1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thiết kế tháp, trích ly đầu nhờn bằng dung môi furfurol

40 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế tháp, trích ly dầu nhờn bằng dung môi furfurol
Tác giả Bùi Thành Tài
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp
Chuyên ngành Hóa dầu
Thể loại Đồ án
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 404,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo Thiết kế tháp, trích li đầ nhờn bằng dung môi furfurol

Trang 1

mỡ bôi trơn tăng lên không ngừng trong những năm qua Theo thống kê,mức tiêu thụ dầu mỡ bôi trơn trên thế giới hiện nay khoảng 40 triệu tấn mốinăm và ở nước ta tuy mức tiêu thụ dầu mỡ bôi trơn thấp hơn rất nhiều so vớicác nước phát triển nhưng cũng đặt ở mức khoảng 100.000 tấn mỗi năm đốivới mức tăng trưởng 4 – 8 % / năm Đây quả là một con số không nhỏ Toàn

bộ lượng dầu nhờn này hầu như là nhập từ nước ngoài dưới dạng thành phầnhoặc dưới dạng dầu gốc cùng với các loại phụ gia rồi tự pha chế

Khoa học kỷ thuật ngày càng phát triển thì nhiều công cụ máy mócmới càng phát triển Khi đó thì những máy móc này đòi hỏi dầu mỡ bôi trơnngày càng tốt chỉ số độ nhờn cao và chỉ số độ nhờn phải ít thay đổi theonhiệt độ nhất là phải đáp ứng được yêu cầu: Chống mài mòn bảo vệ kimloại, chống oxy hoá

Ở nước ta theo đánh giã của các chuyên gia dầu khí, thiệt hại gio ma sátmài mòn và các chi phí bảo dưỡng hàng năm khoảng vài triệu đô la Tổn thấtgio ma sát và mài mòn có nhiều nguyên nhân, nhưng gio thiếu dầu bôi trơn

và sử dụng dầu bôi trơn vớ độ nhờn và phẩm cấp không phù hợp chiếm 30

% Vì vậy sử dụng đầu bôi trơn có chất lượng phù hợp với quy định của chếtạo máy thiết bị, kỷ thuật bôi trơn đúng có vai trò lớn để đảm bảo thiết bịlàm việc liên tục, ổn định, giảm chi phí bảo dưỡng nhằm nâng cao tuổi thọđộng cơ, hiệu suất sử dụng và độ tin cậy của máy móc Tuy nhiên để sảnxuất dầu nhờn đảm bảo những yêu cầu trên, cần tách các cấu tử không mongmuốn trong sản xuất dầu nhờn được thưc hiện nhờ quá trình tách lọc dầu sẽcho phép sản xuất dầu gốc có chất lương cao

Qua đây ta thấy rằng công ngệ chưng cất chân không để sản xuất dầunhờn gốc từ dầu thô gồm các phân đoan chủ yếu sau:

- Chưng cất chân không từ nguyên liệu cặn mazut

- Chiết tách, trích ly bằng dung môi

- Tách hydrocacbon rắn

- Làm sạch cuối cùng bằng hydro

Quá trình trích ly dầu nhờn bằng dung môi chọn lọc là một quá trìch sửdụng một dung môi để hoà tan cấu tử cần tách khỏi dầu nhờn mà những chấtnày làm cho chất lượng dầu nhờn kém đi Đồng thời qua đó ta tách ra nhữngcấu tử có lợi cho dầu nhờn Trích ly là một phương pháp làm sạch rất phổ

Trang 2

biến hiện nay nhất là trích ly bằng dung môi chọn lọc để tạo ra loại dầu nhờntốt cho công nghiệp

PHẦN I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

CHƯƠNG I

THÀNH PHẦN TÍNH CHẤT VÀ CÔNG DỤNG CỦA DẦU NHỜN

I.1 Mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng dầu nhờn

Dầu nhờn có tầm quan trọng rất lớn trong việc bôi trơn các chi tiết chuyểnđộng, giảm ma sát, giảm mài mòn và ăn mòn các chi tiết máy, tẩy sạch bề mặttránh tạo thành các lớp cặn bùn, tản nhiệt làm mát và làm khít các bộ phậncần làm khít…

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta luôn đối mặt với lực ma sát chúngxuất hiện giữa các bề mặt tiếp xúc của tất cả mọi vật và chống lại sự chuyểnđộng của vật này sang vật khác Mặt khác đối với sự hoạt động của các máymóc, thiết bị, lực ma sát gây ra cản trở lớn Trên thế giới hiện nay xu thế của

xã hội sử dụng máy móc càng đòi hỏi máy móc phải bền nhưng nguyên nhângây ra hao mòn các chi tiết máy móc vẫn là sự mài mòn Không chỉ ở cácnước phát triển, tổn thất do ma sát và mài mòn gây ra chiếm tới vài phầntrăm tổng thu nhập quốc dân Ở cộng Hoà Liên Bang Đức thiệt hại do masát mài mòn các chi tiết máy hàng năm từ 30 đến 40 tỷ, trong đó ngành côngnghiệp là 8,3 đến 9,4 tỷ, ngành năng lượng là 2,67 đến 3,2 tỷ Ngành giaothông vận tải là 17 đến 23 tỷ Ở Canađa tổn thất loại này hàng năm lên tới 5 tỷ

đô la Canađa Chi phí sữa chữa bảo dưỡng thiết bị tăng nhanh chiếm 60% chiphí đầu tư ban đầu Ở nước ta theo ước tính của chuyên gia cơ khí, thiệt hại

do ma sát, mai mòn và chi phí bảo dưỡng hàng năm tới vài triệu USD …chính

vì vậy việc làm giảm tốc độ ma sát luôn là mục tiêu quan trọng của các nhàsản xuất ra các loại máy móc thiết bị,cũng như những người sử dụngchúng Để thực hiện điều này người ta sử dụng chủ yếu dầu hoặc mỡ bôi trơn.Dầu nhờn hoặc mỡ bôi trơn làm giam ma sát giữa các bề mặt tiếp xúc bằngcách cách ly.Các bề mặt này để chống lại sự tiếp xúc trức tiếp giữa hai bề mặtkim loại khi dầu nhờn được đặt giữa hai bề mặt tiếp xúc nên tạo ra một màngdầu rất mỏng đủ sức tách riêng ra hai bề mặt không cho tiếp xúc trực tiếp vớinhau Khi hai bề mặt này chuyển động, chỉ có các lớp phân tử trong lớp dầugiữa hai bề mặt tiếp xúc trượt lên nhau tạo nên một lực ma sát chống lại lựctác dụng gọi là ma sát nội tại của dầu nhờn, lực ma sát này nhỏ và không đáng

kể so với lực ma sát sinh ra khi hai bề mặt tiếp xúc khô với nhau Nếu hai bềmặt này được cách ly hoàn toàn bằng một lớp màng dầu phù hợp thì hệ số masát giảm đi đến 100 đến 1000 lần so với khi chưa có lớp dầu ngăn cách Dầunhờn cho động cơ là loại dầu quan trọng nhất trong các loại dầu bôi trơn ,tínhtrung bình chúng chiếm khoảng 40% tổng các loại dầu bôi trơn sản xuất trên

Trang 3

thế giới Ở Việt Nam dầu nhờn động cơ chiếm 60% dầu nhờn bôi trơn Sư đadạng của kích cỡ động cơ và đối tượng sử dụng dẫn đến các yêu cầu bôi trơnkhác nhau Cùng với việc làm giảm ma sát trong chuyển động, dầu nhờn còn

có một số chức năng khác góp phần cải thiện nhiên liệu, nhược điểm của máymóc, thiết bị chức năng của dầu nhờn được trình bày như sau:

- Bôi trơn để làm giảm lực ma sát và cường độ mài mòn, ăn mòn các bềmặt tiếp xúc, làm cho máy móc hoạt động êm ,qua đó đảm bảo cho máymóc có công suất làm việc tối đa và tuổi thọ động cơ được kéo dài

- Làm sạch, bảo vệ động cơ và các thiết bị bôi trơn, chống lại sự màimòn, đảm bảo cho máy móc hoat động tốt hơn

- Làm mát động cơ, chống lại sự quá nhiệt của chi tiết

- Làm khít động cơ do dầu nhờn có thể lấp kín được những chỗ hở khôngthể nào khắc phục đựơc trong qua trình chế tạo và gia công máy móc

- Giảm mức tiêu thụ năng lượng của thiết bị, giảm chi phí bảo dưỡng,sửa chữa cũng như thời gian chết do hỏng hóc thiết bị

I.2 Thành phần hoá học của dầu nhờn.

Dầu mỏ là thành phần chính để sản xuất dầu nhờn,thành phần chínhcủa nó là hydrocacbon và phi hydrocacbon Nguyên liệu chủ yếu để sảnxuất dầu nhờn là phần cất ở nhiệt độ sôi trên 3500c từ dầu mỏ (Phân đoạngazoil chân không ) Vì vậy hầu hết các hợp chất có mặt trong phân đoạnnày đều có mặt trong thành phần của dầu nhờn Trong phân đoạn này,ngoài thành phần chủ yếu là hỗn hợp của nhóm hydrocacbon chữa cácnguyên tử ôxy, lưu huỳnh, niken và kim loại (niken, vanadi…) những hợpchất nói trên có những tính chất khác nhau.Có những phần có lợi cho dầunhờn, song cũng có những thành phần có hại cần phải loại bỏ

I.2.1 Các hợp chất hydrocacbon naphten và paraphin.

Các nhóm hydro cacbon này được gọi chung là các nhóm hydrocacbonNaphten-paraphin đây là nhóm hydrocacbon chủ yếu có trong dầu gốc, từdầu mỏ Hàm lượng của nhóm này tuỳ thuộc vào bản chất của dầu mỏ vàkhoảng nhiệt độ sôi chiếm từ 41 đến 86 % Nhóm hydro cacbon này có cấutrúc chủ yếu là hydro cacbon vòng naphten (vòng 5-6 cạnh), có kết hợp cácnhánh ankyl hoặc izo ankyl và số nguyên tử cacbon trong phân tử có thể từ 20đến 70 cấu trúc vòng có thể ở hai dạng : cấu trúc không ngưng tụ ( phân tử cóthể chứa từ 1-6 vòng) Cấu trúc ngưng tụ ( phân tử có thể chứa từ 2-6 vòngngưng tụ) Cấu trúc nhánh của các vòng Naphten này cũng rất đa dạng chúngkhác nhau bởi một số mạch nhánh ,chiều dài của mạch, mức độ phân nhánhcủa mạch và vị trí thế của mạch trong vòng Thông thường người ta nhận thấyrằng:

-Phân đoạn nhờn nhẹ có chứa chủ yếu là các dãy đồng đẳng của xyclohexan, xyclo pentan

-Phân đoạn nhờn trung bình chủ yếu các vòng naphten có các mạchnhánh ankyl,izo ankyl với số vòng từ 2-4 vòng

Trang 4

-Phân đoạn nhờn cao phát hiện thấy các hợp chất các vòng ngưng tụ từ2-4 vòng

Ngoài hydro cacbon vòng naphten, trong nhóm này còn có cáchydrocacbon dạng n-paraphin và iso paraphin Hàm lượng của chúng khôngnhiều và mạch cacbon thường chứa không quá 20 nguyên tử cacbon và nếu

số nguyên tử cacbon lớn hơn 20 thì paraphin sẽ ở dạng rắn và được tách ratrong qua trình sản xuất dầu nhờn

I.2.2 Nhóm hydro cacbon thơm và hydro cacbon naphten-thơm.

Loại này phổ biến ở trong dầu chúng thường nằm ở phân đoạn có nhiệt

độ sôi cao Thành phần cấu trúc của nhóm hydrocacbon này có ý nghĩa quantrọng đối với dầu gốc Một loạt các tính chất sử dụng của dầu nhờn như tính

ổn định chống oxy hoá, tính nhờn nhiệt, tính chống bào mòn, tính hấp thụ phụgia phụ thuộc vào tính chất và hàm lượng của nhóm hydro cacbon này Tuynhiên hàm lượng và cấu trúc của chúng còn tuỳ thuộc vào bản chất dầu gốc vànhiệt độ sôi của các phân đoạn

-Phân đoạn nhờn nhẹ (350-4000C) có mặt chủ yếu các hợp chất các dãyđồng đẳng benzen và naphtalen

- Phân đoạn nhờn nặng hơn (400-4500C) phát hiện thấy hydro cacbonthơm 3 vòng dạng đơn hoăc kép

- Trong phân đoạn có nhiệt độ sôi cao hơn có chứa các chất thuộc dãyđồng đẳng naphtalen, phenatren, antraxen và một số lượng đáng kể loại hydrocacbon đa vòng

Các hydro cacbon thơm ngoài khác nhau về số lượng vòng thơm, cònkhác nhau bởi số nguyên tử cacbon ở mạch nhánh và vị trí của nhánh trongnhóm này còn phát hiện sự có mặt của vòng thơm ngưng tụ đa vòng Mộtphần của chúng tồn tại ngay trong dầu gốc với tỷ lệ tuỳ theo nguồn gốc củadầu mỏ còn một phần được hình thành trong quá trình chưng cất do phản ứngtrùng ngưng, trùng hợp dưới tác dụng của nhiệt Một thành phần nữa trongnhóm hydrocacbon thơm là một hydro cacbon hỗn hợp naphten – aromat.Loại hydrocacbon này làm giảm phẩm chất của dầu nhờn thương phẩm vìchúng có tính nhớt nhiệt kém và rất dễ bị oxy hoá tạo ra các chất keo nhựatrong qua trình làm việc của động cơ và máy móc

sử dụng dầu ở nhiệt độ thấp nhưng lại làm tăng tính ổn định của độ nhớt theonhiệt độ và tính ổn định oxy hoá

Nhóm này có hai loại hydrocacbon rắn là parafin rắn (có thành phần chủyếu là các ankal có mạch lớn hơn 20) và xerezin (là hỗn hợp của các

Trang 5

hydrocacbon naphten có mạch nhánh ankyl dạng thẳng hoặc dạng nhánh vàmột lượng không đáng kể hydrocacbon rắn có vòng thơm và alkyl).

Ngoài những thành phần chủ yếu nói trên, trong dầu bôi trơn còn cóhợp chất hữu cơ như : lưu huỳnh, Nitơ, oxy, tồn tại ở dạng các hợp chất nhựa,asphanten Nhìn chung đây là những hợp chất có nhiều thành phần làm giảmchất lượng của dầu bôi trơn, chúng có màu sẫm, dễ bị biến chất, tạo cặn trongdầu khi làm việc ở nhiệt độ và áp suất cao, chúng được loại khỏi dầu nhờ quátrình tách lọc và làm sạch

I.3 Các tính chất cơ bản của dầu nhờn

I.3.1 Khối lượng riêng và tỷ trọng

Khối lượng riêng là khối lượng của một đơn vị thể tích của một chất ởnhiệt độ tiêu chuẩn, đo bằng gam/cm3 hay Kg/m3 Tỷ trọng là một tỷ số giữakhối lượng riêng của một chất đã cho ở nhiệt độ qui định và khối lượng riêngcủa nước ở nhiệt độ qui định đó Do vậy tỷ trọng có giá trị đúng bằng khốilượng riêng khi coi trọng lượng của nước ở 40c bằng 1 Trong thế giới tồn tạicác hệ thống đo tỷ trọng như sau : 20

5,141

d -131,5

Khối lượng riêng là một tính chất cơ bản và cùng với những tính chất vật lýkhác nó có đặc trưng cho từng loại phân đoạn dầu mỏ cũng như dùng để đánhgiá phần nào chất lượng của dầu thô Đối với dầu bôi trơn ,khối lượng riêng

ít có ý nghĩa để đánh giá chất lượng Khối lượng riêng của dầu đã qua sửdụng không khác nhau là mấy so với dầu chưa qua sử dụng Tuy nhiên mộtgiá trị bất thường nào đó của khối lượng riêng cũng có thể giúp ta phán đoán

về sự có mặt trong dầu một phần nhiên liệu Sử dụng chủ yếu của khối lượngriêng là dùng để chuyển đổi sang thể tích và ngược lại trong lúc pha trộn, vậnchuyển, tồn chứa, cung cấp họăc mua bán dầu nhờn

I.3.2.Độ nhớt của dầu nhờn.

Độ nhớt của một số phân đoạn dầu nhờn là một đại lượng vật lý đặctrưng cho trở lực do ma sát nội tại của nó sinh ra khi chuyển động Do vậy độnhớt có liên quan đến khả năng bôi trơn của dầu nhờn

Để thực hiện nhiệm vụ bôi trơn, dầu nhờn có độ nhớt phù hợp, bám chắclên bề mặt kim loại và không bị đẩy ra ngoài có nghĩa là ma sát nội tại nhỏ Khi độ nhớt quá lớn sẽ làm giảm công xuất máy do tiêu hao nhiều công đểthắng trở lực của dầu, khó khởi động máy, nhất là vào mùa đông nhiệt độ môi

Trang 6

trường thấp, giảm khả năng làm mát máy, làm sạch máy do dầu lưu thôngkém.

Khi độ nhớt nhỏ, dầu sẽ không tạo được lớp màng bền vững bảo vệ bềmặt các chi tiết máy nên làm tăng sự ma sát, đưa đến ma sát nửa lỏng nửa khôgây hư hại máy, giảm công xuất, tác dụng làm kín kém, lượng dầu hao hụtnhiều trong quá trình sử dụng

Độ nhớt của dầu nhờn phụ thuộc chủ yếu vào thành phần hóa học Cáchydrocacbon parafin có độ nhớt thấp hơn so với các loại khác Chiều dài và

độ phân nhánh của mạch hydrocacbon càng lớn độ nhớt sẻ tăng lên Cáchydrocacbon thơm và Naphten có độ nhớt cao.Đặc biệt số vòng càng nhiều thì

độ nhớt càng lớn Các hydrocacbon hỗn hợp giữa thơm và Naphten có độnhớt cao nhất

Độ nhớt của dầu nhờn thường được tính bằng Paozơ (P) haycentipaozơ(cP) Đối với độ nhớt động lực được tính bằng stốc (st) hoặc centistốc (cS t)

I.3.3 Chỉ số độ nhớt.

Một đặc tính cơ bản nữa của dầu nhờn đó là sự thay đổi của độ nhớt theonhiệt độ Thông thường khi nhiệt độ tăng độ nhớt sẽ giảm Dầu nhờn được coi

là dầu bôi trơn tốt khi độ nhớt của nó ít thay đổi theo nhiệt độ, ta nói rằng dầu

đó có chỉ số độ nhớt cao Ngựơc lại nếu độ nhớt thay đổi nhiều theo nhiệt độ,

có nghĩa là dầu có chỉ số độ nhớt thấp Chỉ số độ nhớt (VI) là trị số chuyêndùng để đánh giá sự thay đổi độ nhớt của dầu bôi trơn theo nhiệt độ Quy ướcdầu gốc parafin độ nhớt ít thay đổi theo nhiệt độ, VI=100

Họ dầu gốc naphten có độ nhớt thay đổi nhiều theo nhiệt độ VI =0 nhưvậy chỉ số độ nhớt có tính quy ước

chỉ số độ nhớt VI được tính như sau:

VI =

H L

U:là độ nhớt động học ở 400C của dầu có chỉ số độ nhớt cần phải tính,

mm2/s

L: là độ nhớt động học ở 400C của một dầu có chỉ số độ nhớt bằng 0

và cùng với độ nhớt động học ở 1000c với dầu cần tính chỉ số độ nhớt ,mm2/s

H:là độ nhớt động học đo ở 400C của một loại dầu có chỉ số độ nhớtbằng 100và cùng với độ nhớt động học ở 1000C với dầu mà ta cần đo chỉ số

độ nhớt, mm2/s

Ta thấy rằng:

Nếu U-L >0 thì VI sẽ là số âm, dầu này có tính nhiệt kém

Nếu L>U>H thì VI trong khoảng 0 đến100

Nếu H-U>0 thì VI>100, dầu này có tính nhiệt rất tốt

Trang 7

Hình1: Sự thay đổi độ nhớt của dầu bôi trơn theo nhiệt độ, lý giải về trị số độ nhớt (VI)

Trang 8

Nếu độ nhờn động học ở 1000C lớn hơn 70 mm2/s thì giá trị L-H được tínhnhư sau:

Dựa vào chỉ số độ nhớt, người ta phân dầu nhờn gốc thành các

loại như sau:

Trang 9

- Dầu gốc có chỉ số độ nhớt cao HVI.

- Dầu gốc có chỉ số độ nhớt trung bình MVI

- Dầu gốc có chỉ số độ nhớt thấp LVI

Hiện nay cũng chưa có quy định rõ ràng về chỉ số độ nhớt của các loạidầu gốc nói trên Trong thực tế chấp nhận là chỉ số độ nhớt (VI ) của dầunhờn cao hơn 85 thì được gọi là dầu có chỉ số độ nhớt cao Nếu chỉ số độ nhớtthấp hơn 30 thì dầu đó xếp vào loại dầu có chỉ số độ nhớt thấp, còn dầu(MVI) nằm giữa hai giữa hai giới hạn đó thì có chỉ số độ nhớt trung bình.Nhưng trong chế biến dầu, từ công nghệ hydro cracking có thể tạo ra dầu gốc

có chỉ số độ nhớt cao (>140) Các loại dầu này được xếp vào loại có chỉ số độnhớt cao (VHVI) hay siêu cao(XHVI) Dầu (LVI) được sản xuất từ họ dầu mỏNaphten Nó được _ing khi mà chỉ số ổn định oxy hoá không phảI là chỉ tiêuchính được chú trọng nhiều Dỗu gốc (MVI) được sản xuất từ dầu chưng cấtNaphten – Parafin, nhưng không cần tách chiết sâu còn dầu gốc (HVI)thường được sản xuất từ họ dầu Parafin qua tách chiết sâu bằng dung môIchọn lọc và tách sáp

I.3.4 Điểm đông đặc, màu sắc.

Điểm đông đặc là nhiệt độ thấp nhất mà ở đó dầu bôi trơn không giữđược tính linh động và bị đông đặc, ở nhiệt độ nhất định nào đó sẽ đông lại vàlàm cho động cơ khó khởi động Khi sản phẩm đem làm lạnh trong nhữngđiều kiện nhiệt độ nhất định, nó bắt đầu vẩn đục do một số cấu tử bắt đầu kếttinh

Màu sắc là một tính chất có ý nghĩa đối với dầu nhờn Dầu có thể cónhiều màu sắc khác nhau như : vàng nhạt, vàng thẫm, đỏ

Trong một số trường hợp màu sắc được coi là dấu hiệu để nhận biết sựnhiễm bẩn hoặc oxy hóa sản phẩm, nếu bảo quản dầu không tốt gây ra sựchuyển màu sắc nâu, đen … và nó biểu thị chất lượng đã giảm sút

Hầu hết dầu nhờn đều chứa một số lượng sáp không tan và khi dầu đượclàm lạnh, những sáp này bắt đầu tách ra ở dạng tinh thể đan sen với nhau tạothành cấu trúc cứng, giữ dầu ở trong các túi rất nhỏ của các cấu trúc đó, khicấu trúc tinh thể của sáp này tạo thành đầy đủ thì dầu không luân chuyểnđược nữa Để giảm nhiệt độ đông đặc của dầu người ta dùng phụ gia hạ nhiệt

độ đông đặc

Yêu cầu dầu nhờn có nhiệt độ đông đặc và điểm đục không thấp hơn giới hạncho phép, chỉ tiêu và chất lượng này đặc biệt quan trọng đối với loại dầu sửdụng ở vùng giá rét Ở nước ta yêu cầu nhiệt độ đông đặc của dầu không quá -

90C

I.3.5 Nhiệt độ chớp cháy của dầu nhờn

Đặc trưng cho khả năng an toàn cháy nổ của dầu nhờn là nhiệt độ bắtcháy và chớp cháy

Nhiệt độ bắt cháy là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó hơi dầu thoát ra trên bềmặt dầu, khi có mồi lửa lại gần thì bắt cháy

Trang 10

Nhiệt độ chớp cháy là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó lượng hơi thoát ra trên

bề mặt dầu có thể bắt cháy, khi mồi lửa lại gần và cháy ít nhất trong thời gian

5 giây

Nhiệt độ bắt cháy và chớp cháy của một số loại dầu bôi trơn thường khácnhau từ 5÷600c ,tuỳ thuộc độ nhớt của dầu, độ nhớt càng cao thì độ cách biệtcàng lớn

Việc nghiên cứu và hiểu biết về nhiệt độ chớp cháyvà bắt lửa có ý nghĩaquan trọng việc đánh giá phẩm chất dầu nhờn Nhiệt độ chớp cháy và bắt cháythấp là đặc trưng cho tính an toàn của dầu nhờn

I.3.6 Trị số axit ,trị số kiềm ,axit-kiềm tan trong nước.

Trị số axit chính là trị số trung hoà và được dùng để xác định độ axit và

độ kiềm của dầu bôi trơn

Trị số trung hoà là tên gọi chung cho trị số axit tổng ( TAN )và trị sốkiềm tổng ( TBN)

Trong dầu nhờn gốc đã qua chế biến vẫn chứa một lượng nhỏ axit nhưaxit naphtenic, axit oxy cacbonxilic … sau một thời gian dài sử dụng, hàmlượng các hợp chất này tăng lên do tác dụng oxy hoá của không khí đối vớicác hợp chất dễ phản ứng trong dầu Ngoài ra cũng có thể có một lượng nhỏaxit hữu cơ nhiễm vào dầu nhờn từ các hợp chất chứa lưu huỳnh, tổng nhiênliệu điezen hoặc phụ gia chứa clo pha vào xăng Tính axit còn do một số loạiphụ gia mang tính axit pha vào dầu

Trị số axít tổng (TAN) là chỉ tiêu đánh giá tính axit của dầu, đặc trưng bởi

số mg KOH cần thiết để trung hoà toàn bộ lượng axit có trong một (g) dầu Trị số tan trong nước biểu hiện sự có mặt của axit vô cơ, được phát hiệnđịnh tính theo sự đổi màu của chất chỉ thị đối với lớp nước tách khỏi dầunhờn khi làm kiểm nghiệm Quy đinh tuyệt đối không được có axit vô cơtrong dầu

Trị số kiềm tổng (TBN) là lượng axit tính chuyển số mg KOH tương ứng,cần thiết để trung hoà lượng kiềm có 1 g mẫu Tính kiềm trong dầu tạo ra bởicác phụ gia có tính tẩy rửa, phụ gia phân tán, đó là những hợp chất cơ kimnhư phenollat, sunfonat …Tính kiềm là chỉ tiêu cần thiết để tiên đoán chấtlượng dầu mỏ, nhằm bảo đảm trung hoà các hợp chất axit tạo thành trong quátrình sử dụng ,chống hiện tượng gỉ sét trên bề mặt các chi tiết kim loại ngoài

ra trị số kiềm tổng còn dùng để đánh gía khả năng tẩy rửa của dầu ,giữ cho bềmặt kim loại không bị cặn bẩn ,tránh mài mòn

I.3.7 Hàm lượng tro và tro sun fat trong dầu bôi trơn.

Tro là phần còn lại sau khi đốt cháy được tính bằng (%)khối lượng cácthành phần không thể cháy được nó sinh ra từ phụ gia chứa kim loại,từ chấtbẩn và mạt kim loại bị mài mòn

Hàm lượng tro có thể định nghĩa là lượng cặn không cháy hay cáckhoáng chất còn lại sau khi đốt cháy dầu

Tro sunfat là phần cặn còn lại sau khi than hoá mẫu ,sau đó phần cặn được

xử lý bằng H2 SO4 vànung nóng đến khối lượng không đổi

Trang 11

Độ tro của dầu gốc nói lên mức độ sạch của dầu ,thông thường trong dầugốc không tro Đối với dầu thương phẩm không phụ gia hoặc có phụ giakhông tro, một lượng nhỏ tro được xác định thấy sẽ phải xem xét lại chấtlượng dầu

I.3.8 Hàm lượng cặn cacbon của dầu nhờn.

Cặn cacbon là lượng cặn còn lại sau khi cho bay hơi và nhiệt phân dầunhờn trong những điều kiện nhất định cặn không chỉ chứa hoàn toàn cacboncủa dầu

Cặn cacbon của dầu bôi trơn là lượng cặn còn lại, được tính bằng phầntrăm trọng lượng sau khi dầu trải qua quá trình bay hơi, crackinh và cốc hoátrong những điều kiện nhất định

Các loại dầu khoáng thu được từ bất kì loại dầu thô nào đều có lượng cặntăng theo độ nhớt cuả chúng Các loại dầu cất luôn có lượng cặn các bon nhỏhơn các loại dầu cặn có cùng độ nhớt Các loại dầu parafin thường có hàmlượng cặn cacbon thấp hơn các loại dầu naphten

Có thể coi trong một chừng mực nào đó, cặn cacbon đặc trưng cho xuhướng tạo muội của dầu nhờn trong động cơ đốt trong

I.3.9 Độ ổn định oxyhoá của dầu bôi trơn

Độ ổn định của dầu bôi trơn biểu hiện khả năng cảu dầu chống lại nhữngtác động bên ngoài làm thay đổi chất lượng của dầu Dầu có ổn định cao khithành phần hoá học và tính chất của nó ít thay đổi Thực tế nếu nhiệt độkhông vượt quá 30-400 C thì có thể bảo quản dầu từ 5-10 năm mà chất lượngcủa dầu khôg thay đổi Sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sử dụng ở động cơ.Dưới tác động của không khí, ở nhiệt độ cao 200-3000Ccó tác dụng xúc táckim loại, những thành phần kém ổn định của dầu sẽ tương tác với oxy tạo nênnhững sản phẩm khác nhau và tích luỹ trong dầu, làm giảm chất lượng củadầu như tăng trị số axit tổng (TAN) làm tăng hàm lượng nhựa, tạo nhiều chấtnhựa bám ở buồng cháy Sư thay đổi thành phần sẽ làm thay đổi độ nhớt vàlàm giảm chỉ số độ nhớt của dầu

I.4 Công dụng của dầu bôi trơn.

I.4.1 Công dụng làm giảm ma sát.

Mục đích cơ bản của dầu nhờn là bôi trơn các bề mặt tiếp xúc của cácchi tiết chuyền động nhằm giảm ma sát Máy móc sẽ mòn ngay nếu không códầu bôi trơn Nếu chọn đúng dầu bôi trơn thì hệ số ma sát sẽ giảm từ 100-

1000 lần so với ma sát khô Khi cho dầu vào máy với một lớp dầu đủ dày, dầu

sẽ xen kẽ giữa hai bề mặt, khi chuyển động, chỉ có các phần tử dầu nhờn trượtlên nhau Do đó máy móc làm việc nhẹ nhàng, ít bị mài mòn, giảm được côngtiêu hao vô ích

Trang 12

trạng thái lỏng, dầu chảy qua các bề mặt ma sát đem theo một phần nhiệttruyền ra ngoài làm cho máy móc làm việc tốt.

I.4.3 Công dụng làm sạch.

Khi làm việc, bề mặt ma sát sinh ra hạt kim loại mịn, những hạt rắn này sẽlàm cho bề mặt bị xước, hang Ngoài ra ,có thể có cát, bụi tạp chất ở ngoài rơivào bề mặt ma sát, nhờ dầu nhờn lưu chuyển tuần hoàn qua bề mặt masát,cuốn theo các tạp chất đưa về cacte dầu và được lắng lọc

I.4.4.Công dụng làm kín.

Trong các động cơ, có nhiều chi tiết truyền động cần phải kín và chínhxác như pittông - xi lanh, nhờ khả năng bám dính tạo màng dầu nhờn có thểgóp phần làm kín các khe hở, không cho hơi bị rò rỉ, bảo đảm cho máy móclàm việc bình thường

I.4.5 Bảo vệ kim loại.

Bề mặt máy móc, động cơ khi làm việc thường tiếp xúc với không khí,hơi nước bị thải …làm cho kim loại bị ăn mòn có thể làm thành màng mỏngphủ kín bề mặt kim loại nên ngăn cách được với các yếu tố trên ,vì vậy kimloại được bảo vệ

Trang 13

CHƯƠNG II.

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT DẦU NHỜN GỐC

II.1.Thành phần và tính chất của nguyên liệu để sản xuất dầu

gốc.

Nguyên liệu để sản xuất dầu nhờn trong nền công nghiệp chế biến dầu

mỏ và khí, trước đây người ta thường dùng cặn mazut qua chưng cất chânkhông ta thu được các phân đoạn dầu nhờn rồi qua các bước làm sạch tiếptheo mới thu được dầu nhờn gốc Về sau này ngành chế tạo máy phát triển ,vàcông nghiệp nặng phát triển đòi hỏi chủng loại dầu nhờn ngày càng phongphú và đòi hỏi số lượng cũng như chất lượng ngày càng cao, nên các nhà côngnghệ đã nghiên cứu và tận dụng phần cặn gudron làm nguyên liệu để sản xuấtphân đoạn dầu nhờn cặn có độ nhớt cao Như vậy nguyên liệu chủ yếu để sảnxuất dầu nhờn là cặn mazut và cặn gudron

Các hợp chất có mặt trong nguyên liệu gồm các loại sau:

Trang 14

II.2 Công nghệ sản xuất dầu nhờn gốc.

II.2.1 Sơ đồ công nghệ truyền thống sản xuất dầu nhờn

Việc tách các thành phần không mong muốn trong sản xuất dầu gốcđược thực hiện nhờ các quá trình lọc dầu sẽ cho phép sản xuất dầu gốc có chấtlượng cao, ngay cả với phân đoạn dầu nhờn của dầu thô chưa thích hợp chosản xuất dầu nhờn ,sơ đồ công nghệ sản xuất dầu nhờn gốc từ dầu mỏ baogồm các công đoạn sau:

- Chưng chân không nguyên liệu ma zut

- Chiết tách, trích li bằng dung môi

- Tách hydrocacbon rắn( sáp hay prolactrum)

- Làm sạch lần cuối bằng hydro hoá

II.2.2 Chưng cất chân không nguyên liệu cặn mazut

Dầucất

nhẹ

Dầu cất trung Dầu cất nặng Cặn gudron

Chiết bằngDung môi

Tách asphanten bằng propan

Dầu cất nhẹ Dầu cất trung Dầu cất

Trang 15

Để nhận các phân đoạn dầu cất, các quá trình đầu tiên nhằm sản xuất dầu

nhờn là quá trình chưng chân không ma zut để nhận các phân đoạn dầu nhờncất và cặn gudron Mục đích của quá trình là nhằm làm phân chia hoàn thiệncác phân đoạn dầu nhờn có giới hạn sôi và tách triệt để các chất nhựa vàasphanten ra khỏi phần dầu nhờn cất

II.2.3 Các quá trình trích ly, chiết tách bằng dung môi.

Mục đích của quá trình trích ly là chiết tách các cấu tử không mongmuốn chứa trong các phân đoạn dầu nhờn mà bằng chưng cất không thể loại

bỏ được Các cấu tử này thường làm cho dầu nhờn sau một thời gian bảoquản hay sử dụng bị biến đổi màu sắc tăng độ nhớt ,xuất hiện các hợp chất cótính axit không tan trong dầu, tạo thành cặn nhựa và cặn bùn trong dầu

Nguyên lý của quá trình tách bằng dung môi và dựa vào tách các chấthoà tan chọn lọc của dung môi được sử dụng, khi trộn dung môi với điềukiện thích hợp, các cấu tử trong nguyên liệu sẽ được phân thành hai nhóm: Nhóm các cấu tử hoà tan tốt vào dung môi tạo thành pha riêng với têngọi là pha chiết ( estrak), còn phần không hoà tan hay hoà tan rất ít vào dungmôi gọi là rafinat Sản phẩm có ích nằm trong pha chiết (estrak) hay pharafinat tuỳ theo dung môi sử dụng Nhưng trong thực thế người ta quen gọipha chứa sản phẩm là pha rafinat còn pha cần phải loại là pha là pha (estrack).Dựa vào bản chất của dung môi mà người ta chia thành dung môi có cực vàdung môi không có cực hay dung môi hỗn hợp, nhưng dù là loại nào, dungmôi được chọn phải thoả mãn các yêu cầu sau:

Phải có tính hoà tan chọn lọc, tức là phải có khả năng phân tách thành hainhóm cấu tử là nhóm có lợi và nhóm không có lợi cho dầu gốc Tính chất nàyđược gọi là độ chọn lọc của dung môi ,thêm nữa dung môi phải bền về hoáhọc,không phản ứng với cấu tử của nguyên liệu ,không gây ăn mòn và dễ sửdụng, có giá thành rẻ và dễ kiếm

Có nhiệt độ sôi khác xa so với các cấu tử cần tách, để dễ dàng thu hồidung môi, tiết kiệm được năng lượng

Ba loại dung môi có cực để tách phần hydrocacbon thơm và cặn nhựa rakhỏi các phân đoạn dầu nhờn cất hiện nay đang sử dụng phổ biến đó làphenon, furfurol và, N-metylpirolydon Còn để tách các hợp chấn nhựaasphan trong phân đoạn gudron phổ biến là dùng prophan lỏng

II.2.3.1 Quá trình khử asphan trong phần cặn gudron

1.Mục đích và ý nghĩa của quá trình:

Trong gudron có thể chứa các cấu tử không có lợi cho dầu gốc nếu đưatrực tiếp vào trích ly sẽ không cho đạt chất lượng hiệu qủa mong muốn, chính

vì thế người ta thường tiến hành khử asphan trước Trong quá trình sản xuấtdầu nhờn, phổ biến là dùng propan lỏng để khử chất nhựa asphan trong phânđoạn gudron

Mục đích của quá trình này là ngoài việc tách các hợp chất nhựa asphancòn cho phép tách các hợp chất thơm đa vòng để làm giảm độ nhớt, chỉ số

Trang 16

khúc xạ, độ cốc hoá và nhận đượng dầu nhờn nặng có độ nhờn cao cho dầugốc

2.Cơ sở lý thuyết của quá trình

Cơ sở lí thuyết của của quá trình là các hợp chất nhựa, asphan chiếmphần chủ yếu trong cặn gudron, chúng là các hợp chất có khả năng hoà tankém trong dung môi không cực Nhờ tính chất này, người ta chọn dung môiparafin để tách chúng.Dung môi tạo điều kiện cho quá trình đông tụ các chấtnhựa –asphan và hoà tan chọn lọc hydrocacbon Trong dung môipharafinic,khả năng hoà tan các hợp chất hydrocacbon có thể sắp xếp theo thứ

mà trong thực tế, prophan lỏng là dung môi thích hợp của quá trình này

II.2.3.2 Các quá trình trích ly bằng dung môi chọn lọc.

a Công dụng

Các quá trình này có nhiệm vụ tách các hydrocacbon thơm đa vòng,các chất nhựa asphan bằng các dung môi có cực nhằm cải thiện thành phầnhoá học của dầu nhờn Các quá trình này được xem như là các quá trìnhlàm sạch chọn lọc của dầu nhờn

b Cơ sở lý thuyết.

Các hợp chất nhựa và hydrocacbon thơm đa vòng là các hợp chất cóhại, không mong muốn có trong dầu nhờn Sự có mặt cuả chúng không nhữnglàm cho chất lượng dầu kém đi, chỉ số độ nhớt thấp mà chúng còn làm chomàu dầu rất xấu Các hợp chất này bằng phương pháp chưng cất không thểloại bỏ được Làm sạch dựa vào tính chất hoà tan chọn lọc của dung môi cócực, cho phép sản xuất ra dầu gốc chất lượng cao từ bất cứ dầu thô nào Vaitrò quan trọng trong quá trình làm sạch chọn lọc là độ chọn lọc và khả nănghoà tan của dung môi

Độ chọn lọc là khả năng phân tách rõ ràng các cấu tử nguyên liệu vàorafinat bao gồm các hợp chất có ích izo parafin, naphten lai hợp parafin –naphten và các hợp chất thơm một vòng, còn phần trích ly chỉ có các cấu tử

có hại như là các hợp chất đa vòng, nhựa asphan và một lượng rất nhỏ cáchợp chất có lợi

Khả năng hoà tan của dung môi là đại lượng được thể hiện bằng lượngdung môi cần thiết để hoà tan một lượng xác định các cấu tử của nguyên liệu,hay nói cách khác là trong điều kiện để nhận rafinat có chất lượng xác định,lượng dung môi cần thiết càng ít để nhận được cùng một lượng rafinat chất

Trang 17

lượng tương đương thì khả năng hoà tan của dung môi càng lớn Về nguyên

lý độ chọn lọc và khả năng hoà tan là hai đại lượng ngược nhau, tăng chỉ tiêunày sẽ dẫn tới giảm chỉ tiêu kia

Độ hoà tan của hydrocacbon trong dung môi có cực không chỉ phụ thuộcvào các cấu trúc hydrocacbon mà còn phụ thuộc vào nhiệt độ và thường tuântheo quy luật sau:

- Khi tăng số vòng trong phân tử hydrocacbon thì độ hoà tan tăng

- Khi răng chiều dài mạch ankyl độ hoà tan giảm xuống

- Độ hoà tan giảm khi tăng số nguyên tử cacbon trong nguyên tử naphten

- Độ hoà tan của hydrocacbon thơm sẽ lớn hơn naphten khi có cùng sốnguyên tử cacbon trong vòng

-Hydrocacbon farafin có độ hoà tan nhỏ nhất

Các ưu điểm khi làm sạch dầu nhờn bằng dung môi chọn lọc

+ Không tác dụng hoá học với nguyên liệu, tránh được mất mát các cấu

Bảng 2: Một số tính chất của các dung môi

Trang 18

II.2.4 Quá trình tách sáp.

Sáp là hỗn hợp chủ yếu là các parafin phân tử lượng lớn và một lượngnhỏ các hydrocacbon khác có nhiệt độ nóng chảy cao ( chúng dễ kết tinh ởnhiệt độ thấp) và kém hoà tan vào dầu nhờn ở nhiệt độ thấp Vì thế chúng cầnphải tách ra khỏi dầu

II.2.4.1 Quá trình tách sáp bằng phương pháp kết tinh.

Khi tiến hành làm lạnh phân đoạn dầu nhờn, sáp được tách ra do chúng bịkết tinh Như vậy bằng cách kết tinh có thể xử lý dầu nhờn chứa sáp Quátrình này dựa vào nguyên lý kết tinh parafin rắn bằng cách làm lạnh Sau đótách chúng khỏi dầu nhờn lọc Trong các dây chuyền sản xuất trước đấy, dầuđược làm lạnh ở các dàn lạnh, sau đó hỗn hợp đặc chứa dầu và sáp đượcchuyển qua bộ phận lọc ép áp suất Tại đây những tinh thể sáp được giữ lại,còn dầu nhờn được chảy qua Khi lớp sáp đã đủ dày, xả áp và tháo các bánhsáp ra Phương pháp này có các nhược điểm sau :

- làm việc gián đoạn và nhiều khâu phải dùng tới áp suất

- Độ nhớt của dầu tách sáp lớn gây trở ngại cho quá trình lọc, đặc biệt làcác loại dầu có độ nhớt cao

- Không áp dụng cho nguyên liệu là dầu cặn vì tách sáp không triệt để,

do các vi tinh thể parafin được tạo ra trong quá trình không thể tách rabằng lọc

II.2.4.2 Tách bằng dung môi chọn lọc.

Để khắc phục các nhược điểm trên người ta sử dụng dung môi để tăng độlinh động của dầu nhờn Do sáp cũng có thể hoà tan vào dung môi, nên phảitiến hành ở nhiệt độ thấp và phải chọn dung môi thích hợp Với dung môi có

độ chọn lọc cao, có thể thu được phần lọc ở nhiệt độ thấp, ngay ở nhiệt độ kếttinh sáp Nhờ vậy có thể kết tinh được mọi thể loại sáp và dễ tách ra bằng lọc

Độ nhớt của hỗn hợp thấp còn cho phép thay quá trình lọc gián đoạn bằng quátrình lọc chân không liên tục có hiệu quả kinh tế cao Một dung môi tách sáptốt phải thoả mãn các yêu cầu sau :

- Ít hay không hoà tan sáp

- - Hoà tan tốt dầu nhờn ở nhiệt độ kết tinh sáp

- Sáp ở dạng tinh thể lớn để dễ tách bằng lọc

- Có nhiệt độ sôi thấp để dễ tách khỏi dầu, tiết kiệm năng lượng

- Dung môi phải dễ kiếm, rẻ không độc hại và không gây ăn mòn

- Tỷ lệ dung môi trên nguyên liệu dầu thấp để giảm chi phí vận hành

II.2.4.3 Quá trình làm sạch bằng hydro:

Quá trình tinh chế sản phẩm dầu đã tách sáp là quá trình cần thiết nhằmloại bỏ các chất hoạt động về mặt hoá học, có ảnh hưởng đến độ màu của dầugốc Ví dụ, các hợp chất nitơ có ảnh hưởng rất mạnh đến màu sắc cũng như

độ bền màu của dầu gốc, vì thế phải loại bỏ chúng và đó chính là yêu cầu của

quá trình tinh chế bằng hydro

Trang 19

Tính chất của dầu nhờn sau khi hydro hoá làm sạch được thay đổi như sau

- Làm giảm độ nhớt 0 - 2

- Làm tăng chỉ số nhớt 0 – 2

- Hạ thấp nhiệt độ đông đặc, 0C 0 - 2

- Tăng sáng màu (độ) 1 - 2

II.2.5.Quá trình tách asphan bằng prophan.

Thông thường để sản xuất dầu gốc có thể đưa thẳng thẳng các phân đoạn

đầu cất nhẹ sang các thiết bị chiết tách bằng dung môi, như các phân đoạn dầucặn ở tháp chưng cất chân không đòi hỏi phải tách asphan để loại trừ các loạinhựa đến khi qua khâu tách chiết Như vậy các nguyên liệu này phải đưa quaquá trình tinh chế loại asphan để tách các hợp chất nhựa, asphan là mộthydrocacbon thơm đa vòng Nhờ quá trình này mà dầu thu được có độ nhờnthấp và giảm xu hướng tạo cặn dạng gốc

Propan có một tính chất đặc biệt là từ 40-60oC nó hoà tan parafinr rất tốt,như khả năng này giảm khi nhiệt độ tăng cho đến khi đặt đến nhiệt độ tới hạncủa propan (96,8oC), tất cả các hydrocacbon trở nên không tan Trong khoảng

40 đến 96,8oC các hợp chất nhựa và asphan có phần tử lượng cao hầu nhưkhông tan trong propan Propan thường được dùng làm dung môi cho quátrình tách asphan nhưng cũng có thể dùng etan và butan

Quá trình tách bằng các phân đoạn chủ yếu dựa vào trọng lượng phân tử,còn chiết tách bằng dung môi thì dựa vào chủng loại phân tử Quá trình táchasphan nằm ở vị trí trung gian hai quá trình này, vì tách asphan phụ thuộc vào

cả trọng lượng phân tử và chủng loại cấu trúc phân tử Sơ đồ đơn giản của quátrình tách asphan bằng prophan dược trình bày ở hình 11

Nguyên liệu tiếp xúc với prophan lỏng lớn gấp 5 - 8 lần theo thể tích ởnhiệt độ thích hợp Rafinat gồm dung môi chứa 15 - 20 % (trọng lượng) dầu.Dầu càng nặng thì prophan dùng càng phải lớn Pha chiết chứa từ 30 - 40 %prophan (theo thể tích) Đó không hẳn là dung dịch mà là một dạng nhũ tươngcủa các hợp chất asphan trong propan ở hình 11 cho thấy propan được đưavào tháp chiết, còn nguyên liệu (phần cặn chưng cất chân không) được đưavào đỉnh tháp Vì propan chuyển động ngược lên đỉnh tháp, nó hoà tan dầu từnguyên liệu và mang chúng theo lên đỉnh Các loại chất nhựa asphan đi ra từđáy tháp, còn hốn hợp dầu propan đi ra từ đỉnh là phần rafinat Propan sau khithu hồi lại đưa vào chu trình sử dung tiếp

Trang 20

CHƯƠNG III.

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT DẦU NHỜN GỐC

DÙNG PHƯƠNG PHÁP TRÍCH LY BẰNG FURFUROL III.1 Mục đích và ý nghĩa của quá trình trích ly bằng dung môi furfurol.

Mục đích của quá trình trích ly là chiết tách các cấu tử không mong muốn

chứa trong các phân đoạn dầu nhờn mà chưng cất không thể loại ra được Cáccấu tử này thường là các chất nhựa, phi hydrocacbon, các hydrocacbon thơm

mạch bên ngắn ngưng tụ cao… thường làm cho dầu nhờn sau một thời gian

bảo quản hay sử dụng lại biến đổi màu sắc, tăng độ nhớt, xuất hiện các hợpchất có tính axit không tan trong dầu, tạo cặn nhựa và cặn bùn trong dầu Nguyên lý của quá trình tách bằng dung môi chọn lọc là dựa vào tính chấthoà tan có chọn lọc của dung môi được sử dụng Khi trộn dung môi vàonguyên liệu ở điều kiện thích hợp, các cấu tử của nguyên liệu sẽ phân thànhhai nhóm: nhóm hoà tan tốt trong dung môi tạo thành pha riêng gọi là phatrích (extrack); còn phần không hoà tan hay hoà tan rất ít trong dung môi gọi

là rafinat Sản phẩm có ích có thể nằm trong pha trích hay rafinat tuỳ thuộc

vào loại dung môi sử dụng Với dung môi furfurol thì sản phẩm có ích không

hoà tan vào dung môi này, nên chủ yếu trong pha trích là những cấu tử có hạiđối với dầu nhờn

Do đó quá trình trích ly bằng dung môi chọn lọc đặc biệt có ý nghĩa trongviệc sản xuất dầu nhờn Quá trình này làm tăng độ ổn định, chống oxy hoá

cho dầu nhờn, tăng chỉ số độ nhớt, giảm tỷ trọng, giảm độ nhớt, giảm độ cốc

hoá, làm sáng màu cho dầu nhờn Tuy nhiên, nhiệt độ đông đặc của dầu nhờnlại tăng lên

III.2 Dung môi furfurol

Dung môi furfurol có công thức phân tử là :C4H3CHO, furfurol là mộthợp chất tinh khiết, là một chất lỏng không màu hoà tan rất tốt trong dungmôi hữu cơ ít tan trong nước dung môi này là dung môi rất quan trọng ,dùng

để sản xuất nhựa, tinh chế dầu nhờn

Ngày nay người ta đang sử dụng phổ biến 3 loại dung môi có cực để táchcác hợp chất nhựa và thơm đa vòng ra khỏi nguyên liệu dầu nhờn là phenol,furfurol và N metylphirolidon (NMP)

Các nhà máy ở Liên Bang Nga, dung môi chủ yếu dùng cho quá trình làmsạch chọn lọc là phenol Phenol có khả năng hoà tan cao, tạo điều kiện thuậnlợi cho làm sạch nguyên liệu dầu nhờn, nhất là loài có chứa nhiều cặn và có

độ nhờn cao, đồng thời dung môi này cũng rẻ tiền và dễ kiếm

Ngày đăng: 27/04/2013, 10:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 : Sơ đồ công nghệ sản xuất dầu gốc . - Thiết kế tháp, trích ly đầu nhờn bằng dung môi furfurol
Hình 2 Sơ đồ công nghệ sản xuất dầu gốc (Trang 14)
Bảng : Bảng cân bằng nhiệt lượng - Thiết kế tháp, trích ly đầu nhờn bằng dung môi furfurol
ng Bảng cân bằng nhiệt lượng (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w