1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán có lời văn lớp 1.

30 650 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 330,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc học giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 còn khá mới mẻ các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức đặc biệt là những em có sức học trung bình, yếu . Xuất phát từ những lý do trên, qua quá trình nghiên cứu nội dung, chương trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1, tôi thấy sự cần thiết phải tìm ra “ Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1” Đây là một việc làm cần thiết góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. Đó cũng chính là lý do để viết bản sáng kiến kinh nghiệm này.

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Phường 4, ngày 15 tháng 9 năm 2013

BÁO CÁO SÁNG KIẾN -Tên sáng kiến:

Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.

-Tên cá nhân thực hiện: Trần Kim Oanh

-Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2012 đến ngày đến ngày 30/5/2013.

1.Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:

Việc học giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 còn khá mới mẻ các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức đặc biệt là những em có sức học trung bình, yếu Xuất phát từ những lý do trên, qua quá trình nghiên cứu nội dung, chương trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1, tôi thấy sự cần thiết phải tìm ra “ Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1” Đây là một việc làm cần thiết góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học Đó cũng chính là lý do để viết bản sáng kiến kinh nghiệm này

2.Phạm vi triển khai thực hiện:

- Thực hiện ở lớp 1C

- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 1

- Thực hiện toàn trường

Đa số học sinh yêu thích môn học và tham gia nhiệt tình trong các tiết học

* Khó khăn :

Bên cạnh những thuận lợi kể trên cũng còn không ít những khó khăn trong quá trình giảng dạy và học tập thường gặp phải :

- Độ tuổi và trình độ nhận thức của học sinh lớp 1 không đồng đều

- Trí nhớ của học sinh lớp 1 chưa hoàn thiện, các em mau nhớ nhưng lại chóng quên Các em học sinh lớp 1 đặc biệt là những em không được học qua lớp mẫu

Trang 2

giáo thường rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin khi được giáo viên mời lên trình bày ý kiến hoặc bài làm của mình.

1

- Học sinh đọc chưa tốt hoặc đọc nhưng chưa hiểu đề toán

- Chưa xác định được nên chọn phép tính nào để giải

- Viết lời giải sai

- Đặt tính sai

- Kết quả sai

- Trình bày thiếu khoa học và thẩm mĩ …

Tựu chung lại, những mặt còn hạn chế đó thể hiện “lỗi” trên quá trình tư duy + đọc ( nhận thông tin)

Học sinh (số rất ít) chưa đọc được hết đề bài toán hoặc đọc hết nhưng không hiểu, hoặc không hiểu hết đề bài toán là do khả năng ngôn ngữ , vốn từ của học sinh còn hạn chế, khả năng đọc (chữ) của học sinh chưa thành thạo (học sinh yếu tiếng việt thường kèm theo yếu toán ) Không thể viết hoặc thể hiện qua nêu (nói) lời giải

là điều tất yếu

Sau khi đọc bài toán, học sinh thông thường sẽ được giáo viên gợi ý liên kết thông tin , để gợi ý , ví dụ : cái đã cho , cái cần tìm nhưng ở đây đối với một số học sinh, nảy sinh 2 trường hợp:

Không nhận được hoặc nhận chưa đầy đủ thông tin

Nhiễu thông tin (quá chú ý vào danh số )như: con vịt, con gà, bạn trai, bạn gái mà không chú ý: cái cần tìm, hoặc đáp ứng được một phần yêu cầu bài: viết kết quả vào tóm tắt, thiếu lời giải, sai danh số, kết quả…

Khả năng diễn đạt của các em còn hạn chế, dẫn đến một số em đặt lời văn cho bài toán còn dài dòng,nhưng không đủ ý

Bản sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng cho các giáo viên dạy lớp 1 của trường trong việc dạy học giải các bài toán có lời văn

3.Mô tả sáng kiến: Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.

a/ Mục tiêu dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1:

Nhằm giúp học sinh nhận biết:

- Nhận biết bước đầu về cấu tạo của bài toán có lời văn

- Biết giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng hoặc một phép tính trừ, chủ yếu là các bài toán thêm, bớt một số đơn vị

- Biết trình bày bài giải gồm: Câu lời giải, phép tính, đáp số

- Bước đầu phát triển tư duy, phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt: nói, viết

b/ Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.

Bài toán: “ thêm”

- Ở dạng bài tập này, học sinh bước đầu làm quen từ :

Sau khi xem tranh vẽ: ( Ví dụ bài tập 5 trang 46, sách giáo khoa toán 1- nhà xuất bản 2006) học sinh tập nêu bằng lời: “Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi tất cả có mấy quả bóng ? “xong tập cho học sinh nêu miệng câu

trả lời: có tất cả ba quả bóng sau đó viết vào dãy 5 ô trống để có phép tính:

Trang 3

Hay sau khi xem tranh vẽ ở bài tập 4 trang 47 : Học sinh nêu bằng lời “ Có 3 con chim đậu trên cành, có thêm một con bay đến đậu nữa Hỏi tất cả có mấy con chim đậu trên cành ? Sau đó, học sinh viết vào 5 ô trống để có phép tính:

- Ở giai đoạn này, học sinh mới được làm quen, nên thao tác quan sát, nêu lời, nêu câu trả lời và điền phép tính thích hợp vào ô trống, chưa đọc viết danh số vào dấu ngoặc ở kết quả được

- Tiếp theo học sinh được làm quen với đọc và tóm tắt bài toán, giai đoạn này thao tác quan sát tranh vẽ được loại bỏ bớt, yêu cầu cao hơn (trí tưởng tượng thông qua đọc và tóm tắt đề toán )

Ví dụ : Bài tập 4 trang 88 sách giáo khoa:

Tổ 1: 6 bạn

Tổ 2: 4 bạn

Cả hai tổ…bạn ?

- Học sinh đọc tóm tắt và nêu bài toán bằng lời (có thể thêm vào lời văn).Sau

đó nêu cách giải và tự điền số, phép tính thích hợp vào ô trống:

- Học sinh được làm quen với 2 dạng toán có lời văn đơn giản như trên (có thể xem như bước đệm ) xong, học sinh được học chính thức nội dung kiến thức , kĩ năng giải toán có lời văn Lúc này học sinh được học qua hai giai đoạn: giai đoạn 1: kết hợp quan sát tranh và lời văn (hỗ trợ phần lời văn)giai đoạn 2: dạng bài toán hoàn chỉnh (có thể có hoặc không kèm theo tranh minh họa) Kèm theo mẫu: tóm tắt, mẫu bài giải hoàn chỉnh:

- Ở dạng bài tập này, học sinh bước đầu được làm quen từ ;

- Sau khi xem tranh vẽ ( Ví dụ : Bài tập 3 trang 54, sách giáo khoa toán 1) Học sinh tập nêu bằng lời : “ Có 3 con chim đậu trên cành, bay đi 2 con Hỏi còn lại mấy con chim ?” Xong, học sinh nêu miệng câu trả lời: “ Trên cành còn một con chim “ sau đó, viết phép tính thích hợp vào 5 ô trống:

- Ở giai đoạn này, học sinh mới được làm quen với phép tính (bớt) nên thao tác quan sát – nêu lời – câu trả lời và điền phép tính thích hợp Chưa đọc- viết danh

số hoặc hư số vào dấu ngoặc sau kết quả

- Tiếp theo học sinh được làm quen với đọc và tóm tắt đề toán , ở giai đoạn này quan sát tranh được loại bỏ bớt, nâng yêu cầu cao hơn (trí tưởng tượng thông qua đọc và tóm tắt đề toán ) Ví dụ bài tập 3b trang 87 SGK:

Có: 10 quả bóng

Cho: 3 quả bóng

Còn:… quả bóng?

Trang 4

-Học sinh đọc tóm tắt và nêu bài toán bằng lời (có thể thêm thắt lời văn ) Sau đó, nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích hợp vào 5 ô trống

1

- Sau khi làm quen với dạng toán có lời văn đơn giản như trên, học sinh chính thức bước vào học giải toán có lời văn: (qua hai giai đoạn: kết hợp tranh và lời văn – Bài toán hoàn chỉnh)

- Ngoài 2 loại giải toán có lời văn dạng thêm – bớt nội dung trong sách giáo khoa còn 2 biến tấu:

+ Bài toán thêm – toán gộp : “ An có 4 quả bóng, Bình có 4 quả bóng Hỏi

cả hai bạn có mấy quả bóng ?”

+ Bài toán bớt - thành bài toán số hạng: “ Lớp 1B có 38 bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1B có bao nhiêu bạn Nam?” , nhằm giảm bớt sự nhàm chán lặp đi lặp lại trong dạng mẫu bài thêm bớt ở trên cho học sinh

c/ Biện pháp giúp giáo viên và học sinh khắc phục sửa sai trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.

Đối với giáo viên:

- Cần cho trẻ đọc kĩ đề toán hiểu rõ một số từ : “khóa” như: Thêm- bớt; tất

cả, còn lại , bay đi , ăn mất …nên giúp học sinh tóm tắt bằng cách đàm thoại: bài toán cho biết gì ?, hỏi gì ? sau đó dựa vào trả lời cho học sinh ghi tóm tắt

và học sinh dựa vào tóm tắt để ghi lại đề toán

- Nếu học sinh gặp khó khăn khi đọc đề toán thì giáo viên nên kết hợp sử dụng tranh ảnh minh họa hoặc sử dụng triệt để đồ dùng dạy học để nêu câu hỏi chẳng hạn: Em nhìn thấy dưới ao có mấy con vịt ? Trên hồ có mấy con vịt? Em có bài toán như thế nào? sau đó cho học sinh góp phần trả lời thành nội dung bài toán Sau khi giúp học sinh đọc và tóm tắt được đề toán, giáo viên nên thao tác

“Muốn biết … em làm tính gì?(tính cộng ;trừ) ta lấy mấy cộng(hoặc trừ) mấy? Tới đây giáo viên nên chú ý: Kết quả(số) đây là kèm theo đơn vị ta nên viết (con vịt)vào trong ngoặc đơn

- Khi giảng dạy cần theo dõi sự chú ý của học sinh trong mạch kiến thức này, Luôn đổi mới và áp dụng phương pháp dạy học tích cực đối với việc dạy học, đảm bảo chất lượng giảng dạy.Duy trì các biện pháp giáo dục hợp lý:

Trang 5

Trình bày bài mới nên áp dụng những biện pháp gây hứng thú trong việc tiếp thu kiến thức kĩ năng cho học sinh liên hệ kiến thức với đời sống thực tế học sinh, làm nổi bật những điểm mới , đặt câu hỏi theo nhiều cách khác nhau cho học sinh,

để các em có nhiều cơ hội biểu hiện mức độ hiểu bài

- Đặc biệt, trong kĩ thuật trình bầy lời giải , giáo viên nêu yêu cầu về viết câu lời giải trong bài giải toán có lời văn ở lớp 1 chỉ mức độ viết ngắn gọn đủ ý (thường bài toán hỏi gì thì trả lời trực tiếp vào câu hỏi đó)

- Cần luyện tập cho học sinh làm các dạng bài tập tương tự để giúp các em khắc sâu hơn kiến thức, giúp các em tự tin hơn khi làm bài tập

- Khuyến khích động viên kịp thời khi các em trả lời câu hỏi Tạo điều kiện

để có nhiều em tham gia đóng góp ý kiến

Đối với những học sinh các em trung bình và yếu các em thường gặp khó khăn ở các bài toán chẳng hạn:

VD: Một đoàn tàu có 10 toa Người ta cắt bỏ toa cuối cùng Hỏi đoàn tàu đó còn lại bao nhiêu toa ?

Ở đây các em chưa hiểu toa cuối cùng là mấy toa nên chưa thể có danh số thứ hai của bài toán

Giáo viên giúp các em hiểu bài toán bằng cách vẽ một đoàn tàu, sau đó gạch

bỏ toa cuối cùng Giáo viên hỏi học sinh: Thầy đã bớt đi mấy toa? “HS: Thầy đã bớt đi 1 toa”

Kiểu bài toán khác : VD: Một đàn gà có 15 con Trong đó có 5 con ở trong chuồng Hỏi có bao nhiêu con ở ngoài chuồng ?

Ở đây, một số em không xác định được phép tính giải là làm phép công, hay phép trừ, bởi vì không có chữ thêm, hay bớt , không có: (tất cả, còn lại, thêm hay bớt ) Giáo viên giúp học sinh hiểu bài toán bằng tranh vẽ

Đối với học sinh :

- Thông qua sự giúp đỡ tích cực của giáo viên, học sinh tích cực chủ động hợp tác với giáo viên qua học tập, có ý thức vươn lên, hăng hái phát biểu xây dựng bài, mạnh dạn đề xuất ý kiến, bộc bạch khó khăn trong học tập

- Học sinh nên đọc kĩ đề toán, tập đặt câu hỏi, bài toán cho biết gì ? , bài toán hỏi gì ? Sau khi xác định được phép tính giải mới tập đặt lời giải cho bài toán

- Cần hiểu rõ, về thêm, bớt trong bài toán (cho, bay đi, tất cả, mua thêm, bán

đi, còn lại, ăn mất….) để xác định phép tính giải

- Tập rèn kĩ năng trình bày theo hướng dẫn của giáo viên

- Khi tính các phép tính giải cần tính ra giấy nháp, khi đúng kết quả rồi mới ghi vào bài

- Trình bày bài giải lưu ý các dấu câu như dấu hai chấm, dấu ngoặc đơn, đơn vị

4/ Kết quả, hiệu quả mang lại:

Sau khi áp dụng một một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp1 Bước đầu thu được một số kết quả nhất định ,học sinh

có sự chuyển biến tích cực và thực hiện tốt các yêu cầu của bài tập, được áp dụng ở lớp 1C Mục đích của nội dung nghiên cứu này nhằm hỗ trợ cho Giáo viên và học sinh trong quá

trình dạy học đạt kết quả tốt hơn Cụ thể kết quả đạt được trong năm học 2010-2011 như sau:

Chất lượng học lực môn toán lớp 1C học kì I:

Số HS GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU

Trang 6

SL % SL % SL % SL %

Chất lượng học lực môn toán lớp 1C cuối năm :

Số HS GIỎI SL % KHÁSL % TRUNG BÌNHSL % YẾUSL %

5/ Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:

- Qua việc áp dung bản sáng kiến kinh nghiệm này trong giảng dạy thực tế tại đơn vị nhà trường, bản thân nhận thấy mình đã hệ thống hóa và nắm vững được những kĩ năng cơ bản để dạy toán cho học sinh lớp 1, đặc biệt là dạng bài giải toán

có lời văn từ đó nghiệp vụ tay nghề của bản thân cũng được củng cố và nâng cao

- Từ những kinh nghiệm và hiệu quả đạt được tôi sẽ tiếp tục áp dụng kinh nghiệm này để nâng cao khả năng học tốt các bài toán có lời văn lớp 1

Tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng , cách làm phù hợp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy bài toán có lời văn Trong mỗi giờ dạy bản thân mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc rèn cho các em học các bài toán

có lời văn.Rất mong Ban giám hiệu và các đồng nghiệp góp ý để tôi hoàn thiện hơn bản sáng kiến này

6/ Kiến nghị, đề xuất:

Qua những kết quả đạt được trong giảng dạy và quá trình nghiên cứu và áp dụng tôi xin đề xuất với các cấp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh như sau:

- Bộ phận chuyên môn phòng giáo dục mở các lớp học tập nâng cao công tác giảng dạy bộ môn toán lớp 1 cụ thể là những phương pháp nhằm kích thích sự hăng say học toán có lời văn cho học sinh lớp 1

- Tổ chuyên môn lớp 1 cần đưa sáng kiến kinh nghiệm cùng bàn bạc, rút kinh nghiệm thêm trong tổ để áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp

Trên đây là kinh nghiệm : “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1” Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học để kinh nghiệm được hoàn chỉnh và được áp dụng vào thực tế giảng dạy

Ngày 19 tháng 3 năm 2012

Người báo cáo

Ý kiến xác nhận

Của thủ trưởng đơn vị

Trần Kim Oanh

Trang 7

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Phường 8, ngày 15 tháng 9 năm 2012

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

- Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2

- Tên cá nhân thực hiện: Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển

- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2011 đến ngày 30/5/2012.

1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:

a Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 2:

Phần lớn học sinh đầu lớp 2 đã được làm quen với chữ cái và chữ số do trường mẫu giáo dạy và gia đình hướng dẫn, song chỉ dừng lại ở việc “sao chép” đúng mẫu Kỹ thuật và quy trình viết chữ chỉ được hình thành một cách bài bản trong chương trình các môn học ở tiểu học (bắt đầu từ lớp 1) mà chủ yếu là trong phân môn tập viết Vì vậy, có thể khẳng định, chất lượng chữ viết và trình độ viết chữ của học sinh tiểu học phụ thuộc rất lớn vào chất lượng giảng dạy phân môn tập viết

ở tiểu học

Việc dạy tập viết ở tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêng ngoài chức năng hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng, viết nhanh, viết đẹp, khả năng trình bày bài viết sạch, đẹp, khoa học mà còn góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt và các môn học khác, góp phần trang bị cho học sinh kỹ năng sống,

kỹ năng làm việc trong môi trường với áp lực ngày càng cao (kỹ năng tốc ký)

b Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2:

+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ,

độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số

+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo

thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẽ Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc (không mắc quá 5 lỗi chính tả)

2 Phạm vi triển khai thực hiện:

Trang 8

- Thực hiện ở lớp 2

- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2

- Thực hiện toàn trường

- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh nghiệm cho lần sau

b) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:

- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ Các cơ và xương bàn tay của trẻ đang độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng về, chóng mệt mỏi

- Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi Điều này gây nên một phản ứng tự nhiên là các em cầm bút chặt, các cơ tay cứng nên khó di chuyển

- Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng, thoải mái, trước hết học sinh phải biết kỹ thuật cầm bút bằng ba ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa), bàn tay phải

có điểm tựa là mép cùi của bàn tay Cầm bút phải tự nhiên, đừng quá chặt sẽ khó vận động, nếu lỏng quá sẽ không điều khiển được bút

- Nếu các em cầm bút sai kỹ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay, khi viết vận động

cổ tay, cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữ viết không đúng và nhanh được

c) Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:

- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn Vì vậy, độ lớn (kích thước) của chữ viết phải đủ lớn phù hợp với khả năng nhận biết hình ảnh của mắt trẻ ở từng giai đoạn phát triển Nếu chữ viết được trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị

Trang 9

2

- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng chưa lưu giữ đầy đủ hình dạng mẫu chữ trong bộ não Vì vậy, khi viết, trẻ thường viết sai mẫu chữ Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng

học sinh, thì các em mới viết đúng mẫu mà không phải quan sát chữ mẫu nhiều lần.

2 Một số kinh nghiệm cần lưu ý khi dạy tập viết lớp 2.

2.1 Chuẩn bị chu đáo khi lên lớp

Việc chuẩn bị chu đáo cho mỗi giờ dạy tập viết lớp 2 có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy

Bên cạnh việc thiết kế bài dạy, mỗi giáo viên lớp 2 cần chuẩn bị các đồ dùng trực quan khác, đó là chữ mẫu trong khung chữ, là nội dung bài viết được phóng to trên bảng phụ v.v

Các chữ mẫu, bài viết mẫu phải đảm bảo các yêu cầu về độ lớn (học sinh cuối lớp vẫn có thể quan sát được), phải đảm bảo tính chính xác, tính thẩm mĩ, tạo được sự chú ý đối với học sinh

2.2 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh quan sát mẫu chữ và quy trình, kỹ thuật viết chữ.

Việc quan sát trong giờ học tập viết của học sinh lớp 2 được thực hiện chủ yếu trong các khâu chủ yếu sau:

- Quan sát chữ mẫu: Công việc này chủ yếu giúp học sinh nhận diện hình dạng, cấu tạo, độ cao của chữ mẫu, từ đó hình thành và khắc sâu biểu tượng về chữ mẫu cho học sinh

Để việc quan sát đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi định hướng sự quan sát của học sinh về tên gọi của chữ (chữ cái, chữ số v.v), số nét trong mỗi chữ cái (chữ số), thứ tự các nét; độ cao của con chữ v.v

Giáo viên cũng cần đặt câu hỏi giúp học sinh nhận ra sự giống và khác nhau của chữ mẫu với các chữ đã tập viết trước đó Điều này sẽ giúp quá trình ghi nhớ biểu tượng chữ viết được nhanh hơn và lâu bền hơn

- Quan sát quy trình và kỹ thuật viết: Công việc này chủ yếu giúp học sinh nắm được tọa độ các nét, thứ tự viết và hướng đi của từng nét, sự phối hợp và liên kết giữa các nét Từ đó nâng cao hiệu quả viết chữ (viết đúng, viết nhanh, viết đẹp).Trong quá trình tổ chức quan sát, giáo viên cần coi trọng khâu làm mẫu của giáo viên (có kết hợp với mô tả bằng lời), đồng thời nêu lên những câu hỏi định hướng sự chú ý của học sinh vào quy trình và kỹ thuật viết chữ

- Quan sát bài viết trên bảng phụ và trên vở tập viết: Công việc này chủ yếu giúp học sinh rèn luyện kỹ năng trình bày bài viết với các yêu cầu tổng hợp mang tính nâng cao: viết đúng mẫu, đúng cỡ, đúng khoảng cách; biết trình bày bài viết sạch, đẹp v.v

Trang 10

Giáo viên cần tổ chức cho học sinh so sánh giữa bài viết mẫu trên bảng với bài viết trong vở tập viết để nhận ra sự giống nhau về cấu trúc (chỉ khác nhau về mức

độ phóng to cho học sinh dễ quan sát)

3

Điều quan trọng là học sinh phải xác định nội dung cần tập viết, vị trí bắt đầu

và kết thúc của mỗi đơn vị viết (chữ, từ v.v), cỡ chữ, số dòng cần hoàn thành v.v

- Quan sát sản phẩm: Công việc này chủ yếu giúp học sinh rèn luyện kỹ năng

so sánh, đối chiếu bài viết của mình (của bạn mình) với bài mẫu (của giáo viên hoặc của học sinh viết đúng, viết đẹp), từ đó nhận ra những khiếm khuyết trong sản phẩm bài viết để khắc phục

Khi tổ chức so sánh sản phẩm của học sinh, giáo viên cần tiến hành với nhiều mức độ từ thấp lên cao (viết sai và chưa đẹp, viết sai, viết đúng nhưng chưa đẹp, viết đúng và đẹp) Giáo viên có thể áp dụng nhiều hình thức để giới thiệu các bài viết đúng, viết đẹp tới mọi thành viên trong lớp như: chuyền tay bài viết đẹp tới từng bàn cho mọi học sinh đều được tham khảo và học tập, tổ chức góc trưng bày sản phẩm trong lớp, hội thi nhỏ về viết chữ đẹp trong lớp, trong các tiết ôn tập v.v.2.3 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh viết thử chữ mẫu

Đây là khâu trung gian giữa quá trình quan sát chữ mẫu và quá trình luyện viết chữ của học sinh giúp các em vận dụng những điều đã quan sát được trước đó vào thực tế tập viết của mình (trong thực tế, nhiều giáo viên còn coi nhẹ khâu này).Quá trình viết thử của học sinh chủ yếu được thực hiện qua một số hình thức sau:

- Phác họa trên không trung: Thao tác này chỉ nên thực hiện khi tập viết chữ cái, vần, tiếng và phải được hỗ trợ từ giáo viên với nhịp đếm (mỗi nhịp đếm ứng với một nét chữ hoặc một con chữ) và thao tác mẫu của giáo viên

Trong quá trình thao tác, giáo viên cần đứng cùng hướng với hướng ngồi của học sinh (quay mặt lên bảng lớp) để học sinh dễ quan sát và thực hiện theo

Giáo viên cần lưu ý học sinh hình dung trước mặt là các dòng kẻ giống các dòng kẻ trong vở tập viết và quá trình viết trên không trung cũng sẽ là quá trình viết trong vở tập viết sau đó

- Phác hoạ trên mặt bàn, mặt vở viết: Thao tác này tiến hành tương tự như với thao tác phác họa trên không nhưng có thể thực hiện với các đơn vị lớn hơn (viết từ ngữ v.v)

- Tập tô chữ mẫu trong vở: Thao tác này giúp học sinh làm quen với bài viết (cỡ chữ, mẫu chữ, khoảng cách giữa các chữ v.v) Giúp các em tự tin hơn khi thực hành viết vào vở

2.4 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh thực hành luyện viết.

Đây là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong quy trình dạy tập viết cho học sinh lớp 1 và được thực hiện trên vở tập viết

Để hoạt động này đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần lưu ý:

Trang 11

- Tổ chức cho học sinh viết thử 1 chữ mẫu trong vở tập viết: Giáo viên cần yêu cầu học sinh viết xong 1 chữ thì tạm dừng lại để thầy, cô giáo kiểm tra xem đã viết đúng, viết đẹp chưa; từ đó sẽ có các hướng dẫn phù hợp từng học sinh trước khi viết hết dòng đầu tiên.

- Yêu cầu học sinh khi viết xong mỗi dòng cần có ký hiệu thông báo cho giáo viên biết (giơ bút lên 1 chút)

Thao tác này giúp giáo viên đo được tốc độ viết của từng học sinh trong lớp để

có biện pháp giúp đỡ tất cả học sinh hoàn thành nhiệm vụ bài viết

2.4 Coi trọng hiệu quả khâu chấm, chữa bài

Đây là khâu cuối cùng trong tiến trình giờ dạy tập viết và có vai trò quan trọng trong việc đánh giá kỹ năng viết của học sinh trong mỗi giờ học

Để hoạt động này đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần lưu ý:

- Tranh thủ chấm một số bài (khoảng 1/3 số học sinh trong lớp) của các đối tượng học sinh khác nhau trong lớp (Yếu – Trung bình – Khá – Giỏi)

- Nhận xét công khai, ưu, khuyết điểm của từng bài và chỉ ra cách khắc phục hạn chế, khuyết điểm (Không nêu tên học sinh có bài điểm yếu, kém)

- Tổ chức tuyên dương các bài viết đúng, đẹp

2.5 Các yếu tố bổ trợ khác:

- Rèn luyện tư thế ngồi viết và cách cầm bút cho học sinh.

Tư thế ngồi viết và cách cầm bút cho học sinh có ảnh hưởng khá nhiều đến chất lượng viết chữ và sức khỏe của học sinh Việc rèn luyện cho học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút đúng quy định sẽ giúp các em dễ quan sát hướng đi của nét chữ, dễ dàng điều khiển ngọn bút, do đó nét chữ sẽ mềm mại hơn; lâu mỏi tay

và tránh được các bệnh học đường: cong vẹo cột sống, cận thị v.v

- Các yếu tố về cơ sở vật chất.

Các yếu tố về cơ sở vật chất như bàn ghế ngồi học đúng quy cách, điều kiện ánh sáng nơi ngồi viết, chất lượng vở viết và bút viết v.v cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng viết chữ của học sinh Do đó, trong quá trình giảng dạy, người giáo viên lớp 2 cần quan tâm các yếu tố này để có sự tham mưu, phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục có liên quan nhằm tạo điều kiện tốt nhất về điều kiện học tập cho học sinh

4/ Kết quả, hiệu quả mang lại:

Do thực hiện đồng bộ các biện pháp nêu trên, trong các năm học vừa qua, chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôi phụ trách đạt được kết quả khá cao Số học sinh viết sai, viết xấu ngày càng giảm,số học sinh viết đúng, viết đẹp, đúng tốc độ ngày càng tăng đã nói lên được tính khả thi của việc rèn viết Mục đích của nội dung nghiên cứu này nhằm hỗ trợ cho GV và HS trong quá trình dạy tập viết đạy kết quả tốt hơn.Cụ thể qua kết quả của năm học 2011-2012 như sau:

5

Trang 12

Chất lượng phân môn tập viết Thời điểm TSHS Loại A % Loại B % Loại C % HKI 35 11 31,4 20 57,2 4 11,4 HKII 35 17 48,6 18 51,4 / / 5/ Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Đề tài này có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho các đồng nghiệp trong toàn TP góp phần đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập viết lớp 2, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường tiểu học hiện nay. - Từ những kinh nghiệm và hiệu quả đạt được tôi sẽ tiếp tục áp dụng kinh nghiệm này để nâng cao khả năng viết chữ đẹp cho HS lớp 2 Tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng , cách làm phù hợp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập viết Trong mỗi giờ dạy bản thân mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc rèn viết cho các em Rất mong Ban giám hiệu và các đồng nghiệp góp ý để tôi hoàn thiện hơn bản sáng kiến này

6/ Kiến nghị, đề xuất: Qua những kết quả đạt được trong giảng dạy và quá trình nghiên cứu và áp dụng tôi xin đề xuất với các cấp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh như sau: - Bộ phận chuyên môn phòng giáo dục mở các lớp học tập nâng cao công tác giảng dạy phân môn tập viết lớp 2 - Tổ chuyên môn lớp 2 cần đưa sáng kiến kinh nghiệm cùng bàn bạc, rút kinh nghiệm thêm trong tổ để áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp Trên đây là kinh nghiệm : “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2” Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học để kinh nghiệm được hoàn chỉnh và được áp dụng vào thực tế giảng dạy Sáng kiến này được áp dụng từ ngày 1 tháng 11 năm 2012 Ý kiến xác nhận Người báo cáo của thủ trưởng đơn vị

Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển

Trang 13

- Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2

- Tên cá nhân thực hiện: Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển

- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2011 đến ngày đến ngày 30/5/2012.

1.Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:

a Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 2:

b Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2:

2.Phạm vi triển khai thực hiện:

- Thực hiện ở lớp 2

- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2

- Thực hiện toàn trường

3.Mô tả sáng kiến:

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc dạy tập viết cho học sinh tiểu học: a) Lý thuyết hoạt động:

b) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:

c) Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:

2 Một số kinh nghiệm cần lưu ý khi dạy tập viết lớp 2.

2.1 Chuẩn bị chu đáo khi lên lớp

Trang 14

2.2 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh quan sát mẫu chữ và quy trình, kỹ thuật viết chữ.

2.3 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh viết thử chữ mẫu

2.4 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh thực hành luyện viết.

2.5 Các yếu tố bổ trợ khác:

4/ Kết quả, hiệu quả mang lại:

Chất lượng phân môn tập viết

5/ Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:

Đề tài này có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho các đồng nghiệp trong toàn

TP góp phần đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập viết lớp 2, góp phần nâng

cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường tiểu học hiện nay

6/ Kiến nghị, đề xuất:

Qua những kết quả đạt được trong giảng dạy và quá trình nghiên cứu và áp dụng tôi xin đề xuất với các cấp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh như sau:

- Bộ phận chuyên môn phòng giáo dục mở các lớp học tập nâng cao công tác giảng dạy phân môn tập viết lớp 2

- Tổ chuyên môn lớp 2 cần đưa sáng kiến kinh nghiệm cùng bàn bạc, rút kinh nghiệm thêm trong tổ để áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp

Trên đây là kinh nghiệm : “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết

lớp 2” Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học để kinh nghiệm

được hoàn chỉnh và được áp dụng vào thực tế giảng dạy

Ngày 20 tháng 2 năm 2013

Người báo cáo

Trang 15

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Phường 8, ngày 20 tháng 2 năm 2013

ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng xét, công nhận sáng kiến Thành phố Cà Mau

- Họ và tên: Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển

- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu

Đề nghị Hội đồng sáng kiến công nhận sáng kiến năm 2013 như sau:

1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2

2 Sự cần thiết:

a Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 2:

b Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2:

3 Nội dung cơ bản của sáng kiến:

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc dạy tập viết cho học sinh tiểu học:

a) Lý thuyết hoạt động:

b) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:

c) Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:

2 Một số kinh nghiệm cần lưu ý khi dạy tập viết lớp 2.

2.1 Chuẩn bị chu đáo khi lên lớp

2.2 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh quan sát mẫu chữ và quy trình, kỹ thuật viết chữ.

2.3 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh viết thử chữ mẫu

Ngày đăng: 02/01/2016, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w