Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu của một quốc gia là nhằm tận dụng lợi thế so sánh của nước mình để xuất khẩu những sản phẩm có khả năng cạnh tranh và tạo vị thế của quốc gia trên trường
Trang 1Lời Mở Đầu
Nền kinh tế nước ta đang thực hiện lộ trình hội nhập với các nước khu vực ASEAN và quốc tế, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng một nền kinh tế mở Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và quan
hệ xuất nhập khẩu nói riêng là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Công nghiệp Da Giầy là ngành sản xuất hàng tiêu dùng thuộc nhóm nhu cầu thiết yếu của đời sống Có một xu thế chung là mức sống càng phát triển thì nhu cầu làm đẹp của con người càng được chú trọng
Ngành công nghiệp Da Giầy Việt Nam có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là ngành thu hút và giải quyết nhiều việc làm cho người lao
động, kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 3 sau Dầu khí và Dệt may Công nghiệp Da Giầy có công nghệ đơn giản, vốn đầu tư thấp nhưng hiệu quả kinh tế, xã hội cao nên rất phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: Ngành Dệt may và Da giầy, chú trọng tìm kiếm và mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài Tăng cường đầu tư, hiện đại hoá một số khâu sản xuất sợi, dệt, thuộc da chú trọng phát triển nguồn bông và khai thác nguồn da các loại, tăng phần sản xuất trong nước về các nguyên liệu và phụ liệu trong ngành Dệt may và Da giầy để nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm xuất khẩu Đến năm 2005, , nâng sản lượng giầy dép lên trên 410 triệu đôi
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội là một trong những doanh nghiệp quan trọng của công nghiệp thủ đô và ngành Da giầy nước ta Sản phẩm của công ty
được tiêu thụ phần lớn ở thị trường nước ngoài, chủ yếu bằng phương thức gia công xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu của công ty trong những năm qua tuy vẫn
được duy trì nhưng còn nhiều khó khăn Vì vậy, em chọn đề tài cho khoá luận tốt
Trang 2nghiệp: “Một số biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Giầy tại Công ty
Cổ phần Giầy Hà Nội”
Khoá luận gồm 3 phần chính:
Phần I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
Phần II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu ở Công ty Cổ phần Giầy Hà
Nội trong giai đoạn 1999 - 2002
Phần III: Một số biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Giầy tại
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội đến 2005
Để hoàn thành chuyên đề này, em đã được thầy giáo PGS - TS Vũ Minh Trai hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cùng với các anh chị, cô chú trong các phòng ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS - TS Vũ Minh Trai và các cô chú ở các phòng ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Do nhận thức lý luận và thực tế còn hạn chế nên khoá luận còn có thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, các cô chú ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội và các bạn sinh viên
Trang 3
Phần I
Cơ sở lý luận chung về
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
1.1 mục tiêu, nội dung của hoạt động xuất khẩu vμ
các hình thức xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp
1.1.1 Mục tiêu hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu của một quốc gia là nhằm tận dụng lợi thế so sánh của nước mình để xuất khẩu những sản phẩm có khả năng cạnh tranh
và tạo vị thế của quốc gia trên trường quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế quốc tế với các nước khác trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá
Mục tiêu của doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu là phục vụ tốt nhất cho mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao, tăng doanh thu, tối đa hoá lợi nhuận, tạo ngoại tệ để nhập nguyên liệu, thiết bị, công nghệ hiện đại cho tái sản xuất mở rộng Thực hiện tự cân đối, tự trang trải ngoại
tệ và có tích luỹ ngoại tệ Ngoài các mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu còn nhằm giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường thế giới, mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu doanh nghiệp có thể tham gia
* Xuất khẩu trực tiếp : Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu các hàng hoá và dịch
vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới các khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình
Trang 4* Xuất khẩu gia công uỷ thác : Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó một
đơn vị đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi sản phẩm để xuất khẩu cho nước ngoài Đơn vị này
được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất
* Xuất khẩu uỷ thác : Đây là hình thức kinh doanh, trong đó một đơn vị đóng
vai trò làm trung gian cho đơn vị sản xuất tiến hành ký hợp đồng thương mại quốc tế, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất qua đó thu được một số tiền nhất định
* Buôn bán đối lưu : Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó
xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua
và lượng hàng hoá mang ra trao đổi thường có giá trị tương đương Mục đích
ở đây không nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm mục đích có được một lô hàng có giá trị tương đương với lô hàng đã xuất khẩu
* Xuất khẩu theo nghị định thư (Xuất khẩu trả nợ) : Đây là hình thức mà
doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu Nhà nước giao cho để tiến hành xuất khẩu một hoặc một số hàng hoá nhất định cho Chính phủ nước ngoài trên cơ
sở nghị định thư đã ký giữa hai Chính phủ
* Xuất khẩu tại chỗ : Xuất khẩu tại chỗ là hình thức kinh doanh xuất khẩu
mà nhà xuất khẩu không phải đích thân ra nước ngoài đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mua lại đến với nhà xuất khẩu Hàng hóa không phải vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn có thể mua được
* Gia công quốc tế : Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó
một bên (Bên nhập gia công) nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên khác (Bên đặt gia công) để chế biến thành thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu được phí gia công
Trang 5* Tái xuất khẩu : Tái xuất khẩu là sự tiếp tục xuất khẩu ra nước ngoài những
mặt hàng trước đây đã nhập khẩu với nguyên dạng khi nhập (có thể qua sơ chế hoặc không qua sơ chế) Hình thức này được áp dụng khi một doanh nghiệp không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng với khối lượng ít không đủ để xuất khẩu nên phải đi nhập từ nước ngoài sau đó tái xuất khẩu
1.1.3 Nội dung hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
Sơ đồ 1: Nội dung các bước thực hiện hoạt động xuất khẩu
1.1.3.1 Lựa chọn mặt hàng và thị trường xuất khẩu
Đây là một trong những nội dung ban đầu cơ bản nhưng rất quan trọng và cần thiết để có thể tiến hành được hoạt động xuất khẩu Khi doanh nghiệp có ý
định tham gia vào hoạt động xuất khẩu thì doanh nghiệp cần phải xác định các mặt hàng mà mình định kinh doanh xuất khẩu cụ thể là mặt hàng gì? Khối lượng bao nhiêu?
Để lựa chọn được đúng các mặt hàng mà thị trường cần, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, phân tích một cách có hệ thống về nhu cầu thị trường cũng như khả năng của doanh nghiệp Qua hoạt
động này doanh nghiệp cần phải xác định, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường thế giới Hoạt động này cần nhiều chi phí và phải được chủ động triển
Lựa chọn mặt
hàng và thị trường
xuất khẩu
Lựa chọn đối tác giao dịch
Lựa chọn phương thức giao dịch
Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu
Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán
Trang 6khai nghiên cứu trong một thời gian dài trước khi doanh nghiệp quyết định kinh doanh, song bù lại doanh nghiệp có thể xâm nhập vào các thị trường tiềm tàng có khả năng tăng doanh số lợi nhuận kinh doanh cao hơn nếu công tác trên thực hiện có chất lượng
Khi lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cũng cần phải tiến hành lựa chọn thị trường xuất khẩu cụ thể Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không thể hoạt động trên toàn bộ các thị trường quốc gia nào đó dựa vào phân
đoạn thị trường trên cơ sở các tiêu thức dùng để phân đoạn Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể hoạt động trên phạm vi quốc gia, khu vực hay toàn cầu Việc lựa chọn thị trường xuất khẩu cụ thể đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích nhiều yếu tố trong môi trường vĩ mô, môi trường ngành và trong bản thân nội bộ doanh nghiệp Thông thường các yếu tố luật pháp, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ, đồng tiền thanh toán có tác động
đồng bộ, tổng hợp đến lựa chọn mặt hàng và thị trường xuất khẩu cụ thể của doanh nghiệp
1.1.3.2 Lựa chọn đối tác giao dịch
Sau khi lựa chọn được mặt hàng và thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp muốn xâm nhập vào từng đoạn và thị trường đó thì doanh nghiệp cần phải lựa chọn được đối tác đang hoạt động trên thị trường đó để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Việc lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho doanh nghiệp những phiền toái, những rủi ro và mất mát gặp phải trong quá trình kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời có điều kiện thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của mình Cách tốt nhất để lựa chọn các đối tác là lựa chọn các đối tác có đặc điểm sau:
- Là những doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp Vì với mặt hàng kinh doanh đó, doanh nghiệp không phải chia sẻ lợi nhuận trong kinh doanh do đó thu được lợi nhuận lớn nhất Tuy nhiên trong trường hợp sản phẩm và thị trường hoàn toàn mới thì lại rất cần thông qua các đaị lý hoặc các
Trang 7công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm chi phí cho việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài
- Quen biết, có uy tín trong kinh doanh
1.1.3.3 Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức giao dịch là cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới Những phương thức này quy định những thủ tục cần tiến hành, các điều kiện giao dịch, các thao tác và chứng từ cần thiết trong quan hệ kinh doanh Có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như: giao dịch thông thường, giao dịch qua khâu trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm, giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá, gia công quốc tế, đấu thầu và đấu thầu quốc tế Tuy nhiên, phổ biến và được sử dụng nhiều nhất là giao dịch thông thường
Giao dịch thông thường là một trong những phương thức giao dịch mà người bán và người mua bàn bạc thoả thuận trực tiếp hoặc thông qua thư từ điện tín về hàng hoá, các điều kiện giao dịch, giá cả
Phương thức giao dịch cho phép hai bên bàn bạc trực tiếp hoặc gửi các yêu cầu trực tiếp cho nhau, do đó dễ dàng đi đến các thống nhất và ít xảy ra các hiểu lầm Xét về mặt hiệu quả, giảm được chi phí khâu trung gian do đó làm tăng lợi
Trang 8nhuận cho doanh nghiệp Thêm vào đó hình thức này còn tạo điều kiện cho cả người mua và người bán chủ động trong sản xuất kinh doanh
Nói chung, với các loại hàng hoá khác nhau thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị trường và khả năng của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức giao dịch khác nhau Chẳng hạn, nếu khách hàng mua khối lượng lớn, mua thường xuyên, thì phương thức giao dịch thông thường được áp dụng Với những hàng hoá có tính chất chuyên ngành thì tham gia hội chợ triển lãm lại
có tác dụng tích cực
1.1.3.4 Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng của hoạt động xuất khẩu Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường, vào đối thủ cạnh tranh, khả năng, điều kiện và mục tiêu của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ của doanh nghiệp và đối tác Mọi cam kết trong hợp đồng sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng, vững chắc và đáng tin cậy để các bên thực hiện lời cam kết của mình
Tiếp sau công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá là một văn bản có tính chất pháp lý được hình thành trên cơ sở thoả thuận là một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể nhằm xác lập, thực hiện và chấm dứt các mối quan hệ trao đổi hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (Hợp đồng xuất nhập khẩu) là loại hợp đồng mua bán đặc biệt trong đó quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua, còn người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán theo giá thoả thuận bằng các phương thức thanh toán quốc tế
Khác với hợp đồng mua bán nội địa, hợp đồng xuất khẩu thông thường hình thành giữa các doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, hàng hoá thường được dịch chuyển qua biên giới quốc gia và đồng tiền
Trang 9thanh toán là một ngoại tệ với một trong hai quốc gia hoặc đối với cả hai quốc gia
Thông thường trong hợp đồng xuất khẩu có các điều kiện và các điều kiện này thường được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới được các quốc gia và các doanh nghiệp chấp nhận và coi đó là cơ sở ký kết hợp đồng Trong điều kiện cơ
sở giao hàng thì thường thông qua Incoterms 1990 (các điều kiện cơ sở giao hàng quốc tế) gồm 13 điều kiện giao hàng Ngoài ra, trong hợp đồng xuất khẩu còn có chữ ký và con dấu của hai bên
1.1.3.5 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán:
Sau khi đã ký hợp đồng, các bên sẽ thực hiện các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng Với các tư cách là nhà xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ thực hiện các công việc sau
Đây là trình tự những công việc chung nhất cần tiến hành để thực hiện hợp
đồng xuất khẩu Tuy nhiên trên thực tế tuỳ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng mà người xuất khẩu có thể bỏ một hoặc một vài công đoạn
Sơ đồ 2: Trình tự các bước thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Giải quyết tranh chấp (nếu có)
Làm thủ tục Hải quan
Mua bảo hiểm hàng hoá (nếu có)
Kiểm định hàng hoá
Uỷ thác thuê tàu
Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Làm thủ tục
thanh toán
Giao hàng
lên tàu
Trang 10Ngày nay, với sự phát triển của các Ngân hàng mà các thủ tục trong thanh toán được đơn giản hơn rất nhiều Nhờ đó các doanh nghiệp không mất nhiều thời gian lo cho việc làm các thủ tục thanh toán Hơn nữa, không chỉ ở bước làm thủ tục thanh toán được đơn giản hơn mà ở các bước khác trong việc thực hiện hợp động xuất khẩu cũng không phiền hà như trước như ở bước xin Giấy phép xuất nhập khẩu hay ở bước làm thủ tục Hải quan
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu Giầy của Công ty Cổ phần Giầy Hμ Nội
1.2.1 Tình hình xuất khẩu Giầy của nước ta
Những năm 80, ngành Da giầy Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể thông qua sự hợp tác với các nước Liên Xô cũ và Đông Âu Các sản phẩm giầy dép do ngành Da giầy sản xuất được tạo ra với số lượng lớn, chất lượng đòi hỏi không cao, mẫu mã đơn giản Sản xuất của ngành Da giầy được mở rộng, đa dạng hoá hơn kể từ khi ngành Da giầy trở thành ngành kinh tế kỹ thuật độc lập (từ năm 1987)
Theo số liệu khảo sát điều tra toàn ngành Da giầy năm 2001 có 154 doanh nghiệp, trong đó 125 doanh nghiệp chuyên sản xuất giầy dép, 19 doanh nghiệp sản xuất túi cặp, 10 doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu ngành Giầy Và trong 154 doanh nghiệp đó lại có 65 doanh nghiệp quốc doanh, 36 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 53 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Từ năm 1996-2000 ngành Da giầy Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh chóng với kim ngạch xuất khẩu tăng gấp đôi từ 528,5 triệu USD năm 1996 lên 1tỷ 468 triệu USD năm 2000 và được biểu thị qua sơ đồ sau:
Trang 11Bảng 1: Giá trị xuất khẩu ngành Da giầy Việt Nam
Đơn vị: Triệu USD
1996 1997 1998 1999 2000 I.K.ngạch XK (Tổng số)
964,50
666,50 140,50 105,70 47,10
1000,822
668,07 143,24 112,43 72,19
1334,45
879,966 182,099 133,361 139,024
1468
844,574 162,539 99,218 361,669
79,58 15,06%
91,98 17,04%
550,40 57,06%
262,13 27,18%
152,01 15,76%
587,17 58,67%
339,55 29,33%
120,1 12%
622,32 53,98%
365,65 31,72%
164,78 14,3%
778,92 53,10% 660,10 41,30% 83,1 5,6%
Nguồn: Hiệp hội Da Giầy Việt Nam
Các sản phẩm giầy dép của Việt Nam bao gồm : giầy thể thao, giầy da, giầy nữ, giầy vải, dép các loại mẫu mã chất lượng đã có nhiều cải tiến Chỉ trong thời gian ngắn các hãng Nike, Reedbok, Adidas, Bata đã được sản xuất ở Việt Nam và tiêu thụ trên các thị trường Tây Âu, Canada, Bắc Mỹ Đến nay, sản phẩm giầy dép của Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 40 nước trên thế giới, trong dó thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước trong liên minh châu Âu Năm
1995, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam vào EU đạt 290 triệu USD,
đứng thứ ba sau Trung Quốc và Indonêsia về giá trị xuất khẩu Năm 1996, đạt
Trang 12423 triệu USD Năm 1997, đạt 494,306 triệu USD chiếm 51,25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, nếu kể cả số lượng xuất gián tiếp thông qua Đài Loan và Hàn Quốc là 281,44 triệu USD chiếm 29,18% thì tổng giá trị xuất khẩu sang EU
là 775,764 triệu USD chiếm 80,43% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành
Hiện nay, giầy dép của Việt Nam xuất khẩu sang EU vẫn có những điều kiện thuận lợi do: sản xuất giầy dép trong các nước EU ngày càng giảm, trong khi mức tiêu thụ ngày càng tăng Ngoài ra, giầy dép Việt Nam nhập khẩu vào vào EU còn được hưởng ưu đãi theo hệ thống ưu đãi phổ cập GSP (General system of preference), các sản phẩm giầy nếu có 40% nguyên liệu sản xuất từ Việt Nam (có giấy chứng nhận xuất xứ from A) sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi vào EU là 13,58%-14%, nếu không ưu đãi thuế suất sẽ là 30% Ngoài ra, theo quy tắc cộng gộp của EU, các nguyên phụ liệu nhập khẩu từ một nước thành viên của một khối kinh tế để tiếp tục gia công sẽ được coi như xuất sứ tại nước gia công Việt Nam hiện đã ra nhập khối ASEAN (từ tháng 7/1995) do vậy giầy dép của Việt Nam sẽ được hưởng tiêu chuẩn xuất sứ cộng gộp nêu trên khi xuất sang
EU
Ngoài các nước thuộc liên minh châu Âu, Mỹ là một thị trường nhập khẩu
và tiêu thụ giầy dép lớn nhất thế giới Năm 1997, đạt 14 tỷ USD về giá trị nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu giầy dép của việt Nam sang Mỹ đã tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Nếu năm 1993 xuất khẩu giầy dép sang Mỹ hầu như chưa có gì thì năm 1997 đạt 98 triệu USD và 7 tháng đầu năm 1998 đạt
73 triệu USD Như vậy, Mỹ là một thị trường hết sức tiềm năng và Việt Nam cần phải chú ý khai thác khu vực thị trường này
Ngoài 2 khu vực thị trường EU và Mỹ như đã đề cập ở phần trên, một số lượng lớn các sản phẩm giầy dép Việt Nam còn được xuất khẩu sang các nước
Đông Nam á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Tuy nhiên, giầy dép xuất khẩu sang Hàn Quốc, Đài Loan chủ yếu là gia công để sau đó tái xuất khẩu sang thị trường các nước EU và Mỹ Theo số liệu thống kê của công ty dịch vụ thông tin thương mại toàn cầu của Hoa Kỳ thì năm 1995, Việt Nam xuất khẩu các loại
Trang 13giầy dép sang thị trường Nhật Bản đạt 17 triệu USD, năm 1996 đạt 48 triệu USD, năm 1997 đạt 79 triệu USD về giá trị xuất khẩu Thị trường Nhật Bản là một thị trường khó tính, đòi hỏi chất lượng cao, nhưng là thị trường có nhu cầu nhập khẩu tương đối lớn khoảng 350 triệu đôi/ 1năm Vì vậy muốn tăng thị phần xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản thì phải đáp ứng được yêu cầu về chất lượng
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu Giầy của Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
là hết sức cần thiết với công ty
- Thị trường cung ứng lao động: Lao động là một yếu tố đầu vào đóng vai trò quan trọng đáng kể trong việc sản xuất và xuất khẩu nói chung, đặc biệt là
đối với ngành giầy dép xuất khẩu vì ngành này sử dụng nhiều lao động Công ty
Cổ phần Giầy Hà Nội cũng như nhiều công ty sản xuất Giầy khác có thuận lợi hơn một số nước khác, do giá nhân công của Việt Nam rẻ hơn dẫn tới giá thành sản phẩm xuất khẩu cũng rẻ hơn Tuy nhiên, lao động của công ty còn nhiều hạn chế về trình độ, ban lãnh đạo công ty cần chú ý tới việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho người lao động
- Thị trường cung ứng nguyên vật liệu đầu vào: Có một số quốc gia tự cung tự cấp được toàn bộ nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giầy như Trung Quốc Việt Nam chỉ tự cung tự cấp được vải và cao su còn một số nguyên phụ liệu khác phải nhập khẩu từ nước ngoài, còn một số quốc gia
Trang 14phải nhập hoàn toàn ở Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội nguyên vật liệu chính do
đối tác đưa sang, công ty chỉ cung cấp nguyên vật liệu phụ Yếu tố nguyên vật liệu đầu vào có ảnh hưởng lớn tới giá thành xuất khẩu của sản phẩm Như vậy, thị trường nguyên vật liệu là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất giầy xuất khẩu
1.2.2.2 Khoa học công nghệ
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất Giầy xuất khẩu khác của Việt Nam, Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội được hưởng lợi thế về công nghệ Đó là việc nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ phục vụ cho sản xuất không phải chịu thuế nhập khẩu cũng như thuế giá trị gia tăng VAT Tuy nhiên, công nghệ sản xuất Giầy của công ty còn lạc hậu so với thế giới, công ty cần phải từng bước đổi mới công nghệ để có thể theo kịp được các nước khác
1.2.2.3 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Đây là những nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát tác động làm thay đổi cho phù hợp với các nhân tố không kiểm soát được
- Trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên: Đối với đội ngũ công nhân viên những người trực tiếp tạo ra các sản phẩm xuất khẩu, nếu trình độ tay nghề cao thì sản phẩm làm ra sẽ có chất lượng tốt hơn và hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu sẽ đạt hiệu quả cao hơn Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác xuất khẩu thì cần phải có nghiệp vụ chuyên môn giỏi, để cho công tác giao địch và thực hiện hợp đồng có hiệu quả cao
- Trình độ và năng lực của đội ngũ lãnh đạo : Đây là một yếu tố rất quan trọng, nó quyết định đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo phải là những người có năng lực và giỏi thực sự, họ cần phải đưa ra được các chiến lược và chính sách kinh doanh hợp lý phù hợp với từng thời điểm
Trang 15• Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu của
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
* Thuận lợi:
- Thuận lợi từ phía chính sách kinh tế vĩ mô: Thực hiện chính sách kinh tế
mở rộng cùng với hoạt động ngoại giao, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước và những thành quả đạt được đã tạo ra xu thế mới thuận lợi cho sự phát triển nội tại của Việt Nam và sự hoà nhập phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế Đặc biệt với 2 sự kiện lớn trong năm 1995 là Việt Nam ký hiệp
định khung kinh tế với liên minh châu Âu và Việt Nam ra nhập khối ASEAN đã tạo ra nhiều cơ hội mới trong quan hệ kinh tế thương mại với các doanh nghiệp nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có Công ty Cổ phần Giầy
Hà Nội
Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi chung GSP của EU giành cho các nước
đang phát triển Các loại hàng hoá có quốc tịch từ Việt Nam trong đó có sản phẩm giầy khi xuất sang thị trườngEU sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan GSP Như vậu đối với ngành Giầy nói chung và với Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội nói riêng thì đây là một thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
Sự hoàn thiện cơ chế xuất khẩu của Nhà nước và chính sách kinh tế khuyến khích xuất khẩu như là chính sách tỷ giá, chính sách thuế quan, quỹ tín dụng khuyến khích xuất khẩu
- Thuận lợi về phía công ty: Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội có lịch sử hình thành từ lâu, công ty có đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo Có một bề dầy lịch
sử và có uy tín trên thị trường, điều đó tạo ra những thuận lợi nhất định Công ty
có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trên thị trường thế giới, có quan hệ kinh doanh với nhiều nước, do vậy tương đối am hiểu về thị trường thế giới Công ty
đã tạo được chữ tín để giữ quan hệ lâu dài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi Ngoài những thuận lợi trên còn có những thuận lợi riêng của ngành Da giầy đó là việc
Trang 16sử dụng nhiều lao động không đòi hỏi kỹ thuật cao mà Việt Nam đang có lợi thế
có nguồn nhân lực dồi dào, giá lao động thấp
* Khó khăn:
- Khó khăn từ chính sách kinh tế vĩ mô: Sự quản lý không thống nhất của Chính phủ, những thủ tục hành chính rườm rà, thói quen quan liêu của cán bộ ngành thuế và hải quan gây không ít trở ngại cho hoạt động xuất khẩu của công
ty Khả năng quản lý hệ thống ngân hàng của Việt Nam còn yếu, chưa có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về thanh toán quốc tế Do đó đôi khi còn có những sai sót làm ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của công ty Sự hỗ trợ của Chính phủ tỏ ra kém hiệu quả khiến công ty gặp nhiều khó khăn trong các hoạt
động nghiên cứu thị trường quốc tế, quảng cáo, tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế
- Khó khăn về phía công ty:
Khó khăn về vốn: Muốn kinh doanh đạt hiệu quả cao thì cần phải có vốn, vốn càng nhiều thì càng có cơ hội kinh doanh tốt Nhưng hiện nay vốn kinh doanh chỉ là con số khiêm tốn đối với khả năng của công ty Chính vì vậy nhiều khi công ty bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh tốt Nếu có vốn công ty có thể đầu tư thêm chiều sâu, tăng cường máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm tăng thêm tính cạnh tranh
Do chỉ mới xây dựng được các kế hoạch kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu mà chưa xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên sự phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh nên công ty không lường trước được các yếu tố ảnh hưởng phức tạp của môi trường Công ty thường bị động khi có sự thay đổi Ngoài ra, công tác nghiên cứu thị trường còn mờ nhạt nên các giải pháp có tính chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là hoạt động xuất khẩu thiếu vắng sự phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh quốc tế
Đội ngũ kỹ thuật và công nhân lành nghề còn thiếu nhất là cán bộ nghiệp
vụ có kinh nghiệm trong giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng Do vậy khách hàng nước ngoài thường giành thế chủ động trong công việc này
Trang 17Việc tuyển thêm công nhân còn phụ thuộc vào thời cuộc, chưa ổn định nên khó ổn định số lượng lao động
1.2.3 Sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu Giầy của Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Xuất khẩu Giầy được đánh giá là hoạt động đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho công ty Nhờ có hoạt động xuất khẩu Giầy mà hàng năm công ty nộp ngân sách cho Nhà nước hàng trăm triệu đồng Qua đó góp phần vào đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế mở làm cho
đất nước ngày càng phát triển nâng cao đời sống Nhân dân
Hoạt động xuất khẩu Giầy còn giúp cho công ty có cơ hội mở rộng thị trường, tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường Giầy thế giới, mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ với nước ngoài nhất là các nước có công nghệ sản xuất Giầy tiên tiến Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu Giầy còn là phương tiện tạo vốn giúp công ty có thêm sức mạnh trong cạnh tranh và đầu tư lại vào quá trình sản xuất Thông qua xuất khẩu Giầy công ty có điều kiện tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nước có khoa học, công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giầy tiên tiến Hơn thế nữa, công ty còn có cơ hội tiếp xúc, học hỏi những kinh nghiệm về đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh của những nước có cách quản lý khoa học, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh
Không những thế, hoạt động xuất khẩu Giầy còn thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm có thu nhập ổn định và cải thiện đời sống cho họ
Với những kết quả mà hoạt động xuất khẩu Giầy đã đem lại cho công ty,
ta đã thấy được xuất khẩu có vai trò quan trọng như thế nào Chính vì vậy, công
ty đã đang và sẽ cố gắng để thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu Giầy
Tóm lại, phần lý luận chung về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp đã nêu mục tiêu, nội dung của hoạt động xuất khẩu, các hình thức xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp Đây là những vấn đề doanh nghiệp cần phải biết và nắm
rõ để tiến hành thực hiện hoạt động xuất khẩu Qua phần nêu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu Giầy của Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội như các nhân tố thị trường, khoa học công nghệ và các nhân tố bên trong doanh nghiệp sẽ giúp cho công ty nắm bắt được cơ hội đồng thời tránh những rủi
ro trong kinh doanh
Trang 18Phần II
Thực trạng hoạt động xuất khẩu giầy
ở Công ty Cổ phần Giầy Hμ Nội trong giai đoạn
(1999 – 2002)
2.1 đôi nét về Công ty Cổ phần Giầy Hμ Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của Công ty Cổ phần
Giầy Hà Nội
* Quá trình hình thành của công ty
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội tiền thân là một phân xưởng Giầy của Nhà máy Quốc phòng X40 trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội Trước đây, cơ sở này chuyên sản xuất hàng găng tay, giầy, may mặc, bao đựng quân khí như dây lưng, bao súng và đồ quân nhu khác Ban đầu cơ sở chỉ có 83 người với 259.595 đồng vốn lưu động (Theo thời giá lúc đó)
Nhiệm vụ của công ty là sản xuất găng tay, giầy và đồ quân nhu, quân khí như dây lưng, bao súng phục vụ cho quốc phòng Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng quốc phòng, an ninh ngày càng tăng, UBND thành phố Hà Nội và Sở công nghiệp thành phố Hà Nội đã quyết định tách xưởng Giầy thành Xí nghiệp Giầy
da Hà Nội năm 1968
Năm 1992, công ty làm thủ tục thành lập lại doanh nghiệp theo giấy phép
số 2766/QĐUB ngày 10/11/1992 với số vốn là: - Vốn cố định: 3.026 tỷ đồng
- Vốn lưu động: 0.786 tỷ đồng Nhiệm vụ trực tiếp của công ty trong những năm 1992 - 1993 là sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các loại hàng hoá vật tư từ da và giả da
Năm 1994, Xí nghiệp Giầy da Hà Nội được đổi tên thành Công ty Giầy Hà Nội theo quy định số 1538/ QĐUB ngày 12/8/1994 của UBND thành phố Hà Nội
và có tên giao dịch quốc tế là HASJOCO
Trang 19Năm 1998, căn cứ vào quyết định số 4177/ QĐUB ngày 11/10/1998 của thanh phố Hà Nội cho phép Công ty Giầy Hà Nội được tiến hành làm thủ tục cổ phần hoá để chuyển doanh nghiệp Nhà Nước - Công ty Giầy Hà Nội thành Công
ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Tên gọi bằng tiếng Việt: Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Ha Noi Joint Stock Company
Tên viết tắt: HASJOCO
Trụ sở chính: 35 phố Cự Lộc phường Thượng Đình quận Thanh Xuân Hà Nội
Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty: Bà Trần Thị Thu
Tên Giám đốc công ty: Ông Phạm Ngọc Tuế
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm: 32 Hàng Muối - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Nhiệm vụ của công ty sau khi chuyển thành doanh nghiệp cổ phần đến nay là:
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội hoạt động nhằm ổn định việc làm, thu nhập cho người lao động và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh ngành nghề da giầy đã đăng ký, xuất nhập khẩu các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hoá chất phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh chế biến da giầy của công ty và các đơn vị cùng ngành
* Quá trình phát triển của công ty
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, quan hệ kinh tế giữa các nước
Đông Âu phát triển mạnh mẽ, nhờ đó các doanh nghiệp may và giày da có đơn hàng sản xuất các sản phẩm găng tay xuất khẩu đi Liên Xô, Tiệp, Đức Tuy nhiên trong thời kỳ này hàng quốc phòng vẫn chiếm một tỷ lệ lớn
Từ năm 1992, việc sản xuất hàng xuất khẩu sang các nước anh em ngày càng được mở rộng quy mô Các hợp đồng đặt hàng gia công ngày càng lớn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong thời gian dài hoạt động sản xuất
Trang 20kinh doanh của công ty Công ty có việc làm quanh năm, cơ sở để đảm bảo cho tình hình trên là các hợp đồng, các đơn đặt hàng của các nước Quy mô của mỗi hợp đồng có khi lên tới hàng triệu đơn vị sản phẩm
Từ năm 1986-1990, quan hệ giữa Việt Nam với các nước Liên Xô cũ về kinh tế ngày càng phát triển Việc sản xuất của công ty thời kỳ này chủ yếu là xuất khẩu, chiếm 90% sản lượng sản xuất Mặt hàng xuất khẩu bao gồm: găng tay, mũ, giầy để xuất khẩu sang Ba Lan, Tiệp, Liên Xô thông qua hình thức gia công xuất khẩu Thông qua hình thức xuất khẩu này, công ty đã nhập về một số máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất và thu tiền công bằng ngoại tệ
Hết năm 1990 cũng là năm công ty gặp nhiều biến động, biến động của toàn ngành nói chung và của công ty nói riêng Từ việc sản phẩm của công ty
được tiêu thụ theo địa chỉ đến việc giá cả do Nhà nước quy định Các sản phẩm của công ty có đặc điểm khác với các sản phẩm khác Sản phẩm của công ty là sản phẩm chạy theo mốt thời trang, kiểu cách mẫu mã các sản phẩm thường xuyên thay đổi Vì vậy công ty phải tự lo cho đơn hàng sản xuất của từng khách hàng gia công
Công ty phải tự chủ hạch toán đảm bảo sản xuất kinh doanh của công ty
có lãi nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và thu nhập cho cán bộ công nhân viên không ngừng tăng
Sau 30 năm xây dựng và phát triển, được sự hỗ trợ của cấp trên cùng với những nỗ lực của chính bản thân, công ty đã từng bước trưởng thành đáng kể so với những ngày đầu mới thành lập
Đến ngày 31/12/1996, công ty đã có 583 máy sản xuất đồ da với 11 chủng loại khác nhau; 1 dây chuyền sản xuất cặp túi cao cấp; 1 dây chuyền sản xuất giày hoàn chỉnh Với 860 lao động làm việc; công ty được phép sử dụng 17.500
m2 đất nhà xưởng Với số vốn lưu động là 1,8112 tỷ đồng
Trang 21Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
Đến ngày 31/12/1997, số máy móc thiết bị của công ty vẫn giữ nguyên ngoài việc công ty nhập thêm một dây chuyền sản xuất cặp túi dả gia Số lao
động của công ty là 800 người, diện tích đất là 18.275 m2 Vốn lưu động là 2,6307 tỷ đồng
Công ty đã thiết lập được mối quan hệ với các công ty giầy da trong nước, khu vực và trên thế giới Nhờ đó đã có những hợp đồng gia công đáng kể, tháo
gỡ được những khó khăn trong thời kỳ quá độ
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty: Được chính thức thành lập ngày 12/8/1994, công ty Giầy Hà Nội đã được Sở công nghiệp Hà Nội trao dây chuyền sản xuất gia công theo hợp đồng các mặt hàng về da, giả da và một số mặt hàng mới khác phục vụ cho xuất khẩu và tiều dùng trong nước góp phần tăng thu ngoại tệ phát triển kinh tế đất nước
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý công ty
Công ty thực hiện cơ cấu tổ chức theo chế độ một thủ trưởng Giám đốc Phạm Ngọc Tuế là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Hội đồng quản trị và
Đại hội cổ đông
Giúp việc cho Giám đốc có 2 Phó giám đốc là Phó giám đốc sản xuất -
Ông Nguyễn Quốc Quân và Phó giám đốc kinh doanh – Bà TrầnThị Thu
Giám đốc công ty giữ vai trò lãnh đạo chung, chịu trách nhiện mọi hoạt
động cũng như việc sản xuất kinh doanh của công ty đối với Nhà nước và cơ quan cấp trên là Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông
Trang 22Giám đốc được sự giúp đỡ của các Phó giám đốc và các phòng ban chức năng
Cơ quan cao nhất của công ty là Đại hội cổ đông Bộ máy lãnh đạo có quyền lực cao nhất ở công ty là Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị do Đại hội
cổ đông bầu ra, Hội đồng quản trị gồm 7 thành viên, mỗi thành viên có một chức năng và nhiệm vụ khác nhau Trong đó người có quyền quyết định cao nhất là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó giám đốc kinh doanh công ty: Bà Trần Thị Thu Chủ tịch Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty đồng thời đại diện cho quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong hoạt động sản xuất kinh doanh cuả công ty
Ban kiểm soát gồm 3 thành viên, kiểm soát viên ban kiểm soát có nhiệm
vụ bảo vệ lợi ích các Cổ đông, kiểm tra kiểm soát những sai phạm pháp luật về
điều lệ của công ty
Công ty từ khi cổ phần hoá có trên 400 cổ đông Vốn điều lệ 5,8 tỷ đồng,
cổ đông là cán bộ công nhân viên trong công ty, công ty không phát hành cổ phiếu ra bên ngoài
Hội đồng quản trị họp định kỳ theo quý, khi cần có thể họp đột xuất Một nhiệm kỳ Hội đồng quản trị là 3 năm
Đại hội cổ đông 1 năm họp một lần, công bố quyết toán tài chính năm, quyết định tỷ lệ cổ tức chia cho cổ đông
Trang 23Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội
Phân xưởng May
I
Phân xưởng May
II
Phân xưởng May III
Phân xưởng cắt
Phó giám đốc 2
Phòng
kế hoạch
& xnk
Phòng bảo
vệ
Phòng T.C H.C
Phòng tài
vụ
Phòng cung tiêu
Phòng cơ
điện
Phòng
kỹ
thuật
Trang 242.1.3 Hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị
Trong thời kỳ mới thành lập, công ty có những trang bị về tài sản cố định nghèo nàn với quy trình công nghệ đơn giản Máy móc thiết bị thuộc dây chuyền sản xuất của Nhà máy Quốc phòng X40 với giá trị còn lại thấp và trình độ tay nghề của công nhân còn hạn chế
Do nhu cầu sản xuất phát triển nên việc trang bị đổi mới máy móc công nghệ được công ty quan tâm hàng đầu Công ty đã cố gắng trang bị thêm dây chuyền sản xuất mới, công nghệ hiện đại đồng thời đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân để đáp ứng nhu cầu sản xuất Số máy móc thiết bị của công ty
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Tổng hợp các loại thiết bị hiện có của công ty đến ngày
31/12/2002
Chủng loại - tính năng Nước sản xuất Số lượng
(Chiếc)
Giá trị còn lại (%)
Máy may bàn 1 kim Tiệp - Nhật 304 80
Máy may bàn 2 kim Tiệp - Nhật 85 80
Máy thổi teo chỉ Thái - Đ.Loan 6 70
Dây chuyền sản xuất Giầy Tiệp - Nhật 1 70
Dây chuyền sx cặp túi cao cấp Italia 1 80
Dây chuyền bồi vải cắt viền Đài Loan 1 90
Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
Trang 25Tình hình kho tàng, nhà xưởng của công ty do đã xây dựng từ rất lâu và đã qua sử dụng nhiều năm nên một số phân xưởng sản xuất đã xuống cấp Nhưng công ty đã kịp thời sửa chữa để không làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất
2.1.4 Công nghệ sản xuất
Công ty Giầy Hà Nội trong gần một thập kỷ qua đã có những bước tiến
đáng kể trong việc thay đổi máy móc thiết bị sản xuất từ cũ kỹ lạc hậu dần dần
đã được thay thế bằng máy móc dây chuyền sản xuất tiên tiến giúp cho công nhân không mất nhiều sức lao động mà sản phẩm làm ra lại đáp ứng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật
Dựa vào lợi thế của công ty là gia công sản phẩm hoàn chỉnh cho các công
ty nước ngoài mà các công ty này đã có những kỹ thuật cao trong công nghệ sản xuất giầy dép, cặp túi như Italia hay Hàn Quốc Đây là những đối tác lớn của công ty, họ có những kỹ thuật cao trong việc sáng tạo các mẫu mốt cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và đạt yêu cầu kỹ thuật, xây dựng quy trình công nghệ sản xuất sẵn có Qua đó công ty cũng học hỏi được rất nhiều từ phía các bạn hàng để đổi mới nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Cụ thể công ty đã xây dựng quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, sắp xếp bố trí sản xuất các sản phẩm theo yêu cầu khác nhau của đơn hàng
Sơ đồ 4: Quy trình công nghệ sản xuất Túi
Nhận mẫu
của đối tác
May túi
Chế thử mẫu
Cắt mẫu dưỡng
Đặt dao chặt
Đóng gói
Trang 26Nhờ có công nghệ mới, công ty đã gây được uy tín lớn đối với các khách hàng, đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về chất lượng, số lượng, chủng loại sản phẩm
2.1.5 Công tác điều độ sản xuất, bố trí điều hành sản xuất nội bộ
Tổ 2
Tổ trưởng
Tổ 2
Công nhân
Tổ 3
Công nhân
Tổ 4
Trang 27+ Phân xưởng Việt ý: chuyên sản xuất các loại cặp túi, ví da các loại, cũng là một phân xưởng khép kín từ khâu bảo quản, xuất vật tư đến khâu nhập thành phẩm
Sơ đồ 6: Bố trí máy trong phân xưởng Việt ý
+ Phân xưởng cắt và phân xưởng may túi Hàn Quốc: 2 xưởng này chuyên cắt may túi các loại cho đối tác Hàn Quốc
+ Phân xưởng May làm đa dạng các loại sản phẩm trên Mỗi dẫy sản phẩm đòi hỏi một số máy móc chuyên dùng riêng nên máy móc thiết bị được bố trí cố định ở từng xưởng Các xưởng tự quản lý máy móc thiết bị của mình Trường hợp cần thiết có thể điều chuyển từ phân xưởng này sang phân xưởng khác
2.1.6 Lao động, tiền lương, đào tạo và bồi dưỡng
- Lực lượng lao động của công ty
Lực lượng lao động trong công ty hiện nay tuổi đời còn rất trẻ, bình quân
là từ 23 - 25 tuổi được đào tạo theo hình thức đào tạo tại chỗ dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình sản xuất Lực lượng lao động của công
ty đến từ nhiều nơi khác nhau
Lao động gián tiếp của công ty hàng năm khoảng 90 người đa số là trình
độ đại học Hàng năm công ty vẫn cử một số người ở các phòng lãnh đạo đi học thêm để nâng cao nghiệp vụ phục vụ tốt hơn cho hoạt động kinh doanh
Lao động trực tiếp của công ty chiếm khoảng 90% tổng số lao động Số lao động có trình độ tay nghề cao còn thấp Công ty đã tạo mọi điều kiện để cho người lao động an tâm sản xuất như bảo đảm chỗ ở cho những người lao động từ nơi xa đến, luôn quan tâm đến an toàn cho người lao động
Máy thổi teo chỉMáy tẩy
keo
Trang 28Bảng 4: Tổng hợp tình hình lao động của công ty thời kỳ (1997 - 2001)
Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
Bảng 5: Thu nhập bình quân của công ty đều tăng qua các năm
Hiện nay công ty đang áp dụng hai hình thức trả lương
- Lương theo thời gian
- Lương theo sản phẩm
Trang 29Hình thức lương theo thời gian được áp dụng cho những cán bộ viên chức hành chính, phòng tài vụ, phòng kế hoạch
Phương pháp tính lương theo thời gian
Lương tháng = Mức lương tối thiểu * Hệ số bậc lương + Phụ cấp
do Nhà nước quy định Lương thời gian = Lương 1 ngày công * Số công làm thực tế
Tiền lương 1 ngày công = Lương tháng/ 26 ngày công
Các khoản khấu trừ trích theo quy định của Nhà nước
VD: Tính lương cho cán bộ Đỗ thị Nga làm việc tại phòng tài vụ như sau:
Hệ số lương: 2,5
Lương tháng = 2,5 * 210.000 = 525.000 đồng
Lương 1 ngày = 525.000/ 26 = 20.192,307 đồng
Hình thức lương theo sản phẩm là hình thức hưởng lương theo sản phẩm
và tính chất công việc Hình thức trả lương này được căn cứ vào khối lượng (hay
số lượng) sản phẩm, công việc hoàn thành đảm bảo đúng theo yêu cầu chất lượng theo quy định đơn giá Nó được áp dụng để trả lương cho các lao động tại các phân xưởng sản xuất
được tổng tiền lương cho cả tổ Tiền lương sẽ được phát xuống từng phân xưởng
và đưa về cho từng tổ, tổ trưởng có nhiệm vụ phát lương cho các thành viên trong
tổ căn cứ vào bảng chấm công
Trang 30Mỗi tháng cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần Giầy Hà Nội
được nghỉ phép theo tiêu chuẩn là 1 ngày và được hưởng lương như đi làm do công ty trả Nếu những tháng trước chưa nghỉ đến tháng này nghỉ liền 2 ngày phép nằm trong tiêu chuẩn thì vẫn được tính lương những ngày đó như đi làm Còn nếu nghỉ ngoài tiêu chuẩn coi như nghỉ vì việc riêng
Về việc thanh toán lương, sau khi kiểm tra không có sai sót, kế toán tiền lương căn cứ vào bảng lương thanh toán tiền lương và phụ cấp Từ đó lên sổ tổng hợp thanh toán tiền lương vào cuối tháng
- Công tác đào tạo bồi dưỡng lao động kỹ thuật
Việc đào tạo được thực hiện hàng năm ở tất cả các phân xưởng sản xuất, chủ yếu đào tạo trên thực tế sản xuất sau đó tổ chức kiểm tra chấm điểm để sát hạch tay nghề
+ Biện pháp để kích thích tăng năng sất lao động
Công ty đã sử dụng một số biện pháp sau để kích thích tăng năng suất lao
động:
Thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động
Thưởng theo hiệu quả lao động (Thưởng theo phần vượt năng suất- ai vượt năng suất càng cao thì tỉ lệ thưởng càng nhiều)
áp dụng hình thức khoán theo công việc
2.1.7 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Giầy Hà
Nội
Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội từ năm 1998 trở đi đã có nhiều cố gắng vượt qua khó khăn hoàn thiện dần cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất Nhanh chóng bắt kịp cơ chế thị trường, làm ăn liên tục có lãi năm sau cao hơn năm trước Cán bộ công nhân viên có việc làm thường xuyên, đời sống của người lao
động đã dần được ổn định và đảm bảo
Sau đây là một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (1999-2001)
Trang 31Bảng 6: Tổng kết các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Đ−ợc −u đãi khuyến khích đầu t−
7.Sp sx & tiêu thụ
Giầy các loại Đôi 534.000 599.000 640.000
Túi Italia Chiếc 15.000 10.500 9.500
Túi Hàn Quốc Chiếc 23.000 19.700 10.100
Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
Trang 32Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội qua một thời gian dài hoạt động đã khẳng
định được chỗ đứng của mình ở thị trường Giầy Thị trường của công ty ngày càng được mở rộng Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày một tăng tạo được công ăn việc làm cho nhiều lao động, ổn định thu nhập tạo mọi điều kiện cho họ yên tâm sản xuất, sản phẩm của công ty có mẫu mã kiểu dáng đẹp đa dạng chất lượng tốt đáp ứng được cả những thị trường khó tính như
EU, Nhật Bản Bên cạnh những mặt làm được công ty còn có một số khó khăn nhất định, đó là công ty còn thiếu vốn kinh doanh, máy móc thiết bị công nghệ sản xuất còn ở mức trung bình, tay nghề công nhân còn thấp
2.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu Giầy của Công ty
Cổ phần Giầy Hμ Nội
2.2.1 Vị trí của mặt hàng Giầy trong sản xuất - kinh doanh của công ty
Ngành Giầy da xuất khẩu trong công ty thực sự là một lĩnh vực chủ chốt
và đem lại hiệu quả cao cho công ty Thời gian đầu vào những năm 90 chỉ có một vài chuyến hàng sang Liên Xô và châu Âu mà giá trị của lô hàng cũng rất thấp Nguyên nhân chính là trong thời gian này Nhà nước mới mở của thị trường, công ty vẫn chưa thoát được tư duy kinh tế bao cấp, thị trường hẹp, chỉ quen với một số bạn hàng truyền thống là các nước XHCN cũ Tuy nhiên theo cùng xu hướng phát triển kinh tế trong và ngoài nước, công ty đã nhận thấy tiềm năng của mặt hàng xuất khẩu Giầy da Đây là mặt hàng sử dụng nhiều lao động thích hợp với các nước đang phát triển vì có thể tận dụng được nguồn lao động rẻ qua
đó giảm được giá thành sản phẩm Hơn nữa xu thế khu vực hoá là phổ biến, những nước công nghiệp phát triển sẽ đưa các công nghệ sử dụng nhiều lao động sang các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh Vì vậy mặt hàng Giầy
da xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng trong hầu hết các nước được đầu tư mà Việt Nam chúng ta là một điển hình
Nắm bắt được xu thế đó, công ty đã phát huy được khả năng, nhanh chóng tiếp cận mặt hàng này, thành quả của nó được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu qua các năm
Trang 33Bảng 7: Kết quả thực hiện kim ngạch xuất khẩu Giầy
Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy sự tăng trưởng không ngừng trong kim
ngạch xuất khẩu hàng Giầy của công ty Thời gian đầu mới chỉ đạt 2197,9 ngàn
USD chiếm tỷ trọng 68,67% trong tổng khối lượng hàng xuất khẩu Nhưng dần
qua các năm kim ngạch xuất khẩu Giầy đều tăng Hơn nữa tỷ trọng xuất khẩu
Giầy so với tổng kim ngạch xuất khẩu cũng đều tăng, năm sau cao hơn năm
trước, cụ thể đến năm 2002 đạt 85,01%
Những con số trên đã chứng minh được sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực
Giầy Đây là kết quả của việc nắm bắt xu hướng mới, tận dụng có hiệu quả khả
năng sẵn có của công ty Mặt hàng Giầy đã từng bước trở thành mặt hàng xuất
khẩu chủ đạo của công ty
Thông qua lĩnh vực gia công xuất khẩu Giầy công ty đã góp phần tạo công
ăn việc làm cho hàng trăm lao động đồng thời giúp công ty khai thác được các
lợi thế về lao động rẻ của Việt Nam
Trang 34Nhờ có mặt hàng Giầy xuất khẩu công ty đã thu được ngoại tệ lớn và sử dụng nó để mua sắm, nhập khẩu các loại máy móc, nguyên vật liệu phục vụ cho công tác sản xuất kinh doanh
Để thấy rõ hơn về sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Giầy ta nhìn vào đồ thị sau:
Đồ thị 1: Kim ngạch xuất khẩu Giầy của công ty từ năm 1996-2002
Nguồn: Phòng Kế hoạch & XNK
2.2.2 Xây dựng nguồn hàng phục vụ cho xuất khẩu
Công ty cổ phần Giầy Hà Nội là một đơn vị sản xuất có chức năng gia công xuất khẩu, cho nên hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu có tính chất
đặc thù cho một đơn vị sản xuất
2.2.2.1 Tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất
Nguyên liệu là một khâu quan trọng tạo nên chất lượng hàng hoá Nguyên liệu tốt kết hợp với mẫu mã sản phẩm đẹp thì sẽ tạo ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao Nguyên liệu công ty khai thác từ 2 nguồn:
Nguyên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất do đối tác cung cấp Do thiếu vốn kinh doanh nên công ty không đủ khả năng để cung cấp nguyên vật liệu
01000
Trang 35chính Hơn nữa nguyên liệu chính mà đối tác yêu cầu đòi hỏi chất lượng rất cao, thị trường da trong nước cũng khó đáp ứng Việc để đối tác cung cấp nguyên vật liệu chính đôi khi cũng gây khó khăn cho công ty do việc cung cấp nguyên liệu phụ thuộc vào thời gian Công ty ở vào thế bị động đôi khi không đảm bảo tiến
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của phòng Kế hoạch & XNK
- Chủng loại nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất gồm có vật liệu chính và vật liệu phụ
Vật liệu chính gồm: da, giả da, vải lót, đế các loại
Vật liệu phụ gồm: chỉ may, khoá các loại, mác, keo dán
- Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu
Công ty chủ yếu nhận hợp đồng làm hàng gia công xuất khẩu, do đó nguyên vật liệu cùng với định mức nguyên vật liệu phía đối tác đã tính toán và
đưa sang Công ty chỉ kiểm tra lại xem định mức đó đã đúng hay chưa, nếu chưa
đúng thì kiến nghị với phía đối tác để họ xem xét và chỉnh sửa
Trang 36Bảng 9: Tổng hợp nguyên vật liệu mũ giầy cụ thể như sau:
Nguồn: Phòng cung tiêu
- Phương pháp bảo quản, dự trữ, cấp phát nguyên vật liệu
Công ty có 3 đối tác chính là Italia, Hàn Quốc và Thái Lan Việc quản lý
và cấp phát được theo dõi riêng cho từng đối tác Vật tư của từng đối tác được
theo dõi riêng cho từng đối tác ở 1 kho riêng Thủ kho là người của công ty và có
sự kiểm tra của chuyên gia Việc cấp phát vật tư dựa trên định mức nguyên vật
liệu đã xây dựng
2.2.2.2 Quy trình sản xuất Giầy tại công ty.
Các đối tác của công ty hiện nay đều là những đối tác quen thuộc như:
Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, một số nước EU và Đông Âu Các đối tác này
đặt hàng gia công tại công ty và các khâu như thiết kế mẫu mã, kiểu dáng, cung
ứng nguyên vật liệu và định mức tiêu dùng nguyên vật liệu đều do họ làm và đưa
sang Mẫu mã được phòng kỹ thuật chế thử nếu đúng tiêu chuẩn đạt yêu cầu chất
lượng của đối tác thì sẽ đưa xuống phân xưởng sản xuất
Mẫu mã sản phẩm của đối tác đưa sang phải ghi rõ
- Kiểu dáng, loại form phải dùng là gì?
- Mầu sắc của da, giả da, vải lót, chất liệu và các phụ kiện đi kèm như chỉ, oze,
keo, mác