Cách tiếp cận này chỉ ra rằng trong đào tạo nghề người lao động tương lai không chỉ cần kiến thức, kỹ năng chuyên môn mà còn cần cả kỹ năng về phương pháp tiếp cận giải quyết vần đề và c
Trang 1Sách hướng dẫn giáo viên dạy nghề theo môđun - 2008
BỘ giáo dục và Đào tạo
Trường đại học sư phạm kỹ thuật hưng yên
- -
ĐINH CễNG THUYẾN
Chủ biên
HỒ NGỌC VINH – PHẠM VĂN NIN
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ VÀ GIẢNG DẠY THEO Mễ ĐUN
( dựng cho GV dạy nghề nghiờn cứu, ỏp dụng
và triển khai chương trỡnh khung mới chung cho cỏc nghề)
Hưng Yờn, 2008
Trang 2MỤC LỤC
Phần I ĐỀ DẪN 4
Phần II NỘI DUNG 11
Chương 1 Những vấn đề chung về đào tạo nghề theo mô đun năng lực thực hiện 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản .11
1.1.2.Nghề và nghề đào tạo 11
1.1.3 Công việc – nhiệm vụ 13
1.1.4.Năng lực và năng lực thực hiện 16
1.2 Khái quát chung về đào tạo nghề theo Mô đun 18
1.2.1 Khái niệm chung về mô đun 18
1.2.1.1 Mô đun 18
1.2.1.2 Mô đun kỹ năng hành nghề (MKH) 19
1.2.1.3 Mô đun năng lực thực hiện 20
1.2.2.Đào tạo nghÒ theo mô đun năng lực thực hiện 28
1.2.2.1 Đặc điểm của đào tạo nghÒ theo mô đun năng lực thực hiện (NLTH) 29
1.2.2.2 So sánh đào tạo nghề theo truyền thống và theo mô đun năng lực thực hiện 33
1.2.2.3 Yêu cầu đối với giáo viên trong đào tạo nghề theo năng lực thực hiện 34
Chương2 Phương pháp dạy học trong đào tạo nghề 35
theo mô đun năng lực thực hiện 35
2.1 Nhóm phương pháp dạy học truyền thống 35
2.1.1 Phương pháp thuyết trình 35
2.1.2 Phương pháp đàm thoại 37
2.1.3 Phương pháp làm việc với SGK vµ tµi liÖu tham kh¶o 39
2.1.4 Trình bày mẫu 40
2.1.5 Hướng dẫn học sinh quan sát 40
2.1.6 Phương pháp thí nghiệm 41
2.1.7 Phương pháp luyện tập 41
2.2 Nhóm phương pháp dạy häc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh 42
2.2.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyêt vấn đề 42
2.2.1.1 Ý nghĩa của dạy học nêu và giải quyêt vấn đề 42
2.2.1.2 Cơ sở khoa học của dạy học nêu và giải quyết vấn đề 42
2.2.1.3 Bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề 44
2.2.1.4 Một số khái niệm cơ bản của dạy học nêu và giải quyết vấn đề 44
2.2.1.5 Cách tạo ra tình huống có vấn đề 45
Trang 32.2.2 Phương phỏp dạy học Algorith hoỏ 46
2.2.2.1 Bản chất của dạy học Algorith hoỏ 47
2.2.2.2 Đăc tr−ng của dạy học Algorith hoỏ 47
2.2.3 Dạy học chương trỡnh hoỏ 48
2.2.3.1 Đặc điểm 48
2.2.3.2 Định nghĩa và bản chất của dạy học chương trỡnh hoỏ 48
2.2.4 Phương phỏp bốn giai đoạn 49
2.2.5 Phương phỏp dạy học sử dụng phiếu hướng dẫn 52
2.2.6 Phương phỏp dạy học sử dụng tỡnh huống 55
2.2.7 Phương phỏp dạy học theo dự ỏn 57
2.4 Hướng dẫn vận dụng phương phỏp dạy học trong đào tạo nghề theo mụ đun 60
Chương 3: Tổ chức đào tạo nghề theo mụ đun năng lực thực hiện 62
3.1.Tiến trỡnh tổ chức đào tạo theo mụ đun .62
3.2 Tiến trỡnh tổ chức dạy học theo mụ đun năng lực thực hiện 64
3.3 Cỏc hỡnh thức tổ chức dạy học theo Mụđun 66
3.3.1 Hỡnh thức học toàn lớp 66
3.3.2 Dạy học theo nhúm 66
3.2.3 Dạy học theo cỏ nhõn 68
3.4 Vận dụng cỏc hỡnh thức tổ chức dạy và học trong đào tạo nghề theo mô đun 69
Chương 4: Chuẩn bị học liệu trong đào tạo nghề theo mụ đun năng lực thực hiện 70
4.1 Vai trũ của học liệu trong dạy nghề 70
4.1.2 Vai trũ của học liệu 70
4.1.3 Cỏc loại học liệu trong dạy học nghề theo mô đun 70
4.3 Cỏc giai đoạn phỏt triển nguồn học liệu 71
4.3.1 Giai đoạn thiết kế 71
4.3.2 Giai đoạn sản xuất và hậu sản xuất 71
4.3.3 Giai đoạn thử nghiệm 72
4.3.4 Giai đoạn phổ biến và thực hiện 72
4.3.5 Giai đoạn đỏnh giỏ 72
4.4 Chuẩn bị học liệu cho mụ đun 72
4.4.1 Cơ sở xỏc định nguồn học liệu 72
4.4.2 Cỏc yờu cầu chung đối với nguồn học liờu: 72
4.4.3 Cỏc bước phỏt triển học liệu cho mụ dun 73
4.4.3.1 Chuẩn bị tài liệu phỏt tay 75
Trang 44.4.3.3 Chuẩn bị mô hình, mô phỏng 79
4.4.3.4 Thiết kế các bài giảng điện tử 81
Chương 5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong đào tạo nghề 88
theo mô đun năng lực thực hiện 88
5.1 Khái quát chung về kiểm tra đánh giá 88
5.1.1 Một số khái niệm cơ bản về kiểm tra đánh giá 88
5.1.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá kết quả học tập .88
5.2 Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập 90
5.3 Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập 91
5.4 Những lĩnh vực cần được kiểm tra đánh giá? 91
5.5 Kỹ thuật soạn câu hỏi kiểm tra 92
5.6 Phương pháp đánh giá việc thực hiện kỹ năng theo môđun n¨ng lùc thùc hiÖn 93
5.7 Tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện ở người học 96
5.8 Tiêu chí đánh giá phần lý thuyết và thực hành trong đào tạo theo mô đun 97
PHỤ LỤC 100
Trang 5TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ VÀ GIẢNG DẠY THEO MÔĐUN
( Dùng cho GV dạy nghề nghiên cứu, áp dụng triển khai chương trình khung mới chung cho các nghề)
Phần I ĐỀ DẪN 1.Tính cấp thiết của vấn đề
Đất nước đang trên bước đường đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần với cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội trong thời
kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để thích ứng với sự biến đổi của nền kinh tế trong giai đoạn mới, công tác đào tạo nghề cần được mềm hoá, đa dạng hoá nhằm phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động và nhu cầu của người học
Mặt khác, trong thời đại ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá là tất yếu, chúng ta gia nhập WTO dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước thế giới, nhất là vấn đề lao động có trình độ kỹ thuật, đủ năng lực thực hiện Thời đại kinh tế tri thức, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh và mạnh như siêu bão, đang hàng ngày hàng giờ làm thay đổi mọi mặt của lao động sản xuất Cơ cấu nghề nghiệp luôn biến động, nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, và những nghề còn lại cũng thường xuyên được biến đổi và phát triển Khái niệm học một nghề “hoàn chỉnh” để phục vụ suốt đời đã trở nên lỗi thời “Học suốt đời” đã trở nên một nhu cầu của mọi người và cho sự phát triển của
xã hội “Cần gì học nấy” và không ngừng nâng cao trình độ để đáp ứng nhu cầu luôn luôn biến đổi của thị trường lao động đã trở nên nhu cầu tất yếu Bởi vậy quá trình đào tạo nghề truyền thống theo niên chế với một kế hoạch đào tạo cứng nhắc đã trở nên kém linh hoạt và kém hiệu quả, khó đáp ứng thực tiễn , nhu cầu xã hội
Đặc biệt trong điều kiện nước ta hiện nay, nền kinh tế đang trên đà phát triển nhiều cơ hội và cũng nhiều thách thức.Nền công nghiệp nước nhà còn thiên về gia công
và lắp ráp, các lĩnh vực công nghệ cao đang hình thành và sẽ phát triển; việc định hướng đào tạp đi theo triết lý nào là một việc làm vô cùng cấp thiết.Việc phổ biến nghề rộng rãi, và đào tạo nghề cơ bản cho người lao động nhất là tầng lớp thanh thiếu niên với những nội dung đào tạo nghề thiết dụng, để giúp họ tự tìm kiếm công ăn việc làm hoặc
để nâng cao năng suất lao động đang là một nhu cầu bức bách của toàn xã hội
Xác định được yêu cầu đó trong Chiến lược giáo dục 2001 – 2010 đã khẳng định cần “ Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho
sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế ; Đổi mới mục tiêu, nội dung,
Trang 6Để đáp ứng các yêu cầu trên, kinh nghiệm của các nước trên thế giới :hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang tiếp cận theo phương thức đào tạo theo “ Năng lực thực hiện” Cách tiếp cận này chỉ ra rằng trong đào tạo nghề người lao động tương lai không chỉ cần kiến thức, kỹ năng chuyên môn mà còn cần cả kỹ năng về phương pháp tiếp cận giải quyết vần đề và các năng lực xã hội cần thiết thực sự cho một nghề nghiệp tại
vị trí lao động cụ thể của mình.Tuy nhiên để phù hợp với điều kiện Việt Nam, trong sự đột phá đổi mới về phương thức đào tạo, Tổng cục dạy nghề đã ban hành chương trình khung theo mô đun.Chương trình khung được xây dựng theo hướng tiếp cận mục tiêu đào tạo định hướng thị trường đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho xã hội một cách khoa học có tính kế thừa những hạt nhân hợp lý của phương thức truyền thống để xây dựng lên cái mới cho chương trình đào tạo nghề Chương trình khung có chứa đựng cả cấu trúc môn học (chủ yếu cho phần chung) và cấu trúc mô đun chủ yếu phần chuyên môn là một bước chuyển đổi cần thiết và hợp lý
Năm 2008 Tổng cục dạy nghề ban hành và triển khai tập huấn thực hiện chương trình khung là bước đi cần thiết, với danh mục bước đầu xây dựng 48 nghề đào tạo theo mô đun đã phản ánh sự bắt nhịp nhậy bén với xu thế đào tạo nghề trong khu vực
và thế giới.Tuy nhiên sự nhận thức về mặt lý luận về phương thức đào tạo mới – theo
mô đun “ năng lực thực hiện” còn nhiều hạn chế ở các cấp quản lý và các cơ sở đào tạo nghề Họ đang cần những hiểu biết về phương thức và cách làm cụ thể cho việc đào tạo nghề cho chính nghề họ đang và sẽ đào tạo.Do vậy, một tài liệu về lý luận chung về
sự chỉ dẫn thực hiện cách đào tạo, cách dạy, cách kiểm tra, quản lý là việc làm bổ ích
và thiết thực
Với những lý do trên việc phổ biến một tài liệu về nghiên cứu và ứng dụng phương thức đào tạo theo mô đun với những lý luận và chỉ dẫn về công tác chuẩn bị
và thực hiện chương trình khung là vô cùng cấp thiết
2.Vài nét về tình hình đào tạo nghề theo mô đun
2.1 Tình hình đào tạo nghề theo môđun trên thế giới
Những ưu tiên của đào tạo theo mô đun đã được các nhà quản lý tổ chức đào tạo trên thế giới quan tâm và khai thác trong quá trình đào tạo, giáo dục ở tất cả các cấp học, các đối tượng, đặc biệt đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật Nhiều nước đã áp
dụng mô đun trong quá trình đào tạo công nhân kỹ thuật
Ở Mỹ, đã sớm sử dụng mô đun trong đào tạo công nhân đó là việc đào tạo bổ túc tức thời cho công nhân làm việc trong các dây chuyền ô tô của các hãng General Motor và Ford vào những năm hai mươi của thế kỷ 19 Để đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kiểu Taylor vốn thống trị thời bấy giờ, công nhân được đào cấp tốc trong các khoá học chỉ kéo dài 2 - 3 ngày Học viên được làm quen với mục tiêu công việc và được đào tạo ngay tại dây chuyền với nội dung không thừa, không thiếu nhằm đảm nhận
Trang 7được công việc cụ thể trong dây chuyền Khi có sự thuyên chuyển vị trí làm việc (nội dung làm việc khác), người công nhân phải qua một khoá học ngắn hạn tương tự
Phương pháp và hình thức đào tạo này đã nhanh chóng được phổ biến và áp dụng rộng rãi ở Anh và một số nước Tây Âu do tính thực dụng, tiết kiệm thời gian và kinh phí đào tạo
Tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp (The Center for Vocational Education) ở bang Ohio người ta đã sử dụng hệ thống bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên (Performance – Based Tescher Education) trên cơ sở sử dụng 100 mô đun thuộc 10 loại (category) nghiệp vụ sư phạm khác nhau
Ở Pháp, những khoá học tương tự ở các hãng General Motor và Ford đã được
tổ chức trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than Điểm khác biệt giữa Pháp và Mỹ là : nếu ở Mỹ công nhân được đào tạo nhằm đáp ứng cho các dây chuyền sản xuất, thì ở Pháp nhằm giải quyết công ăn việc làm cho công nhân buộc phải kiếm việc làm trong các lĩnh vực khác Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp trên, các khoá học đều mang tính trọn vẹn rất cao
Một ví dụ khác về đào tạo theo mô đun là hệ thống đào tạo theo Unites Capitalisebles, trong đó toàn bộ kiến thức, kĩ năng nghề được phân chia thành 6 khối (lĩnh vực): kĩ thuật nghề, toán, khoa học, quốc ngữ, thế giới ngày nay, ngoại ngữ Nội dung mỗi khối được chia thành 4 hạng (tương đương với 4 cấp trình độ), mỗi hạng có một nội dung tương đối độc lập và được gọi là các đơn vị (Unites) Trừ khối kĩ thuật nghề luôn yêu cầu người học phải đạt hạng tối đa, còn tuỳ thuộc yêu cầu các ban khác nhau, người học phải học (hoặc không) các khối khác nhau, với các hạng khác nhau
Ở Úc, đào tạo theo mô đun được áp dụng rộng rãi từ năm 1975, đặc biệt, trong
hệ thống giáo dục kỹ và nâng cao (hệ thống TAEE) Trong hệ thống này, các mô đun đào tạo và các khoá học theo mô đun ngày càng được hoàn thiện và phổ biến rộng rãi
Ví dụ như ở bang New South Wales, các nghề cơ khí ôtô và máy bay, thương nghiệp, xây dựng, hàn (các loại)… đã được tổ chức đào tạo mô đun (chiếm 30% số chương trình đào tạo) Cũng tại đây năm 1983, người ta đã tiến hành điều tra tại 15 cơ sở đào tạo với 25 khoá học theo mô đun, các đối chứng, phân tích đã được tiến hành và các chuyên gia thuộc Ban soạn thảo và cải tiến chương trình đã đưa ra khuyến cáo nhằm khuyến khích, hướng dẫn việc sử dựng mô đun trong đào tạo
Nét nổi bật của việc nghiên cứu và ứng dụng mô đun Úc là sự kế thừa và kết hợp các chương trình đào tạo truyền thống với các chương trình đào tạo theo mô đun, cũng như cách tổ chức đánh giá các chương trình đào tạo theo mô đun
Ở Thuỵ Điển, chương trình đào tạo công nhân khai thác gỗ được cấu trúc theo trình tự và nội dung cơ bản của quy trình khai thác gỗ Mỗi nội dung cơ bản được thể
Trang 8hành nhằm đảm bảo cho người công nhân có thể đảm nhận được một công việc cụ thể trong quy trình khai thác gỗ Điều đặc biệt đáng lưu ý là việc kết thúc một hay nhiều
mô đun phụ thuộc vào nguyện vọng của người đi học với sự thoả thuận của người chủ quản và có ảnh hưởng đến mức lương và thu nhập của công nhân vì nó là “một chỉ số nói lên trình độ và mức độ toàn tâm và sẵn sàng vì công việc” (của công nhân) Cũng cần lưu ý rằng hệ thống đào tạo này được đưa vào sử dụng từ những năm 50, nhưng cho đến tận bây giờ vẫn còn trong quá trình hoàn thiện, đặc biệt trong việc phân chia các mô đun Thực tế này cũng nói lên việc phân định giới hạn và nội dung các mô đun
là công việc rất phức tạp và quyết định hiệu quả của việc đào tạo theo mô đun
Ở Liên Xô (cũ) đã có những nghiên cứu về các đơn vị kiến thức vào những năm
70 của Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề Liên Xô, các hình thức “phiếu công nghệ” trong các chương trình thực tập sản xuất, các phiếu lắp đặt (ví dụ như phiếu lắp đặt điện) và gần đây năm 1989 là những thử nghiệm biên soạn chương trình theo khối có thể “lắp lẫn” và sử dụng chung (ví dụ chương trình môn học “tự động hoá và tin học”
do Trung tâm phương pháp dạy nghề Liên xô (cũ) biên soạn) Tuy nhiên, những nghiên cứu và ứng dụng loại này còn ít và chưa trở thành chính thống, chưa tương xứng với vấn đề cần quan tâm cũng như tâm cỡ của các cơ quan nghiên cứu và triển khai
Ở nhiều nước khác như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philipin… cũng đã áp dụng
mô đun trong đào tạo nghề
Gần đây, trong sự cải tổ bậc trung học, ở nhiều nước như New Zealand, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan… đã đưa vào kế hoạch dạy học chính khoá của trường trung học phổ thông các chương trình đào tạo nghề theo mô đun
Ngoài ra, UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ khuyến khích mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung Trong các hội nghị quốc tế về mô đun tại Bangkok (12/77) và Paris (11/85) các khuyến cáo của UNESCO về sự cần thiết triển khai áp dụng mô đun trong đào tạo đã được đặc biệt chú ý quan tâm Tại Paris, các chuyên gia cho rằng, sử dụng mô đun “là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kĩ thuật mới” và khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm đến việc đào tạo trên thế giới không nên “sa đà” vào việc tranh cãi, duy danh thuật ngữ mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm Cũng với mục tiêu nhằm khuyến khích việc áp dụng mô đun trong giáo dục đào tạo, cụ thể hơn, trong việc đào tạo giáo viên, các hội nghị khu vực tại Manila (5 –1975) và tại Bangkok (12-77), đã đề cập đến “việc phát triển các mô đun cho các chương trình cơ sở của đào tạo giáo viên”
Trang 9Khác với UNESCO, ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo mô đun hoàn chỉnh Các quan điểm về đào tạo theo nhóm mô đun về cơ bản không khác với những quan điểm đã được trình bày trong phần trên Tuy nhiên, do chức năng quốc
tế, ILO đặt nhiệm vụ “quốc tế hoá” các mô đun đào tạo, và đã hình thành một ngân hàng gồm 764 đơn nguyên học tập, nhưng cũng chỉ mới được 5 lĩnh vực nghề ILO cho rằng một nghề nào đó đều được thể hiện qua các chuẩn kĩ năng nghề, dù nghề đó được xem xét ở bất kỳ một quốc gia nào Sự khác biệt của các chuẩn này không lớn và chúng được đặc trưng bởi hệ thống mục tiêu đào tạo (Aims and Objectives) và các kĩ năng thực hiện (Performance Skills) Chính các chuẩn này là cơ sở để xây dựng các
mô đun, đơn vị trung tâm trong các cấu trúc hệ thống đào tạo theo mô đun của ILO Nhỏ hơn mô đun là các đơn nguyên học tập, có thể hiểu như là một đơn vị học tập nhằm để tạo ra một kĩ năng nghề Mô đun kĩ năng hành nghề là tập hợp của một số lượng nhất định các mô đun nhằm giúp người học kiếm được việc làm Như vậy, trong
hệ thống đào tạo theo mô đun của ILO, tồn tại 3 cấp đơn vị học tập Hệ thống 3 cấp này thể hiện những ưu điểm nổi bật vốn có của mô đun (thực dụng, mềm dẻo…) Tuy nhiên, cũng cần chỉ ra những nhược điểm mà hiện nay nhiều khi người ta không nhận thức được Một vài nhược điểm đó là:
- Việc phân chia thành các đơn nguyên thường có kích thước quá nhỏ sẽ dẫn tới một thực tế là chi tiết quá, thường hay bỏ sót, mặt khác, tốn kém trong việc biên soạn và
2 Gây khó khăn cho việc chuẩn bị tài liệu, đặc biệt là in, vẽ
Trên thực tế trình độ kĩ thuật, công nghệ, do đó công cụ lao động ở các nước có
sự khác biệt, bởi vậy mong muốn “quốc tế hoá” các tài liệu học tập sẽ gặp nhiều khó khăn, do đó các đơn nguyên học tập cần được cải biên cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước, còn những nghề đặc thù phải tự biên soạn để giảng dạy chứ không thể tham khảo được của bất cứ nước nào
Từ đào tạo theo môđun kỹ năng hành nghề ( Modules of employable skills - MES ) đến đaò tạo theo môđun năng lực thực hiện ( MEQ) Đề cương năm 1973 tổ chức lao động thế giới ILO đã đề xuất phương thức đào tạo theo môđun (MES = phương thức đào tạo nghề theo công việc / kỹ năng hành nghề) nên bị phê phán là hẹp, thiển cận không đủ đáp ứng về trình độ Những yếu tố lý thuyết chỉ dừng ở mức thấp
Trang 10không đủ để đạt trình độ phân tích, hiểu và giải quyết vấn đề do vậy đề cương năm
1992 ra đời tính đến việc đào tạo theo năng lực và trình độ
2.2.Tình hình đào tạo nghề theo mô đun ở trong nước
Ở nước ta, năm 1986 Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, với sự tài trợ của UNESCO đã tổ chức cuộc hội thảo về phương pháp biên soạn nội dung đào tạo nghề, trong đó có đề cập đến kinh nghiệm đào tạo nghề theo mô đun ở một số nước Tiếp đó, năm 1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một cuộc hội thảo với sự tài trợ của ILO nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo mô đun (MES) ở Việt Nam Tháng 5-1992, Trung tâm Phương tiện kĩ thuật dạy nghề (CREDEPRO) cũng đã tổ chức cuộc hội thảo về phương pháp tiếp cận đào tạo nghề MES với tài trợ của UNDP Trong thời gian những năm 1987 - 1994, một số Trung tâm dạy nghề, dưới
sự chỉ đạo của Vụ dạy nghề đã thử nghiệm biên soạn tài liệu và đào tạo nghề ngắn hạn theo mô đun Sau đó thì việc đào tạo nghề theo mô đun MES tạm thời lắng xuống vĩ những mặt hạn chế của nó Khi đề cương của ILO năm1993 báo cáo lại hướng tới mô đun năng lực thì tình hình đổi khác Trong Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề đã nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng bước đầu những tư tưởng mới của việc đào tạo nghề theo mô đun Năng lực thưc hiện và trình độ
Những năm qua chúng ta chưa có được một tài liệu hoàn chỉnh về phương pháp luận biện soạn tài liệu và phương thức đào tạo nghề theo mô đun, còn các đơn nguyên học tập của ILO thì thu thập bằng nhiều nguồn, cũng chỉ mới có rải rác một số đơn nguyên ít ỏi và không đủ cho một nghề hoàn chỉnh Do vậy, từ khái niệm, cách tiếp cận cho đến quy trình biên soạn nội dung và áp dụng trong đào tạo còn tuỳ tiện, chưa
có đầy đủ cơ sở khoa học
Căn cứ vào một số tài liệu hiện có, chúng tôi biên soạn tài liệu này, với mong muốn góp phần xúc tiến phương thức đào tạo nghề chính qui theo mô đun năng lực để góp phần phát triển rộng rãi việc phổ biến dạy nghề, từng bước xây dựng một nền giáo dục kĩ thuật trong xã hội nhằm đáp ứng cho nhu cầu học nghề rộng rãi của toàn dân cũng như làm cho dạy nghề sát thực tế hơn, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội
và đổi mới mục tiêu đào tạo nghề nghiệp tiếp cần thị trường lao động đáp ứng đòi hỏi yêu cầu xã hội
Khoảng nửa thế kỉ trước đây, thuật ngữ đào tạo theo năng lực thực hiện (tiếng Anh là “Competency Based Training”) đã được sử dụng để mô tả một phương thức đào tạo dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó chứ không dựa vào thời gian như trong đào tạo truyền thống Khái niệm trung tâm trong phương thức đào tạo “mới” này là năng lực thực hiện (Competency - NLTH), nó được sử dụng làm cơ sở để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập
Trang 11Đào tạo theo NLTH chứa đựng trong nó những yếu tố cải cách, thể hiện ở chỗ
nó gắn rất chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động, của các ngành kinh tế
Đề cương năm 1992 của ILO đã định hướng việc đào tạo theo năng lực và trình
độ ở nước ta trong các dự án giáo dục kỹ thuật – dạy nghề gần đây.Hiện nay trong các trường dạy nghề đang thực hiện chương trình khung, triển khai đào tạo nghề theo môđun, trong tương lai gần việc đào tạo nghề theo mô đun sẽ hiện hình rõ nét ở nước
ta những thập niên đầu của thế kỷ 21 này
Đào tạo theo mô đun là phương pháp đào tạo theo tiếp cận mục tiêu dựa trên năng lực thực hiện trong đó nội dung đào tạo được chia thành các mô đun với tính mở, tính mềm dẻo và linh hoạt cao, phù hợp với thị trường lao động luôn biến đổi
Mô đun đào tạo là đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống công
cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, chúng gắn bó với nhau như một chỉnh thể và có tính độc lập tương đối
Khác với các môn học, các mô đun đào tạo được xây dựng dựa trên lôgíc của hoạt động nghề nghiệp, trong đó tích hợp kiến thức lý thuyết với kỹ năng thực hành nghề nghiệp hướng tới năng lực thực hiện các công việc và nhiệm vụ trong nghề Mỗi
mô đun là chương trình đào tạo năng lực thành phần cần thiết để thực hiện một công việc Các mô đun có thể kết hợp với nhau linh hoạt để hình thành nên một chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo năng lực cho một nghề, một việc làm hay một phần việc làm phù hợp với nhu cầu cá nhân người học, với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật và với cấu trúc của nghề Tổng cục dạy nghề triển khai đào tạo nghề theo mô đun cho các nghề đào tạo là một chủ trương đúng đắn; với cách tiếp cận mục tiêu đào tạo, cho phép chương trình đào tạo có khả năng thích ứng kịp thời với nhu cầu thị trường lao động nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 12Phần II NỘI DUNG Chương 1 Những vấn đề chung về đào tạo nghề theo mô đun năng lực thực hiện 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 1 Đào tạo (training): là một quá trình nhà cung cấp dịch vụ đào tạo trang bị cho
đối tượng một hệ thống vững chắc những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cần thiết đối với một lĩnh vực chuyên môn/ nghề nghiệp nhất định nhằm đạt được mục đích đào tạo nhất định
Mục tiêu của đào tạo nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần có để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới các công việc nghề nghiệp đòi hỏi hoặc các
cơ hội tự lập trong khuôn khổ các chuẩn mực hiện hành Sau quá trình đào tạo, người học có thể nhận được kiến thức hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh của một lĩnh vực chuyên môn nhất định và có thể hành nghề trên lĩnh vực chuyên môn đó Hoàn thành một chương trình đào tạo quy định cho một cấp học nào đó thông thường được cấp bằng quốc gia tương ứng
độ cao hơn
Khái niệm nghề, theo quan niệm ở mỗi nước cũng có sự khác nhau nhất định
Có thể nêu quan niệm chung về “nghề” ở một số nước :
Từ điển Bách khoa Liên Xô (cũ) định nghĩa nghề (professia) là loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn
Trong tiếng Pháp, nghề (pro-fession) là một loại lao động có thói quen và kỹ xảo của một người có thể làm việc chân tay hoặc trí óc mà người ta có thể tạo ra được phương tiện sinh sống
Trong tiếng Anh, nghề (pro-fession) là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học hoặc nghệ thuật và thường thuộc về lao động trí óc hơn lao động chân tay, thí dụ như nghề dạy học, luật, thần học,… Khi nói đến lao động chân tay, người ta thường dùng từ chung là occupation hoặc từ vocation
Trong tiếng Đức, nghề (Beruf) là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định Cơ sở của nghề là kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo được lĩnh hội bởi quá trình đào tạo có hệ thống
Trang 13Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất Một vài định nghĩa được nhiều người sử dụng như:
“Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội”
Mặc dù còn nhiều điểm khác nhau về định nghĩa nghề giữa các nước, song chúng ta cũng có thể nhận thấy đặc trưng chung nhất khi xác định nghề như sau:
- Đó là hoạt động, là công việc thuộc lao động của con người có tính chu kỳ
- Là sự phân công trong lao động xã hội, phù hợp yêu cầu xã hội
- Nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để con người tồn tại và phát triển, là phương tiện sinh sống (làm thuê hoặc tự làm cho bản thân)
- Là lao động có kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt, có giá trị trao đổi trong xã hội Trong so sánh tương đối giữa các thuật ngữ nước ngoài có 3 thuật ngữ: Nghề -Công việc - Việc làm cần được phân biệt và sử dụng hợp lý trong khi nói và viết:
Tiếng Việt: Nghề - Công việc - Việc làm
Tiếng Anh: Occupation, Pro-fession – Vocation Employment- Job
Tiếng Pháp: Profession, Car-rierem- Metier Emploi – Emploi
Tiếng Nga: Professia – Rabota – Zanhiatje
Xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tiến bộ KHKT và văn minh nhân loại nói chung và riêng về chiến lược phát triển KTXH của mỗi quốc gia Bởi vậy phạm trù nghề sẽ biến đổi theo mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển của nền KTXH đất nước Muốn đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật phù hợp về cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành nghề nhất thiết phải nắm được thực trạng và xu thế biến đổi của phạm trù nghề trong tương lai
Nghề xã hội Nghề đào tạo
Nơi diễn ra:
Trong thị trường lao động xã hội
(thế giới nghề nghiệp – nơi sử dụng lao
- Có thể trùng hoặc không trùng với nghề ngoài
xã hội Đào tạo theo diện hẹp hoặc diện rộng
- Là tiêu chí đầu ra/chuẩn công
nghiệp
- Nơi đào tạo theo thị trường lao động đòi hỏi
Trang 141.1.3 Công việc – nhiệm vụ
Một nghề bao gồm nhiều nhiệm vụ và công việc, vậy công việc và nhiêm vụ là gì? Nhiệm vụ(Duty): là trách nhiệm được giao trong hoạt động nghề nghiệp cụ thể
mà người lao động cần phải hoàn thành trong một khoảng thời gian và điều kiện thực
tế nhất định Ví dụ trong nghề Thư ký văn phòng, cô thư ký có nhiệm vụ “xây dựng mối quan hệ khách hàng - đối tác’’, trong nghề Mộc dân dụng người thợ có nhiệm vụ “ làm mộng gỗ’’
Công việc(Task): là một hệ thống các thao thác hoặc hành động cụ thể nhằm hoàn thành một nhiệm vụ nhất định.Ví dụ nghề thiết kế thời trang có công việc vẽ mẫu, chọn mầu vải theo ý tưởng vv
Để hoàn thành một nhiện vụ trong nghề nghiệp có thể người lao động phải thực hiện một hay một số công việc cụ thể.Chẳng hạn, để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh học nghề theo chương trình qui định, giáo viên phải thực hiện nhiều công việc như : soạn giáo án, nghiên cứu tài liệu , viết đề cương bài giảng, thiết kế phương tiện dạy học, trao đổi tiếp xúc tìm hiểu học sinh vv
Ví dụ 1 Về mã các nhiệm vụ – công việc trong đào tạo nghề theo mô đun:
PHÂN PHỐI THỜI GIAN ĐÀO TẠO CHO CÁC MÔ ĐUN/ MÔN HỌC
Mã môđun/
môn học
Tên mô đun/ môn học Mã các nhiệm vụ và công việc có liên
quan (theo sơ đồ phân tích nghề)
Trang 15Vớ dụ 2 Về phương phỏp phõn tớch nghề thành cỏc nhiệm vụ cụng việc theo DACUM :
Sơ đồ phõn tớch nghề
NGHỀ
Trỡnh độ đào tạo
Ghi chú: Cột dọc từ A đến I là các nhiệm vụ, các cột ngang tương ứng: từ A1 đến
An ( n=7 )vv và I1 đến I7 ( n=7) là các công việc để thực hiện một nhiệm vụ A, I
Trang 16Ví dụ 3: về công việc cho một nghề cụ thể:
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Cắt gọt kim loại
DANH MỤC CÁC CÔNG VIỆC THEO CẤP TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO NGHỀ
Tên nghề: Cắt gọt kim loại Mã số: CG
C§
nghÒ
A Chuẩn bị làm việc
2 A02 Nhận nhiệm vụ và vạch kế hoạch sản xuất x
3 A03 Chuẩn bị phôi và nơi làm việc x
4 A04 Chuẩn bị máy, trang bị và dụng cụ cần thiết x
5 A05 Chuẩn bị phôi cho kế hoạch sản xuất x
6 A06 Thiết kế, tự chế tạo dao, dụng cụ và đồ gá đặc
B Gia công trên máy tiện vạn năng
7 B01 Chuẩn bị máy tiện, dụng cụ và trang bị công
8 B02 Vận hành máy tiện vạn năng x
19 B13 Tiện côn bằng phương pháp xoay xiên bàn
Trang 17C§
nghÒ
22 B16 Tiện trục lệch tâm bằng phương pháp rà gá x
23 B17 Tiện trục lệch tâm bằng phương pháp gá trên
24 B18 Tiện bạc lệch tâm bằng phương pháp rà gá x
25 B19 Tiện bạc lệch tâm bằng phương pháp gá trên
28 B22 Cắt ren bằng bàn ren và ta rô x
31 B25 Tiện ren vuông và ren thang ngoài x
32 B26 Tiện ren vuông và ren thang trong x
1.1.4.Năng lực và năng lực thực hiện
a Năng lực: là khả năng vận dụng các kiến thức , kỹ năng và thái độ vào thực
hiện một công việc có hiệu quả trong những điều kiện nhất định.Năng lực chính là khả
năng mỗi cá nhân có sự phù hợp giữa một tổ hợp
các thuộc tính tâm lý với yêu cầu của một hoạt động nhất định để hoạt động có có kết
quả Mỗi một cá nhân có các những khả năng/ tiềm năng ở các mức độ khác nhau
Tuy nhiên theo quan niệm đào tạo nghề theo năng lực thì mọi học sinh học nghề đều
có thể học đạt đến một trình độ thông thạo ( mastery learning) cho một nghề nhất
định.Do đó trong đào tạo nghề chúng ta cần tạo mọi điều kiện về sư phạm và cơ sở vật
chất để các em dạt yêu cầu của nơi sử dụng lao động
b Năng lực thực hiện :
“Năng lực thực hiện” hay “năng lực hành nghề” trong một số tài liệu tiếng Việt
hiện nay được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh thường là “Competence” hoặc
“Competency” ví dụ “Competecy Based Training” (CBT) có thể được hiểu là “đào tạo
theo năng lực thực hiện” Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực thực hiện
+ Năng lực thực hiện là khả năng sản xuất của một cá nhân, khả năng đó được
xác định và đo lường trong các thuật ngữ của sự thực hiện một nội dung lao động xác
định, nó không chỉ dừng ở kiến thức, khả năng, thái độ hoặc kỹ năng, những vấn đề
Trang 18này là cần thiết nhưng bản thân nó không đủ cho một sự thực hiện có kết quả (Luật
Giáo dục nghề nghiệp của Mêhicô)
+ Năng lực thực hiện là sự thực thi hiệu quả của các khả năng tập trung vào sự thực hiện nhiệm vụ của một nghề ngiệp có liên quan đến các cấp trình độ yêu cầu của
vị trí làm việc Năng lực thực hiện không chỉ là khả năng thực hiện các hoạt động chuyên môn đơn thuần mà còn bao hàm cả khả năng phân tích, khả năng ra quyết định, chuyển đổi xử lý thông tin và những phẩm chất tâm lý đạo đức…được xem là cần thiết cho sự thực hiện hoản hảo của nghề nghiệp (Học viện quốc gia Empleo - Tây Ban Nha)
+ Năng lực được hiểu như một cấu trúc phức tạp của các thuộc tính nhân cách cần thiết cho sự thực hiện trong phạm vi hoàn cảnh cụ thể Nó là một sự phối hợp phức tạp của các thuộc tính (Kiến thức, thái độ, các nguyên tắc và kỹ năng) và các công việc phải được thực hiện trong các hoàn cảnh xác đinh (Tổ chức ANTA - Australia)
+ Năng lực thực hiện là sự vận dụng các kỹ năng, kiến thức và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện hiện hành (Tổ chức Lao động thế giới - ILO)
Ở Việt Nam khi nghiên cứu về đào tạo nghề nghiệp theo năng lực thực hiện cũng có các định nghĩa khác nhau, có hai định nghĩa cần chú ý đó là:
+ Năng lực thực hiện (khả năng hành nghề) là: Khả năng của một người lao động
có thể thực hiện những công việc của một nghề theo những chuẩn được quy định
Khả năng hành nghề bao gồm 3 thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau là: Kiến thức, kỹ năng và thái độ (Nguyễn Minh Đường - Phát triển chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề -1999)
+ Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó
+ Năng lực thực hiện liên quan đến nhiều mặt, nhiều thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người, nó thể hiện sự phù hợp ở mức độ nhất định của những thuộc tính tâm, sinh lý cá nhân với một hay một số hoạt động nào đó
Nhờ có sự phù hợp như vậy mà con người thực hiện có kết quả các hoạt động
ấy Chỉ thông qua sự thực hiện có kết quả, mọi người khác mới có thể công nhận người đó có năng lực về hoạt động ấy (Nguyễn Đức Trí - Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề, 1996)
Năng lực thực hiện hiểu theo cách này, thể hiện rõ mối quan hệ giữa NLTH và các yếu
tố tạo nên nhân cách và phương pháp đánh giá NLTH thông qua thực hiện có kết quả của cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn của nghề nghiệp Trong phát triển chương trình đào tạo nghề theo NLTH khái niêm này dễ được chấp nhận hơn cả
Trang 19Năng lực thực hiện có thể nhận biết được thông qua các đặc trưng sau:
• Là các thuộc tính nhân cách (kiến thức, kỹ năng, thái độ) và các nguyên tắc cần thiết của người lao động để thực hiện toàn bộ một hoặc một số nội dung lao động nghề nghiệp cụ thể
• Thể hiện thông qua việc đáp ứng được tiêu chuẩn yêu cầu của vị trí làm việc thực tế trong sản xuất đặt ra (Tiêu chuẩn đòi hỏi của nghề nghiệp chứ không phải tiêu chuẩn của đào tạo)
• Có thể chứng minh được tại vị trí làm việc (Sự thực hiện phải đánh giá và xác định được)
• Được đánh giá trong điều kiện và hoàn cảnh môi trường lao động xác định (với toàn bộ các áp lực cũng như các tác động liên quan đến điều kiện và môi trường thực
tế sản xuất)
Tóm lại: Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm
vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó Năng lực thực hiện là các kĩ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một người để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một nghề cụ thể
1.2 Khái quát chung về đào tạo nghề theo Mô đun
1.2.1 Khái niệm chung về mô đun
1.2.1.1 Mô đun
a, Khái niệm về môđun
Mô đun có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “ modulus” với nghĩa đầu tiên là mực thước, thước đo Trong kiến trúc xây dựng La mã nó được sử dụng như một đơn
vị đo Đến giữa thế kỷ 20, thuật ngữ modulus mới được truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của các thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt có sự hỗ trợ và bổ sung cho nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập
Mô đun mở ra khả năng cho việc phát triển, hoàn thiện và sửa chữa sản phẩm
Đặc điểm căn bản của Mô đun là: tính độc lập tương đối- tính tiêu chuẩn hoá và tính lắp lẫn
Mô đun đào tạo có nguồn gốc từ USA, lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1869 tại trường đại học Harward với mục tiêu: tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng lựa chọn các môn học ở các chuyên ngành
Trong đào tạo có nhiều khái niệm về mô đun:
- Mô đun là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các môn học lý thuyết , kỹ năng, các kiến thức liên quan để tạo ra một trình độ
- Mô đun là một đơn vị học tập trọn vẹn và có thể được thực hiện theo cá nhân
Trang 20- Mô đun là một đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn vì vậy, nhờ những điều kiện
cơ bản mỗi Mô đun tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa khi kết thúc thành công mỗi mô đun sẽ tạo ra những khả năng cần thiết cho tìm việc làm Đồng thời, mỗi mô đun có thể hình thành một bộ phận nhỏ trong chuyên môn của một người thợ lành nghề
- Mô đun chia quá trình đào tạo ra làm các thành tố đơn giản Mỗi thành tố hoặc
Mô đun được xác định bởi mục đích kỹ năng tiên quyết phải có, nội dung và độ dài thời gian Thường thì mô đun nhấn mạnh vào phát triển năng lực hơn là kiến thức đạt được, tạo khả năng cho người thợ nhanh chóng thích nghi với môi trường nghề nghiệp và có thể được cấp chứng chỉ
b, Đặc điểm của mô đun
Mô đun có kích cỡ xác định: kích cỡ của mô đun được tính theo số giờ lên lớp theo tuần, thời gian đào tạo theo tháng, học kỳ , năm học Kích cỡ của mô đun có thể xác định bởi các cấp trình độ đào tạo
Trật tự của mô đun: các mô đun có thể được thực hiện đồng thời hoặc kế tiếp nhau
Mỗi mô đun đều được xác nhận trình độ: Mô đun là đơn vị đào tạo khép kín, có tính độc lập tương đối Vì vậy nội dung của nó không những có thể được kiểm tra, đánh giá và xác nhận trình độ một cách độc lập mà còn được truyền thụ một cách độc lập
Khả năng tích hợp: các mô đun đơn lẻ có thể được tích luỹ dần thành một Mô đun trình độ
Tính liên thông: các mô đun có thể phối hợp với nhau theo chiều dọc hoặc chiều ngang Một mô đun đơn lẻ có thể ghép nối vào cấu trúc của các mô đun trình độ khác hoặc các hình thức đào tạo khác
1.2.1.2 Mô đun kỹ năng hành nghề (MKH)
a, Khái niệm
Mô đun kỹ năng hành nghề theo tiÕng Anh là Module of Employsble Skills( MES) được xác định là một phần nội dung đào tạo của một hoặc một số nghề hoàn chỉnh, được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết với thực hành, sau khi học xong, học sinh có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội
Đây là một khái niệm linh hoạt, bởi lẽ phạm vi hành nghề của mỗi nghề là hết sức đa dạng: diện nghề có thể là diện rộng, hẹp; trình độ nghề có thể cao thấp khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng lao động Nói cách khác mô đun kỹ năng hành nghề linh hoạt vì nó phụ thuộc vào tổ chức quy trình công nghệ (lao động) và sự phân công lao động của từng giám đốc xí nghiệp cho mỗi người lao động
Để thuận lợi cho quá trình cho quá trình giảng dạy và học tập cũng như dùng chung một số các kiến thức, kỹ năng cho nhiều nghề khác nhau, MKH được chia thành
Trang 21nhiều mô đun (Modular units-Mo) Mối mô đun tương ứng với mỗi công việc hợp thành MKH Cũng có những MKH đơn giản thì không cần chia nhỏ, nghĩa là bản thân
nó chỉ có một mô đun Như vậy có thể định nghĩa:
Mô đun là một bộ phận của MKH, được phân chia một cách logíc theo từng công việc hợp thành của một nghề nào đó, có mở đầu và kết thúc rõ ràng, và về nguyên tắc công việc này không thể chia nhỏ hơn được nữa Kết quả của công việc này là một sản phẩm hay là một dịch vụ
Ví dụ: MKH bảo dưỡng Ô tô có thể được chia thành các Mô đun sau:
1 Bảo dưỡng hệ thống đánh lửa 5 Rửa vỏ xe
2 Bảo dưỡng hệ thống ắc quy 6 Bảo dưỡng bánh xe
3 Bảo dưỡng hệ thống làm mát 7 Bơm lốp
4 Thay dầu bôi trơn 8 Bảo dưỡng hệ thống phanh
b, Cấu trúc của mô đun
Nội dung đào tạo của mỗi mô đun được chia thành từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập Mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một công việc nào đó và có thể dùng cho người dạy lẫn người học
Mỗi đơn nguyên học tập thường được cấu trúc bởi các phần sau đây:
- Mục tiêu cho người học
- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật liệu….cần cho việc học tập
- Danh mục các đơn nguyên học tập có liên quan
- Tài liệu học tập của đơn nguyên
- Các câu hỏi, các bài kiểm tra để đánh giá kết quả học tập
Đơn nguyên học tập gồm có các loại chính sau:
- Loại hình hoạt động
- Loại thông tin về kỹ thuật, thiết bị, công cụ
- Loại thông tin về vật liệu, phương pháp
- Loại thông tin về biểu đồ sơ đồ
- Loại lý thuyết
- Loại an toàn lao động
1.2.1.3 Mô đun năng lực thực hiện
a, Khái niệm về mô đun năng lực thực hiện
Môđun năng lực thực hiện là một đơn vị học tập, người học cần lĩnh hội, tương ứng với một hoạt động xác định của một nghề Trong đó bao gồm các kiến thức lý thuyết,
kỹ năng thực hành, và các phẩm chất đạo đức trong công việc cần phải có
b, Xây dựng các mô đun năng lực thực hiện
b1.Tư tưởng chỉ đạo xây dựng Mô đun năng lực thực hiện:
Trang 22Mô đun được xây dựng trên cơ sở của việc phân tích hoạt động lao động, xác định yêu cầu của nghề và năng lực thực hiện
Trong phân tích yêu cầu và khi xây dựng Mô đun có đại diện của phía sử dụng nguồn lực
Mô đun hướng tới sự phát triển và củng cố khả năng thực hiện công việc Qua
đó nâng cao cơ hội việc làm của những người tốt nghiệp
Gắn liền với quy định cơ sở pháp lý của Việt Nam và Xác định công việc thực hiện ( Cấu trúc, nội dung, cơ sở chịu trách nhiệm)
Mô đun được các cơ sở đào tạo xây dựng theo một tiêu chuẩn thống nhất về các thành phần, nội dung và về hình thức
Các Mô đun năng lực được xây dựng sao cho có thể sử dụng để đào tạo lần đầu ở các cấp độ khác nhau, hoặc cho việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghề Mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả, và khả năng liên thông qua các mô đun
Có chú ý tới kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình của BBPV, ADB,
SWISS contact, các nhà trường
b2.Các thành phần của mô đun năng lực thực hiện
Để có thể sử dụng Mô đun trong đào tạo nghề ở các cấp bậc trình độ khác nhau buộc phải có cách thức nhằm xây dựng chương trình trên cở sở của Mô đun
Trên cơ sở các thành phần cấu trúc của Mô đun do tổng cục dạy nghề xác định: chương trình khung cho đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng nghề
Các thành phần cấu trúc của Mô đun được xác định từ tư tưởng chủ đạo định hướng cách thức xây dựng; Thêm nữa từ quan điểm về việc sử dụng các Mô đun định hướng năng lực nhằm vào việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, xác định điều kiện đầu vào cho các học viên
Các thành phần của Mô đun năng lực thực hiện gồm:
• Tên Mô đun
• Mã mô đun
• Chức năng và ý nghĩa của Mô đun
• Thời gian thực hiện Mô đun
• Mục tiêu học tập của Mô đun
• Nội dung
• Điều kiện đầu vào
• Nguồn lực cần thiết để thực hiện Mô đun
• Kiểm tra và đánh giá Mô đun
• Hướng dẫn thực hiện Mô đun
Cấu trúc của mỗi mô đun năng lực thực hiện gồm các bài giảng lý thuyết, thực hành có thể mô tả theo mẫu sau:
Trang 23Tên Mô đun Mã số Nghề đào tạo
Mô đun Tên bài Số tiết lý thuyết Số tiết thực
hành Kiểm tra Bài 1
Bài 2
Xác định tên mô đun
Tên mô đun nhấn mạnh: mô đun nhằm hình thành phát triển hoạt động nghề nghiệp nào Ở đây cần chú ý tới hệ thống mô tả các nhiệm vụ và các hoạt động nghề từ bảng phân tích nghề Nhiệm vụ và hoạt động của nghề được tạo bởi một động từ, một đối tượng và một thuật ngữ xác định:
Động từ: Mô tả hoạt động của người công nhân lành nghề trong công việc
Ví dụ: Lắp láp, kiểm tra, sửa chữa
Đối tượng: Mô tả người công nhân làm cái gì và bằng cái gì
Thuật ngữ ( bổ ngữ) xác định, giải thích cho đối tượng
Ví dụ: điều khiển điện, điều khiển khí nén
Ví dụ: Lắp ráp và điều khiển điện cũng như điều khiển thuỷ lực, khí nén
Mã số của mô đun
Mã số phân biệt rõ ràng giữa các Mô đun Cần chú ý các phương diện sau:
- Những mô đun phục vụ cho đào tạo nghề ở trình độ khác nhau, trung cấp nghề hay cao đẳng nghề
- Để sắp xếp các Mô đun vào một nghề rõ ràng mã số mô đun của một nghề là một bộ phận của số mô đun
- Để phân biệt mô đun với môn học số mã của mô đun ký hiệu là (MD)
- Các mô đun khác nhau trong ở cùng một chương trình đào tạo cho một nghề được phân biệt bằng hai số arập
- Trường hợp một mô đun có thể được sử dụng cho nhiều nghề, mô đun đó có thể
có nhiều số mã khác nhau
Với các mô đun dùng đào tạo bồi dưỡng nâng cao:
- Tốt nhất là số của các mô đun dùng đào tạo bồi dưỡng nâng cao được mô tả bằng hệ thống khác
- Số mã này cần chú ý tới việc phân tích nghề và trật tự sắp xếp của mô đun cho nghề, có thể từ nhiệm vụ và hoạt động của từ bảng phân tích nghề
Ví dụ: CĐT MĐ09
Mô đun số 09 của chương trình đào tạo nghề cơ điện tử dùng đào tạo trình độ trung
Trang 24Thời gian đào tạo của mô đun
Thời gian đào tạo của mô đun cho biết thời gian dạy và học trong thời khoá biểu
Thời gian của một mô đun là kết quả của cân nhắc sư phạm Ở đó có sự lưu ý tới việc truyền đạt tất cả các năng lực nghề cần thiết, ví dụ thời gian cần thiết cho việc luyện tập các hoạt động nghề nghiệp, qua đó người học sẽ lĩnh hội được mô đun
Thời gian của mô đun bao gồm:
- Tổng thời gian theo giờ
- Thời gian cho thực hành
- Thời gian cho lý thuyết
Tổng thời gian của mô đun gồm thời gian cho lý thuyết và thực hành nhằm giúp người học có khả năng luyện tập đầy đủ theo mục tiêu của Mô đun năng lực thực hiện, điểm trọng tâm là thực hành Lý thuyết được trình bày khái quát cần thiết cho việc luyện tập các hoạt động nghề thích hợp với chuẩn nghề
Phương pháp học nhằm phát triển năng lực thực hiện được thông tin ở dạng tổng hợp giữa cách thức và loại hình lý thuyết và thực hành Trong đó chú ý tới việc trình bày các nội dung lý thuyết và thực hành
Thời gian để thực hiện mô đun có thể được xác định gần đúng trên cơ sở của việc thay đổi cách thức thực hiện
Ví dụ:
B
b3, Vai trò của Môđun
Là sự mô tả ngắn gọn, tổng quát vai trò mà mỗi Mô đun cụ thể giúp cho việc nâng cao trình độ của người thợ
Vai trò của Mô đun trong việc nâng cao trình độ của lực lượng lao động là nhằm vào việc tạo khả năng cho người học luyện tập hoàn thiện đầy đủ các hoạt động nghề Việc mô tả vai trò của Mô đun cho thấy cách nhìn khái quát về các hoạt động nghề cụ thể của mỗi nghề mà Mô đun đó đem lại Nó giải thích thêm cho việc xác định tên mô đun
Ví dụ:Mô đun này giúp cho việc luyện tập hoàn thiện các hoạt động nghề cơ điện tử sau đây:
Lắp ráp, kết nối các bộ phận điện và điện tử của hệ thống cơ điện tử, phân tích
và khắc phục những sai sót của hệ thống
Tổng thời gian Lý thuyết Thực hành Thời gian của mô đun
(tính theo giờ)
Trang 25b4, Mục tiêu của mô đun
Mục tiêu học tập mô tả kết quả học tập dự kiến của mô đun Nếu người học muốn thực hiện được tất cả mục tiêu của mô đun, họ phải sẵn sàng luyện tập hoàn thiện các hoạt động nghề của Mô đun theo tiêu chuẩn nghề và chuẩn năng lực
Việc mô tả mục tiêu học tập cần dựa vào các điểm chuẩn quan trọng của tiêu chuẩn nghề
Do các mô đun năng lực thực hiện cần giúp cho việc luyện tập hoàn thiện các hoạt động nghề cho mỗi nghề nên các loại bảng phân tích hoạt động nghề trong đó xác định các kiến thức lý thuyết chuyên môn nghề, các kỹ năng kỹ xảo nghề là các tài liệu
có tác dụng định hướng quan trọng trong việc xây dựng các mục tiêu cho Mô đun Các mục tiêu học tập giúp cho việc luyện tập các hoạt động nghề nghiệp phải phủ kín các năng lực
Việc xây dựng các Mô đun bởi các trưòng nghề, các cơ sở dạy nghề trên nền tảng của các chương trình được soạn thảo chính xác… nên các mục tiêu học tập cho
Mô đun cần được viết một cách chính xác và cụ thể
Khi viết mục tiêu học tập cần chú ý các yếu tố sau:
Hành vi của người học có thể quan sát được khi kết thúc quá trình học
Đối tượng: người học làm cái gì với phương tiện nào
Những điều kiện để hành vi đó được thể hiện
Chuẩn mực của mục tiêu
Ví dụ: Sau khi kết thức mô đun người học có khả năng:
Tháo lắp và kết nối được các thành phần điện, điện tử của hệ thống cơ điện tử trong thời gian định mức với sự tự lựa chọn và sử dụng các dụng cụ thích hợp với kế hoạch tháo lắp và bảng trạng thái đã cho trước, đảm bảo không có lỗi
c Nội dung của Mô đun
Nội dung của mô đun là nội dung học tập, với nội dung này để truyền đạt các năng lực nghề phù hợp với mục tiêu học tập
Nội dung không chỉ đựa vào lý thuyết sẽ được truyền đạt mà còn các kỹ năng thực hành và các phẩm chất đạo đức trong công việc
Mô đun là một nhân tố mới trong dạy nghề Sự thay đổi đột phá thao tác mô tả nội dung cho tới nay vẫn đựợc sử dụng trong trường, nội dung các môn học thường được cấu trúc dưới dạng các chương mục
Việc vận dụng hình thức mô tả nội dung theo mô đun đã giải quyết được vấn đề
là rất nhiều nội dung của mô đun được sử dụng trong quá trình làm việc có mối quan
hệ với nhau Qua đó tạo ra sự chuyển hoá linh hoạt những gì đã học vào thực tiễn lao động; các phương pháp tổng hợp của việc học là một bộ phận quan trọng trong việc
Trang 26thực hiện các mô đun Mặt khác các nội dung của Mô đun không bị tách rời khi truyền đạt cho học sinh theo trình tự cho trước
Do vậy việc mô tả nội dung theo mục lục các lĩnh vực của nội dung và các nội dung quan trọng là không cần thiết Nội dung cũng không cần mô tả quá chi tiết, quá sâu mà cần có sự mềm dẻo Qua đó để chú ý tới các yêu cầu chuyên biệt của vùng miền hay lãnh thổ
Ví dụ: Các thành phần và cấu tạo của hệ thống cơ điện tử như sau:
Các cảm biến, (Binare và analoge)
Tháo các bộ phận điện theo quy trình
Kết nối các bộ phận điện và điện tử phù hợp với bảng trạng thái và hướng dẫn vận hành
Đảm bảo thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với các bộ phận của hệ thống cơ điện tử.…vv
d, Điều kiện đầu vào
Điều kiện đầu vào là các năng lực, kinh nghiệm và các yêu cầu tâm sinh lý bắt buộc đối với người tham gia học tập mô đun
Việc xác định các điều kiện đầu vào giới hạn ở những điều kiện bắt buộc đối với người học, giúp họ tham gia vào học tập mô đun thành công
Cần tránh việc mô tả điều kiện đầu vào một cách hình thức để không làm hạn chế cơ hội của người học học các mô đun năng lực
Người học cần biết những kỹ năng kinh nghiệm nghề nghiệp nào là điều kiện bắt buộc, không phụ thuộc vào việc người đó học ở đâu
Ví dụ: Điều kiện đầu vào của một Mô đun trong khuôn khổ của chương trình đào tạo nghề cơ điện tử ở trình độ trung cấp nghề như sau:
CĐT MH 05 CĐT MH 13
CĐT MH 12 CĐT MD 06
Trang 27e, Nguồn lực
Việc mô tả nguồn lực cho biết một cách tổng quát về đIều kiện thực hiện mô đun Tiêu chí ở đây là tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của người học để thực hiện các hoạt động nghề nghiệp trong mô đun
Trọng tâm của việc mô tả điều kiện nguồn lực là những điều kiện gắn liền với
sự phát triển kỹ năng thực hành và khả năng luyện tập, học tập gắn liền với quá trình lao động Trong đó chú ý tới những vấn đề dạy nhằm tổ chức quá trình học Như vậy
nó không thống nhất hoàn toàn với các nguồn lực phục vụ cho việc luyện tập hoàn thiện các năng lực hoạt động trong quá trình lao động
+ Các thiết bị và dụng cụ đo
+ Các mô phỏng Vật liệu gồm:
+ Dung dịch trơn nguội
+ Vật liệu Các phương tiện dạy học
+ Các phương tiện ding báo cáo
+ Phiếu bài tập + Mô hình và các đối tượng trực quan khác
Trang 28- Bộ các mô đun cơ điện tử/ cảm biến
- Bộ các động cơ bước, động cơ một chiều xoay chiều và máy biến tần
Thiết bị chung gồm:
- 6 đến 8 vị trí làm việc khác nhau
- 1 Hệ thống cơ điện tử lớn theo tiêu chuẩn công nghiệp, ví dụ
hệ thống băng tải công nghiệp với các Palete, và với hệ thống điều khiển bằng tay
Các vật
liệu
ổ cắm, phích cắm Vít, ống cao su áp lực
…vv
f, Kiểm tra đánh giá thành tích
Kiểm tra đánh giá thành tích cho biết các thông tin về sự phát triển trong học tập cũng như trạng thái của người học Ngoài ra còn phục vụ cho việc đánh giá thành tích học tập của người học Nó là một bộ phận trong quá trình học các mô đun năng lực thực hiện., được tiến hành trong và khi kết thúc mô đun
Việc mô tả kiểm tra đánh giá thành tích gồm:
Thời điểm kiểm tra trong quá trình học
- Phương pháp kiểm tra
- Nội dung/ đối tượng kiểm tra
- Chuẩn đánh giá
Trang 29Ví dụ:
Việc kiểm tra đánh giá của mô đun gồm có các thành phần sau:
1 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập thường xuyên
- Đánh giá thường xuyên mỗi sản phẩm/ dự án trong mô đun
g, Hướng dẫn thực hiện môđun
Hướng dẫn giáo viên thực hiện Mô đun Trong đó gồm các chỉ dẫn và khuyến nghị về các phương pháp định hướng năng lực thực hiện, lấy người học làm trung tâm
để phát triển năng lực hoạt động nghề, phù hợp với đòi hỏi của quá trình lao động
1.2.2.Đào tạo nghÒ theo mô đun năng lực thực hiện
Khoảng nửa thế kỉ trước đây, thuật ngữ ®ào tạo theo năng lực thực hiện (tiếng Anh
là “Competency Based Training”) đã được sử dụng để mô tả một phương thức đào tạo dựa
chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn
đó chứ không dựa vào thời gian như trong đào tạo truyền thống Khái niệm trung tâm
trong phương thức đào tạo “mới” này là năng lực thực hiện (NLTH), nó được sử dụng làm
cơ sở để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập
Đào tạo nghÒ theo NLTH chứa đựng trong nó những yếu tố cải cách, thể hiện ở
chỗ nó gắn rất chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động, của
các ngành kinh tế (gọi chung là công nghiệp) Sơ đồ 1 dưới đây cho thấy điều đó thông qua mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống GDKT&DN theo NLTH mà nhiều
nước trong khu vực và trên thế giới đã và đang tổ chức thực hiện
Trang 30Sơ đồ 1: Quy trình đào tạo nghề theo NLTH
1.2.2.1 Đặc điểm của đào tạo nghÒ theo mô đun năng lực thực hiện (NLTH)
a Định hướng đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghÒ theo NLTH là nó định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo, điều đó có nghĩa là: Từng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra
Trong đào tạo nghÒ theo NLTH, một người có NLTH là người:
- Có khả năng làm được cái gì đó (Điều này có liên quan tới nội dung chương trình
đào tạo )
- Có thể làm được những cái đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan tới việc
đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề)
Mỗi người học làm được thông thạo cái gì đó sau một thời gian học tập dài, ngắn khác nhau tuỳ thuộc chủ yếu vào khả năng, nhịp độ học của người đó Người học thực
sự được coi là trung tâm và có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình Theo quan điểm của thuyết “Học thông thạo” - (“Mastery Learning”) thì trong phương thức
đào tạo theo NLTH, người ta không quy định cứng nhắc về thời gian học Đây là sự
khác biệt cơ bản so với triết lý đào tạo truyền thống định hướng vào chương trình học
tập theo niên chế cố định về thời gian ở phương thức đào tạo theo NLTH, người học
được phép tích luỹ tín chỉ về những gì đã học trước đó, không phải học lại những điều
đã học một khi đã được công nhận là đã thông thạo, có khả năng thực hiện chúng theo tiêu chuẩn quy định
Phát triển chương trình đào tạo
Kiểm định chương trình đào tạo Thực hiện chương trình đào tạo
Đánh giá NLTH của người tốt nghiệp theo TCKNNđào tạo
CÔNG NGHIỆP
Trang 31b CÊu tróc của đào tạo nghÒ theo NLTH
Hệ thống đào tạo nghÒ theo NLTH bao gồm hai thành phần chủ yếu sau:
- Dạy và học các năng lực thực hiện
- Đánh giá , xác nhận các năng lực thực hiện
b1, Về thành phần dạy và học các n¨ng lùc thùc hiÖn
Do có định hướng đầu ra nên muốn có một chương trình đào tạo theo NLTH, trước
tiên, phải xác định được các NLTH mà người học cần phải nắm vững hay thông thạo; chúng được coi như là kết quả, là đầu ra của quá trình đào tạo Sự thông thạo các NLTH đó thể hiện
ở sự thực hiện được các hoạt động/công việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra đối với cấp trình độ nghề tương ứng
Để xác định được các NLTH cần thiết đối với từng cấp trình độ nghề, người ta
phải tiến hành Phân tích nghề (Occupational Analysis) Việc Phân tích nghề thực chất
là nhằm xác định được mô hình hoạt động của người lao động, bao hàm trong đó
những Nhiệm vụ (Duties) và những Công việc (Tasks) mà người lao động phải thực
hiện trong lao động nghề nghiệp Ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã dùng các
phương pháp khác nhau, trong đó có phương pháp hay kỹ thuật DACUM (Develop A
Curriculum) được sử dụng phổ biến nhất trong một số thập kỷ qua, để tiến hành phân
tích nghề Kết quả của phân tích nghề được thể hiện trong Sơ đồ phân tích nghề hay Sơ
đồ DACUM (DACUM Chart) Sau đó phải tiến hành phân tích từng công việc (Task Analysis) đã được xác định trong Sơ đồ DACUM
Một chương trình đào tạo nghề được xem là "theo NLTH" khi nó thoả mãn hoàn toàn các đặc điểm của thành phần Dạy và học các NLTH sau đây:
(1) Các NLTH mà người học sẽ tiếp thu trong quá trình đào tạo theo NLTH cần phải có các đặc điểm sau:
• Chúng phải được xác định từ việc phân tích nghề một cách nghiêm ngặt, chính xác và đầy đủ bằng PP/Kỹ thuật DACUM
• Chúng được trình bày dưới dạng các công việc thực hành mà những người hành nghề thực tế phải làm hoặc/và dưới dạng các hành vi về mặt nhận thức (kiến thức) và về thái độ liên quan đến nghề
• Chúng được công bố cho người học biết trước khi vào học
(2) Việc dạy và học các NLTH phải được thiết kế và thực hiện sao cho:
• Kiến thức lý thuyết được học ở mức độ cần thiết đủ để hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển các NLTH Lý thuyết và thực hành được dạy và học tích hợp với nhau Các học liệu được soạn thảo và chuẩn bị thích hợp với các NLTH
• Mỗi người học phải liên tục có được các thông tin phản hồi cụ thể về sự hình thành và phát triển NLTH của mình
Trang 32• Người học phải cú đủ điều kiện học tập cần thiết, đặc biệt là điều kiện thực hành nghề
• Người học cú thể học hết chương trỡnh đào tạo của mỡnh ở cỏc mức độ kết quả khỏc nhau
b2, Về thành phần đỏnh giỏ và xỏc nhận NLTH
Trong giỏo dục và đào tạo núi chung, đặc biệt là trong đào tạo theo NLTH núi riờng, đỏnh giỏ và xỏc nhận kết quả học tập (NLTH) là thành phần cực kỳ quan trọng,
là một trong những khõu cú ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo
Đỏnh giỏ là một quỏ trỡnh thu thập chứng cứ và đa ra những phỏn xột về bản chất
và phạm vi của sự tiến bộ theo những yờu cầu thực hiện đó được xỏc định trong tiờu
chuẩn nghề hoặc mục tiờu dạy học và đưa ra phỏn xột rằng một NLTH nào đú đó đạt
được hay chưa ở một thời điểm nhất định
Việc đỏnh giỏ trong Đào tạo theo NLTH phải được thực hiện theo Tiờu chớ
(Criteria Referenced Assessment), nghĩa là nú đo sự thực hiện hay thành tớch của một cỏ
nhõn người học trong mối liờn hệ so sỏnh với cỏc tiờu chớ, tiờu chuẩn chứ khụng cú liờn
hệ so sỏnh gỡ với sự thực hiện hay thành tớch của người khỏc Cỏc tiờu chớ đỏnh giỏ NLTH được xỏc định từ cỏc tiờu chuẩn nghề quốc gia và một số quy định, tiờu chuẩn riờng khỏc
Sự thụng thạo cỏc NLTH của người học được đỏnh giỏ và xỏc nhận theo cỏc quan điểm sau:
• Người học phải thực hiện cỏc cụng việc theo cỏch thức giống như của người lao động thực hiện trong thực tế lao động nghề nghiệp;
• Đỏnh giỏ riờng rẽ từng cỏ nhõn người học khi họ thực thi và hoàn thành cụng việc;
• Kiến thức liờn quan và thỏi độ cần cú đều là những bộ phận cấu thành cần được kiểm tra đỏnh giỏ;
• Cỏc tiờu chuẩn dựng trong việc đỏnh giỏ là những yờu cầu đặt ra ở mức độ tối thiểu
để đảm bảo rằng sau khi học xong thỡ người học bước vào làm việc được chứ khụng phải là để đem so sỏnh với những người học khỏc Trờn cơ sở đú, người ta cú thể cụng nhận cỏc kĩ năng hoặc cỏc kiến thức đó được thụng thạo trước đú
• Cỏc tiờu chớ và chỉ số dựng cho đỏnh giỏ được cụng bố cho người học biết trước khi kiểm tra đỏnh giỏ
Nội dung chương trỡnh đào tạo theo NLTH thụng thường được cấu trỳc thành
cỏc Mụ đun Mụ đun ở đõy được hiểu là một đơn vị học tập liờn kết tất cả cỏc thành
phần kiến thức liờn quan trong cỏc mụn học lý thuyết (ớt nhất là cỏc mụn lý thuyết chuyờn mụn nghề) với cỏc kĩ năng để tạo ra một năng lực chuyờn mụn nhằm thực hiện một cụng việc nhất định trong nghề
Trang 33
c Đặc điểm về tổ chức, quản lý quá trình dạy học
Một chương trình đào tạo nghề theo NLTH phải thể hiện được các đặc điểm về
mặt tổ chức, quản lý sau đây:
• Để xác định một người đã hoàn thành chương trình đào tạo, người ta căn cứ vào sự thông thạo được tất cả các NLTH đã xác định trong khung chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn
• Không đặt ra yêu cầu về thời lượng dành cho học tập bởi vì người học có thể học theo khả năng và nhịp độ của riêng mình, không phụ thuộc vào người khác, miễn
là đủ thời gian để thông thạo được các NLTH Điều đó cho phép người học có thể vào học và kết thúc việc học ở các thời điểm khác nhau
• Hồ sơ học tập của từng cá nhân và của tất cả mọi người học được lưu trữ đầy
đủ Người học có thể học chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình học không cần học lại những NLTH đã thông thạo rồi nhờ có hệ thống các tín chỉ đã được cấp trước đây
Đào tạo nghề theo NLTH đặt trọng tâm vào việc giải quyết vấn đề, vào việc hình thành NLTH cho người học hơn là tập trung vào giải quyết nội dung chương trình.Việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào các tiêu chí thực hiện (Performance Criteria) Các tiêu chí thực hiện được xác định chủ yếu từ các tiêu chuẩn nghề trong công nghiệp; chỉ khi nào người học đã ”đạt” tất cả các tiêu chí đặt ra thì mới được công nhận đã học xong chương trình đào tạo
Ưu điểm nổi bật của hệ thống đào tạo theo NLTH, bên cạnh những ưu điểm khác thể hiện ở những đặc trưng của nó, là hệ thống đào tạo theo NLTH đáp ứng được nhu cầu của cả người học lẫn người sử dụng lao động qua đào tạo: Người tốt nghiệp chương trình đào tạo theo NLTH là người một mặt đạt được sự thành thạo công việc theo các tiêu chuẩn quy định, tức là đáp ứng yêu cầu sử dụng, đồng thời, mặt khác lại
có thể dễ dàng tham gia các khoá đào tạo nâng cao hoặc cập nhật các NLTH mới để di chuyển vị trí làm việc
Mặt hạn chế cơ bản của hệ thống đào tạo theo NLTH do nội dung chương trình
ở đó được cấu trúc thành các mô đun “tích hợp” dẫn tới, đó là người học không được trang bị một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các kiến thức theo lô gíc khoa học, không có đủ cơ hội hiểu sâu sắc bản chất lý thuyết của các sự vật, hiện tượng như
“truyền thống” lâu nay khi học theo các môn học lý thuyết, vì vậy sẽ có thể hạn chế phần nào năng lực sáng tạo trong hành nghề thực tế ở người học
Triết lý của đào tạo theo NLTH có thể tóm tắt theo Sơ đồ 2 dưới đây
Sơ đồ 2: Triết lý đào tạo theo năng lực thực hiện
Trang 34Thế giới lao động Thế giới đào tạo cho LĐ
1.2.2.2 So sỏnh đào tạo nghề theo truyền thống và theo mụ đun năng lực thực hiện
Để hiểu rừ thờm về phương thức đào tạo theo (NLTH) ta cú thể so sỏnh với
phương thức đào tạo theo truyền thống, tức là phương thức quen thuộc lõu nay chỳng
ta thường vẫn sử dụng
So sánh đμo tạo truyền thống vμ CBT
• Tỷ lệ học sinh có việc làm – đáp ứng thị trường
Tiêu chí đánh giá chương trinh:
• Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp & khá giỏi
Mục tiêu (Objectives):
• Cơ bản – Toàn diện – Phát triển
2
• Phần nghề- Cần gi học nấy -Thời vụ
• Có việc làm – Kiếm sống - Suốt đời
Triết lý đμo tạo:
• Nhân cách – Toàn nghề
1
đμo tạo nghề theo nang lực thực hiện
đμo tạo nghề truyền thống
Mục tiờu đào tạo (Cỏc năng lực thực hiện) NĂNG LỰC THỰC HIỆN
(Kiến thức - Kỹ năng - Thỏi độ) Kiến thức Kỹ năng Thỏi độ
Mục tiờu tiền đề Hoạt
Cho trước cỏi gỡ Địa điểm Thời gian
Tiờu chuẩn
Tốc độ
Sự chớnh xỏc Chất lượng Hoạt động Điều kiện Tiờu chuẩn
Mục tiờu thực hiện
ĐÁNH GIÁ THEO
Trang 351.2.2.3 Yêu cầu đối với giáo viên trong đào tạo nghề theo năng lực thực hiện
Đào tạo nghề theo năng lực thực hiện với phương thức dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên day nghề có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kỹ năng thực hành, năng lực
sư phạm: một mặt đó là sự nắm vững phương pháp khoa học của môn học, mặt khác
là khả năng sử dụng phương pháp dạy học thích ứng với mục tiêu và nội dung có sự gắn kết giữa lý thuyết với thực hành, cạnh đó còn đòi hỏi giáo viên có khả năng tổ chức để tổ chức quá trình dạy học, tổ chức các hoạt động học tập theo logic của nhận thức kiến thức, kỹ năng và theo cấu trúc của hoạt động Không những thế giáo viên dạy nghề cần có các tri thức và kỹ năng để tổ chức quá trình đào tạo và quá trình dạy học theo phương thức này; Bởi dạy học định hướng hành động trong đào tạo nghề theo
mô đun năng lực thực hiện đòi hỏi giáo viên có khả năng mô tả nghề, phân tích chương trình, nắm bắt được các mô đun, các bài, xây dựng các điều kiện để thực hiện
mô đun cũng như những vấn đề kiểm tra và đánh giá các năng lực thực hiện
Có thể nói việc trang bị cho giáo vien dạy nghề những tri thức và cần thiết, những cách thức mới của hoạt động phương pháp và tổ chức dạy học trong đào tạo nghề theo năng lực thực hiện giúp giáo viên có thể tổ chức thành công dạy và học các mô đun năng lực thực hiện
Thực hành
1.Thực hành mô tả nhiệm vụ/ công việc nghề theo lĩnh vực được đào tạo theo mẫu sau: Thẻ chỉ số, nhiệm vụ
Tần suất M· số : Tên nghề: Nhiệm vụ: Tần suất và tầm quan trọng
Mô tả nhiệm vụ/
các bước thực hiện nhiệm vụ
Kiểu thực hiện Tầm quan trọng Khó khăn
trong học tập
2 Xác định các nhiệm vụ, công việc cho một nghề theo lĩnh vực đào tạo theo mẫu sau:
1 Tên nghề
2 Danh mục các công việc trong nghề
Số thứ tự Tên các nhiệm vụ/ công việc
3 Xác định các thành phần năng lực thực hiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ/ công việc nói trên
Câu hỏi ôn tập
Câu1 Phân tích các khái niệm: nghề; nhiệm vụ, công việc; năng lực và năng lực thực hiện Câu 2.Trình bày cấu trúc và đặc điểm của phương thức đào tạo nghề theo năng lực thực hiện
Trang 36Chương2 Phương pháp dạy học trong đào tạo nghề
theo mô đun năng lực thực hiện 2.1 Nhóm phương pháp dạy học truyền thống
2.1.1 Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình là dùng lời trình bày một vấn đề trước nhiều người Phương pháp thuyết trình được hiểu như người dạy dùng chất liệu học thông báo tới người học bằng lời nói sinh động của mình, còn người học có nhiệm vụ nghe, nhìn, ghi chép và ghi nhớ tái
hiện
Trong phương pháp thuyết trình có: Giảng thuật, giảng giải và diễn giảng
- Giảng thuật: Là phương pháp dùng lời có chứa đựng những yếu tố trần thuật,
tường thuật, mô tả theo đúng các đặc điểm hay diễn biến của sự vật, hiện tượng, sự kiện, đã diễn ra trong thực tế
ứng dụng: Hay dùng để dạy cho các đối tượng cụ thể, thực tế ví dụ như quy trình
công nghệ, bản vẽ, sơ đồ, mô hình, vật thật, sự kiện, hiện tượng, cụ thể
- Giảng giải, giải thích (hay còn gọi là cắt nghĩa): là dùng luận cứ, những hiện
tượng có thực để chứng minh cho một nguyên tắc, quy tắc, định lý, định luật, công thức, thuật ngữ, mệnh đề,
Khi giảng thấy những thuật ngữ, công thức mới lạ, có thể cần giải thích trước sau
đó mới giảng nội dung bài
Giảng giải thường chứa đựng các yếu tố suy luận, phán đoán và có tiềm năng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Giảng diễn (diễn giảng): Là trình bày một nội dung hoàn chỉnh mang tính phức
tạp trừu tượng và khái quát hoá một thời gian dài
ứng dụng: Khi dùng PPDH này, người dạy thường viết dàn ý lên bảng, nêu bật
những nội dung cốt lõi của bài, sau đó, đào sâu, mở rộng liên hệ thực tiễn và cũng đưa thêm lưòi bình hay quan điểm của mình Cuối cùng tóm tắt, kết luận vấn đề có tính khái quát hoá cao
Nhìn chung, ba PPDH trong thuyết trình đều theo một lô gíc nhất định, các bước tiến hành như sau: Đặt (nêu) vấn đề, phát biểu vấn dề, gíải quyết vấn đề, kết luận vấn
về phương diện phương pháp dạy môn học
Trang 37Giải quyết vấn đề, đến giai đoạn này giáo viên cần tiến hành giải quyết vấn đề theo hai lôgíc phổ biến là quy nạp và diễn dịch
Kết luận vấn đề: là giai đoạn kết thúc của công việc nghiên cứu Nội dung của kết luận không thể tóm tắt máy móc tẻ nhạt, mà nó phải cô đọng, chính xác, đầy đủ, phải khái quát được bản chất của vấn đề
Trong phương pháp thuyết trình, lời nói của giáo viên là nguồn phát thông tin, là
sự diễn đạt chân lí, là nhân tố truyền đạt tư tưởng-tình cảm hiệu nghiệm Do vậy lời nói của giáo viên phải làm cho trò hiểu được tư tưởng chủ đạo của nội dung bài học, nắm bản chất của vấn đề, hiểu được sâu sắc các diễn biến của hiện tượng Lời nói còn là mẫu mực cho trò trong việc phát triển tư duy biện luận văn hóa của ngôn ngữ nói (hệ tín hiệu thứ hai) Lôgíc trình bày của thầy phải có tác dụng giúp hình thành lôgíc tư duy của trò, nó chỉ đạo sự suy nghĩ của trò
Ưu và nhược điểm của phương pháp thuyết trình:
Phương pháp thuyết trình tạo thuận lợi cho giáo viên tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của người học, giúp cho người học lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống hoàn chỉnh; kích thích được tư duy của người học; đồng thời phát triển chú ý có chủ định ở học sinh
Bên cạnh những ưu điểm trên đây, phương pháp thuyết trình cũng có những nhược điểm là làm cho học sinh thụ động và dễ mệt mỏi vì học sinh đóng vai trò là người nghe là chủ yếu, phải chịu tác động của tác nhân kích thích lời nói kéo dài Phương pháp này không cho phép giáo viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức, cũng như không thể kiểm tra đầy đủ sự lĩnh hội tri thức ở từng học sinh.Trong khi tiến hành thuyết trình chúng ta cần:
Đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học, tính thực tiễn của nội dung thuyết trình, cần chú ý đến tính chính xác của các sự kiện, các logic cấu trúc của nội dung Các kiến thức bao gồm các cứ liệu cụ thể và cứ liệu khái quát được sắp xếp vào hệ thống nhất định Đảm bảo sự trong sáng, dễ hiểu của việc trình bày tài liệu sao cho những tư tưởng cơ bản được học sinh nắm một cách chính xác
Đảm bảo thu hút sự chú ý và phát huy được tính tích cực của học sinh thông qua cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, và qua việc vận dụng các phương pháp dạy học Đảm bảo cho học sinh biết cách ghi chép, ghi theo cách hiểu của mình
Trang 38Cấu trúc của một buổi d¹y học bằng phương pháp thuyết trình như sau:
điểm nội dung!
Xử lý vấn đề/ giải quyết vấn đề qua những ví dụ từ thực tế :
- Cách thực hiện, bắc cầu từ cái đã biết sang cái sắp biết, chỉ ra cái cần được người học thu nhận Trước hết gắn kết kiến thức sắn có của người học với các thông tin mới Trong trường hợp này hãy dùng những câu hỏi dẫn hướng hay những luận điểm cơ bản
- Phát triển cấu trúc nội dung, cấu trúc mạng kiến thức, trong
đó gắn kết với những thông tin mới Tạo ra mối quan hệ giữa thông tin mới này với các hành động cụ thể và hệ thống kinh nghiệm Giải thích những nội dung trọng điểm và chỉ ra hư- ớng giải quyết
Đối với phương pháp thuyết trình, lời nói của giáo viên nªn ngắn gọn, sóc tÝch
dễ hiểu vµ giàu hình tượng
2.1.2 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại thực chất là phương pháp trong đó thầy đặt ra một hệ thống các câu hỏi trò lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại giữa thầy- trò, trò- trò dưới sự chỉ đạo của thầy
Qua quan hệ hỏi - đáp, trò lĩnh hội được nội dung dạy học Như vậy, hệ thống câu hỏi đáp là nguồn cung cấp và lĩnh hội tri thức
Phương diện là mục mục đích lý luận dạy học phương pháp đàm thoại được phân ra thành các phương pháp: đàm thoại truyền đạt tri thức mới, đàm thoại, củng cố ôn tập
Trang 39và đàm thoại kiểm tra đánh giá Theo tính chất của hoạt động nhận thức thì đàm thoại được chia thành các phương pháp: đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích minh họa, đàm thoại nêu và giải quyết vấn đề
Đàm thoại tái hiện:
+ Nội dung phương pháp: Thầy đặt ra câu hỏi, trò nhớ lại và trả lời trực tiếp làm
sao cho đầy đủ ý mà câu hỏi đặt ra Hoạt động tư duy của học sinh mang tính tái hiện
+ Cách thức và phạm vi áp dụng: khi kiểm tra bài cũ, kiến thức cũ, nêu câu hỏi
trước để học sinh có thời gian suy nghĩ, sắp xếp nội dung theo lôgíc nhất định rồi trả lời Nếu đúng, đủ, giáo viên tổng kết và kết luận Nếu chưa đúng, đủ thì có thể gọi học sinh khác để bổ sung thêm, làm hoàn thiện sơ đồ tổng kết, kết luận
- Đàm thoại giải thích- minh hoạ:
+ Mục đích là giải thích một thuật ngữ mệnh đề, công thức, định lý, vấn đề nào
đó, trong đó có kèm theo ví dụ minh hoạ, chứmg minh
+ ứng dụng: Những nội dung, vấn đề, thuật ngữ đưa ra giải thích được cấu tạo
hoàn thành những câu hỏi - đáp để làm sáng tỏ vấn đề
- Phương pháp đàm thoại tìm kiếm (Ơristic)
+ Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là xây dựng hệ thống câu hỏi trả lời theo hình thức nêu vấn đề Đó là những câu hỏi chứa đựng cái mới, cái khái quát và có những khó khăn nhất định Khi nguời học nhận thức được vấn đề cần khám phá, họ sẽ
ở trong trạng thái của tình huống có vấn đề Khi trả lời được người học sẽ lĩnh hội được các vấn đề như nguyên lý, khái niệm, các nguyên tắc khoa học kỹ thuật Trong
hệ thống câu hỏi nầy thầy giữ vai trò chủ đạo có tính chất quyết định, đối với chất lượng lĩnh hội kiến thức
Cách vận dụng: Mỗi nội dung (đề mục) người dạy chia thành những vấn đề thuộc
dạng câu hỏi, mỗi câu hỏi chứa đựng một vấn đề Khi lên lớp, người dạy nêu tên bài thông báo mục tiêu dạy học cho học sinh định hướng, nêu từng đề mục, đặt câu hỏi trước lớp để học sinh suy nghĩ, gọi học sinh trả lời từng câu hỏi một (một học sinh hay nhiều học sinh tham gia) Nếu thầy thấy đủ, đi đến tổng kết, và đưa ra câu trả lời đúng, để học sinh nắm vững và có độ tin cậy
Điều kiện thực hiện phương pháp:
* Học sinh phải có chút ít hiểu biết và kinh nghiệm về vấn đề đang bàn
* Phải có tài liệu phát tay cho học sinh nghiên cứu trước và kèm theo sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 40
Những cách thức thực hiện đàm thoại:
Cách 1:
Cách 2:
Cách 3:
Yêu cầu với việc đặt câu hỏi:
- Xác định việc đặt câu hỏi
- Mỗi câu chỉ chứa đựng một vấn đề
- Câu hỏi dạng ngắn gọn, dễ hiểu, sát với trình độ phát triển của học sinh
2.1.3 Phương pháp làm việc với SGK vµ tµi liÖu tham kh¶o
Nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo có nghĩa rất lớn nó bổ sung , chính xác hoá đào sâu mở rộng cho những kiến thức mà người học lĩnh hội trên lớp Mặt khác góp phần vào việc phát triển khả năng tự nghiên cứu, phát triển vốn từ vựng
và cách hành văn của người học Có hai hình thức làm việc với sách:
Đọc ở trên lớp: Căn cứ vào mục tiêu bài, người dạy định trước khi lên lớp cho
người học đọc những nội dung cần học, họ đọc có thể hiểu được Hướng dẫn đọc- khái quát hoá- báo cáo trước lớp- thầy tổng kết- kết luận- học sinh ghi tóm tắt vào vở theo cách riêng của mình
Đọc ở nhà: Hướng dẫn cho người học đọc những phần nội dung sẽ giảng cho lần
sau Trên cơ sở mục tiêu bài để hướng dẫn cho đọc (nội dung trong sách, tạp chí, bản
vẽ, sổ tay kỹ thuật, ) Đọc xong ghi thành đề cương đánh dấu ở đề cương những điều
d3
Giáo viên