trình bày thay thế nước thải hóa dầu bằng nước rỉ rác của BCL Đông Lạnh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống đang được cải thiện thì vấn đề môi trường cũng được quan tâm, đặc biệt là vấn đề rác thải và nước thải Rác thải sinh
ra từ mọi hoạt động của con người và ngày càng tăng về khối lượng Hầu hết rác thải ở nước ta nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đều chưa có sự phân loại tại nguồn Do đó gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý và xử lý loại chất thải này, đồng thời loại chất thải này sinh ra một loại nước thải đặc biệt
ô nhiễm là nước rỉ rác
Hiện nay, việc xử lý rác thải bằng cách chôn lấp hợp vệ sinh được coi là biện pháp hữu dụng bởi tính kinh tế cao và ít làm ô nhiễm môi trường do hạn chế mùi hôi lan toả Tuy nhiên, lượng nước rỉ rác sinh ra từ các bãi chôn lấp rác đã gây những tác động môi trường nghiêm trọng đến sức khoẻ con người Nước rỉ rác xâm nhập vào nguồn nước mặt lẫn nước ngầm khi chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn là nguy cơ tiềm ẩn của nhiều căn bệnh cho dân cư trong vùng Trước vấn đề này thì nhiều công nghệ trong và ngoài nước được đề ra và áp dụng xử lý Trong các biện pháp đã áp dụng thì biện pháp xử lý sinh học kỵ khí được đánh giá trội hơn hẳn so với các công nghệ khác bởi hiệu quả xử lý cao, tiết kiệm không gian và chi phí vận hành thấp Nhưng do tính chất nước rỉ rác ngày càng phức tạp và thể tích nước tồn đọng ngày càng nhiều mà khả năng xử lý thì hữu hạn nên việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra thêm các biện pháp để xử lý nước rỉ rác là luôn cần thiết Một công nghệ hoàn chỉnh đáp ứng được nhu cầu xử lý nước rỉ rác hiện nay và dễ dàng áp dụng trong điều kiện thực tế nước ta là điều mà mọi nghiên cứu đều hướng đến
Trang 2CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
1.7 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
Trang 31.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7000 tấn rác và một năm tiêu tốn trên 235 tỷ đồng để xử lý, tuy nhiên 98% rác vẫn được chôn lấp Với công nghệ xử lý còn thô sơ nên thường xuyên phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là nước rỉ rác Có lúc tổng lượng nước rỉ rác lên đến gần 100000 m3
Nước rỉ rác có chỉ số BOD và COD cao, thành phần phức tạp và khả năng gây ô nhiễm rất lớn Việc tiêu tốn hàng tỉ đồng để lắp đặt nhà máy xử lý nước rỉ rác tại Bãi chôn lấp (BCL) Gò Cát của công ty Vemeer – Hà Lan, với công nghệ màng lọc Nano là công trình có quy mô và được mong đợi nhưng kết quả là chưa ngày nào nhà máy chạy hết công suất, vì lý do công nghệ không phù hợp với thành phần và tính chất của nước rỉ rác Thành phố Sự thất bại của công trình Gò Cát càng làm cho các nhà Môi trường trong nước quan tâm đặc biệt đến vấn đề
này và đã đưa ra nhiều công nghệ ở quy mô Pilot đạt hiệu quả xử lý cao như Xử lý nước rỉ rác bằng các thiết bị công nghệ sinh học kỵ khí cao tốc UASB, FBABR và UFAF kết hợp với FBR của T.S Trần Minh Chí đạt hiệu quả xử lý COD lên đến 95% hay Ứng dụng quá trình bùn sinh trưởng lơ lửng hiếu khí và kỵ khí kết hợp kỹ thuật màng vi lọc để xử lý nước rỉ rác của Th.S Vũ Phá Hải cũng đem lại hiệu quả
xử lý COD trên 90% Từ đó cho thấy công nghệ sinh học kỵ khí đặc biệt thích hợp cho xử lý nước rỉ rác Tuy nhiên, nó vẫn thể hiện những nhược điểm như quá trình chưa ổn định, sản lượng khí sinh học thu hồi được ít do các giai đoạn xử lý kỵ khí diễn ra đồng thời, chồng chéo nhau Trong một nghiên cứu khác của các tác giả thuộc trường Đại học Sardar Patel, Gujarat, Ấn Độ đã đưa ra mô hình kỵ khí nhiều ngăn có lớp vật liệu đệm để xử lý nước thải hóa dầu nhiễm acid, bằng cách này người ta đã tách thành công các giai đoạn của quá trình kỵ khí, làm tăng tính
Trang 4ổn định cho quá trình và tăng sản lượng khí sinh học mà không làm giảm hiệu quả xử lý COD.
Nắm bắt được hướng nghiên cứu trên, Đồ Án đã ứng dụng bằng cách thay thế nước thải hoá dầu bằng nước rỉ rác của BCL Đông Thạnh với mong muốn xử lý thành công, theo dõi và đưa ra được các thông số vận hành tối ưu cho quá trình xử lý, phù hợp với thành phần và tính chất của nguồn nước rỉ rác trong nước
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu ứng dụng mô hình sinh học kỵ khí nhiều ngăn xử lý thành phần
ô nhiễm hữu cơ trong nước rỉ rác
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
• Tìm hiểu về các BCL, tình hình nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ xử lý nước rỉ rác trong và ngoài nước
• Thiết kế và vận hành mô hình sinh học kỵ khí nhiều ngăn
• Thí nghiệm phân tích các chỉ tiêu pH, COD, SS của nước thải ở đầu vào, đầu ra và trong các thời gian lưu thủy lực khác nhau
• Xử lý số liệu thu thập và phân tích được
• Tổng hợp và đánh giá kết quả, thông qua đó xác định hiệu quả xử lý COD và ảnh hưởng của các thông số vận hành như pH, HRT, ORL, tỷ lệ giữa thể tích vật liệu đệm với thể tích mô hình
Trang 51.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Nghiên cứu lý thuyết
• Thu thập thông tin về thành phần, tính chất nước rỉ rác các BCL tại TP.HCM
• Thu thập thông tin về các nghiên cứu ứng dụng liên quan đến đề tài trong và ngoài nước
• Tập hợp cơ sở lý thuyết về các phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu
• Nghiên cứu thực nghiệm
• Khảo sát, lấy mẫu nước thải
• Thiết kế mô hình kỵ khí nhiều ngăn
• Thí nghiệm xác định các chỉ tiêu pH, COD, SS
• Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của pH và thời gian lưu thủy lực
• Xử lý kết quả phân tích bằng Excel
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
• Nước rỉ rác Bãi chôn lấp rác Đông Thạnh
1.6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
• Phạm vi không gian: BCL Đông Thạnh – TP.HCM
• Phạm vi thời gian: từ ngày 01/10/2007 đến ngày 25/12/2007
Trang 61.7 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
Nội dung Thời gian Kết quả dự kiến
• Tổng quan lý
thuyết
chương I và chương II
• Thiết kế và xây
dựng mô hình kỵ khí
nhiều ngăn
kỵ khí 3 ngăn
• Lấy mẫu và phân
tích mẫu đầu vào
không hoà trộn và keo
tụ tạo bông trong các
thời gian lưu khác nhau
tích mẫu theo 3 chỉ tiêu
pH, SS, COD ở các thời gian lưu khác nhau
• Chạy mô hình 2
có hoà trộn và keo tụ
tạo bông
-• Tổng hợp, xử lý
số liệu và viết báo cáo
hoàn tất
Bảng 1 Tiến độ thực hiện Đồ án tốt nghiệp
Trang 7CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN THẢI
2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA NƯỚC RỈ RÁC
2.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
2.4 CÔNG NGHỆ SINH HỌC KỴ KHÍ
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trang 82.1.1.TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN THẢI
2.1.1.1 Giới thiệu BCL Đông Thạnh
BCL Đông Thạnh thuộc xã Đông Thạnh, phía Bắc huyện Hóc Môn, giáp xã Bình Mỹ- Củ Chi, xung quanh là ruộng Địa hình nơi đây dạng đồng bằng cao hơi nghiêng về hướng sông Sài Gòn ở phía Đông và hướng Rạch Tra ở phía Bắc Trên 10 năm qua, hầu như toàn bộ lượng rác thải từ các khu vực nội ô của Thành phố Hồ Chí Minh được chôn lấp tại đây Bãi rác Đông Thạnh bắt đầu hoạt động đổ rác một cách tự phát từ năm 1979 Trước đây là hố khai thác đất Đến năm
1991, nó chính thức trở thành công trường xử lý rác Đông Thạnh do Công ty Xử Lý Chất Thải (HOWADICO) trực thuộc Sở Giao Thông Công Chánh quản lý Diện tích ban đầu là 10 ha, sau đó mở rộng thêm 6 ha rồi 22.6 ha Cho đến nay, tổng diện tích công trường xử lý rác Đông Thạnh đã lên đến 43.5 ha với công suất xử lý khoảng 4000 tấn rác/ngày
Hình 1 Núi rác Đông Thạnh
Khuôn viên công trường quy hoạch tuyến đường cho xe chở rác, trạm cân
xe, các hồ chứa nước rò rỉ, khu vực chôn rác,… Khu vực chôn rác phân chia ra nhiều lô, mỗi lô đào hố sâu khoảng 8 m rồi đổ rác xuống theo từng lớp, sau đó rải một lớp vôi bột và lấp lên một lớp đất dày khoảng 20 – 30 cm Sau một thời gian
Trang 9nhất định lớp rác này xẹp xuống thì tiến hành đổ tiếp lên đó một lớp rác khác, cứ thế lớp rác và lớp đất xen kẽ nhau, trên cùng lấp đất tới cao trình 9 m
BCL Đông Thạnh do hình thành tự phát nên không có khoảng cách li vệ sinh với khu dân cư Cũng do không được quy hoạch, thiết kế như một BCL hợp vệ sinh, đạt tiêu chuẩn ngay từ đầu nên bãi rác khi hoạt động đã mắc phải những sai phạm Thực tế, BCL chỉ là một bãi đổ hở, không có lớp chống thấm, không có hệ thống thu gom khí và nước rò rỉ… Hậu quả là ô nhiễm môi trường ở bãi rác Đông Thạnh khá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng dân cư và môi trường sống
Hình 2 Sơ đồ cắt ngang địa hình Bãi chôn lấp Đông Thạnh
Rác chôn ở Đông Thạnh chủ yếu là rác sinh hoạt, trong đó phần lớn các loại rác có thể tái chế đã được người dân thu lượm trên bãi, còn lại là rác hữu cơ, rác nilon cũ, các loại rác không thể tái chế Các công trình nghiên cứu rác thải ở Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy thành phần của các chất hữu cơ (chủ yếu là rau, quả, thực phẩm) chiếm 50 – 62% (theo trọng lượng ướt), hàm lượng nước trung bình trong rác khoảng 50%
Trang 10Theo ước tính, đến nay công trình rác Đông Thạnh còn tồn đọng 600000 mnước rò rỉ chưa được xử lý lưu trữ tại hồ số 7 Lượng nước rò rỉ phát sinh hàng ngày được bơm về hồ chứa Do đặc trưng của nước rò rỉ lưu trữ lâu năm nên việc xử lý rất khó khăn và phức tạp BCL Đông Thạnh đã chính thức đóng cửa vào cuối năm 2002, toàn bộ rác thải Thành Phố chuyển qua BCL Gò Cát Đến tháng 08/2007, BCL Gò Cát không có khả năng tiếp nhận sau 05 năm hoạt động nên BCL Đông Thạnh lại tái mở cửa và hiện nay tiếp nhận mỗi ngày khoảng 800 m3
nước rỉ rác từ bãi Gò Cát và 200 m3 nước thải hầm cầu từ Cơ sở Hoà Bình chuyển đến cùng với xà bần và các loại rác khác
Hình 3 Lượng nước thải từ Cơ sở Hòa Bình được chuyển sang
Công trường Đông Thạnh
2.1.2 Giới thiệu BCL Gò Cát
Trang 11Sau nhiều năm thi công, công trường xử lý rác Gò Cát chính thức đi vào hoạt động từ ngày 19/01/2002 Dự án công trường xử lý rác Gò Cát có vốn đấu tư
261 tỷ đồng, trong đó Chính Phủ Hà Lan tài trợ không hoàn lại 60% BCL Gò Cát đặt tại xã Bình Hưng Hoà – Bình Chánh có diện tích 25 ha được xây dựng theo công nghệ hiện đại nhất từ trước đến nay tại Việt Nam Đáy của BCL có tấm lót HDPE- Hight Density Polyethylen dày 2 mm, có hệ thống thu gom khí và tái sử dụng khí để phát điện, có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác Công suất thiết kế bãi rác 2000 tấn/ngày
Hình 4 Công trường xử lý rác Gò Cát
Nước rỉ rác của BCL sinh ra từ 04 nguồn chính sau: nước rỉ rác từ các ô chôn lấp, nước rỉ rác từ các ô đổ rác tạm thời và xe vận chuyển rác, nước rửa xe chở rác trước khi ra khỏi bãi chôn lấp và nước thải sinh hoạt, trong đó nước rỉ rác từ các ô chôn lấp là nguồn gây ô nhiễm cao nhất, lưu lượng lớn nhất và cần được xử lý Lượng nước này được thu gom bằng hệ thống các ống thu nước đặt dưới đáy BCL và dẫn về hồ tập trung rồi bơm về hệ thống xử lý
Trang 12BCL Gò Cát có nhà máy xử lý nước rỉ rác được xây dựng từ năm 2001, do Công ty Gibros chế tạo và Công ty Vemeer – Hà Lan lắp đặt có công suất 17.5
m3/h, bước đầu vận hành chạy thử và đã xử lý xong 6000 m3 Nhưng sau khi BCL Gò Cát chính thức tiếp nhận lượng rác theo thiết kế là 2000 tấn/ngày, đến ngày 27/01/2002 thì bị trục trặc ở hệ thống siêu lọc, công suất giảm còn khoảng 10
m3/h, nước rỉ rác qua xử lý chưa ổn định Mặc khác, các chỉ tiêu của nước sau xử lý không đạt tiêu chuẩn cho phép nhưng cũng được chấp nhận thải ra kênh Nước Đen Đây chính là điều làm cho các chuyên gia trong nước quan tâm bởi tính hiệu quả an toàn của thiết bị này
Sau 05 năm hoạt động, ngày 01/08/2007, bãi rác Gò Cát chính thức đóng cửa qua hai năm lùi hẹn Toàn bộ 4000 tấn rác thải ra hàng ngày buộc phải chuyển về chôn lấp tại bãi Phước Hiệp (thuộc Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Thành phố, huyện Củ Chi) trong khi BCL mới Đa Phước chưa hoàn thành Điều đáng lo ngại là sau khi đóng cửa, trên 1000 m3 nước rỉ rác/ngày vẫn phải tiếp tục xử lý Trong khi đó, với công nghệ xử lý rác hiện tại, công trường này chỉ có thể xử lý 400 m3/ngày Lượng nước rỉ rác còn lại buộc phải chuyển qua bãi rác Đông Thạnh, mặc dù bãi rác này đã đóng cửa từ lâu
2.1.3 Giới thiệu BCL Phước Hiệp
Trang 13BCL Phước Hiệp đặt tại xã Tam Tân – huyện Củ Chi khởi công xây dựng từ đầu năm 2003 theo công nghệ BCL vệ sinh như BCL Gò Cát Trạm xử lý nước
rỉ rác, tạm thời giải quyết trong giai đoạn đầu, do Centenma lắp đặt cũng đã bắt đầu hoạt động, hệ thống này có công nghệ xử lý nước rỉ rác tương tự như hệ thống xử lý tại BCL Gò Cát
Hiện nay, BCL Phước Hiệp cũng đang trong tình trạng quá tải vì BCL Gò Cát vừa đóng cửa, BCL mới Đa Phước chưa hoạt động, gánh nặng của rác thải toàn Thành phố đổ dồn về đây
Hình 5 Bãi chôn lấp Phước Hiệp cũng đang quá tải
2.1.2.ĐẶC TRƯNG CỦA NƯỚC RỈ RÁC
Trang 142.2.1 Nguyên nhân phát sinh nước rỉ rác
Nước rò rỉ từ bãi rác là nước bẩn thấm qua lớp rác, kéo theo các chất ô nhiễm từ rác chảy vào tầng đất dưới BCL Nước rác được hình thành khi độ ẩm của rác vượt quá độ giữ nước Độ giữ nước của chất thải rắn là lượng nước lớn nhất được giữ lại trong các lỗ rỗng mà không phát sinh ra dòng thấm hướng xuống, dưới tác dụng của trọng lực Trong giai đoạn hoạt động của BCL, nước rỉ rác hình thành chủ yếu do nước mưa và nước “ép” ra từ các lỗ rỗng của chất thải
do các thiết bị dầm nén Sự phân hủy chất hữu cơ trong rác cũng phát sinh nước rò rỉ nhưng với lượng rất nhỏ
Điều kiện khí hậu thuỷ văn, địa hình, địa chất của bãi rác, nhất là khí hậu, lượng mưa ảnh hưởng đáng kể đến lượng nước rò rỉ sinh ra Tốc độ phát sinh nước
rỉ rác dao động lớn theo các giai đoạn hoạt động khác nhau của bãi rác Trong suốt những năm đầu tiên, phần lớn lượng nước mưa thâm nhập vào được hấp thụ và tích trữ trong các khe hở và lỗ rỗng của chất thải chôn lấp Đối với bãi chôn lấp hoạt động khoảng 05 năm thì lượng nước rò rỉ khoảng 0.2 m3/tấn rác
2.2.2 Thành phần và tính chất nước rỉ rác
Thành phần nước rỉ rác thay đổi rất nhiều, phụ thuộc vào tuổi BCL, loại rác, khí hậu Mặc khác, độ dày, độ nén và nguyên liệu phủ trên cùng cũng tác động lên thành phần nước rác Bảng 1 biểu diễn sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm trong nước rác theo thời gian, từ ngày bãi ngưng hoạt động
Bảng 2 Sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm trong nước rỉ rác theo tuổi
Trang 15Thành phần Đơn vị Giá trị
1 năm 5 năm 16 năm
(Nguồn: Chian và DeWalle, 1996- 1997)
Sự thay đổi về thành phần và tính chất nước rò rỉ theo thời gian sẽ dẫn đến sự khác nhau trong việc lựa chọn công nghệ và thông số thiết kế Kết quả khảo sát các trạm xử lý nước rò rỉ cho thấy hầu hết các trạm có hiệu quả xử lý thấp hoặc ban đầu cao, sau đó thấp dần là do công tác khảo sát sự thay đổi thành phần nước rỉ rác không được thực hiện một cách kỹ càng
Hàm lượng chất hữu cơ nước rỉ rác của bãi rác mới chưa phủ đầy (khoảng
08 tháng tuổi) có thể lên đến 716000 mg/l Hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ giảm dần theo tuổi bãi rác Tương tự, tỷ số BOD:COD cũng giảm dần theo thời gian Mức độ giảm này cho thấy chất hữu cơ dễ oxy hoá sinh hoá giảm nhanh, trong khi đó hàm lượng chất không phân huỷ sinh học gia tăng theo tuổi bãi rác
Trang 16Thời gian (năm)
Hình 6 Sự biến thiên tỷ số BOD/COD của nước rỉ rác theo tuổi của BCL
(Nguồn: Chian và DeWalle, 1997)
Hình 7 cho thấy giá trị pH tăng dần theo thời gian do hàm lượng của acid béo dễ bay hơi giảm Do nước rỉ rác thay đổi theo thời gian, vì vậy các công trình xử lý phải được thiết kế linh hoạt, dễ dàng nâng cấp khi chất lượng nước rỉ rác thay đổi
Trang 17Hình 7 Sự biến thiên pH của nước rỉ rác theo tuổi của BCL
(Nguồn: Chian và DeWalle, 1997)
Trong quá trình hoạt động của bãi rác, các thành phần trong nước rỉ rác biến đổi qua các giai đoạn như sau:
COD
pHVAF
Fe, Zn
Trang 18• Pha 1 (pha thích nghi):
Sau một thời gian ngắn khi bãi rác đi vào hoạt động, quá trình phân hủy hiếu khí xảy ra, ở giai đoạn này các chất hữu cơ dễ bị oxy hóa sinh hoá thành dạng đơn giản như protein, tinh bột, chất béo và một lượng nhất định chất xenlulo Pha 1 có thể kéo dài một vài ngày hoặc một vài tuần
• Pha 2 (pha chuyển tiếp):
Khi oxy bị các vi sinh vật hiếu khí tiêu thụ dần thì các vi sinh vật kỵ khí bắt đầu xuất hiện Nitrat và sulfat đóng vai trò chất nhận electron trong các phản ứng chuyển hoá sinh học, thường bị khử đến khí N2 và H2S Trong pha này, pH của nước rác bắt đầu giảm do sự hiện diện các acid hữu cơ và ảnh hưởng của sự gia tăng nồng độ CO2 trong bãi rác
• Pha 3 (pha acid)
Các vi sinh kỵ khí gia tăng tạo ra một lượng lớn các acid hữu cơ và một lượng ít khí hydro Các vi sinh vật tham gia vào quá trình lên men là nhóm vi sinh vật dị dưỡng trong điều kiện cả yếm khí lẫn kỵ khí nghiêm ngặt Các chất hữu cơ dạng đơn giản, các amino acid, đường… được chuyển hoá thành các acid béo bay hơi (VFA), alcohols, CO2 và N2 Trong pha này, pH nước rác thường sẽ giảm xuống 5 hoặc thấp hơn do sự hiện diện các acid hữu cơ và sự gia tăng nồng độ
CO2 trong bãi rác
Pha 3 có thể kéo dài sau một vài năm, thậm chí cả thập niên Nước rò rỉ tạo
ra trong giai đoạn này có giá trị BOD5 cao (>10000 mg/l), BOD5/COD > 0.5, tỷ số
Trang 19này cho thấy thành phần chất hữu cơ hoà tan chiếm tỷ lệ cao và dễ bị phân huỷ sinh học.
• Pha 4 (pha lên men Metan)
Sự phát triển chậm của vi khuẩn metan dần dần được hình thành, chiếm ưu thế và bắt đầu tiêu thụ những hợp chất đơn giản, tạo ra các hỗn hợp CO2 và CH4
cùng với một số thành phần vết khác tạo thành khí của bãi rác Pha này nhạy cảm hơn pha 2
Nước rò rỉ tạo ra trong pha 4 có giá trị BOD5 tương đối thấp, tỷ số BOD5/COD thấp Tuy nhiên, NH3 vẫn tiếp tục thoát ra bởi quá trình lên men acid theo bậc 1 và có nồng độ rất cao trong nước rỉ rác Các chất vô cơ như: Fe, Na, K,
SO42- và Cl- tiếp tục tan và rỉ ra trong nhiều năm
• Pha 5 (pha chín):
Xuất hiện sau khi các chất hữu cơ sẵn sàng phân hủy sinh học đã chuyển thành CH4 Lúc này, tốc độ sinh khí giảm đáng kể do phần lớn các chất dinh dưỡng đã bị khử loại qua các pha trước và chất nền còn lại thì khả năng phân hủy sinh học khá chậm Khí sinh ra chủ yếu là CH4 và CO2 Suốt pha này, nước rác thường chứa acid humic và fulvic rất khó xử lý sinh học
Nhìn chung ở những bãi rác mới (giai đoạn acid), nước rỉ rác thường có pH thấp, nồng độ BOD5, TOC, COD và kim loại nặng cao, còn ở những bãi rác lâu năm (giai đoạn metan của quá trình phân huỷ), pH = 6.5 – 7.5, nồng độ các chất ô nhiễm thấp hơn đáng kể, nồng độ kim loại nặng giảm do phần lớn kim loại ít tan
Trang 20ở pH trung tính Khả năng phân huỷ sinh học của nước rỉ rác thay đổi theo thời gian, thể hiện qua tỷ số BOD5/COD Ban đầu, tỷ số sẽ ở khoảng trên 0.5 Ở những BCL lâu năm, tỷ số BOD5/COD thường là 0.05 – 0.2 Tỷ số giảm do nước
rỉ rác từ các bãi lâu năm chứa acid humic và fulvic khó phân hủy sinh học Ngoài
ra, nồng độ các chất ô nhiễm cũng dao động theo mùa trong năm
Thành phần ô nhiễm trong nước rỉ rác rất đa dạng, có thể chia thành các nhóm thông số chính, bao gồm các chất rắn lơ lửng, các hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học, các hợp chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học, các chất dinh dưỡng (N, P), các muối vô cơ và các kim loại nặng, …Các đặc trưng của nước rỉ rác ở các nước phát triển được liệt kê trong bảng dưới đây
• Đặc trưng của nước rỉ rác ở các nước phát triển
Thông số Đơn vị Số mẫu kiểm tra Giá trị TB Sai số
Trang 21• Đặc trưng của nước rỉ rác BCL Đông Thạnh
Thành phần Nồng độ, mg/l (trừ pH)
Trang 22• Đặc trưng của nước rỉ rác BCL Gò Cát
Thành phần Đơn vị Nước rò rỉ mới
Trang 23Có thể phân loại các phương pháp xử lý nước thải theo đặc tính của quy trình xử lý như: xử lý cơ học, xử lý hoá học, xử lý sinh học Một hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh có thể gồm một vài công trình đơn vị trong các công đoạn xử lý cơ học, hoá học, sinh học và xử lý bùn cặn.
Một vài phương pháp xử lý nước thải theo 03 quy trình xử lý cơ bản
Quy trình xử lý Các công đoạn có thể áp dụng
• Lọc qua lưới lọc
• Làm thoáng
• Lọc qua lớp vật liệu lọc, qua màng
• Tuyển nổi và vớt bọt
• Hấp thụ và hấp phụ
• Trao đổi ionSinh học • Xử lý hiếu khí:
o Bể Aerotank
o Bể lọc sinh học
o Hồ hiếu khí, hồ oxy hóa
o Ổn định cặn trong môi trường hiếu khí
• Xử lý kỵ khí
o Bể UASB
Trang 24Bảng 6 Các phương pháp xử lý nước thải
2.3.1.1 Phương pháp cơ học
Gồm những quá trình mà khi nước thải đi qua quá trình đó sẽ không thay đổi tính chất hoá học và sinh học Xử lý cơ học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các bước xử lý tiếp theo Ví dụ:
• Lưới chắn ngăn chặn các vật cứng, vật nổi có kích thước lớn đi vào
máy bơm
• Bể lắng cát, bể lắng cặn đợt 1 có cấu tạo mặt bằng là hình tròn hay
chữ nhật, được thiết kế để loại bỏ bằng trọng lực các hạt cặn có trong nước theo dòng chảy vào bể
• Bể tuyển nổi, vớt bọt giúp loại bỏ dầu mỡ và các chất hoạt động bề
mặt gây cản trở cho quá trình oxy hóa và khử màu
• Bể lọc loại bỏ cặn lơ lửng làm cho trong nước trước khi xả ra nguồn
tiếp nhận
• …
Trên mạng lưới thu gom, đôi khi có một vài nhà máy công nghiệp có lượng nước thải nhỏ chứa các chất gây hại cho quá trình xử lý sinh học cần phải xử lý trước hoặc đặt các bể khuấy trộn với nước thải chung để pha loãng các chất này xuống dưới nồng độ cho phép trước khi đi vào nhà máy xử lý tập trung
Trang 252.3.2.1 Phương pháp hóa học
Đây là quá trình dùng một số hoá chất và bể phản ứng nhằm nâng cao chất lượng của nước thải để đáp ứng hiệu quả xử lý của các công đoạn sau Ví dụ:
• Dùng acid hay vôi để điều chỉnh pH
• Dùng than hoạt tính, Clo, Ozon để khử các chất hữu cơ khó oxy hoá, khử màu, mùi, khử trùng
• Bể lọc trao đổi ion khử kim loại nặng,…
2.3.3 Phương pháp sinh học
Là phương pháp dùng vi sinh, chủ yếu là vi khuẩn để phân huỷ sinh hoá các hợp chất hữu cơ Mục đích cơ bản của quá trình xử lý sinh học là lợi dụng các hoạt động sống và sinh sản của vi sinh để ổn định các hợp chất hữu cơ, làm keo tụ các chất keo lơ lửng không lắng được trong nước thải sinh hoạt và nước thải từ các hầm cầu, bể tự hoại để loại chúng ra khỏi nước với sản phẩm cuối cùng là khí carbonic, metan, nước và các chất vô cơ khác Phụ thuộc vào các điều kiện môi trường cụ thể, mục đích xử lý có thể bổ sung thêm, ví dụ khử Nitơ và Photpho, khử vết của các hợp chất hữu cơ khác Phương pháp xử lý sinh học có thể chia làm hai loại: xử lý hiếu khí và kỵ khí trên cơ sở có oxy hoà tan và không có oxy hoà tan
Xử lý sinh học gồm các bước:
• Chuyển hoá các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc Cacbon ở dạng keo và dạng hoà tan thành thể khí và thành các vỏ tế bào vi sinh
• Tạo ra các bông cặn sinh học gồm các tế bào vi sinh vật và các chất keo vô cơ trong nước thải
Trang 26• Loại bỏ các bông cặn sinh học ra khỏi nước bằng quá trình lắng trọng lực
Có nhiều loại thiết bị và công trình dùng trong quá trình xử lý nước thải, có khi thực hiện đồng thời cả 3 nhiệm vụ xử lý cơ học, hoá học và sinh học, vì thế đôi khi quy trình xử lý nước thải còn có thể phân loại theo các công đoạn như sau:
Trong tự nhiên có một số loài vi khuẩn có khả năng phân huỷ các chất hữu
cơ trong điều kiện kỵ khí như methanosaeta, methanosarcina, methanobacterium,
Trang 27methanobrevibacter, methanothrix… (Zehnder, 1988) Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy kỵ khí là khí methane CH4 và khí carbonic CO2 theo sơ đồ phân huỷ hữu cơ tổng quát được trình bày ở hình dưới đây.
Hình 9 Sơ đồ phân hủy kỵ khí các hợp chất hữu cơ
Cũng như trong trường hợp công nghệ sinh học hiếu khí, để việc sử dụng các vi khuẩn kỵ khí phân huỷ các chất hữu cơ đạt được hiệu quả cao, cần áp dụng các kỹ thuật khác nhau để tăng mật độ vi khuẩn trong các thiết bị phản ứng lên càng cao càng tốt Cách làm như vậy là kỹ thuật cố định hoá (Immobilization) vi khuẩn Từ cuối những năm 1960, ở các nước phát triển, các kỹ thuật cố định vi khuẩn đã được đầu tư nghiên cứu rất mạnh mẽ và đưa tới nhiều kết quả nghiên cứu rất khả quan Số công trình áp dụng ở mức độ công nghiệp tăng lên rất nhanh và công nghệ sinhh học kỵ khí từ giữa những năm 1980 đã được thừa nhận rộng
Các hợp chất hữu cơ phức tạp carbohydrates, proteins, lipids
Các chất hữu cơ đơn giản
đường, amino acids, peptides
Các acid béo mạch dài propionate, butyrate,…
35%
Trang 28rãi trên thế giới như một loại hình công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh, có khả năng xử lý nhiều loại nước thải sinh hoạt và công nghiệp khác nhau Ưu điểm nổi bật của công nghệ kỵ khí là tiết kiệm năng lượng, do thay vì tiêu phí năng lượng để cấp khí, quy trình kỵ khí còn cho phép thu hồi được một lượng năng lượng nhất định sinh ra từ việc đốt khí methane Công nghệ sinh học kỵ khí hoạt động ở tải trọng hữu cơ tương đối cao, nên cũng dẫn đến việc tiết kiệm mặt bằng một cách đáng kể.
2.4.2 Ưu điểm của công nghệ sinh học kỵ khí
So với công nghệ sinh học hiếu khí, công nghệ sinh học kỵ khí có một số ưu điểm nổi bật sau đây:
• Tải trọng phân hủy hữu cơ cao
• Nhu cầu năng lượng thấp do không cần năng lượng cấp khí
• Có thể thu hồi năng lượng thông qua việc gom và đốt khí methane
• Chịu được cách thay đổi đột ngột về lưu lượng và tải lượng hữu cơ
• Sinh ra ít bùn
• Thiết kế đơn giản
• Tiết kiệm mặt bằng
Trong những năm gần đây, nhiều kết quả nghiên cứu đã công bố cho thấy công nghệ sinh học kỵ khí có thể được áp dụng để xử lý hàng loạt chất thải vốn rất khó phân huỷ trong điều kiện hiếu khí chẳng hạn như các loại thuốc nhuộm gốc diazo…
Ngoài ra, công nghệ sinh học kỵ khí sẽ có một ưu thế lớn nếu được áp dụng
ở một nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam trong các lĩnh vực như xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp, xử lý khí thải, phục hồi đất,…
Trang 292.4.3 Các loại hình thiết bị kỵ khí
Có nhiều kỹ thuật cố định hoá vi khuẩn nhằm nâng cao hiệu quả phân huỷ các chất hữu cơ, dẫn đến nhiều loại hình thiết bị khác nhau Các loại hình thiết bị
kỵ khí cao tải được áp dụng rộng rãi nhất là:
• Hệ thống lọc kỵ khí dòng chảy ngược (Upflow Anaerobic Filter, UFAF)
Hệ thống lọc kỵ khí sử dụng vật liệu trơ có cấu hình nhất định nhằm đảm bảo một diện tích bề mặt đủ lớn làm giá thể cho vi sinh vật Hệ thống hoạt động
ở dạng dòng chảy từ dưới lên Sau một thời gian hoạt động, màng vi sinh vật hình thành và phát triển trên bề mặt giá thể, tạo thành tác nhân phân huỷ các hợp chất hữu cơ
• Hệ thống lọc đệm dãn nở kỵ khí (Fluidized Bed Anaerobic Bioreactor, FBABR)
Hệ thống lọc đệm giãn nở là hệ thống xử lý kỵ khí trong đó các vật mang có tính chất hoá lý thích hợp được đưa vào để giữ sinh khối hoạt tính bằng cách để cho chúng bám vào các bề mặt vật mang Các hạt vật liệu với màng vi sinh vật bám vào được phân bố đều khắp thiết bị (đệm giãn nở) nhờ tốc độ dòng chảy ngược thích hợp
• Hệ thống đệm bùn kỵ khí chảy ngược (Upflow Anaerobic Sludge Blanket, UASB)
Trong những năm 1970, G Lettinga và các cộng sự đã phát triển thiết bị đệm bùn kỵ khí dòng chảy ngược (UASB) để xử lý một số loại hình nước thải cường độ cao Một tính chất quan trọng hàng đầu của UASB là khả năng duy trì
Trang 30một lượng sinh khối kỵ khí lớn trong hệ thống, và vì vậy cho phép thiết bị hoạt động với tải trọng cao Hệ thống UASB cũng được phát triển tiếp với một số biến thể, chẳng hạn EGSB (Expanded Granular Sludge Bed, Van Lier- 1994), hay USBF (Upflow Sludge Bed Filter , Guiot- 1984) Sinh khối trong hệ thống UASB và các biến thể của nó thường được phát triển thành các hạt hình cầu có đường kính từ 1 – 3 mm, vì thế có tên là bùn hạt (granular sludge) Mặc dù việc hình thành bùn hạt không phải là yếu tố sinh tử đối với sự hoạt động của UASB, nhưng nó vẫn là một điều mong muốn để đạt được tải trọng cao.
Trong thiết bị UASB, nước thải được đưa vào đáy bể và chảy từ dưới lên xuyên qua lớp bùn sinh học và quá trình phân huỷ kỵ khí diễn ra tại đây, với các sản phẩm cuối cùng chủ yếu là khí methane và carbonic Quá trình tách khí gây
ra sự xáo trộn nhất định bên trong bể phản ứng, có tác dụng trộn đều nước thải với sinh khối Lớp bùn được giữ ở trạng thái lơ lửng nhờ tốc độ dòng thích hợp, khoảng 0.6 - 0.9 m/h (Lettingga, 1982; Malina, 1992)
2.4.4 Tình hình áp dụng
Trên thế giới, số công trình xử lý nước thải áp dụng công nghệ sinh học kỵ khí bao gồm UFAF, FBABR và đặc biệt là UASB tăng lên rất nhanh từ cuối những năm 1980 (Speece, 1996) Ở Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện một số nhà máy áp dụng công nghệ vi sinh kỵ khí để xử lý nước thải, ví dụ như:
Trang 31• Nhà máy bia Heineken (UASB)
• Bột ngọt Vedan (UASB)
• Cao su Long Thành (UASB)
• Cao su Lộc Ninh (UFAF)Các bể UASB tại các công trình này đều đạt được hiệu suất phân huỷ hữu
cơ cao, khoảng 80 – 92%
Ưu điểm
- Đã có sự áp dụng công nghệ mới tương đối sớm
Nhược điểm
- Số lượng công trình áp dụng công nghệ kỵ khí còn tương đối hạn chế
- Chất lượng công trình chưa cao
- Hiệu suất phân hủy hữu cơ ở các công trình này, nhất là ở các công trình do một số cơ quan nghiên cứu triển khai trong nước thực hiện, còn khá thấp, ~ 60 – 80%
- Bùn hạt ở tất cả các quá trình đều chưa ở dạng lý tưởng, nghĩa là mức độ cố định hóa vi sinh thấp, mật độ vi sinh chưa cao, bị rửa trôi nhiều và quan trọng hơn, chưa thể áp dụng những chế độ thủy lực cao hơn
- Phạm vi áp dụng chưa rộng, mới chỉ dừng lại ở một số nhà máy bia, tinh chế bột sắn, chế biến mủ cao su và lên men mật rỉ đường, nghĩa là các đối tượng thuận lợi nhất của công nghệ vi sinh kỵ khí
- Hầu như chưa có các công trình nghiên cứu sâu nào được công bố
Trang 32- Thông tin …
- Cách thức chọn thầu công trình …
Trong đó hạn chế về thông tin, cũng như về mặt đầu tư cho các chương trình nghiên cứu chuyên sâu đóng một vai trò rất quan trọng Công nghệ sinh học
kỵ khí trong lĩnh vực xử lý chất thải, với những ưu điểm nổi bật về hiệu suất xử lý, hiệu quả kinh tế, tính thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta như đã phân tích ở trên, xứng đáng được chú ý đầu tư nghiên cứu để có thể triển khai ứng dụng rộng rãi
RÁC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.5.1.1 Trong nước
• Công nghệ xử lý nước rỉ rác BCL Đông Thạnh theo thiết kế Công ty
Trang 33Công nghệ xử lý nước rỉ rác BCL Đông Thạnh của Công ty Quốc Việt gồm các quá trình: hồ sinh học kỵ khí tiếp nối keo tụ khử màu bằng vôi, sau đó tiếp tục xử lý sinh học hồ hiếu khí hai bậc và hệ hồ sinh học có sự tham gia của thực vật nước (Hình 2.9) Cuối cùng là khử trùng bằng chất oxy hoá mạnh H2O2 hoặc chlorine.
• Công nghệ xử lý nước rỉ rác BCL Gò Cát theo thiết kế Công ty Vermeer – Hà Lan
Công nghệ bao gồm khử cứng, khử BOD, nitơ, khử màu và cặn Nước rỉ rác sau khi qua cột khử cứng, đi vào bể kỵ khí UASB để khử phần lớn BOD Sau đó nước qua cụm bể Anoxic và Aerobic thực hiện quá trình khử BOD còn lại sau UASB, nitrate hoá (ở Aerobic 1) và khử nitrate kết hợp (ở Anoxic 1)
Nước rác hồ số 7 (có hoá chất)
Nước rác hồ số 3 (có hoá chất)
Hồ kỵ khí
Nước rác
tươi
Hồ sinh học
Nguồn tiếp nhậnKhử trùng
Hồ xử lý hoá học Hồ lắng vôi Hồ xử lý vôi
Hình 10 Sơ đồ công nghệ xử lý nước rỉ rác Đông Thạnh của Công ty
Quốc Việt
Trang 34Bể Anoxic 2 là giai đoạn khử nitrate bổ sung, sử dụng nitrate sinh ra ở bể Aerobic 1 Nguồn Carbon mà vi khuẩn khử nitrate sử dụng ở bể Anoxic 2 chính là nguồn Carbon từ quá trình phân hủy nội bào của bùn.
Giai đoạn Aerobic 2 nhằm tách khí N2 sinh ra từ bể Anoxic 2 Bùn lắng ở bể lắng được tuần hoàn về bể Anoxic 1 Nước rỉ rác khử BOD và nitơ tiếp tục khử màu đồng thời giảm COD, ở bể keo tụ tạo bông kết hợp lắng Bông cặn nhỏ khó lắng sẽ được giữ ở bể lọc cát Dung dịch H2SO4 được châm vào để đưa về pH thích hợp cho quá trình keo tụ
Chất keo tụ sử dụng ở đây là phèn sắt và chất trợ keo tụ polymer Trước khi lọc cát, pH được đưa lên giá trị trung tính bằng dung dịch Na2CO3
Bảng 7 Chất lượng nước rỉ rác của hệ thống xử lý Vermeer (05/2003)
Thông số Đơn vị Đầu vào Đầu ra
CODBOD5
mg/lmg/l
175009700
42035
Khử cứng
Nước raTuần hoàn dòng nitrate
Tuần hoàn bùn
Bùn dư
Hình 11 Sơ đồ công nghệ xử lý nước nước rỉ rác của Vermeer
Trang 35N- OrgN- NH4
N- NO2
N- NO3
pH
mg/lmg/lmg/lmg/l
-7.2
2303.03.08.5
-• Công nghệ xử lý nước rỉ rác BCL Gò Cát do Centema lắp đặt
Trạm xử lý nước rỉ rác BCL Gò Cát có công suất 400 m3/ngđ bắt đầu vận hành từ tháng 08/2002 Hệ thống bao gồm hồ tiếp nhận nước rỉ rác 25000 m3, bể UASB nối tiếp bể sinh học từng mẻ (SBR) và xả vào hồ sinh học trước khi ra kênh Đen
Bảng 8 Kết quả hoạt động của hệ thống xử lý nước rỉ rác
STT Thành phần Trước xử lý Ra UASB Ra SBR Ra hồ sinh học
Nguồn tiếp nhận
Nước
vào
Bể pha loãng
Hồsinh học
Hình 12 Sơ đồ công nghệ xử lý nước rỉ rác của BCL Gò Cát
Trang 36Bảng 8 cho thấy COD của hồ tiếp nhận bị pha loãng do nước mưa (2650 –
6850 mg/l), COD sau xử lý hiếu khí SBR vẫn còn cao (550 – 780 mgCOD/l) Hồ sinh học đã xử lý phần chất hữu cơ còn lại, COD đạt giới hạn xả ra nguồn tiếp nhận (100 mg/l) Vào mùa khô, nước rỉ rác không bị pha loãng (50000 – 60000 mg/l), khi đó có thể giá trị COD xả ra nguồn tiếp nhận không đạt chỉ tiêu (380 –
1100 mg/l) Tổng chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước rỉ rác khoảng 2 tỷ đồng
• Nghiên cứu xử lý nước rỉ rác bằng phương pháp kỵ khí và hiếu khí
Đây là công nghệ theo đề xuất của tác giả Vũ Phá Hải (Cao học K12) Nước rỉ rác từ BCL được bơm vào bể điều hòa có lắp đặt giàn ống thổi khí để khuấy trộn đều và giảm một phần BOD5 đồng thời bổ sung thêm chất dinh dưỡng (H3PO4) trước khi bơm vào các công trình xử lý sinh học Từ bể điều hòa, nước rỉ rác được bơm liên tục vào bể UASB để xử lý kỵ khí, tại đây các chất hữu cơ bị hấp thụ và chuyển hoá thành CH4, CO2 và sinh khối mới Nước sau xử lý kỵ khí tiếp tục qua công đoạn hiếu khí, bùn hoạt tính hiếu khí hấp thụ và phân huỷ các chất hữu cơ thành các khí và sinh khối mới dưới dạng bông bùn và được giữ lại tại bể lắng Để tăng hiệu quả khử chất hữu cơ, một phần bùn tại bể lắng sẽ được tuần hoàn trở lại, bùn dư được bơm vào bể nén bùn Nước sau xử lý hiếu khí tiếp tục công đoạn xử lý hóa học bằng phương pháp Fenton
Trang 37Hình 13 Dây chuyền công nghệ xử lý nước rỉ rác bằng phương pháp kỵ khí
kết hợp hiếu khí
• Nghiên cứu xử lý nước rỉ rác bằng phương pháp sinh học kết hợp hoá học
Các tác giả Nguyễn Văn Phước, Đặng Viết Hùng và Võ Chí Cường – Khoa Môi Trường – ĐH Bách Khoa TP HCM đã áp dụng phương pháp sinh học kết hợp hoá học để xử lý nước rỉ rác BCL Gò Cát Kết quả thí nghiệm cho thấy quá trình xử lý chất hữu cơ trong mô hình UASB sau bốn lần tăng tải trọng COD giảm
Nước vào Hồ điều
hòa
Bể sinh học
Bể phản ứng FentonLắng
UASB
Bùn dư
Khí
NaOH polymer H2O2 FeSO4
Nguồn tiếp nhận
Tuần hoàn bùn Bùn dư
Trang 3881 – 86% Nước qua UASB có COD từ 825 – 987 mg/l, tiến hành oxy hoá lần 1 bằng H2O2, xúc tác Fe2+, Mn2+ (phản ứng Fenton) theo cơ chế quá trình tạo gốc hydroxyl như sau:
Fe2+ + H2O Fe3+ + OH- + OH
Mn2+ + 2H2O2 Mn4+ + 2OH- + 2OH
Theo liều lượng thích hợp: FeSO4.7H2O = 1500 mg/l, H2O2 30% = 1% thể tích, MnSO4 = 50 mg/l cho thấy COD giảm từ 825 – 987 mg/l xuống 230 – 250 mg/l tức 72 – 75% Từ đây nước thải được đưa trực tiếp qua hệ thống Aerotank thì COD giảm còn 130 – 140 mg/l và tiếp tục oxy hoá lần 2, nước thải ra khỏi hệ thống có COD đạt tiêu chuẩn loại B
Hình 14 Sơ đồ công nghệ xử lý nước rỉ rác bằng phương pháp sinh học
kết hợp hóa học
Trang 39(>99.9%) Hàm lượng COD còn lại lên đến 200 mg/l, hiệu quả khử COD chỉ đạt 12%.
Bảng 9 Kết quả xử lý nước rỉ rác BCL Hempsted
Thông số Đơn vị Nước rò rỉ Đầu ra
BCL này áp dụng công nghệ xử lý sinh học bằng SBR, công suất 180
m3/ngày SBR này cũng tương tự như trạm xử lý của bãi rác Hempsted, chủ yếu xử lý BOD và chuyển hoá amonia thành nitrate Nước rỉ rác này có hàm lượng COD cao hơn bãi rác Hempsted và phần lớn chất hữu cơ là chất khó phân huỷ sinh học (BOD:COD = 0.21) vì vậy COD của nước rỉ rác sau xử lý sinh học vẫn còn cao (300 mg/l)