: Trên cơ sở phương án 1 và 2 đề xuất một phương án chú
trọng vào sự phát triển bền vững về kinh tế
Cả 3 phương án thiết kế quy hoạch sinh thái này đều nhằm khai thác mọi
tiềm năng sinh thái sẵn có của khu vực đường 353 một cách hiệu quả Các yếu
tố môi trường, văn hóa và KT - XH đặc thù của địa phương đã được kết hợp với
các nguyên tắc chung trong thiết kế đô thị sinh thái Trong đó, diện tích cây
xanh tạo không gian mở luôn được chú trọng, những con đường dành riêng cho
người đi bộ và xe đạp được ưu tiên
b- Một số bài học cần rút kinh nghiệm
+ Thành phố cảng Hải Phòng: tất cả dải đất ven sông Cấm phía bắc thành phố
từ Vật Cách đến Đình Vũ đều được bố trí cảng, kho tàng, các khu công nghiệp
tập trung Thành phố cảng, ven sông nước mà không có khu dân dụng mở ra
sông, nhân dân không có chỗ nghỉ ngơi giải trí ven sông, thành phố chỉ phát
triển theo hướng nam Phía nam thành phố Hải Phòng còn có sông Lạch Tray
Nhưng các đồ án quy hoạch thành phố đã lập cách đây 10 năm, nhiều khu vực
ven sông này cũng bị bố trí các khu công nghiệp nhỏ, các khu kho tàng
Đồ án quy hoạch chung Hải Phòng mới điều chỉnh năm 2000 đã có
nhiều tiến bộ về khía cạnh khai thác YTTN:
Cơ cấu quy hoạch thành phố thành một chùm đô thị với mô hình theo
dạng tập trung kết hợp phân tán và dải sẽ khai thác tốt hơn các yếu tố tự
nhiên
Trong bố cục kiến trúc, việc phát triển một khu đô thị mới sang bờ bắc
Bến phà Bính, yếu tố mặt nước này đã được khai thác thành trung tâm bố cục
không gian cho đô thị trung tâm
+ Khu kinh tế Vũng áng và đô thị mới Vũng áng (phía nam tỉnh Hà Tĩnh) được
lập quy hoạch chung giữa năm 2007 Vị trí khu đất được chọn để lập khu kinh
tế là hợp lý, căn cứ khả năng hình thành và phát triển cảng nước sâu Vũng áng
và cảng Sơn Dương Nhưng phân khu chức năng khu kinh tế và đô thị chưa hợp
lý, nếu khu công nghiệp tập trung: công nghiệp luyện cán thép và công nghiệp
sau cảng được bố trí từ sau hai cảng và phát triển và phát triển về hướng tây, đi
sâu vào nội địa đến sát chân núi, còn khu đất đã dự kiến phát triển công nghiệp
thép ở phía nam được dành để xây dựng khu đô thị mới thì thích hợp hơn Khu
dân cư đô thị mới rất cần cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống ven biển
Trang 36Khu công nghiệp luyện thép và hậu luyện thép không cần có bộ mặt quay ra
biển
+ QHXD Khu vực vịnh Văn Phong: nằm ở phía bắc thành phố Nha Trang là nơi
có cảnh quan đẹp tuyệt vời của đất nước: vịnh, đảo, đồi núi, tài nguyên thuỷ
sản, nước biển trong xanh… Khu này nếu được quy hoạch chỉ dành cho mục
tiêu du lịch, nghỉ dưỡng thì thật là tuyệt vời - một khu du lịch biển đẹp nhất đất
nước Nhưng, đáng tiếc những năm gần đây vì mục tiêu kinh tế của cơ chế thị
trường, Chính phủ, chính quyền địa phương đã bố trí vào khu vực này nhiểu đối
tượng sản xuất, đang và sẽ làm ô nhiễm môi trường như cảng biển trung
chuyển quốc tế ở Đầm Môn, nhà máy đóng tàu VINASHIN ở Ninh Thuỷ (Hòn
Mỹ Giang) Quanh bán đảo Hòn Gốm ở Đầm Môn dự kiến một khu công
nghiệp tập trung lớn Gần đây, địa phương đã giải quyết cho một công ty nước
ngoài xây dựng một nhà máy luyện cán thép lớn ở đây Nếu công nghiệp tập
trung lớn vào khu vực này sẽ phá vỡ cảnh quan đẹp tuyệt vời của khu vực Với
tài nguyên thiên nhiên trời phú này cần được dành để phát triển du lịch - một
ngành “công nghiệp không khói” sẽ mang lại hiệu quả tổng hợp hơn cả
đặc điểm:
- Các điều kiện tự nhiên luôn được nghiên cứu đầu tiên trong một đồ án
- Trong tất cả các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị gần đây, không
nhiều thì ít và và mức độ thành công khác nhau nhưng đều đã sử dụng một số
đặc điểm của các yếu tố địa hình, mặt nước làm cơ sở cho hình thành các ý
tưởng quy hoạch và các giải pháp tổ chức không gian quy hoạch Một loạt đồ
án quy hoạch được phê duyệt đã chứng tỏ sự thành công nhất định của đồ án
trong đó có vấn đề khai thác các yếu tố tự nhiên trong tổ chức không gian đô
thị
Tuy nhiên ở khía cạnh nhận thức và giải pháp khai thác YTTN của cảnh
quan đô thị còn tồn tại một số vấn đề:
- Các nhà quy hoạch thường vẫn sử dụng phương pháp tiếp cận "một
phía" nặng về lý thuyết của riêng ngành mình mà chưa có cách tiếp cận đa
nghành trong việc đánh giá và đề xuất phương án tổ chức không gian quy
hoạch để có thể giải quyết đồng bộ và toàn diện mối quan hệ Con người - Đô
thị - Thiên nhiên
- Các yếu tố tự nhiên thường được nghiên cứu tách rời từng yếu tố,
không có sự tổng hợp giữa các thành phần và với cảnh quan vùng rộng hơn
Thậm chí chỉ nêu ra mà không phần tích mối liên quan ảnh hưởng đến cảnh
quan và giải pháp tổ chức không gian cảnh quan
- Các yêu cầu phát triển bền vững và sinh thái trong quy hoạch đô thị chủ
yếu ở khía cạnh chính sách kinh tế - xã hội, giải pháp công nghệ mà chưa đi
sâu giải quyết ở khía cạnh phương pháp luận: nhận thức về yếu tố tự nhiên và
nguyên tắc, giải pháp khai thác yếu tố tự nhiên trong tổ chức không gian đô
thị
Trang 37- Các ý tưởng tổ chức không gian quy hoạch đô thị nặng về vai trò của
kiến trúc và giao thông, kỹ thuật đô thị mà chưa khai thác hết vai trò của các
yếu tố địa hình – mặt nước trong việc thể hiện tính đặc thù và bản sắc của từng
đô thị như đánh giá Thứ tưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tấn Vạn về kiến trúc đô
thị các đô thị miền Trung và Tây Nguyên: " Bộ mặt cảnh quan các đường
phố, khu trung tâm, khu ĐT mới đồng dạng giữa mọi ĐT địa phương, địa hình
Cấu trúc hệ không gian ĐT thiếu ngôn ngữ nhận dạng, thiếu tính kết hợp các
yếu tố kiến trúc với cảnh quan tự nhiên" và " một số công trình xây dựng ngày
nay không chỉ gây ô nhiễm môi trường ĐT khu dân cư, phá vỡ cảnh quan thiên
nhiên, mà gây ô nhiễm về môi trường văn hoá thẩm mỹ đô thị "
1.2.4- Nội dung khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy
định pháp lý về QHXD đô thị
1.2.4.1- Quy trình QHXD
a- Trước năm 2004 (thời điểm Luật xây dựng 2003 có hiệu lực)
Vấn đề khai thác, bảo vệ tự nhiên đã được quan tâm và chuyển hoá thành
một số nội dung trong các văn bản quản lý xây dựng, văn bản hướng dẫn quy
hoạch như một số tài liệu:
+ Nghị định số 91- CP ngày 17- 8-1994: Các yêu cầu về bảo vệ, khai thác
YTTN được quy định trong 2 chương:
- Chương IV: Bảo vệ cảnh quan và môi trường sống đô thị
- Chương III: Quản lý xây dựng các công trình trong ĐT
+ Vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên để tạo cảnh quan đô thị ở giai đoạn quy
hoạch chung theo Quyết định 322/BXD-ĐT:
Quyết định 322/BXD - ĐT ngày 28-12-1993 của Bộ Xây dựng: "Ban hành
quy định lập các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị " đều đưa vấn đề nghiên cứu,
đánh giá và khai thác các yếu tố tự nhiên trong các nội dung của quy hoạch xây
dựng, từ QH vùng, QH chung đến QH chi tiết
Đáng lẽ vấn đề này cần được đề cập đậm nét, cụ thể hơn để tạo lập tiền
đề phát triển đô thị có bản sắc Nhưng vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên đề xác
lập cấu trúc quy hoạch chung của từng đô thị vẫn không được nhấn mạnh Quy
chế về khai thác yếu tố tự nhiên để tạo cảnh quan đô thị ở giai đoạn quy hoạch
chung vẫn có đề cập nhưng mờ nhạt như ở giai đoạn quy hoạch vùng Phần bản
vẽ, ở bản vẽ “Sơ đồ liên hệ vùng” và “Bản đồ hiện trạng và đánh giá tổng hợp
đất xây dựng” không được đề cập đến vấn đề khai thác cảnh quan tự nhiên; chỉ
có đánh giá phân hạng và chọn đất xây dựng, trong đó: “- Khoanh những khu
vực hiện trạng xây dựng đô thị, những khu vực không được phép xây dựng như
di tích lịch sử, văn hoá, rừng cấm, khu quân sự và chướng ngại vật thiên nhiên
hoặc nhân tạo khác - Phân hạng các quỹ đất trên cơ sở đánh giá tổng hợp các
yếu tố: điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã
hội) và mức độ hấp dẫn theo vị trí của khu đất trong không gian đô thị”
Trang 38Bản vẽ “Sơ đồ định hướng phát triển không gian đô thị” Đây là bản vẽ
chính của giai đoạn quy hoạch chung phát triển đô thị Đáng lẽ đây phải là bản
đồ có tính chất tổng hợp, không phải chỉ có “sơ đồ”; trong đó phải thể hiện
được ý tưởng tổ chức không gian kiến trúc đô thị tương lai Những khu đất đẹp
nhất, khu có cảnh quan tốt nhất phải dành để xây dựng khu dân dụng đô thị,
đặc biệt các khu đất có cảnh quan đẹp nhất để bố trí hệ thống công trình công
cộng đô thị, các khu nghỉ ngơi giải trí đô thị; các đường phố chính đô thị; mỗi
tuyến phố chính phải có nét riêng của mình
Thực chất QH chung phát triển đô thị là “Quy hoạch cấu trúc không gian
phát triển đô thị cho thời gian dài 20-25 năm” Đồ án này phải thể hiện được ý
tưởng phát triển đô thị có tính chiến lược Ngoài các vấn đề kinh tế, kỹ thuật,
cuộc sống dân đô thị còn phải thể hiện rõ đặc điểm cảnh quan thiên nhiên của
từng nơi được bố trí đô thị Chính vì quy trình thể hiện nội dung khai thác cảnh
quan, tạo nét độc đáo về cảnh quan quá sơ lược nên chất lượng các đồ án quy
hoạch chung xây dựng đô thị được nghiên cứu từ 1993 đến 2003 - 2004 (trước
khi có Luật xây dựng) cũng rất sơ lược Hầu như đồ án QH chung các đô thị
“không hồn”, kể cả đồ án quan trọng như quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội
được Chính phủ xét duyệt năm 1998
Nhìn chung, trong tương quan với các yếu tố nhân tạo (hiện trạng kiến
trúc – kỹ thuật đô thị, các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội thì đối tượng các
YTTN chiếm tỷ trọng nhỏ hơn hẳn Yêu cầu bảo vệ môi trường, cảnh quan tự
nhiên chỉ nêu chung chung mà không có những số liệu khống chế cụ thể
b- Luật xây dựng 2003
Vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên trong QHXD đô thị được nhấn mạnh
rất nhiều ở trong Luật Xây dựng 2003 và các văn bản hướng dẫn Luật Nội
dung khai thác yếu tố tự nhiên được thể hiện xuyên suốt ở 3 loại quy hoạch:
quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị (quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết) và
quy hoạch các điểm dân cư nông thôn
+ Quy định chung về QHXD: Trong 4 yêu cầu chung đối với quy hoạch xây
dựng (điều 13 [3]) có 2 yêu cầu đề cập đến khai thác YTTN, đó là:
- “Tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự
nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất
nước trong từng giai đoạn phát triển”
- “Tạo lập được môi trường sống tiện nghi, an toàn và bền vững; thoả
mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; bảo vệ
môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá, cảnh quan thiên
nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc”
+ Vấn đề khai thác YTTN trong quy hoạch chung đô thị
Vấn đề khai thác YTTN được quy định tại mục 2 điều 20: “Quy hoạch
chung xây dựng đô thị phải được thiết kế theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng,
Trang 39phải tận dụng địa hình, cây xanh, mặt nước và các điều kiện thiên nhiên nơi
quy hoạch, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”
Sự thay đổi của đặc điểm địa lý tự nhiên là một trong những điều kiện để
Điều chỉnh quy hoạch chung đô thị (theo điều 22 mục c Luật xây dựng và điều
20 nghị định 08/2005)
Điều 27 mục c về Thiết kế đô thị quy định: Thiết kế đô thị phải thể hiện
được sự phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, hài hoà với cảnh quan
thiên nhiên và nhân tạo ở khu vực thiết kế; tận dụng các yếu tố mặt nước, cây
xanh; bảo vệ di sản văn hoá, công trình di tích lịch sử - văn hoá, giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc
c- Nội dung khai thác các YTTN trong quy hoạch chung đô thị tại Nghị
+ Điều 15 quy định căn cứ lập đồ án QHCXD đô thị,trong đó có kết quả điều
tra, khảo sát, các số liệu - tài liệu về khí tượng, thuỷ văn, hải văn, địa chất, (tuy
nhiên không nhắc đến loại bản đồ đo đạc địa hình địa mạo)
+ Điều 16 quy định nội dung đồ án QHCXD đô thị, trong đó yêu cầu: “Phân
tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên
+Điều 30 quy định nội dung thiết kế đô thị trong đồ án QH chung) gồm:
- Nghiên cứu các vùng kiến trúc, cảnh quan trong đô thị;
- Đề xuất tổ chức không gian cho các khu trung tâm, cửa ngõ đô thị, các
tuyến phố chính, các trục không gian chính, quảng trường lớn, không gian
cây xanh, mặt nước và các điểm nhấn trong đô thị;
d- Nội dung khai thác các YTTN trong quy hoạch chung đô thị trong QĐ
03/2008/QĐ-BXD quy định về thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ
và đồ án QH chung đô thị
- Vấn đề khai thác yếu tố tự nhiên trong nội dung thuyết minh đồ án
+ Trong đánh giá hiện trạng
- Xác định đặc điểm của khí hậu, địa hình toàn vùng, hay tiểu vùng
- Đặc điểm tự nhiên/ Xác định khả năng khai thác sử dụng tài nguyên
thiên nhiên tạo cảnh quan đô thị (các yếu tố cảnh quan, hệ thống cây xanh mặt
nước )
- Hình thái, cấu trúc không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị (hình thái đô
thị đặc điểm các không gian chính trong đô thị)
- Nhận dạng và phân tích hệ thống điểm nhìn trong đó các YTTN có vai
trò quan trong trong việc tạo các mốc, các tuyến, vùng thụ cảm thẩm mỹ :
+ Phân tích đánh giá hiện trạng môi trường đô thị:
- Mô tả tổng quát và đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên (nước,
không khí, đất, hệ sinh thái ) và môi trường xã hội
Trang 40- Chỉ ra những vấn đề về môi trường và những khu vực dễ bị tác động
trong đô thị, những khuyến cáo về tình hình ô nhiễm, suy thoái môi trường; xác
định các nội dung bảo vệ môi trường mà quy hoạch cần giải quyết
(Như vậy còn thiếu đánh giá địa chất – tai biến địa chất )
+ Trong xây dựng các tiền đề phát triển đô thị:
- Tiềm năng khai thác quỹ đất
- Đánh giá phân hạng quỹ đất: trong đó có các tiêu chí liên quan đến
điều kiện tự nhiên ví dụ như đặc điểm địa hình (độ dốc) địa chất (cường độ
chịu tải của nền đất, các khả năng tai biến địa chất ), thuỷ văn (mức độ và tần
xuất ngập úng )
+ Trong định hướng phát triển đô thị
- Một trong những cơ sở để chọn đất và phân khu chức năng là điều kiện
tự nhiên trong khu vực nghiên cứu
- Các nội dung của định hướng tổ chức không gian đều liên quan đến
khai thác YTTN như :
+ Xác định các vùng kiến trúc cảnh quan trong đô thị;
+ Đề xuất tổ chức không gian cho các khu trung tâm, cửa ngõ đô thị,
vùng giáp ranh, các tuyến phố chính, các trục không gian chính, quảng
trường lớn, vị trí tượng đài, không gian cây xanh mặt nước và các điểm
nhấn trong đô thị;
+ Xác định vị trí các vùng, khu vực, các điểm, tuyến, diện, kết nối đặc
trưng cần có hướng dẫn thiết kế đô thị để kiểm soát phát triển
+ Xác định các độ cao trung bình, các vị trí cao tối đa và cao tối thiểu
trong các khu vực điển hình của đô thị
+ Thiết kế minh hoạ kiến trúc cảnh điển hình
+ Thiết lập quy định kiểm sóat các vùng kiến trúc cảnh quan và xác định
các khu vực đặc trưng cần kiểm soát:
- Quy định về bản vẽ đồ án:
+ Bản vẽ 01- Sơ đồ vị trí và mối liên hệ vùng
- Trong trường hợp chưa có bản đồ quy hoạch xây dựng vùng được duyệt
hoặc thỏa thuận thì cần thể hiện các mối quan hệ tương hỗ giữa đô thị và vùng
có liên quan về “Các điều kiện địa hình, địa vật, các vùng có ảnh hưởng lớn
đến kiến trúc cảnh quan đô thị”
- Trong trường hợp đã có bản đồ quy hoạch xây dựng vùng được duyệt
hoặc thỏa thuận thì trên cơ sở bản đồ quy hoạch xây dựng vùng đó chỉ cần làm
rõ thêm các mối quan hệ có ảnh hưởng trực tiếp giữa vùng quy hoạch và đô thị
quy hoạch như quy định ở phần trên