1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp

109 272 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 6,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt 5 năm qua với sự kiên trì học tập từ chuyên gia và trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn, các trường đại học nông nghiệp mà đặc biệt là Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên c

Trang 2

DỰ ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM – HÀ LAN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ:

HUẾ-2009

Trang 4

Trong suốt 5 năm qua với sự kiên trì học tập từ chuyên gia và trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn, các trường đại học nông nghiệp mà đặc biệt là Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Trường Đại học Nông lâm Huế, phòng Đào tạo và công tác sinh viên và các khoa khác chúng tôi đã nỗ lực hết sức mình để xây dựng và thực hiện tốt chương trình Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.

Với hi vọng và tiếp tục hoàn thiện và mở rộng, phát triển hướng đào tạo này cho các chuyên ngành khác trong và ngoài trường chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bạn đọc về toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện chương trình, cũng như các kết quả đã đạt được của khoa, trường Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía bạn đọc cũng như mong muốn có cơ hội được truyền đạt những kinh nghiệm thực tiễn của mình thu được trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn

Huế, ngày tháng năm 2009

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG .1

1.1 Lịch sử giáo dục 50 năm qua: mối quan hệ mật thiết giữa việc làm và giáo dục 1

1.2 Giới thiệu về giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp (POHE) 3

1.3 Mô tả dự án Profed 4

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP (POHE) 6

2.1 Khung chương trình mở và dựa trên cơ sở công việc 6

2.2 Xác định trình độ chuyên môn của sinh viên tốt nghiệp POHE .6

2.3 Sự tham gia của thế giới việc làm trong quá trình giáo dục POHE .7

2.4 Dạy học dựa vào năng lực .8

2.5 Kết hợp các phương pháp giáo dục 8

2.6 Đánh giá dựa vào năng lực .9

2.7 Phương pháp tiếp cận đặt người học làm trung tâm của quá trình học tập 9

CHƯƠNG 3 CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP (POHE) 11

3.1 Định nghĩa chương trình đào tạo .11

3.2 Cấu trúc của một chương trình đào tạo đại học theo định hướng nghề nghiệp (POHE) .11

3.3 Mô tả các thành tố của một chương trình POHE .11

CHƯƠNG 4 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP (POHE) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ 14

4.1 Tiến trình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo .14

4.2 Xác định nhu cầu của xã hội, điều tra thế giới việc làm .14

4.3 Hồ sơ nghề nghiệp .23

4.4 Mô tả năng lực 24

4.5 Khung chương trình 32

Trang 7

CHƯƠNG 5 TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY, HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ 36

5.1 Từ giáo viên làm trung tâm sang sinh viên làm trung tâm .36

5.2 Quá trình học tập 39

5.3 Quá trình giảng dạy 42

5.4 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên 52

CHƯƠNG 6 ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH 57 6.1 Quan điểm về chất lượng và đánh giá chất lượng trong trường đại học 57

6.2 Vai trò và chức năng của đánh giá chất lượng trọng trường đại học 57

6.3 Làm thế nào để đánh giá được chất lượng chương trình POHE 58

CHƯƠNG 7 SỰ HỢP TÁC VỚI THẾ GIỚI VIỆC LÀM (WoW) VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CHƯƠNG TRÌNH POHE 61

7.1 Giới thiệu 61

7.2 Những loại quan hệ với WoW nào chúng ta phát triển trong chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp (POHE) ? .63

Trang 8

PHẦN PHỤ LỤC 69

Phụ lục 4.1 DANH SÁCH CÁC TỔ CHứC ĐIỀU TRA PHỎNG VẤN 69

Phụ lục 4.2: CÁC BIỂU PHỎNG VẤN 74

Phụ lục 4.2.1: BIỂU PHỎNG VẤN KỸ SƯ TRỒNG TRỌT LÀM VIỆC TẠI CÁC CÔNG SỞ NHÀ NƯỚC* 74

Phụ lục 4.2.2: BIỂU PHỎNG VẤN KỸ SƯ TRỒNG TRỌT LÀM VIỆC TẠI CÁC CÔNG TY .77

Phụ lục 4.2.3: BIỂU PHỎNG VẤN GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH CÔNG TY .80

Phụ lục 4.2.4: BIỂU PHỎNG VẤN QUẢN LÝ CÁC SỞ, PHÒNG, BAN HỌAT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP* 82

Phụ lục 6: CÁC BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ 84

Phụ lục 6.1: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 84

Phụ lục 6.2: PHIẾU ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH 88

(Cho giảng viên và cán bộ ) 88

Phụ lục 6.3: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CỦA WOW VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO .92

Phụ lục 6.4: BẢNG HỎI ĐỐI VỚI SINH VIÊN RA TRƯỜNG 96

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Lịch sử giáo dục 50 năm qua: mối quan hệ mật thiết giữa việc làm và giáo dục

Giáo dục là một bộ phận quan trọng của xã hội Việt Nam Việc học luôn được đánh giá cao bởi Nhà nước và mọi gia đình Từ trước đến nay, Nhà nước ta luôn xem giáo dục là một công cụ giảm nghèo và phát triển kinh tế Nhận thức được sự tăng trưởng của Việt Nam và sự hội nhập với kinh tế thế giới phụ thuộc vào trình độ kiến thức và khoa học kỹ thuật nên nhiều chính sách đã được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục Trong thời kỳ 1993-2000, sự đầu tư của Chính phủ vào giáo dục đã tăng 13,4% mỗi năm Trong những năm gần đây, 15% ngân sách Nhà nước được sử dụng cho giáo dục Nền giáo dục đại học trong nước ra đời vào những năm 1950 - thời kỳ mới thành lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Trong suốt quá trình phát triển

50 năm qua, cùng với những thay đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đất nước, giáo dục đại học đã có thay đổi lớn

Như ở các nước khác trên thế giới, nhiệm vụ chính của nền giáo dục trong quá trình phát triển là nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước và thỏa mãn nhu cầu học tập của nhân dân Những nhiệm vụ này phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ

Trong những năm 1960-1980 đất nước đi theo con đường phát triển kinh tế tập trung Trong suốt thời gian này, hệ thống giáo dục được quản lý và tổ chức dựa trên cơ chế bao cấp với nhiều công ty nhỏ hoạt động trên một lĩnh vực nhất định đã hạn chế

sự liên kết giữa giảng dạy và nghiên cứu Tổ chức những cơ quan giáo dục lớn hơn với nhiều bộ phận chuyên biệt phù hợp với các lĩnh vực kinh tế nhằm đào tạo đủ nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực kinh tế Sau khi tốt nghiệp đại học, sinh viên được phân công làm việc trong các tổ chức nhà nước Về mặt lý thuyết, thời kỳ này giáo dục đại học được tổ chức dựa trên nhu cầu tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng bởi nền giáo dục của Liên Xô cũ Trên thực tế, do tiềm lực tài chính còn hạn chế và chiến tranh với đế quốc Mỹ, nên việc nâng cao nền giáo dục của đất nước chưa nhận được đầy đủ ngân sách cũng như sự quan tâm đúng đắn của Chính phủ, do đó chưa thỏa mãn được nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế Mặt khác, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp không tạo được sự khích lệ cho các bên liên quan trong thế giới học thuật để họ học tập và làm việc Do đó, nền giáo dục đại học đã không phát triển phù hợp với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động

Từ thập niên 80 đến thập niên 90, thế kỷ 20 chính sách đổi mới nhằm phát triển kinh tế đã mang lại làn gió mới cho nền kinh tế Thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã bắt đầu tiến hành quá trình tư hữu hóa trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế bao gồm cả giáo dục Điều này đã mang lại nhiều thành tựu đáng chú ý với mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng Nền kinh tế thuộc quyền sở hữu Nhà nước được thay thế bởi nền kinh tế nhiều thành phần về phương diện quyền sở hữu Nền kinh tế này đã tạo ra sự đa dạng trong thị trường lao động với nhu cầu ngày

Trang 11

càng tăng về nhân lực có đủ trình độ Mục tiêu của Chính phủ nhằm nâng cao giáo dục

và đào tạo trong giai đoạn này là tăng mức độ phổ cập giáo dục và thay đổi điều kiện giáo dục từ đó chuẩn bị nguồn nhân lực để làm việc hiệu quả cho thị trường lao động Thay đổi chính trong chính sách giáo dục được thiết lập dựa trên những mục tiêu xa hơn đó là phát triển một hệ thống giáo dục tư thục bình đẳng với hệ thống giáo dục công lập Giáo dục tư thục bao gồm các tổ chức bán công, tư nhân, liên kết với nước ngoài và hoàn toàn do nước ngoài đầu tư Những tổ chức công lập bao gồm các tổ chức cơ quan thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, của các tỉnh thành hay các tổ chức xã hội Xã hội hóa giáo dục dẫn đến số lượng các trường đại học và cao đẳng ngày càng gia tăng, từ

120 trường đầu thập niên 90 lên đến 157 trường vào năm 2008 Các nghị định và nghị quyết mới được thông qua đã khích lệ mở rộng giáo dục tư thục Các trường đại học công lập được phép thu các khoản học phí của sinh viên, trong khi các tổ chức ngoài công lập tự quán xuyến chi phí tổ chức từ học phí thu của sinh viên và tự quản về tài chính Điều này tăng nhận thức của xã hội về việc chia sẻ chi phí giáo dục sau một thời

kỳ dài được bao cấp bởi chính phủ Một thay đổi đáng kể về nâng cao giáo dục là giáo dục không còn được xem như một phương thức đơn lẻ nhằm tạo ra việc làm cho xã hội nói chung, mà còn hỗ trợ nguồn nhân lực lành nghề cho các lĩnh vực tư nhân

Trong giai đoạn 2000-2005 trong điều kiện kinh tế tăng trưởng ổn định, trở thành thành viên WTO giúp nền kinh tế Việt Nam thu hút được nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài và ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Thị trường lao động được mở rộng và yêu cầu chất lượng lao động phải được nâng cao hơn nữa Điều này đã tạo thêm sức ép cho nền giáo dục hướng nghiệp và nâng cao nguồn lao động chất lượng cao cho đất nước nhằm đáp ứng làm việc trong tất cả các ngành kinh tế cả về số lượng và chất lượng Hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng tiếp tục được mở rộng theo cả hai hướng công lập và ngoài công lập Ngày càng nhiều các tổ chức chính phủ và phi chính phủ đầu tư vào giáo dục đại học Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm

2006, trong năm học 2001-2002 có 77 trường đại học và 114 trường cao đẳng trong cả nước, còn trong năm học 2005-2006 có 148 trường đại học và 163 trường cao đẳng Số lượng sinh viên đã tăng lên đáng kể, từ 0.62 triệu sinh viên trong năm học 1992-1993 lên 1 triệu trong năm học 2001-2002 và 1.38 triệu trong năm học 2005-2006

Việc thiết lập hệ thống giáo dục cũng được tiến hành cho từng vùng Có 3 kiểu trường đại học ở Việt Nam: các trường chuyên ngành, trường đa ngành đa lĩnh vực và đại học mở Loại trường thứ nhất tập trung vào một lĩnh vực đơn lẻ, trong khi dạng trường thứ hai thì được tổ chức với sự hợp nhất của nhiều chuyên ngành trong một thành phố lớn Kiểu thứ ba cũng là kiểu hình mới nhất trong giáo dục đại học ở Việt Nam là “đại học mở” ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Có một thực tế rằng cải cách giáo dục của Việt Nam không được tiến hành trên tất

cả các mặt, đặc biệt trong nội dung và phương pháp đào tạo Chương trình giảng dạy được tổ chức không dựa trên những thông tin từ thị trường lao động và vẫn giữ nguyên tính cứng nhắc, thiếu linh hoạt “Khung chương trình đào tạo” được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm nền tảng kiến thức không thay đổi nhiều lắm trong thời gian dài mặc dù nó đã đem lại những thay đổi sâu sắc cho nền kinh tế đất nước Các

cơ quan tổ chức giáo dục đại học được cung cấp khả năng hạn chế trong việc dựa vào chương trình khung để xây dựng chương trình giảng dạy đầy đủ phù hợp với những

Trang 12

ngành nghề yêu cầu Không có một cơ chế nào giúp thế giới việc làm có tiếng nói trong quá trình phát triển và thực hiện chương trình giảng dạy.

Phương pháp “người dạy là trung tâm” trong hệ thống giáo dục đại học đã được thử nghiệm rộng rãi ở tất cả các trường đại học với việc sử dụng cách thức giảng dạy chi phí thấp cho các mẫu lớp học đông sinh viên “Những phương pháp dạy và học lỗi thời với những gánh nặng về kiến thức mà không tập trung vào các phương pháp, kỹ năng

và thái độ” (như đã đề cập trong chương trình hội nghị bàn về cải cách năm 2005) đã dẫn đến lực lượng cử nhân chất lượng thấp và làm tăng thêm khoảng cách giữa nhu cầu của thị trường lao động và cung ứng từ các trường đại học Do đó, các công ty thường phải đào tạo lại hoặc đào tạo trong khi làm việc cho những cử nhân tốt nghiệp mà họ vừa mới tuyển dụng

1.2 Giới thiệu về giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp (POHE)

Ý nghĩa và nội dung của việc giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp (POHE) luôn thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về trình độ giáo dục của xã hội, những nhu cầu thực tế của thị trường lao động Chính vì vậy, giáo dục theo định hướng nghề nghiệp là một bộ phận rất quan trọng của hệ thống giáo dục nói chung và được liên kết chặt chẽ với các các

tổ chức và cá nhân quan trọng trong xã hội Đây là đối tượng có thể cung cấp thông tin

về những kỹ năng, kỹ xảo mới cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế và thị trường lao động

POHE cung cấp cho người học những trình độ chuyên môn cần thiết để có thể đạt đến những cấp độ cao nhất trong công việc Nó làm cho người học năng động và

có trách nhiệm hơn đối với xã hội Đồng thời giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp cũng là bước đệm để mỗi cá nhân tự phát triển kỹ năng, kỹ xảo trong suốt cuộc đời làm việc của mình, học tập để theo kịp với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật trong xã hội

POHE khuyến khích sự chuyển giao và áp dụng kiến thức lý thuyết trong các trường đại học vào thực tiễn sản xuất, áp dụng kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm vào công nghiệp Quá trình chuyển giao này phải đi từ việc học tập theo định hướng nghề nghiệp, nghiên cứu cơ bản và ứng dụng để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các quy trình sản xuất mới trong công nghiệp và các phương pháp tiếp cận mới trong kinh

tế POHE là yếu tố quyết định giúp lưu thông tri thức và đổi mới nền kinh tế Do đó, các tổ chức giáo dục đại học và cao hơn theo định hướng nghề nghiệp chính là các bộ phận kết nối trong một hệ thống phức hợp bao gồm: các công ty, tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan tuyển dụng lao động, các ngành dịch vụ Chính quyền địa phương và các trường Trung học phổ thông cung cấp thông tin và sinh viên cho các tổ chức giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp Chính sự kết hợp này đã tạo điều kiện cho các tổ chức này phản ứng lại và thậm chí có thể phán đoán được những sự thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội xảy ra trong quốc gia

Mỗi vùng lãnh thổ đều có những khác biệt nhất định về sự phát triển kinh tế xã hội Bằng việc liên kết chặt chẽ với nhiều cơ quan trong vùng, các tổ chức giáo dục theo định hướng nghề nghiệp trở thành động lực cho sự đổi mới và hỗ trợ sự phát triển của vùng bằng việc cung cấp một lực lượng lao động có chuyên môn Trái với các trường

Trang 13

đại học dựa vào nghiên cứu theo truyền thống, các tổ chức giáo dục theo định hướng nghề nghiệp có thể:

Đưa ra lời giải cho nhu cầu về giáo dục và đào tạo của xã hội;

-Đáp ứng các đòi hỏi ngày càng tăng của các công ty, tổ chức và các doanh

-nghiệp tư nhân nhỏ về lực lượng lao động có chuyên môn;

Tạo ra liên kết hiệu quả giữa thế giới việc làm và thế giới học tập;

-của xã hội và -của nền kinh tế dựa vào tri thức

POHE tập trung vào nhu cầu của xã hội và phản ứng trước những thay đổi về nhu cầu ở cấp quốc gia và địa phương Những đặc điểm tiêu biểu này được xem như một hiện tượng mới và đòi hỏi cần có sự quan tâm và chia sẻ thông tin giữa các nhóm trong

xã hội, cụ thể là: những nhà chính trị ở cấp quốc gia và địa phương, người tuyển dụng, các ngành dịch vụ, các sinh viên tương lai và gia đình của họ, ban giám hiệu các trường trung học phổ thông và cả các trường đại học truyền thống

1.3 Mô tả dự án Profed

Profed là là Dự án Giáo dục Đại học Việt Nam – Hà Lan thực hiện thí điểm tại 8 trường đại học ở Việt Nam và được tư vấn thường xuyên bởi các chuyên gia đến từ các trường học Hà Lan Dự án là một trong những nỗ lực nhằm hiểu rõ vấn đề giáo dục dựa trên yêu cầu của thị trường lao động được nêu ra trong Nghị quyết 14 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo Mục tiêu chính của dự án là:

(1) Tăng cường khả năng của 8 trường đại học thí điểm trong giáo dục theo định hướng nghề nghiệp và hướng vào nhu cầu của thị trường lao động

(2) Tăng cường khả năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng các chiến lược và chính sách phù hợp cho sự phát triển, thực hiện chương trình đào tạo đại học theo định hướng nghề nghiệp ở Việt Nam

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, dự án đã tiến hành các hoạt động giúp đỡ 8 trường đại học thí điểm phát triển và thực hiện chương trình đào tạo theo POHE, bao gồm:

Các hoạt động xây dựng năng lực: tổ chức nhiều buổi tập huấn về phát triển

-chương trình học, các phương pháp đánh giá sinh viên và giảng dạy

Cung cấp sự tư vấn thường xuyên cho các nhóm công tác ở các trường đại học

-thư viện, tài liệu học tập chương trình POHE

Giúp đỡ các trường đại học trong việc thiết lập mối quan hệ với thế giới việc -

làm trong quá trình thực hiện chương trình

Trang 14

Hiện tại, 8 chương trình POHE đang được thực hiện tại 8 trường đại học thí điểm với những kết quả đầy hứa hẹn cho thấy những đặc điểm ưu việt của các chương trình POHE Những đặc điểm chính của các chương trình này là:

Chương trình học theo các năng lực được xây dựng dựa trên điều tra về thị

Trang 15

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH

HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP (POHE)

POHE có một số đặc tính dựa vào đó dễ dàng phân biệt được với giáo dục đại học truyền thống

2.1 Khung chương trình mở và dựa trên cơ sở công việc

Ngay từ bước phát triển khung chương trình đào tạo người học được chuẩn bị để

có thể làm việc thành công trong các vị trí công việc của họ trong tương lai Phát triển khung chương trình POHE bắt đầu thiết lập liên kết giữa các trường đại học với các nhà tuyển dụng bằng các cuộc khảo sát thị trường lao động để xác định nhu cầu của thị trường lao động đối với ngành nghề cụ thể Mặc dù thực tế cho thấy rằng trước khi

dự án PROFED bắt đầu, rất khó để tìm thấy một mối liên kết rõ ràng giữa các trường đại học với thị trường lao động ở Việt Nam Các chương trình giảng dạy POHE trong

dự án PROFED được phát triển dựa trên các cuộc khảo sát của 8 trường đại học tham gia dự án Hàng trăm nhà tuyển dụng lao động trong các thành phần khác nhau của cả nước đã được viếng thăm, yêu cầu họ cung cấp thông tin cần thiết, ý kiến về nhu cầu tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp từ các trường đại học và các thông tin liên quan khác để xác định các hồ sơ nghề nghiệp (mô tả nghề nghiệp) Các hồ sơ nghề nghiệp đã được chuyển tải thành các hồ sơ giáo dục, hồ sơ này đại diện cho trình độ chuyên môn then chốt mà thế giới việc làm yêu cầu sinh viên mới tốt nghiệp đạt được cho từng vị trí công việc

Các chương trình giảng dạy POHE là rất linh hoạt và mở nhằm điều chỉnh để đáp ứng với những thay đổi của thị trường lao động trong các ngành nghề và những thay đổi về nhu cầu xã hội Một hội đồng tư vấn gồm các nhà chuyên môn, nhà quản lý từ thế giới việc làm (Hội đồng công giới) được thành lập cho từng chương trình POHE như là một cầu nối giữa hai thế giới: thế giới việc làm và thế giới học tập Hội đồng công giới là một thành phần quan trọng tham gia vào quá trình giáo dục của chương trình POHE Trường đại học liên lạc có hiệu quả với thị trường lao động thông qua hội đồng công giới Hội đồng công giới cũng có thể được xem như là một công cụ hiệu quả cho nhà trường để bắt kịp với những thay đổi về nhu cầu thị trường lao động và tiếp tục cập nhật chương trình giảng dạy Đây là một trong những đặc điểm chính của POHE

2.2 Xác định trình độ chuyên môn của sinh viên tốt nghiệp POHE

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tăng trưởng nhanh chóng và thay đổi trong phát triển kinh tế sinh viên tốt nghiệp POHE được chuẩn bị để có trình độ cần thiết nhằm thực hiện thành công công việc và nhiệm vụ được giao Chúng bao gồm:

(1) Trình độ chuyên môn nghiệp vụ rộng và thích ứng

Các chương trình POHE được phát triển theo cách qua đó cung cấp cho sinh viên cập nhật kiến thức dựa trên các nghiên cứu khoa học, các khái niệm và phát triển quốc

tế mới nhất

(2) Sự tích hợp đa phương

Trang 16

Sinh viên POHE tốt nghiệp có thể tích hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc chuyên nghiệp Bên cạnh các năng lực chuyên môn, sinh viên tốt nghiệp POHE được đào tạo với các kỹ năng chung/ kỹ năng mềm để có thể xử lý các tình huống phức tạp trong công việc

(3) ứng dụng khoa học

Có khả năng thực hiện các nghiên cứu ứng dụng trong nghề nghiệp là một trong những năng lực chính của sinh viên tốt nghiệp POHE để giải quyết các vấn đề trong một bối cảnh nghề nghiệp

(4) Sự chuyển giao và tính lợi ích rộng

Áp dụng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trong các tình huống khác nhau là biểu hiện rõ ràng trong bất kỳ hồ sơ năng lực của POHE

(5) Sự sáng tạo và phức hợp của các hành động

Phương pháp dạy và học dựa vào dự án được áp dụng rộng rãi trong các chương trình POHE giúp các sinh viên tốt nghiệp POHE có khả năng sử dụng các chiến lược giải quyết các vấn đề khác nhau trong những tình huống nghề nghiệp khác nhau (6) Vấn đề chỉ đạo công việc

Giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp giảng dạy chính được sử dụng

để đào tạo sinh viên POHE, những người sẽ có thể xác định và phân tích những vấn

đề phức tạp trong một tình huống nghề nghiệp bằng cách sử dụng các chiến lược giải quyết các vấn đề khác nhau

(7) Được đào tạo để có những kỹ năng mềm khác bao gồm: lập kế hoạch, quản lý, giao tiếp xã hội, hiển thị sự lãnh đạo nghề nghiệp

(8) Có khả năng phản ánh dựa trên tư duy, hành động độc lập và làm việc theo một cách thức có cấu trúc

(9) Có trách nhiệm xã hội và sẵn sàng tham gia vào sự thay đổi

(10) Có khả năng học tập suốt đời, liên tục cập nhật và mở rộng kiến thức đối với

sự tốt đẹp của nhân loại

2.3 Sự tham gia của thế giới việc làm trong quá trình giáo dục POHE

Để hỗ trợ sinh viên POHE tốt nghiệp đạt được các trình độ chuyên môn được liệt

kê ở trên, trường đại học cần phải hợp tác với Thế giới việc làm (WoW) thông qua Hội đồng công giới Trong thực tế thế giới việc làm tham gia vào quá trình giáo dục trong

dự án PROFED bằng các hình thức khác nhau Bên cạnh sự tham gia của WoW trong thiết kế chương trình đào tạo còn góp phần vào quá trình học tập vì liên quan đến tài trợ, các vị trí công việc, đánh giá sinh viên, đánh giá chương trình, tham gia giảng dạy hoặc hội thảo, vv Lợi ích của WoW khi tham gia POHE là việc các nhà sử dụng lao động có thể tuyển dụng nhân viên đúng với năng lực cần thiết mà không phải đào tạo lại Đây là một động lực cho sự hợp tác lâu dài giữa trường đại học và thế giới việc làm

Trang 17

2.4 Dạy học dựa vào năng lực

Năng lực là khả năng áp dụng kiến thức, kỹ năng và giá trị cho môi trường nơi làm việc có liên quan dựa trên các tiêu chuẩn theo yêu cầu của môi trường đó Khái niệm năng lực tập trung vào những khả năng mà người tuyển dụng mong đợi đối với một nhân viên tại nơi làm việc, hơn là vào quá trình học tập, và biểu hiện khả năng chuyển giao và áp dụng các kỹ năng và kiến thức vào các tình huống và môi trường mới Các chương trình POHE yêu cầu phương pháp học tập mới - nó được gọi là dạy học dựa vào năng lực (CBL) - để đạt được một tập hợp các kết quả học tập sau khi tốt nghiệp

mà thường được gọi là “hồ sơ năng lực”

Dạy học dựa vào năng lực là một phương pháp học tập trung vào những gì một người thực sự có thể làm như là kết quả của đào tạo Nó nhấn mạnh những nhiệm vụ đã được phân cho năng lực trong quá trình học tập bằng cách kết hợp năng lực với nhiệm

vụ được giao phó

Dạy học dựa vào năng lực có ba thành phần chính: kiến thức + kỹ năng + thái độ nghề nghiệp Nếu trong hệ thống đại học truyền thống, dạy học dựa vào kiến thức tập trung vào những gì một người học có thể biết, POHE tập trung vào đào tạo năng lực cần thiết cho nghề nghiệp cụ thể Một năng lực luôn luôn là một sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng

Trong bất kỳ chương trình POHE một bộ năng lực cốt lõi (gọi là hồ sơ năng lực) được định nghĩa trong quá trình thiết kế chương trình giảng dạy dựa trên hồ sơ nghề nghiệp Năng lực cốt lõi là những năng lực có liên quan đến một số thiết lập khác nhau Các thiết lập đó trao quyền cho người học để có thể thích ứng và chuyển giao học tập của họ từ một thiết lập này đến thiết lập khác Số lượng các năng lực trong một chương trình POHE khác nhau, từ 5 đến 8 phụ thuộc vào các yêu cầu nghề nghiệp Các năng lực cốt lõi cho một chương trình POHE bao gồm các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng

“mềm” Các kỹ năng mềm thường được tìm thấy phổ biến trong các chương trình POHE Trong hồ sơ năng lực từng năng lực được chia theo các cấp độ từ đơn giản đến phức tạp với tình huống nghề nghiệp cụ thể ở mỗi cấp

Các tình huống nghề nghiệp đã được phân công rõ ràng cho mỗi đơn vị học tập trong các chương trình giảng dạy POHE, trên cơ sở đó các hoạt động dạy và học được thiết kế và lập kế hoạch Nói cách khác, qua một đơn vị học tập (cho dù đó là một đơn

vị khóa học hoặc mô-đun) một sinh viên có khả năng giải quyết các tình huống nghề nghiệp và đạt được số tín chỉ nhất định được ấn định cho các khóa học hoặc mô-đun

2.5 Kết hợp các phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là một chiến thuật cụ thể của quá trình giáo dục nhằm mục đích thực hiện mục tiêu giáo dục Phương pháp giáo dục là một trong những thành phần

cơ bản của giáo dục vì nó là quá trình tổ chức giáo dục

Trong quan niệm truyền thống học tập chủ yếu được xác định bởi 3 thành phần: giáo viên, sinh viên và các nội dung học tập Những thành phần đại diện cho tam giác giáo dục truyền thống Quá trình học tập được tổ chức trong cách thức mà học tập là chuyển giao kiến thức

Trong POHE học tập là một phần của việc học thực tế Tam giác đã được cập nhật:

Trang 18

giáo viên sẽ trở thành người tạo điều kiện thuận lợi hoặc huấn luyện viên, sinh viên trở thành người học, và các nội dung được thay thế bằng các năng lực Sinh viên phải có khả năng hoàn thành các năng lực cần đạt được Chuyển giao kiến thức được mở rộng với một loạt các phương pháp Kỹ năng đào tạo và phát triển thái độ làm cho quá trình học tập phức tạp hơn Thiết lập một quá trình giáo dục phức tạp như vậy chủ yếu được thực hiện một bối cảnh khác nhau, trong đó môn học được thay thế bằng mô-đun Để đạt được những kết quả học tập được giao cho một mô-đun, phải áp dụng sự kết hợp các phương pháp giáo dục Những phương pháp này được lựa chọn khác nhau dựa trên các kiểu mô-đun trong chương trình Các mô-đun trong một khóa học, phổ biến kết hợp các phương pháp sau đây: giảng bài, bài tập, hội thảo, thảo luận nhóm, thuyết trình bằng miệng, thực hành phòng thí nghiệm / thực địa Ở các mô-đun thực hành một loạt các phương pháp được áp dụng, chẳng hạn như giải quyết vấn đề, thực hành dựa trên công việc, viết báo cáo, trình bày bằng miệng, giám sát, tư vấn, tự học tập Các hoạt động học được tổ chức trong các môi trường và bối cảnh khác nhau (như trong lớp học, phòng thí nghiệm, thực địa, nơi làm việc tại thế giới việc làm vv ) để giúp sinh viên trải nghiệm tình huống đời sống thực tế và kỹ năng thực hành Theo chu trình học tập của Kolb, chương rình POHE nhấn mạnh vào đào tạo kỹ năng bằng cách áp dụng học tập dựa vào dự án, sắp xếp việc làm và nghiên cứu ứng dụng Kết hợp các phương pháp giáo dục khác nhau trong các chương trình POHE tạo ra một liên kết chặt chẽ giữa giáo viên và sinh viên để đạt được kết quả học tập cao

2.6 Đánh giá dựa vào năng lực

Trong chương trình POHE, việc đánh giá sinh viên phức tạp hơn rất nhiều và được tiến hành ở từng mức của mô-đun Học tập dựa vào năng lực đòi hỏi cần phải có những đánh giá dựa vào năng lực Sinh viên được đánh giá về kiến thức, kỹ năng và thái độ Kết quả đánh giá được cụ thể hóa thành số tín chỉ mà sinh viên đạt được trong mỗi mô-đun Nhiều phương pháp đánh giá được áp dụng Tùy thuộc vào phương pháp giảng dạy, người đánh giá trong chương trình POHE có thể là chuyên gia WoW, sinh viên (trong các đánh giá chéo) Sự tham gia của WoW vào việc đánh giá sinh viên là rất quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng (như các dự án, thực tập định hướng nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp) Sự tham gia của sinh viên trong đánh giá của sinh viên là rất quan trọng trong các hoạt động nhóm, các phản hồi từ điểm thực tập, các thực hành trực tiếp trên thực địa Ngoài kết quả đánh giá sản phẩm (hoặc tổng kết), đánh giá tiến trình cũng rất phổ biến trong chương trình POHE Việc đánh giá này thúc đẩy sinh viên quản lý tốt hơn quá trình tự học của mình, đặc biệt là quá trình rèn luyện kỹ năng Chính sách đánh giá được thiết kế chu đáo là công cụ tốt cho việc đảm bảo chất lượng Đây chính

là một trong những đặc trưng chủ chốt của chương trình POHE

2.7 Phương pháp tiếp cận đặt người học làm trung tâm của quá trình học tập

Chuyển đổi từ phương pháp giáo dục hướng đến đầu vào sang phương pháp hướng đến đầu ra đã giúp sinh viên- người học - trở thành đối tượng của quá trình học tập trong chương trình POHE Việc học lấy người học làm trung tâm chú ý vào nhu cầu, khả năng, sở thích và cách thức học tập của sinh viên, trong đó giáo viên là những người hướng dẫn trong suốt quá trình học tập Điều này đòi hỏi sinh viên phải thực sự chủ động, và có trách nhiệm đối với việc học của mình Dựa vào khả năng, nhu cầu, và

Trang 19

cách thức học tập của sinh viên mà các hoạt động được tổ chức sao cho phù hợp với từng sinh viên hoặc từng nhóm sinh viên khác nhau, từ đó có thể đạt được những năng lực cần thiết cho nghề nghiệp trong tương lai.

Những nguyên tắc chính của việc học lấy người học làm trung tâm là :

Người học có trách nhiệm đối với việc học của mình

Trang 20

CHƯƠNG 3 CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG

NGHỀ NGHIỆP (POHE)

3.1 Định nghĩa chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là một tài liệu lập kế hoạch cho một quá trình giáo dục với việc mô tả các mục tiêu giáo dục, các phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và làm thế nào để đánh giá các kết quả của tiến trình

3.2 Cấu trúc của một chương trình đào tạo đại học theo định hướng nghề nghiệp (POHE)

Cấu trúc của các chương trình đào tạo truyền thống (không phải nội dung của nó) xác định nhiệm vụ của giáo viên và các hoạt động của sinh viên trong thời gian của một năm học Một loạt sự phát triển buộc chúng ta phải thay đổi cấu trúc này: cải thiện mối liên kết giữa giáo dục và thị trường lao động, giáo dục và điều chỉnh tốt, khoa học và nghề nghiệp, thay đổi truy cập của sinh viên, có nghĩa là thay đổi về công nghệ trong giáo dục, các thay đổi trong quy định pháp lý và tài chính Đôi khi cấu trúc cản trở khả năng tiếp cận của các nhóm xã hội nhất định

Mô-đun hóa đã chứng minh là một câu trả lời thỏa đáng cho sự linh hoạt của chương trình đào tạo sau khi hiểu rõ nhu cầu của thị trường, nhiều hơn ở phía đầu vào hoặc ở phía đầu ra (sự khác biệt) và do đó kết quả của giáo dục (sự định rõ) và ảnh hưởng của

nó được cải thiện, và phát triển, thực hiện giáo dục có hiệu quả ở mức độ hoạt động cũng như ở mức độ quản lý

Chương trình POHE (khung chương trình) có cấu trúc mô-đun Trừ các môn học chung như Triết học, Chủ nghĩa Marx-Lenin, Kinh tế chính trị và Tư tưởng Hồ Chí Minh phải giữ nguyên theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các phần khác của chương trình POHE thiết kế và tổ chức trong một hệ thống mô-đun Mỗi mô-đun cung cấp một khối kiến thức và các kỹ năng đóng góp vào việc hình thành các năng lực ở một mức độ nhất định Những mô-đun thuộc về một khoảng thời gian liên kết với nhau tạo thành một học kỳ Hai học kỳ chính và một học kỳ phụ tạo thành một năm học Tổng chương trình học tập là 4 năm Để đạt được một mức năng lực nhất định, sinh viên phải học các mô-đun hỗ trợ, các mô-đun tiên quyết, mô-đun cơ bản, mô-đun và một phần mô-đun trực tiếp liên quan đến chuyên môn trước khi tham gia dự án tổng hợp (dự án sinh viên) hay đi thực tập nghề nghiệp Các dự án và chương trình thực tập được liên kết để thực hành khối lượng năng lực tương ứng với nhiệm vụ trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau Do đó, các dự án và thực tập nghề nghiệp là xương sống của chương trình POHE

3.3 Mô tả các thành tố của một chương trình POHE

3.3.1 Môn học / mô-đun

Để kích hoạt một tiến trình liên tục của quá trình học tập chuyên nghiệp trong quá trình học tập suốt đời, tổng số các nội dung học tập có thể được chia không chỉ thành các môn học mà còn chia thành các đơn vị học tập độc lập tương đối nhỏ Trong một hệ

Trang 21

thống phù hợp với trình độ chuyên môn và nghề nghiệp, các đơn vị học tập này, hoặc còn được gọi là các mô-đun, được liên kết đến các năng lực và kỹ năng nghề nghiệp tương đương

Một mô-đun là một đơn vị học tập độc lập với một thời gian được xác định rõ ràng bắt buộc sinh viên học tập, trong đó một loạt các hoạt động thuộc về giáo dục được thiết lập để đạt được mức độ cần thiết của các kỹ năng Các mô-đun học có thể được phân biệt như sau:

Thời gian học tập bắt buộc tính theo giờ;

Một hệ thống phân chia một chương trình giảng dạy kiểu mô-đun thành các phần liên kết chặt chẽ và đặt chúng trong một thứ bậc hoặc trật tự liên tục mới (Biểu đồ 3.1) Mỗi phần phải kết thúc/ “đóng cửa” vì những kiến thức hay các kỹ năng truyền đạt trong mô-đun này có thể là điều kiện cho một số hệ thống mô-đun tương lai (Biểu đồ 3.2) Điều này có nghĩa là đánh giá các kỹ năng và kiến thức là bộ phận quan trọng của một hệ thống kiểu mô-đun Qua đánh giá sinh viên phải hoàn thành mô-đun này mới

có thể học tiếp sang một mô-đun mới trong chuỗi này

Module 1 Module 2 Module 3 Module 4 Module 5 Diploma

Biểu đồ 3.1 Trình tự trong một hệ thống kiểu mô-đun

Trang 22

Biểu đồ 3.2 Việc “đóng cửa” nét đặc trưng của việc đánh giá mô-đun

3.3.2 Dự án / đề tài

Học dựa vào dự án là một hệ thống giảng dạy có sự tham gia của sinh viên trong

học tập kiến thức và kỹ năng thông qua một quá trình có cấu trúc để phát triển các vấn

đề xác thực, phức tạp xung quanh, và các sản phẩm và công việc được thiết kế cẩn

thận

Định nghĩa này bao hàm một phổ rộng, từ các dự án ngắn khoảng 1-2 tuần dựa trên

một chủ đề đơn giản trong một lớp học đến các dự án dài, dự án liên ngành có liên quan

đến sự tham gia của các tổ chức, cá nhân bên ngoài trường đại học Trong chương trình

POHE, gọi là dự án giáo dục (dự án sinh viên), là các công việc ít phức tạp hoặc phức

tạp (bao gồm cả mục tiêu và kết quả) trong một khoảng thời gian với nội dung, người

tham dự, tổ chức, định hướng về việc học tập của sinh viên trong một môi trường nghề

nghiệp với kết quả thực của cuộc sống, bao gồm cả đánh giá về học tập của sinh viên

Kinh nghiệm thực tập nghề nghiệp là phương thức giáo dục trong môi trường thực

tế nơi sinh viên ứng dụng các lý thuyết đã được học Thực tập nghề nghiệp sắp xếp cho

những sinh viên muốn thực hiện quá trình học tập liên quan đến cả học tập hàn lâm và

ứng dụng kinh nghiệm, và đồng ý nhận số lượng các tín chỉ phù hợp với phạm vi của

dự án Thực tập nghề nghiệp có thể thực hiện trong toàn bộ thời gian hoặc bán thời

gian của một học kỳ chính, trong học kỳ, học kỳ hè hoặc kết hợp các học kỳ Nó có

thể được tiến hành đồng thời với học tập khác Một đợt thực tập được sinh viên lập kế

hoạch trong quan hệ hợp tác với một giám sát viên của trường và một giám sát viên từ

bên ngoài nơi sinh viên đến thực tập

Trang 23

CHƯƠNG 4 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP (POHE) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

4.1 Tiến trình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế xây dựng, phát triển chương trình POHE cho chuyên ngành khoa học cây trồng Tiến trình xây dựng và phát triển chương trình đạo tạo theo Biểu đồ 4.1

Ghi chú: K (Kiến thức), S (Kỹ năng), A (Thái độ)

Biểu đồ 4.1: Tiến trình xây dựng và phát triển khung chương trình đào tạo

Khảo sát W.o.W

Hồ sơ nghề nghiệp

Mô tả các năng lực

Các mức năng lực Khung chương trình và mô

Ghi chú: K (Kiến thức), S (Kỹ năng), A (Thái độ)

Biểu đồ 4.1: Tiến trình xây dựng và phát triển khung chương trình đào tạo 4.2 Xác định nhu cầu của xã hội, điều tra thế giới việc làm

4.2.1 Giới thiệu

Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp là đào tạo ra những kỹ sư trồng trọt đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Vì vậy, làm sao để nắm bắt được nhu cầu của thị trường lao động về lĩnh vực trồng trọt hiện tại và cho cả những năm tiếp theo, trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO là một yêu cầu cấp thiết

Để nắm bắt được nhu cầu của thị trường lao động, cán bộ giáo viên Khoa Nông học

Trang 24

dưới sự tư vấn của các chuyên gia Hà Lan đã thực hiện 138 cuộc khảo sát tại 138 cơ sở thuộc các dạng hình sau: Nhà nước, công ty cổ phần (liên doanh, nước ngoài), tư nhân,

tổ chức phi chính phủ (NGO) tại 11 tỉnh miền Trung (Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngải, Gia lai, Bình Định, Khánh Hòa, Đăk lăk) (Phụ lục 4.1)

Chúng tôi đã cùng với chuyên gia thiết kế các bộ câu hỏi để phỏng vấn (Phụ lục 4.2.):

Kỹ sư trồng trọt làm việc tại các công sở nhà nước

kỹ sư trồng trọt hiện nay

Đánh giá của các nhà quản lý về sự yếu kém của các kỹ sư hiện nay về kiến

+

thức, kỹ năng và thái độ

Yêu cầu của những nhà quản lý về kiến thức nghề, kỹ năng và thái độ cần thiết

+

cho kỹ sư trong tương lai

Chính sách phát triển nhân viên của các nhà quản lý

+

Khuyến cáo và mong muốn của các nhà quản lý đối với các kỹ sư trong tương lai.+

4.2.2 Kết quả khảo sát

Loại hình các cơ quan khảo sát.

Có 7 nhóm loại hình cơ quan khảo sát , trong đó loại hình công ty sản xuất, dịch

vụ nông nghiệp chiếm gần 55%, các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng KHKT nông nghiệp chiếm 19%, viên nghiên cứu 4,2%, trường trung cấp nông nghiệp 6,3%, các phòng ban, và sở nông nghiệp 8,5%, số còn lại là các tổ chức, dự án phi chính phủ (NGO) chiếm 4,2% (Bảng 4.2.1)

Bảng 4.2.1 Hình thức hoạt động của các cơ quan khảo sát

Trang 25

Dựa vào hình thức hoạt động các cơ quan khảo sát được phân ra và trình bày ở Bảng 4.2.1, trong đó các cơ quan thuộc nhà nước quản lý chiếm 73,8%, các đơn vị tư doanh chiếm 7,1%, đơn vị cổ phần 14,3%, các tổ chức phi chính phủ (NGO) chiếm 4,8% Đáng chú ý ở khu vực miền Trung, trong lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp không thấy có các đơn vị liên doanh, hoặc các đơn vị có vốn hoàn toàn từ nước ngoài,

vì thế không có các đơn vị này trong khảo sát (Bảng 4.2.1)

Về chức năng nhiệm vụ và sản phẩm của các cơ quan được khảo sát, được trình bày

ở Bảng 4.2.2

Kết quả cho thấy có 5 nhóm, trong đó nhóm (1) nhân giống, sản xuất kinh doanh các sản phẩm có liên quan đến cây trồng chiếm 38,57%; nhóm (2): quản lý các hoạt động chuyên môn như bảo vệ thực vật, quản lý giống, cây trồng chiếm 20%; nhóm (3): nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật chiếm 15,71%; nhóm (4): ứng dụng khoa học kỹ thuật chiếm 18,57%; và nhóm (5): đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật chiếm 7,14%

Bảng 4.2.2 Chức năng, sản phẩm của các đơn vị cơ quan được khảo sát.

Đánh giá sự yếu kém của các kỹ sư về kiến thức và khả năng, các nhà quản lý nói chung đã chỉ ra như sau: 18,4 % nhà quản lý cho rằng các kỹ sư hiện nay yếu về lý thuyết chuyên môn; 28% cho rằng các kỹ sư phần lớn thiếu kỹ năng thực hành trồng trọt; 10,3% cho rằng các kỹ sư còn thiếu khả năng giao tiếp với cộng đồng (nông dân, đối tác…); 14,5% cho rằng các kỹ sư còn thiếu kiến thức về quản lý; 9,7% cho rằng phần lớn các kỹ sư có ngoại ngữ yếu

Các yếu kém còn lại chiếm các tần suất như sau: thiếu hiểu biết về luật Việt Nam

và quốc tế (6,8%); thiếu kiến thức về xã hội (0,9%); thiếu kỹ năng lập kế hoạch (6,8%)

và thiếu tính độc lập trong công việc (3,9%)

Khảo sát yêu cầu của các nhà quản lý về kiến thức nghề của các kỹ sư cần thiết cho tương lai được trình bày ở Bảng 4.2.3

Bảng 4.2.3 Yêu cầu của những nhà quản lý về việc trang bị những kiến thức

nghề cần thiết cho kỹ sư trong tương lai.

Trang 26

Bảng 4.2.3 cho thấy có 20 nhóm câu trả lời về vấn đề này, phần lớn các nhà quản

lý được phỏng vấn trả lời tập trung vào một số yêu cầu có tần suất cao chúng tôi xin nêu ra như sau:

Yêu cầu các kỹ sư cần có kiến thức về sản xuất, chế biến các loại cây trồng có

giá trị kinh tế mà thị trường yêu cầu (tần suất trả lời chiếm 15%)

Cần có kiến thức chuyên môn sâu và rộng bao quát có tính tổng hợp và hệ thống

(tần suất trả lời chiếm 15%)

Cần có kiến thức về công tác khuyến nông, cung cấp thông tin và chuyển giao

công nghệ cho người sản xuất (tần suất 8,6%)

Cần có kiến thức về tâm lý học và xã hội học (7,6%)

Yêu cầu cần có kiến thức về kinh tế : kinh doanh nông trại, kinh doanh tổng

hợp, kinh tế ở tầm vĩ mô, vi mô và kiến thức về tiếp thị (tần suất 6,7%)

Các yêu cầu về kiến thức còn lại, nhìn chung có đặt ra nhưng có tần suất yêu

cầu thấp, biến động từ 1 đến 5,7 % ví dụ như: về bảo vệ thực vật (5,7%), giống

và nhân giống (4,8%), khoa học đất, phân bón và thủy nông (4,8%) v.v Đáng chú ý yêu cầu kiến thức về tin học , ngoại ngữ chỉ nằm trong phạm vi 1-2% Đánh giá khảo sát nhu cầu của các nhà quản lý về kỹ năng nghề nghiệp của các kỹ

sư được trình bày ở Bảng 4.2.4

Kết quả ở Bảng 4.2.3, có 10 nhu cầu của các nhà quản lý về kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của các kỹ sư, trong đó có hai yêu cầu về kỹ năng có tần suất cao đó là: Kỹ năng giao tiếp (20,3%) và kỹ năng thực hành chuyên môn (21,9%) Các kỹ năng còn

Trang 27

lại nằm trong phạm vi khảo sát biến động từ 2,3 đến 9,4%, cụ thể : kỹ năng quản lý và chỉ đạo sản xuất (7,8%), tổng hợp, báo cáo kết quả nghiên cứu (9,4%), kỹ năng khuyến nông ( 9,4%), nắm bắt và xử lý thông tin (6,3% ), phân tích đánh giá hoạt động sản xuất (8,6%), sử dụng các thiết bị hiện đại trong khoa học nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp ( 4,7%), riêng kỹ năng dự toán dự báo chỉ chiếm (2,3%) (Bảng 4.2.4).

Bảng 4.2.4 Yêu cầu của những nhà quản lý về kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của

các kỹ sư

cơ quan khác cũng được đề xuất nhưng ở tần suất thấp mỗi đề xuất năm trong phạm vi 3,4% (Bảng 4.2.5)

Bảng 4.2.5 Yêu cầu của các nhà quản lý về hướng thay đổi nghề trong tương lai

cho các kỹ sư

Trang 28

Về chính sách phát triển nhân viên, các nhà quản lý cũng đề ra các hướng, tập trung vào 7 hướng chính (Bảng 4.2.6).

Bảng 4.2.6 Chính sách phát triển nhân viên của các nhà quản lý

Trong đó chính sách phát triển nhân viên được đề xuất với tần suất cao nhất là: đào tạo lại và đào tạo nâng cao sau đại học chiếm 47,5%; tăng lương chiếm 16,25%, nâng cao kiến thức thông qua các hội thảo, tập huấn chiếm 12,5%; cho đi thâm nhập thực

tế chiếm 10%; bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn chiếm 7,5%, hướng còn lại như: thu hút nhân tài (2,5%) và cho tiếp cận với máy móc trang thiết bị hiện đại 3,75%

Khuyến cáo của các nhà quản lý tập trung vào 8 hướng được trình bày ở Bảng 4.2.7

Khuyến cáo cụ thể như sau: (1) cần đào tạo chuyên sâu để có những kỹ sư giỏi lý thuyết và thực hành, khắc phục những hạn chế đã nêu trên, tần suất đưa ra 20,87% ; (2) tăng thực hành cho sinh viên và nên cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế càng sớm càng tốt ngay từ những năm đầu tiên, chiếm 35,16% (3) cần cung cấp cho sinh viên kiến thức về thị trường, luật kinh tế, cập nhật những văn bản pháp quy có liên quan đến ngành học và công việc chuyên ngành, chiếm 4,39%; (4) trang bị kiến thức giao tiếp với cộng đồng, với nông dân, áp dụng phương thức cùng ăn, cùng ở cùng làm với nông dân, chiếm 6,59%; (5) đầu tư cơ sở vật chất thực hành thực tập, gắn mục tiêu đào tạo với nhu cầu của các cơ sở sản xuất theo hướng chuyên sâu, chiếm 18,68%; (6) , tăng cường kinh phí cho đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách tập trung để tăng cường

và nâng cấp đội ngũ giảng dạy, áp dụng được những phương tiện và trang thiết bị hiện đại đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất ngày càng phát triển, chiếm 4,39%; (7) nên phối hợp với các cơ sở để đặt hàng đào tạo, chiếm 3,29%, và (8) cần chú trọng các kỹ năng cần thiết cho sinh viên như cập nhật kiến thức hiện đại, tăng cường trình độ ngoại ngữ, một kỹ sư khi ra trường ít nhất phải thành thạo một ngoại ngữ, chiếm 6,59%

Bảng 4.2.7 Khuyến cáo của các nhà quản lý

Trang 29

3 Cung cấp cho sinh viên kiến thức về thị trường, luật kinh tế, cập nhật những văn bản pháp quy 4,39

Có 8 nhóm nhu cầu được đề xuất bởi các nhà quản lý phản ánh mong muốn của

họ đối với đội ngũ kỹ sư trong tương lai Trong đó yêu cầu kỹ sư có kiến thức chuyên môn sâu chiếm 30,7%, trình độ tay nghề cao (28,2%), khả năng làm việc tốt trong cộng đồng, khả năng hợp tác trong công việc (10,2%), trình độ ngoại ngữ, tin học tốt hơn (7,7%), có kiến thức về kinh tế, thị trường (7,7%), năng động sáng tạo trong công việc (7,7%); nắm bắt và xử lý thông tin tốt (5,1%) và nhiệt tình có tâm với công việc (2,5%)

Đánh giá của các cơ quan được khảo sát về mối quan hệ với các đối tác của họ trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, trao đổi thông tin, dịch vụ, v.v kết quả cho thấy

có 5 nhóm cơ quan hoặc tổ chức có mối quan hệ với các đơn vị được khảo sát Trong

đó theo đánh giá về tầm quan trọng của từng nhóm cơ quan cho thấy các đơn vị đối tác như : các phòng, ban, sở nông nghiệp, trường đại học, các công ty thương mại, dịch vụ

và các tổ chức NGO được xếp loại quan trọng cần liên kết, trao đổi, cộng tác và tiếp

Trang 30

nhận hỗ trợ, các đơn vị còn lại như viện, trung tâm, các công ty TNHH được xếp ở mức

mà kỹ sư cần phải có: ngoài 2 kỹ năng (2) và (6) nêu trên còn quan tâm đến kỹ năng (3)

kỹ năng giao tiếp và (8) kỹ năng phân tích đánh giá thị trường và các hoạt động kinh tế Nhóm NGO quan tâm hai nhóm kỹ năng (3) kỹ năng giao tiếp, và (9) tiếp cận với các thiết bị hiện đại, khoa học tiên tiến

Về yêu cầu kiến thức các loại hình hoạt động của các cơ quan khảo sát yêu cầu đối với kỹ sư cũng khác nhau: Khối nhà nước quan tâm đến các nhóm kiến thức (1, 2,3,4,10,12,17 và 20) tương ứng là: phương pháp thí nghiệm, cây trồng, sinh lý sinh hóa, bảo vệ thực vật, tâm lý học và xã hội học, phân bón và khoa học đất, thu thập và

xử lý tình huống, kiến thức tổng hợp

Khối tư doanh chỉ yêu cầu nhóm kiến thức (5) giống và nhân giống Khối cổ phần quan tâm đến 3 nhóm (2,5, và 20) tương ứng: cây trồng, giống và nhân giống, và kiến thức tổng hợp Các tổ chức NGO quan tâm hai nhóm kiến thức (8 và 20) tương ứng:

khuyến nông và kiến thức tổng hợp

Khối các cơ quan nhà nước đề xuất 3 hướng chủ yếu đó là: (1,2 và 9) tương ứng: vững tay nghề, giỏi thực tế; nâng cao kiến thức cơ sở chuyên ngành; và giỏi ngoại ngữ, Anhvăn Khối tư doanh tập trung vào hướng (2) nâng cao kiến thức cơ sở chuyên ngành Khối cổ phần tập trung vào hướng (2,3 và 9) tương ứng: nâng cao kiến thức cơ

sở chuyên ngành; cách tiếp cận thị trường, kinh tế, kinh doanh, và giỏi ngoại ngữ Khối NGO tập trung vào hướng (9) giỏi ngoại ngữ, Anh văn

Đánh giá mối quan hệ giữa từng loại hình của các cơ quan được khảo sát với chính sách phát triển nhân viên của họ

Khối các cơ quan thuộc nhà nước đã đề xuất 4 hướng đào tạo nhân viên tập trung vào các nhóm 1, 4, 5 và 7 tương ứng với : đào tạo lại và đào tạo nâng cao; cho đi thâm nhập thực tế sản xuất; tăng lương; bố trí vào chức vụ quan trọng Khối tư doanh đề xuất hướng 1 và 5, cụ thể là: đào tạo lại và đào tạo nâng cao, tăng lương Khối cổ phần đề xuất: hướng 1,4 và 6: đào tạo, đào tạo nâng cao, cho đi thâm nhập thực tế sản xuất, và thu hút nhân tài về cơ quan của họ Các tổ chức NGO chỉ đề xuất hướng đào tạo lại và đào tạo nâng cao

Kết quả phân tích cho thấy khối các cơ quan thuộc nhà nước đề xuất 6 nhóm yêu cầu về khả năng nghề nghiệp của kỹ sư cần cho tương lai bao gồm: 1,3,4,5,6 và 7, tương ứng: nắm vững kiến thức và thực hành ngành chuyên môn tốt; biết hạch toán kinh tế; sử dụng trang thiết bị chuyên ngành tốt; Ngoại ngữ và vi tính tốt phục vụ cho nghề nghiệp; có chuyên môn sâu; và am hiểu công tác quần chúng

Khối tư doanh đề xuất nhu cầu hai hướng 2 và 3 cụ thể là: biết tổ chức quản lý tốt;

và biết hoạch toán kinh tế

Trang 31

Khối cổ phần quan tâm đến 3 khả năng nghề nghiệp là: 1,2 và 6 cụ thể là: có kiến thức và kỹ năng thực hành tốt; biết tổ chức quản lý tốt; và có chuyên môn sâu.

Khối NGO chỉ quan tâm đến khả năng tổ chức quản lý tốt

Đánh giá của các nhà quản lý về kiến thức và khả năng còn thiếu của các kỹ sư hiện nay được trình bày như sau:

Khối các cơ quan trực thuộc nhà nước đánh giá các kỹ sư hiện nay về kiến thức và khả năng còn thiếu tập trung các hướng 1,2,3,4,6 và 9 tương ứng là: yếu về lý thuyết chuyên môn; thiếu kỹ năng thực hành trồng trọt; thiếu kỹ năng giao tiếp truyền đạt; thiếu kiến thức về quản lý; ngoại ngữ kém; và thiếu tính độc lập trong công việc hay khả năng nhận biết công việc còn yếu

Khối tư doanh đánh giá thiếu sót ở hai nội dung 2 và 5 tương ứng là: thiếu kỹ năng thực hành trồng trọt; và thiếu hiểu biết về luật lệ của Việt Nam và thế giới

Khối cổ phần đánh giá còn thiếu và yếu ở 4 nội dung: 1,2,4 và 9 tương ứng là: yếu

về lý thuyết chuyên môn; thiếu kỹ năng thực hành trồng trọt; thiếu kiến thức về quản lý; và thiếu tính độc lập trong công việc, khả năng nhận biết công việc còn yếu

Về khuyến cáo các nhà quản lý ở các loại hình đã đề xuất như sau, xem Biểu đồ 4.2.18:

Khối các cơ quan nhà nước đưa ra 4 nhóm khuyến cáo cụ thể là: 1,2,5 và 8 tương ứng : (1) cần đào tạo chuyên sâu để có những kỹ sư giỏi lý thuyết và thực hành, khắc phục những hạn chế đã nêu trên; (2) tăng thực hành cho sinh viên và nên cho sinh viên

có cơ hội tiếp xúc với thực tế càng sớm càng tốt ngay từ những năm đầu tiên (5) đầu tư

cơ sở vật chất thực hành thực tập, gắn mục tiêu đào tạo với nhu cầu của các cơ sở sản xuất theo hướng chuyên sâu; và (8) cần chú trọng các kỹ năng cần thiết cho sinh viên như cập nhật kiến thức hiện đại, tăng cường trình độ ngoại ngữ, một kỹ sư khi ra trường

ít nhất phải thành thạo một ngoại ngữ

Khối tư doanh đề xuất 3 khuyến cáo 2, 5 và 8: cụ thể (2) tăng thực hành cho sinh viên và nên cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế càng sớm càng tốt ngay từ những năm đầu tiên và (5) đầu tư cơ sở vật chất thực hành thực tập, gắn mục tiêu đào tạo với nhu cầu của các cơ sở sản xuất theo hướng chuyên sâu; và (8) cần chú trọng các

kỹ năng cần thiết cho sinh viên như cập nhật kiến thức hiện đại, tăng cường trình độ ngoại ngữ, một kỹ sư khi ra trường ít nhất phải thành thạo một ngoại ngữ

Khối cổ phần đề xuất 4 khuyến cáo 1,2,và 5, cụ thể (1) cần đào tạo chuyên sâu để

có những kỹ sư giỏi lý thuyết và thực hành, khắc phục những hạn chế đã nêu trên; (2) tăng thực hành cho sinh viên và nên cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế càng sớm càng tốt ngay từ những năm đầu tiên; và (5) đầu tư cơ sở vật chất thực hành thực tập, gắn mục tiêu đào tạo với nhu cầu của các cơ sở sản xuất theo hướng chuyên sâu.Khối NGO đề xuất 2 khuyến cáo 1 và 8, cụ thể (1) cần đào tạo chuyên sâu để có những kỹ sư giỏi lý thuyết và thực hành, khắc phục những hạn chế đã nêu trên; và (8) cần chú trọng các kỹ năng cần thiết cho sinh viên như cập nhật kiến thức hiện đại, tăng cường trình độ ngoại ngữ, một kỹ sư khi ra trường ít nhất phải thành thạo một ngoại ngữ

Trang 32

Mong muốn của các nhà quản lý ở mỗi loại hình cơ quan khảo sát đối với các kỹ

sư của họ được trình bày ở Biểu đồ 19, trong đó khối nhà nước đề xuất 5 mong đợi 1,2,3,6,7 tương ứng là (1) Trình độ ngoại ngữ, tin học tốt hơn, (2) Kiến thức chuyên môn sâu; (3) Trình độ tay nghề cao; (6) Nắm bắt và xử lý thông tin tốt, (7) Năng động, sáng tạo trong công viêc

Khối tư doanh đề xuất 1 mong đợi (1) Trình độ ngoại ngữ, tin học tốt hơn

Khối cổ phần đề xuất 2 mong đợi: (2) Kiến thức chuyên môn sâu; và (3) Trình độ tay nghề cao;

Khối NGO đề xuất 1 mong đợi (1) Trình độ ngoại ngữ, tin học tốt hơn

nguyên nhân do quá trình đào tạo và tự đào tạo của họ chưa phù hợp

Có nhu cầu thực tế cần phải nâng cấp điều kiện đào tạo, đội ngũ giảng dạy, nội

3

dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy cũng như điều kiện học tập, nội dung học tập và phương pháp học tập cho sinh viên theo hướng cập nhật, gắn kết với thực tế sản xuất và nhà trường phải đi trước sản xuất

Đào tạo chuyên sâu có định hướng để có sản phẩm có chất lượng cao là nhu cầu

4

thực tiễn của sản xuất

4.3 Hồ sơ nghề nghiệp

4.3.1 Môi trường làm việc

Sinh viên ngành Khoa học cây trồng sau khi tốt nghiệp làm việc trong những lĩnh vực sau:

Trang 33

4.3.3 Những thái độ nghề nghiệp cần có của người kỹ sư trồng trọt:

quyết vấn đề trong những hoàn cảnh khác nhau

Người kỹ sư trồng trọt cần phải nhận thức được toàn bộ những nhân tố tác

động

4.3.5 Xu hướng / Đổi mới

Công việc của người kỹ sư sẽ bị ảnh hưởng bởi các xu hướng sau:

Thương mại hóa phát triển

Trang 34

các năng lực đều được chia làm 3 mức Thứ tự các mức được xây dựng theo trình độ

từ thấp đến cao Trong đó, mức 1 là mức thể hiện trình độ thấp nhất và mức 3 là mức thể hiện trình độ cao nhất

4.4.1 Năng lực 1: Nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu để đáp ứng được nhu cầu của thị trường (những kết quả nghiên cứu đó được sử dụng trong thực tiễn sản xuất).

Mức 1: Sinh viên có khả năng sử dụng được những kiến thức và kỹ năng để có thể

thực hiện được những công việc nghiên cứu đơn giản

Mức 2: Sinh viên có khả năng thực hiện nghiên cứu theo nhóm, từ đó họ có thể

nhận biết được những vấn đề và sử dụng phương pháp nghiên cứu đúng

Mức 3: Sinh viên có khả năng nhận biết, tổng hợp, phân tích và mô tả vấn đề, mô

tả nhận định, sử dụng phương pháp nghiên cứu đúng và có khả năng chuyển tải các kết quả nghiên cứu, kết luận và khuyến cáo đến các nhóm mục tiêu khác.

Trang 35

-Tổng hợp các kỹ năng.

-4.4.2 Năng lực 2 : Khuyến nông

Thực hiện các công việc khuyến nông để thay đổi được các hành vi của người nông dân /công nhân nhằm đưa lại kết quả tốt hơn cho họ

Mức 1: Sinh viên nhận thức về tầm quan trọng của công việc khuyến nông.

Về kiến thức:

Có kiến thức cần thiết về kinh tế xã hội, văn hóa, phong tục tập quán, đời sống

-của người dân, hệ sinh thái nông nghiệp

Có kiến thức chuyên ngành cơ bản (khoa học đất, khoa học phân bón, nhập môn

-thực vật học, bệnh cây, )

Thái độ: Cởi mở và hòa đồng

Mức 2: Sinh viên biết các phương pháp chuyển tải kiến thức đến người nông dân/

công nhân và có khả năng làm công việc khuyến nông ở mức cơ bản.

Mức 3: Sinh viên có khả năng thực hiện tốt các công việc khuyến nông (sử dụng

đúng kiến thức, phương pháp và các kỹ năng) và có khả năng thuyết phục các nhóm mục tiêu khác (công nhân, nông dân, công chức nhà nước, nhà làm chính sách , )

Về kiến thức: Hoàn thiện các kiến thức khuyến nông

Trang 36

Mức 1: Sinh viên biết và hiểu tất cả các nhân tố của công việc quản lý dự án

Về kiến thức: Kiến thức lý thuyết về quản lý dự án

-doanh) vào việc xây dựng kế hoạch dự án

Kỹ năng thiết lập một kế hoạch dự án cơ bản

chính năng lực của mình và bằng nhiều cách để đạt được hiệu quả)

4.4.4 Năng lực 4: Chủ doanh nghiệp

Khởi nghiệp/phát triển được việc kinh doanh với mức tiêu chuẩn cao (dịch vụ tư vấn nông nghiệp và sản xuất sản phẩm nông nghiệp)

Mức 1: Sinh viên có nhận thức để trở thành một chủ doanh nghiệp (chủ doanh

nghiệp vừa và nhỏ) và có thái độ của một chủ doanh nghiệp.

Về kiến thức: Kiến thức hiểu biết cơ bản về quản lý kinh doanh (thị trường, tổ

Mức 2: Sinh viên biết những nhân tố chính của việc làm kinh doanh và có thể xây

dựng kế hoạch kinh doanh và thể hiện được kế hoạch đó cho các nhóm mục tiêu khác

Trang 37

Kỹ năng viết kế hoạch kinh doanh

Mức 3: Sinh viên có khả năng bắt đầu với vai trò là chủ doanh nghiệp trong môi

trường quốc tế với các dịch vụ và sản phẩm có chất lượng cao.

Trang 38

-Kiến thức về vai trò và nhiệm vụ của kỹ sư trồng trọt

-Về thái độ: Luôn luôn có thái độ sẵn sàng phấn đấu để trở thành một người kỹ

sư trồng trọt

Mức 2: Sinh viên biết được những nhân tố chính của công việc người kỹ sư trồng

trọt và có khả năng ứng dụng kiến thức trong những tình huống thực tế.

Mức 3: Sinh viên có khả năng đưa ra sự tư vấn có chất lượng cao một cách độc

lập và có tinh thần trách nhiệm cao mà tư vấn đó được chấp nhận bởi các nhóm mục tiêu khác nhau.

Trang 39

-KẾ HOẠCH KHUNG CHƯƠNG ĐÀO TẠO NGÀNH KHOA HỌC

CÂY TRỒNG

Mô-đun1 1.1 Mô-đun 2 2.1 Mô-đun 3 3.1 Mô-đun 4 4.1 Mô-đun 5 5.1

1.22.23.24.25.2

1.32.33.34.35.3

1.42.43.44.45.4Đánh giá Đánh giá

Mức 2

Năm thứ 2

Mô-đun1 1.5Mô-đun 2 2.5Mô-đun3 3.5Mô-đun 4 4.5Mô-đun 5 5.5

1.62.63.64.65.6

1.72.73.74.75.7

1.82.83.84.85.8Đánh giá Đánh giá

Mô-đun 3 3.9Mô-đun 4 4.9Mô-đun 5 5.9

1.102.103.104.105.10

11Định hướng thực tập nghề nghiệp

1.122.123.124.125.12Đánh giá Đánh giá

Mô-đun 1 1.13Mô-đun 2 2.13Mô-đun 3 3.13Mô-đun 4 4.13Mô-đun 5 5.13

1.142.143.144.145.14

15+16Thực tập định hướng nghề nghiệp và làm luận văn tốt nghiệpĐánh giá Đánh giá

Ghi chú: Hợp phần 1: Định hướng và chuyên môn hoá nghề nghiệp; Hợp phần 2:

Nghiên cứu; Hợp phần 3: Khuyến nông; Hợp phần 4: Chủ doanh nghiệp; Hợp phần 5: Quản lý dự án

Ngày đăng: 03/01/2016, 19:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2.1.  Hình thức hoạt động  của các cơ quan khảo sát - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.1. Hình thức hoạt động của các cơ quan khảo sát (Trang 24)
Bảng 4.2.2. Chức năng, sản phẩm  của các đơn vị cơ quan được khảo sát. - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.2. Chức năng, sản phẩm của các đơn vị cơ quan được khảo sát (Trang 25)
Bảng 4.2.3. Yêu cầu của những nhà quản lý về việc trang bị những kiến thức - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.3. Yêu cầu của những nhà quản lý về việc trang bị những kiến thức (Trang 25)
Bảng 4.2.3 cho thấy có 20 nhóm câu  trả lời về vấn đề này, phần lớn các nhà quản - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.3 cho thấy có 20 nhóm câu trả lời về vấn đề này, phần lớn các nhà quản (Trang 26)
Bảng 4.2.5. Yêu cầu của các nhà quản lý về hướng thay đổi nghề trong tương lai - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.5. Yêu cầu của các nhà quản lý về hướng thay đổi nghề trong tương lai (Trang 27)
Bảng 4.2.4. Yêu cầu của những nhà quản lý về kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.4. Yêu cầu của những nhà quản lý về kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của (Trang 27)
Bảng 4.2.6. Chính sách phát triển nhân viên của các nhà quản lý - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.6. Chính sách phát triển nhân viên của các nhà quản lý (Trang 28)
Bảng 4.2.8. Mong muốn của các nhà quản lý đối với các kỹ sư trong tương lai - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
Bảng 4.2.8. Mong muốn của các nhà quản lý đối với các kỹ sư trong tương lai (Trang 29)
Phụ lục 6.1: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
h ụ lục 6.1: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO (Trang 93)
Phụ lục 6.3: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CỦA WOW VỀ CHƯƠNG TRÌNH  ĐÀO TẠO - Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp
h ụ lục 6.3: BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CỦA WOW VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w