1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

119 551 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần thực hiện chiến lược “phát triển bền vững”, đáp ứng các nhu cầu vềnông sản phẩm cao cấp và chất lượng cảnh quan - môi trường sinh thái, để phục vụ cuộcsống ngày càng nâng cao

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIẸP HÀ

NỘI

NGUYỄN NGỌC ANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG DAT NÔNG NGHIỆP VÀ

ĐỂ XUẤT MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VẢN THẠC sĩ NÔNG NGHIỆP

Chuv*n ngnnh: QUẢN LÝ ĐÂT ĐAI

M- nghinh: 60.62.16

Ng-êi h-íng dÉn khoa hãc: PGS.TS NGUYÊN XUÂN THÀNH

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

Mài cam đú€UL

^7ôi xin cam đoan rang: iâ liêu oà hêt quả nt/hièn cứu trang, luận oún nùg Là trung thưa DÙ chua hc báo Dẻ môt hoc DÌ nào.

&ÔỈ xin cam đoan rang mọi ầự giúp đõ’ chú DÌệc thực hiện luận oàn nài/ ĩtũ ĩtutíc cảm tín DÙ thòng tin trích ílẫn trang luân oản đều ĩtutíc chỉ rã nguồn gấc.

'lũù (ìlội, ngàg tháng 10 năm 2008

Qlgitòi thiếc hiên luận oan

íYigugễn (ìlgoc ( Inh

Trang 3

Mài eátn tín

Mrong thòi gian hoe tập và thực hiên híận oàn tết nghiệp, tôi (tã nhận itưtíe sú giúp (tở vô cùng tận tình của eo’ stí (tào tạo, eo' guan công tác, gia đình và hạn bè.

Mraóe hết tôi ehủn thành eúm tín tới Mrường 'Đại họe nông nghiệp

1, khoa (tào tạo San (tại hoe, MChoa 'Đất oà Jllỗ( trưởng, 'Bô môn r ()i sinh vật (tất (Tã tận tình giáp đõ' trong suốt guẩ trình (tào tạo

Môi xin bàg tỏ lòng biềí tín sâu sắc tới 'ptịs MS Qtguụễn 'Maán

( Mhành, người thầg hướng (lẫn hêí lòng tận tụg vì họe trò.

Môi xin chân thành biết tín eúe thầg eô oà eáe đồng nghiệp tại khoa Mài ngagên oà JHôi trưởng traòng (Đại hoe (Hông lảm Mháỉ QlgngỀn (tã tạo điều kiên tốt cho tôi hoàn thành khóa hoe nàg.

(ừiôi cùng tôi xin cám tín gia đình và bạn bè (Tã (tông viên oà eô

vã tôi trong suốt guá trình họe tập.

'dôà (Hòi, ngỉig thăng 10 (làm 200S (Hgưòi thn’e hiên híận oán

(Hgugễn (Hgọe í Inh

Trang 4

2.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thê giới và Việt Nam 4

2.2 Quan điểm phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái 10

2.2.3 Quan điểm về phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững 18

2.3 Tình hình nghiên cúu nông nghiệp đô thị sinh thái trên thê giới 21

2.3.4 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp đô thị

'26

sinh thái của một số nước

2.4 Tình hình nghiên cứu nồng nghiệp sinh thái ở Việt Nam 28 2.5 Kết quả nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái ở TP Thái Nguyên 30

Trang 5

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phô Thái Nguyên 31

3.2.3 Đề xuất mô hình phát triển nông nghiệp sinh thái trên địa bàn thành

3.3.5 Phương pháp tham khảo, thừa kế các tài liệu có liên quan đến để tài 33

4.1.3 Nhận xét chung vê điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố liên

46

quan tới sử dụng đất đai.

Trang 6

4.2.4 Nhận xét về thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, đánh giá Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phô Thái Nguyên.

4.3 Đề xuất một sô mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái tại thành phô Thái Nguyên.

4.3.1 Những căn cứ đề xuất mô hình phát triển nông nghiệp

4.3.2 Quan điểm phát triển ngành nông nghiệp thành phốThái Nguyên

4.3.3 Đề xuất mô hình sản xuất nông nghiệp thành phốThái Nguyên

4.4 Các giải pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp thành phố Thái Nguyêntheo hướng sinh thái trong thời gian tới

4.4.1 Thực hiện quy hoạch và bố trí SXtheo hướng nông nghiệp sinh thái

4.4.2 Phát triển đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất

4.4.3 Giải pháp về vốn và đầu tư vốn thực hiện xã hội hoá các hoạt động đầu

tư trên các lĩnh vực phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn thành phố

4.4.4 Giải pháp về khoa học công nghệ

4.4.5 Giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái

4.4.6 Giải pháp về xây dựng hệ thống cơ cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của thành phố

878788

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Phân loại địa hình theo cấp độ dốc thành phố Thái Nguyên 36

Bảng 4.4 : Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng tổng sản phẩm (%) 44

Bảng 4.8: Tinh hình sử dụng và biến động các loại đất chính thành phố Thái

Bảng 4.9: Một số sản phẩm nông nghiệp trồng trọt thành phố Thái Nguyên 53Bảng 4.10: Một số sản phẩm nông nghiệp chăn nuôi thành phố Thái Nguyên 54Bảng 4.11: Cơ cấu ngành trồng trọt thành phố Thái Nguyên thời kỳ 2000 - 2007 55Bảng 4.12: Cơ cấu GTSX ngành chăn nuôi thành phố thời kỳ 2000 - 2007 56Bảng 4.13: Cơ cấu GTSX ngành lâm nghiệp thành phố thời kỳ 2000 - 2007 56Bảng 4.14: Cơ cấu GTSX ngành thuỷ sản thành phố thời kỳ 2000 - 2007 57Bảng 4.15: Cơ cấu GTSX dịch vụ nông nghiệp thành phố thời kỳ 2000 - 2007 57Bảng 4.16: Hiện trạng các loại hình sử dụngđất thành phố Thái Nguyên 60

Bảng 4.20: Hiệu quả kinh tế LUT chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày 63

Bảng 4.25: Thực trạng đất đai các loại mô hình trang trại nông nghiệp 69

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Tên hình

Hình 4.1: Sơ đổ vị trí thành phô Thái Nguyên trong tỉnh Thái Nguyên

Sơ đồ 4.1: Mô tả sơ bộ hệ thống nông nghiệp trên địa bàn thành phố TN

Trang

35

51

Trang 10

Phần I

MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của nhân loại, vì nó là nguồngốc của mọi sự sống trên trái đất Nhận thức được vai trò của nó mà tất cả các quốcgia trên hành tinh này đều đã không quản ngại hi sinh để bảo vệ nó và cũng từ đất

mà các cuộc xung đột đã và đang xảy ra Tuy vậy, mỗi quốc gia đều có những sựquan tâm khác nhau đến đất và ở những quốc gia nào con người quan tâm chú trọng

sử dụng bảo vệ bồi dưỡng nó thì đất đai sẽ tốt lên và cuộc sống sẽ ổn định, pháttriển

Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suythoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu hiểu biết của con người trong quátrình hoạt động sản xuất Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thịhóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm,nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu về đất sử dụng vào mục đích chuyên dùng Điều này đãtạo nên áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đấtnông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khá năng khai hoangđất mới và các loại đất khác chuyển sang đất nông nghiệp rất hạn chế [16]

Cùng với sự bùng nổ các cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thayđổi kinh tế của mỗi quốc gia và đưa loài người bước sang nền văn minh mới Tuynhiên Việt Nam vẫn còn thuộc nền văn minh nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao trong

cơ cấu kinh tế Vì vậy để có thể đuổi kịp và hội nhập cùng với thế giới, Đảng và Nhànước ta đã có chủ trương đẩy mạnh quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đấtnước như đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã nêu: "Đẩynhanh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn thời kỳ 2001 -1010 " phấn đấu tiến hết 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại Trong khi xã hội ngày càng phát triển, các khu công nghiệpmọc lên ngày càng nhiều, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng

về lương thực, thực phẩm và các sán phẩm công nghiệp, các nhu cầu văn hoá, xãhội đặc biệt vấn đề quy hoạch các khu vực nông nghiệp tập trung cung cấp các

Trang 11

nhu cầu lương thực thực phẩm sạch ngày càng trở nên cấp thiết Dơ vậy, việc Pháttriển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái đã và đang là xu thế của cácthành phố ở các nước trên thê giới cũng như trong khu vực Châu á Trong nhữngnăm gần đây, ở nước ta đã có những nghiên cứu về phát triển nông nghiệp theohướng sinh thái, tuy nhiên nền nông nghiệp sinh thái vẫn chưa được hình thành vàchưa có kế hoạch đầu tư cho phát triển.

Từ khi xây dựng và trưởng thành cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội củađất nước, thành phố Thái Nguyên trở thành một trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnhThái Nguyên và của vùng Đông Bắc Nằm ngay ở cửa ngõ phía Bắc Hà Nội cùng vớinhiều tiềm năng, thế mạnh ngay từ khi thành lập đã được Đảng và Nhà nước quantâm chú trọng đầu tư phát triển trở thành một trung tâm công nghiệp quan trọng củamiền Bắc Tháng 10 năm 2002, thành phố được công nhận là đô thị loại ĨT, đây làthuận lợi để thành phố phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên cũng đòi hỏi quy môthành phố phải mở rộng cho tương xứng với tầm của một đô thị loại II

Cùng với sự phát triển của thành phố diện tích đất nói chung và diện tích đấtnông nghiệp nói riêng có sự thay đổi, chu chuyển cho phù hợp với quy hoạch pháttriển dô thị Với xu thế công nghiệp hóa và mở rộng đô thị hóa, diện tích sản xuấtnông nghiệp bị thu hẹp dần, mà ở một thành phô lớn như thành phô Thái Nguyên,thì nguy cơ của sự phát triển mặt bằng đô thị dạng khối liên tục và quá lớn, là điềurất dễ xẩy ra Do dó, hậu quá về mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường thêmtrầm trọng, là khó tránh khỏi Mặt khác, theo đà phát triển của kinh tế đòi hỏi chấtlượng cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân phải được nâng lên và được đáp ứng mộtcách kịp thời [24]

Nông nghiệp thành phố không những đảm bảo yêu cầu về giải quyết lao động,thu nhập cho dân, đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng ngày càng nâng caotheo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm, mà còn có vai trò quan trọng là tạo lập cảnhquan môi trường sinh thái Vì vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái 0 thành phố TháiNguyên sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của thành phố theo hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững

Trang 12

Để góp phần thực hiện chiến lược “phát triển bền vững”, đáp ứng các nhu cầu vềnông sản phẩm cao cấp và chất lượng cảnh quan - môi trường sinh thái, để phục vụ cuộcsống ngày càng nâng cao; Xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế của thành phố cũngnhư thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, chúng tôitiến hành nghiên cứu đề tài:

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một sỏ mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái ử thành phô Thái Nguyên

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỂ TÀI

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 0 thành phố Thái Nguyên nhằmkhai thác hợp lý diện tích đất nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững

- Đề xuất một số mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái ở thành phố TháiNguyên

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỂ TÀI

- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củathành phố Thái Nguyên

- Điều tra tình hình sản xuất nông nghiệp trong nội và phụ cận thành phốThái Nguyên

Trang 13

Phần II

TỔNG QUAN VỂ CÁC VÂN ĐỂ NGHIÊN cứu

2.1 VÂN ĐỂ SỬ DỤNG ĐÂT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thê giới

Trên thế giới sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững rất được chútrọng từ những năm trước đây và ngày càng chứ trọng và phát triển Nó chiếm vị tríquan trọng trong quá trình sản xuất và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

Công tác nghiên cứu về đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu Hiệnnay những kết quả và những thành tựu về đánh giá đất đã được cộng đồng thế giớitổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức liên hiệpquốc như FAO, UNESCO Coi đó như tài sản tri thức chung của nhân loại

Từ thập kỷ 50 của thế kỷ 20, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xemnhư là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm Xuất phát từnhững nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất đai dượcnhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậytrở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũivới những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng

Từ những năm 1970, tiếp theo những thành tựu nghiên cứu của thổ nhưỡnghọc, công tác dánh giá, phân hạng đất dai trở thành phổ biến và đạt được nhiều kếtquả Trên cơ sở kết quả của thổ nhưỡng học và qua thực tế sản xuất trên đất, các nhàkinh tế học, sinh thái học xã hội và cả nông dân đã tiến hành đánh giá đất đai thôngqua việc đi sâu nghiên cứu và xem xét tới nhiều khía cạnh có liên quan trực tiếp tớiquá trình sản xuất trên từng vạt đất

Theo Stewart (1968): Đánh giá đất đai là “Sự đánh giá khả năng thích hợpcủa đất đai cho việc sử dụng đất ” hay có thể nói cách khác “Đánh giá đất đainhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận lợi khó khăn cho việc sử dụngđất dai, làm căn cứ cho việc dưa ra quyết định về sử dụng và quản lý đất đai”

Thuật ngữ đánh giá đất đai được sử dụng từ năm 1950 tại Hội nghị của cácnhà khoa học đất thê giới ở Amsterdam Song trong khoảng những năm 1970 khái

Trang 14

niệm phân loại đất và giải thích nghiên cứu đất được sử dụng thay thế cho thuật ngữđánh giá đất đai Thuật ngữ đánh giá đất đai được xem xét lại vào năm 1968 tại Hộinghị chuyên đề về đánh giá đất đai Cambera do CSTRO tổ chức Trong hội nghị nàykhái niệm đánh giá đất đai được đưa ra tương tự như định nghĩa tổng quát củaStewart (1968) Từ đó FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai (1976): Đánhgiá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cầndánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng yêu cầu cần phải có.

Tuy nhiên trên thế giới nghiên cứu phân loại và đánh giá đất đai đã được tiếnhành với những quan điểm và phương pháp khác nhau Những nghiên cứu và các hệthống đánh giá đất đai sau đây được sử dụng khá phổ biến

Ớ Liên Xô (cũ), Anh, Pháp đã có cơ sở lý luận của ngành quán lý đất đaitương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ

Theo FAO sử dụng đất nông nhgiệp là khâu kế tiếp của công tác đánh giáđất Kết quả của đánh giá đất sẽ đưa ra những loại hình sử dụng đất hợp lý, nhất làcác đơn vị đất đai trong vùng

Tổ chức FAO đã đưa ra quan điểm sử dụng đất nông nghiệp nhằm sử dụngđất một cách có hiệu quả, bền vững đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của hiện tại vàđảm bảo an toàn cho tương lai, chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội và môi trườnggắn liền với khả năng bền vững Phương pháp sử dụng đất này được áp dụng ở bamức là cấp quốc gia, cấp huyện và cấp xã Những mức này không nhất thiết phải kếtiếp nhau, nhưng sự tương tác giữa ba cấp sử dụng ngày càng lớn thì càng tốt

2.1.2 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, khái niệm và đánh giá đất, phân hạngđất đã có từ lâu đời ở nước ta nhằm phục vụ cho việc quán lý đất đai và sản xuất.Trong thời kỳ phong kiến đã tiến hành phân hạng ruộng đất nhằm phục vụ chínhsách quản điền và tô thuế Thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu thuế đấtdai, đã có sự phân chia ruộng đất thành “tứ hạng điền, lục hạng thổ”

Sau tháng 7/1954 đất nước bị chia cắt, do vậy công trình nghiên cứu nóichung được thực hiện riêng lẻ trên từng miền

* Các công trình nghiên cứu ở miền Bắc.

Trang 15

- Năm 1975 V.M.Fridland cùng với các nhà khoa học Việt Nam: Vũ NgọcTuyên, Tôn Thất Chiểu, Đỗ Ánh, Trần Vân Nam, Nguyễn Văn Dũng đã tiến hànhkhảo sát và xây dựng sơ đồ thổ những miền Bắc Viêt Nam (tỷ lệ 1:1.000.000) xâydựng sơ đồ thổ những miền Bắc Việt Nam.

- Năm 1963 “Các quá trình thổ nhưỡng ở miền Bắc Việt Nam” đã đượcV.M.Fridland, Lê Duy Thước thực hiện và công bố tại Maxcơva

- Ban biên tập bản đồ đất Việt đã biên soạn dược bản đồ miền Bắc Việt Nam(tỷ lệ: 1:500.000) tổng kết quá trình điều tra từ cấp tỉnh, huyện và các nông trường

và trạm trại (Cao Liên, Đỗ Đình Thuần, Nguyễn Bá Nhuận)

- V.M.Fridland tập hợp các kết quả nghiên cứu đất Việt Nam trong cuốn

“Đất đỏ phong hoá nhiệt đới Việt Nam” được dịch ra tiếng việt năm 1973, dây dượcxem là tài liệu mô tả đầy đủ nhất về đặc điểm và qui mô của tài nguyên đất vùngđồng bằng sông Hồng

- Năm 1972 - 1974 Vũ Cao Thái, Bùi Quang Toàn đã tiến hành phân hạngđất cấp huyện và cấp xã tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình

Vụ quản lý ruộng đất và Viện Nông hoá thổ nhưỡng rồi sau đó là Viện Quyhoạch và thiết kế nông nghiệp đã có những công tình nghiên cứu và quy trình phânhạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡđất và xếp hạng thuế nông nghiệp Dựa vào chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái vàtính chất đất của từng vùng sinh thái nông nghiệp Đất đã được phân hạng thành 5-7hạng theo phương pháp xếp điểm

* Công tác nghiên cứu ở miền Nam.

- Bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam (tỷ lệ 1:1.000.000) doF.R.Moorman thực hiện (1961) là tài liệu đầu tiên có tính tổng quát về nghiên cứuđặc điểm thổ nhưỡng ở phía Nam

- Năm 1972 những bản đồ ở qui mô tỉnh (tỷ lệ 1:1.000.000 và 1:200.000) do

sở địa học Sài Gòn ấn hành Đồng thời những thuyết minh kèm theo trên từng vùngđất như “Đất đai miền châu thổ sông Cửu Long”, “Đất dai miền đông Nam bộ”

đây được xem là tài liệu cơ bản đầu tiên cho đất ở miền Nam dùng cho việc quy

hoạch sử dụng đất đai

Trang 16

- Năm 1974, đoàn chuyên gia Hà Lan đã xây dựng “bản đồ tài nguyên đấtđai” ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Đây là tài liệu đầu tiên ở Việt Nam nghiêncứu tài nguyên đất trong mối quan hệ tương hỗ với các yếu tố tự nhiên khác (khíhậu, thuỷ văn )

Những năm 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về đánh giá khả năng sử dụngđất đai bắt đầu được tiến hành ở Việt Nam Một số công trình sau đây đã đặt nềntảng cho công việc nghiên cứu dánh giá dất đai:

- Đánh giá phân hạng dất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nhómnghiên cứu) thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000 trên cơ sở dựa vào nguyêntắc phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặcđiểm thổ nhưỡng và địa hình, được phân công nhằm mục đích sử dụng đất đai tổnghợp, bao gồm 7 nhóm đất đai được phân lớp cho sản xuất nông nghiệp (2 nhóm kếtiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối cùng)

- Trong nghiên cứu đánh giá và qui hoạch sử dụng đất khai hoang ở ViệtNam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu, 1995) đã áp dụng và phân loại khảnăng của FAO Tuy nhiên, chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thuỷvăn, tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp) Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉdừng lại ở lóp (cĩass) thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất

Các nhà khoa học đất cuối cùng với các nhà qui hoạch sử dụng đất quản lýđất đai ở nước ta đã tiếp thu nhanh chóng tài liệu dánh giá đất dai của FAO, nhữngkinh nghiệp của các chuyên gia đánh giá đất quốc tế để ứng dụng từng bước chocông tác đánh giá đất ở Việt Nam

Ớ đồng bằng sông Cửu Long một sô nghiên cứu chuyên đề ở khu vực nhỏ

đã bước dầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (LêQuang Trí, 1989, Trần Kim Tính, 1986)

Trong khuôn khổ “Chương trình qui hoạch tổng thể Đồng bằng sông CửuLong (Dự án VIE 87/031), một nghiên cứu nhằm khái quát hoá khả năng sử dụngđất toàn vùng đồng bằng đã được thực hiện (M.E.F Van Mensvoost Nguyễn VănNhân 1983) làm cơ sở cho việc xây dựng các phương án sử dụng đất toàn vùng Tuynhiên kết quả đánh giá chỉ dừng lại ở việc xem xét các điều kiện tự nhiên liên quan

Trang 17

đến mục tiêu sử dụng đất Bên cạnh đó, một nghiên cứu về chuyên đề sử dụng đấtphèn và mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu long trong khuôn khổ dự án nói trên (VIE87/031) đã ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (1983),nhằm chỉ ra khả năng thích hợp về sử dụng đất của các loại đất có vấn đề ở ĐồngBằng sông Cửu Long Đây là những thử nghiệp đầu tiên ở Việt Nam, bước đầu ứngdụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng gắn với yếu tố kinh tế sử dụngđất, qua đó đánh giá đất đai không những ở phạm trù tự nhiên mà còn xem xét đấtdai ở khía cạnh kinh tế-xã hội.

Từ năm 1990 viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiềucông trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái vànhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư Nguyễn Khang, Phạm Dưng Ưng(1994) với “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam” Nguyễn CôngPho (1995) với “Đánh giá đất vùng Đồgn bằng Sông Hồng”, Nguyễn Khang,Nguyễn Văn Tân “Đánh giá đất vùng dự án đa mục tiêu E.A.Soup”, Nguyễn ChiếnThắng, Cẩn Tiển (1997) “Đánh giá đất tỉnh Bình Định”, Nguyễn Văn Nhân (1995)

“Đánh giá khả năng và sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”

Hàng loạt các dự án nghiên cứu, các chương trình thử nghiệm ứng dụng quitrình đánh giá đất đai theo FAO được tiến hành ở cấp từ vừng sinh thái đến tỉnh,huyện và tổng hợp thành cấp quốc gia đã được triển khai từ Bắc tới Nam và đã thudược kết quả khá quan, các nhà khoa học đất trên toàn quốc dã hoàn thành cácnghiên cứ đánh giá đất phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất ởcác vùng sinh thái lớn

- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kết quả

đã công bố của tác giả: Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995, Cao Liêm, Vũ ThịBình, Quyền Đinh Hà (1992 - 1993), Phạm Văn Lang (1992) Trong chương trìnhnghiên cứu vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO, các tác giả đã kết luận:Vùng đồng bằng sông Hổng có 33 đơn vị đất đai, trong đó có 22 đơn vị đất đaithuộc đồng bằng và 11 đơn vị đất đai thuộc đồi núi

Tổ chuyên gia thuộc Văn phòng dự án VIE/39/034 (1993) nghiên cứu đánhgiá đất vùng đồng bằng sông Hồng gồm có 7 nhóm chính

Trang 18

Nguyễn Khang (1993) khi nghiên cứu vận dụng đánh giá đất theo FAO thựchiện trên bản đồ tỷ lệ: 1:250.000 cho phép đánh giá mức độ tổng hợp phục vụ choquy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng, đã kết luận phân cấp chỉ tiêu xây dựngbản đồ đơn vị đất đai gồm 4 yếu tố đó là nhóm đất (10 chỉ tiêu), độ dốc (3 chỉ tiêu),

độ dầy tầng đất (3 chỉ tiêu), nước mặt (4 chỉ tiêu)

Các kết quả đánh giá mức độ thích hợp đất đai của các LƯT ở các cấp từtoàn quốc đến bền vững, tỉnh, huyện đều cho thấy có sự nhất quán tuân theo phươngpháp của FAO làm cơ sở cho phân hạng thích hợp đất đai Đây chính là bước lựachọn và phân cấp các chỉ tiêu phân hạng thích hợp đất đai Trong điều kiện của ViệtNam, phần lớn các tác giả của chương trình đánh giá đất đều lấy yếu tố đơn vị đấtđai hoặc tính chất đất làm cơ sở của xếp hạng và phân cấp chỉ tiêu cho đánh giá mức

độ thích hợp của các LUT

Tháng 01/1995, hội thảo quốc gia về đánh giá đất và qui hoạch sử dụng đấttrên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nôngnghiệp tổ chức với sự tham gia và đóng góp của nhiều nhà khoa học Hội nghị đãtổng kết và khẳng dịnh phương pháp đánh giá đất do FAO đề xuất, phù hợp với ViệtNam và kiến nghị Nhà nước cho triển khai ứng dụng Kết quả là dã xây dựng tài liệu

“Đánh giá dất và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững”(thời kỳ 1996-2000 và 2010) Từ những năm 1996 đến nay các chương trình đánhgiá đất cho các vùng sinh thái khác nhau, các tỉnh đến các huyện trọng điểm dãđược thực hiện và những tư liệu, thông tin có giá trị cho các dự án quy hoạch sửdụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở cấp cơ sở, xuất phát từ những nhu cầu sửdụng và quản lý tài nguyên đất, vấn dề nghiên cứu đất trên cơ sở đánh giá khá năng

sử dụng thích hợp đất đai ở Việt Nam hiện nay là cần thiết nhằm điều tra phân hạng

và định hướng sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất một cách hữu hiệu gắn vớiquan điểm sinh thái bền vững và bảo vệ môi trường Các kết quả bước đầu của cáchoạt động đánh giá đất đai trong thời gian qua với sự hỗ trợ và giúp đỡ tích cực củacác cơ quan nhà nước và quốc tế đã và đang góp phần hoàn thiện quy trình đánh giáđất của Việt Nam

Trang 19

Sử dụng đất nông nghiệp được đặt ra và xúc tiến năm 1962 do ngành nôngnghiệp chủ trì và được lồng vào các công tác phân vùng sử dụng đất nông, lâmnghiệp nhưng lại thiếu sự phối hợp của các ngành có liên quan Kết quả là xác địnhphương pháp phát triển nông lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ thường chỉ đạo ngànhchủ quán thông qua.

Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ngày càng được Nhà nước quan tâm và chỉđạo một cách sát sao bằng các văn bản pháp luật và coi như là một luận chứng cho

sự phát triển của nền kinh tế đất nước

2.2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SINH THÁI

2.2.1 Cơ sử lý luận về nông nghiệp sinh thái

2.2.1.1 Khái niệm nông nghiệp sinh thái

Trước hết cần hiểu rõ khái niệm hệ sinh thái Có nhiều định nghĩa khác nhau về

hệ sinh thái Odum (1971) đã định nghĩa hệ sinh thái là “ một cấu trúc và chức năngcủa tự nhiên” Ehrlich và Roughgarden (1987) cho rằng hệ sinh thái là “mối quan hệgiữa các tổ chức và môi trường sinh học và vật chất của chúng” Như vậy, sinh thái đềcập đến tính chất tự nhiên, vốn có của một hệ thống cân bằng giữa các yếu tố sự sống

và môi trường tự nhiên tồn tại trên trái đất của chúng ta

Theo Miguel A Altieri (2001), nông nghiệp sinh thái là một khoa học nôngnghiệp sử dụng lý thuyết sinh thái để nghiên cứu, thiết kế, quản lý và đánh giá hệ thốngnông nghiệp đạt được năng suất và đảm bảo duy trì, tái tạo nguồn lực Nông nghiệpsinh thái nghiên cứu và đánh giá hệ thống nông nghiệp từ ba khía cạnh sinh thái, kinh tế

và xã hội để nhằm đạt dược ba mục tiêu: môi trường (trong sạch, không ô nhiễm), kinh

tế (năng suất chất lượng hiệu quả) và xã hội (xoá đói giảm nghèo tạo việc làm công bằng xã hội) Để đạt được các mục tiêu trên, nông nghiệp sinh thái dựa vào nềntảng khoa học của sự phát triển bền vững trong đó sự tương tác giữa các yếu tố trong hệthống của nó hướng tới việc duy trì mối quan hệ cân bằng, bền vững của các yếu tốtrong hệ sinh thái bao gồm những cơ thể sống của con người, cây trồng, vật nuôi và cácyếu tố môi trường tự nhiên như đất đai, thời tiết, khí hậu, nước, năng lượng

-Khái niệm về nông nghiệp sinh thái không chỉ dược hiểu theo tiếp cận mục tiêu

mà còn có thể được xem xét theo tiếp cận phương pháp sản xuất Theo tiếp cận mục

Trang 20

tiêu, nông nghiệp sinh thái đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững của hệ thống và nócũng là một trong các phạm trù của nông nghiệp bền vững - một khái niệm cơ bản,quan trọng khác cũng xuất hiện vào thời điểm đó Theo tiếp cận về phương pháp sảnxuất, nông nghiệp sinh thái là phương thức sản xuất nông nghiệp sinh học hoặc hữu cơ,nhằm vào mục tiêu bảo vệ môi trường và duy trì các mối cân bằng của đất và hệ sinhthái nông nghiệp.

2.2.1.2 Đặc điểm của nông nghiệp sinh thái

- Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch trong đó sản phẩm phi

ăn uống (cảnh quan, môi trường) rất được coi trọng: Nông nghiệp thuần tuý thường coitrọng sản phẩm ăn uống như lương thực, thực phẩm, nhưng nông nghiệp sinh thái vớimục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống lại nhấn mạnh cả cảnh quan môitrường tươi đẹp và không khí trong lành Tất cả các sản phẩm này phải đảm bảo sạch,trong đó các sản phẩm ăn uống trước hết phải an toàn, không bị nhiễm độc tố, sau đóphải có đầy đủ hàm lượng các chất dinh dưỡng, vi ta min và khoáng chất cần thiết cho

sự phát triển thể lực của con người Sản phẩm phi ăn uống bao gồm môi trường tự nhiênhài hoà, trong sạch, những khu vui chơi, giải trí trong lành, tươi đẹp để đáp ứng nhu cầutinh thần cho dân cư Những vành đai xanh quanh thành phố, những hồ nước kết hợpnuôi thả với du lịch sẽ vừa thoá mãn nhu cầu tinh thần của con người, vừa điều hoà khíhậu và bảo vệ các nguồn lực của sản xuất

- Công nghệ sản xuất của nông nghiệp sinh thái thống nhất giữa kỹ thuật địaphương, truyền thống với công nghệ hiện đại: Để bảo vệ môi trường trong khi vẫn đảmbảo an ninh lương thực, nông nghiệp sinh thái có xu hướng giảm sử dụng các yếu tốhoá học, tăng cường áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ sinh học vàcác kỹ thuật truyền thống, tái tạo nguồn lực Công nghệ sinh học (lai ghép, nuôi cấy mô

tế bào, công nghệ gen) ngày nay được coi là động lực của sự phát triển Các giống mới

sẽ cho phép cây trồng, vật nuôi tự chống chọi sâu bệnh, từ đó loại trừ việc sử dụng cáchoá chất Công nghệ truyền thống sử dụng phân vi sinh, hữu cơ (phân chuồng, phânxanh), các cây họ đậu hoặc kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống sói mòn vẫn đang lànhững phương pháp thích họp, không thể thay thế được ở nhiều nơi trên thế giới (chiếm5-10% diện tích canh tác ở châu Âu) Công nghệ sản xuất rau thuỷ canh đối với nông

Trang 21

nghiệp đô thị cũng được phát triển phổ biến ở các nước châu Phi và một số nước châu á.Công nghệ này sử dụng môi trường dung dịch và nước sạch, lao động gia đình với kỹthuật truyền thống để trồng nhiều loại rau, cho thu nhập cao, tốn ít không gian, đặc biệt

là kết hợp với kỹ thuật quản lý sâu bệnh tổng hợp (IPM), giảm tác hại môi trường Côngnghệ sản xuất hoa tươi hoặc nuôi trồng sinh vật cánh không sử dụng nhiều đến các máymóc hiện đại mà đòi hỏi bàn tay khéo léo, tinh xảo, óc thẩm mỹ tinh tế, kết họp vớicông nghệ vi sinh và sinh học dể điều khiển quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa

và sinh vật cánh

- Mô hình sản xuất của nông nghiệp sinh thái sản xuất nông nghiệp kết hợp: Môhình sinh thái nông nghiệp kết hợp nhằm tạo lập lại đa dạng sinh học bằng cách bố trícác hệ thống cây trồng và vật nuôi xen kẽ hoặc sử dụng các phương thức sản xuất đacanh, luân canh và trồng xen có thể bổ sung cho nhau trong việc cung cấp chất dinhdưỡng, bảo vệ đất, diều hoà khí hậu, tạo cảnh quan môi trường Nhiều quốc gia đã pháttriển, hoặc đang phát triển thực hiện cách mạng xanh trong nông nghiệp, do chạy theonăng suất và lợi nhuận đã đầu tư thâm canh dài hạn trên những trang trại quy mô lớnmột số loại sản phẩm chính cho năng suất và lợi nhuận cao Chiến lược đó đã làm đấtđai nghèo kiệt nếu sử dụng đất không hợp lý Các mô hình nông nghiệp kết hợp được radời ở nhiều nước trên thế giới (Chi Lê, Cu Ba, Sengal, Tanazia, Ethiopia, Philipin,Thailand, Trung Quốc, Việt Nam ) Bằng phương pháp thực nghiệm, so sánh các côngthức trồng trọt khác nhau để chọn các công thức kết hợp các cây trồng trên một mánhđất thích hợp với tùng vùng sinh thái, các mô hình này đã cho kết quả cao về cả năngsuất cây trồng, vật nuôi, hiệu quả môi trường và duy trì nguồn lực

- Tổ chức sản xuất của nông nghiệp sinh thái bao gồm những hình thức năngđộng, dễ dàng úng dụng công nghệ của nông nghiệp sinh thái (kinh tế trang trại, kinh tếhộ), và bố trí để đạt được yêu cầu cảnh quan không gian sinh thái: Nông nghiệp sinhthái coi trọng hình thức kinh tế trang trại và kinh tế hộ vì đây là những thành phần kinh

tế phù hợp với các diều kiện của nông nghiệp sinh thái về quy mô đất đai, lao động,điều kiện áp dụng công nghệ và mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái Trang trại làđịa bàn thuận lợi để phát triển các mô hình nông nghiệp kết hợp và ứng dụng công nghệcao và công nghệ sạch Tại những vùng đất đai rộng lớn xa đô thị, trang trại cũng là

Trang 22

hình thức thích hợp để hình thành các vùng nông nghiệp tập trung (hoa quả, rau, bò sữa,nông nghiệp du lịch sinh thái ) Các khu nông nghiệp liên hợp công nghệ cao của nhànước hoặc vốn đầu tư nước ngoài rất quan trọng trong khâu đầu vào, đầu ra và kỹ thuậtsản xuất cho các vùng nông nghiệp sinh thái được bố trí ở từng vùng, ở quy mô nhỏhơn, các hộ gia đình nông dân cũng hoàn toàn thích hợp với việc phát triển các sảnphẩm sinh thái Đặc biệt, nông nghiệp sinh thái có thể phát triển ngay trong lòng đô thịvới quy mô gia dinh, ở ven đường phố, trên nóc nhà cao tầng hoặc ven các bờ tường đểsản xuất các sản phẩm như rau quá sạch, hoa, hoặc sinh vật cảnh Các doanh nghiệpnhà nước hoặc hợp tác xã sẽ không thể làm tốt những nhiệm vụ này Khác với nôngnghiệp thông thường là hình thành một vành đai lương thực, thực phẩm quanh đô thị, bốtrí sản xuất của nông nghiệp sinh thái dựa trên tầm nhìn dài hạn về yêu cầu cảnh quanmôi trường, do đó hình thành nên các vùng nông nghiệp tập trưng đan xen với các khư

đô thị

2.2.2 Lý luận về nông nghiệp đô thị sinh thái

2.2.2.1 Khái niệm vê nông nghiệp đô thị sinh thái

- Sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuấtnông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp vớiđiều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, môi trường và quần thể sinh vật tạonên hệ sinh thái nông nghiệp Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi pháthuy mọi ưu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nôngnghiệp sinh thái Nhiều học giả cũng cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính lànông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái, hay bền vững đều mang lạihiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệpmang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bềnvững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái

Nôm> nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản

xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặtnước xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP) Nông nghiệp đô thịnói một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sán xuấtnguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và

Trang 23

các vùng ven đô Khái niệm này có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnhthổ của một đô thị.

Sán xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp,thuỷ sản) diễn ra trong các thành phố gọi là nông nghiệp nội đô, diễn ra ở ngoạithành thì gọi là nông nghiệp ngoại đô Điều này dãn đến đặc điểm sự khác biệt giữanông nghiệp nội đô, nông nghiệp giáp ranh, nông nghiệp ngoại đô hay ngoại thành.Nông nghiệp đô thị sẽ dược phân chia theo các vành đai khác nhau do tínhchất và đặc thù của nó Có thể phân chia theo các khu vực dưới đây:

- Nông nghiệp nội đô

- Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm

- Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành)

Do đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và môi trường của mõi vùng khác nhaư,cho nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau, chính điều đó hình thànhtính đa dạng của nông nghiệp đô thị Kế thừa các công trình nghiên cứu của các họcgiả có thể nêu khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái

Khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái: nông nghiệp đô thị sinh thái là một

quá trình sản xuất được bố trí phù hợp với diều kiện tự nhiên của từng dô thị nhằmkhai thác triệt để các tiềm năng với công nghệ sản xuất sạch tạo ra sản phẩm chấtlượng cao, an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan tạo ra hệsinh thái bền vững

Theo PGS.TS Phạm Văn Khôi “Nông nghiệp đô thị sinh thái là một nền nông nghiệp sinh thái trong thành phố, thị trấn hoặc các khu đô thị Đây là nền nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất, chế hiến và tiêu thụ nông sản, phát triển dịch vụ nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàmị ngày của con người cả về vật chất lẫn tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản xuất khoa học, các mô hình sử dụng và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới sự phát triển hên vững môi trường sinh thái trong các khu đô thị” [19].

Khái niệm này chỉ ra các nội dung chủ yếu:

Trang 24

- Sản xuất nông nghiệp được bố trí và sản xuất phù hợp với điều kiện của mỗivùng, tạo ra sự tác động hữu cơ, đảm bảo cân bằng sinh thái, đạt hiệu quả sản xuấtcao.

- Quá trình sản xuất nông nghiệp trên diễn ra ở vùng xen kẽ, hay tập trungcác vùng đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô

- Sản xuất nông nghiệp trên tạo ra mối quan hệ hữu cơ trong ngành và đảmbáo sự cân bằng sinh thái, tính hiệu quả và bền vững Đồng thời tác động tích cựcđến cải tạo môi trường sinh thái của vùng đô thị

- Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn thựcphẩm, giữ gìn sức khoẻ và nhu cầu cho người tiêu dùng

Theo khái niệm này, nội dung và ý nghĩa của nông nghiệp sinh thái đô thị đãdược đề cập một cách khá toàn diện và sát với thực tiễn Không gian phân bố của nócũng sẽ thích ứng với từng điều kiện cụ thể về quy mô đất đai ở đô thị và xét trênbình diện rộng, nó đảm bảo được sự kết nối hài hòa giữa hệ sinh thái đô thị với các

hệ sinh thái tự nhiên và nông thôn Nông nghiệp sinh thái đô thị khai thác hợp lýtiềm năng cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo để phát triển đa dạng Nông nghiệpsinh thái đô thị sử dụng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến dểnâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giữ gìn tốt môi trường sinh thái - sảnxuất sạch, không làm thoái hóa đất bằng thay thế các kỹ thuật phân bón và nôngdược ; phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp với phương thức sản xuất nôngnghiệp hiện đại Từ đó, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất và am hiểu khoa học - kỹthuật và công nghệ trong canh tác của nông dân, ngày càng nâng cao và dân trí cũngtương ứng với mặt bằng dân trí đô thị; đảm bảo việc làm ổn định cho nông dân trongquá trình CNH, ĐTH và có cơ sở để nâng cao thu nhập tương ứng với thị dân [28] Nông nghiệp dô thị sinh thái là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vànhững tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ sinhhọc, đảm bảo dược cân bằng của các yếu tố tự nhiên như: đất, nước, nhiệt độ, độẩm, có vai trò quan trọng để hạn chế những tác động của quá trình đô thị hoá như:lọc sạch bầu không khí, làm sạch nguồn nước thải và giảm tiếng ồn và tạo cảnhquan văn hoá cho đô thị,

Trang 25

Nông nghiệp đô thị sinh thái, ngoài việc cung cấp lương thực, thực phẩm chấtlượng cao, an toàn, mà còn có tác động làm giảm tiêu cực của quá trình đô thị hoáđến môi trường nhờ tác động cải thiện vi khí hậu, bảo tồn và làm giầu tính đa dạngsinh học, giá trị cảnh quan, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngoài ra, nông nghiệp

đô thị còn tạo cơ hội cung cấp công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho một bộphận dân cư đô thị Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt là côngnghệ sinh học, sẽ góp phần làm tăng năng suất và chất lượng nông sản tạo cơ hộiphát triển công nghiệp chế biến, thương mại dịch vụ, cho hiệu quả kinh tế cao vàbền vững Do đó, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái bền vững là xu hướng tấtyếu của quá trình phát triển nông nghiệp tương lai [19]

Như vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp không chỉ cung cấpcho thị trường những nông sản thông thường, mà còn cá những nông sản cao cấp vànhững nông sản đáp ứng nhu cầu về tinh thần của người dân đô thị như: Cải thiệnmôi trường sống, điều hoà khí hậu, làm đẹp cảnh quan Những sản phẩm này sẽngày càng được coi trọng hơn trong quá trình đô thị hoá khi mà dân trí và điều kiệnvật chất của người dân ngày càng được nâng cao

2.2.22 Những đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái

Phát triển nông nghiệp ven đô với mục đích đầu tiên đó là phát triển nôngthôn ven dô chứ không phái là để thoả mãn nhu cầu của dô thị Bởi thế, cần phảihiểu đặc trưng của nông thôn ven đô, trước khi hiểu nông nghiệp đô thị sinh thái.Nông thôn ven đô thường có các đặc điểm sau:

- Có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng cơ học Dân số ven

dô luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi khác đến Kết quả làtồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và nghề nghiệp Rấtnhiều người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc, cáchoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và nóthu hút đặc biệt là lực lượng lao động trẻ Cơ sở hạ tầng nông thôn khá tốt, nhưngđôi khi không gian nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh hoạt và lao độngcủa người dân

Trang 26

- Tinh trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mởrộng các vành đai đô thị ra bên ngoài Tốc độ đô thị hoá, khả năng quy hoạch đô thị,chính sách và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổnđịnh của nông nghiệp ven đô Đất đai nông nghiệp có xu thê giảm mạnh Nôngnghiệp ảnh hưởng nhiều của sự ô nhiễm đô thị Các thành phố càng phát triển càngtồn tại nhiều các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, do đất dai ngày một đắt và bịmất đất vì đô thị hoá.

- Nông nghiệp ven dô có nhiều lợi thế về thị trường Tận dụng lợi thế gầnthành phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống,rau, sữa, quả tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó

Đó là nông nghiệp không (hoặc ít) mang tính mùa vụ Tuy nhiên, sản phẩm đặc sảncủa một số vùng nhỏ ven đô vẫn có thể tồn tại và phát triển nhờ thị trường tiêu thụluôn mở rộng Các sản phẩm đặc biệt khác như hoa, cây cảnh cũng có cơ hội pháttriển

- Nông nghiệp sinh thái làm cho năng suất thấp hơn: Ngô 10%, đậu 5% , sovới nông nghiệp thường Trong điều kiện thuận lợi nông nghiệp sinh thái cho năngsuất thấp hơn nông nghiệp thường; Nhưng trong điều kiện không thuận lợi nôngnghiệp sinh thái cho năng suất cao hơn Khoảng sau 3-4 năm luân canh, nôngnghiệp sinh thái có năng suất tăng lên rõ rệt

- Nông nghiệp sinh thái dùng ít năng lượng hơn nông nghiệp nhưng vì năngsuất của nông nghiệp sinh thái thấp hơn nên thu nhập thuần giữa hai phương thứcgần như nhau

- Nhu cầu lao động trong nông nghiệp sinh thái có phần cao hơn so với nôngnghiệp thường Nông nghiệp sinh thái đi đôi với việc giữ gìn đa dạng sinh học ở cáccửa hàng ta thấy có các loài và giống cây trồng hiện nay đã biến mất trên thị trườngnhư các loại ngũ cốc: Kê, ý dĩ; các loại củ như: Từ, môn, củ mài và các loại rau, quả

tự nhiên, các loại thịt lợn rừng, gà rừng v.v

Bởi vậy do yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm nông nghiệp sinh học,nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp công nghệ cao có nhiều cơ hội phát triển

Trang 27

2.2.23 Mục đích, mục tiêu phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

- Nông nghiệp đô thị phát triển theo hướng tiên tiến hiện đại đáp ứng nhu cầu

về văn hoá - xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung và thành phô nói riêng

- Giải quyết lao động dôi dư cho các phường có đất nông nghiệp bị thu hồi vàcác phường, các vùng phụ cận góp phần ổn định chính trị xã hội nâng cao mức sống

và thu nhập cho cộng đồng dân cư

- Bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát triển một số giống cây ănquả, cây cảnh quý hiếm

2.2.3 Quan điểm về phát triển nồng nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững.

Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng có tính quyết địnhtrong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vữngmới chỉ hình thành rõ nét từ những năm 1990 thông qua các cuộc hội thảo và xuấtbản (Edwards et al; 1990; Singh et al; 1990) Điều cơ bản nhất của phát triển nôngnghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môitrường để gìn giữ tài nguyên cho những thế hệ sau Có rất nhiều định nghĩa về nôngnghiệp bền vững tuỳ theo tình hình cụ thể:

Theo FAO: nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyênnông nghiệp đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn và cảithiện tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái (FAO, 1989)

Trang 28

Theo PlCre Croson (1993): một hệ hống nông nghiệp bền vững phải đáp ứngnhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp, có hiệu quả kinh tế, môi trường và

xã hội gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người Đáp ứng nhu cầu là sản phẩm quantrọng cần đưa vào định nghĩa vì sản phẩm nông nghiệp cần thiết phải được tăngtrưởng trong những thập kỷ tới đem lại phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa sốdân trên thế giới đều còn rất thấp

Theo Nông nghiệp Canada: hệ thống nông nghiệp bền vững bao gồm quán lý

có hiệu quá tài nguyên cho nông nghiệp dể đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lươngthực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môitrường sống cho đời sau (BalCr , 1990)

Theo Bill Mollison và Remy Mia Slay thì nông nghiệp bền vững được địnhnghĩa như sau: “việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người: đó là mộttriết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữatiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu củacon người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả”

Douglas (1984): hệ thống nông nghiệp bền vững (HTNNBV) là hệ thống sx

dủ lương thực trong một thời gian dài mà không phá huỷ các nguồn lợi thiên nhiên,đồng thời phải đảm bảo tính bền vững xã hội cộng đồng, dược dựa trên nền tảng đạođức, ý thức và mối quan hệ của con người với các thế hệ tương lai và với các loàisinh vật khác

Conway (1987): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống phải duy trìđược năng suất sinh khối (sinh khối/đơn vị diện tích/đơn vị thời gian) theo thời gian

từ thập kỷ đến thế kỷ

Okigbo (1991): HTNNBV là hệ thống có sản lượng chấp nhận được hoặctăng lên, thoả mãn các nhu cầu của con người ngày một nâng cao; một hệ thống cónăng suất tăng liên tục, đảm bảo có hiệu quả kinh tế cao và an toàn sinh thái, thôngqua sự quán lý các nguồn lợi thiên nhiên và đầu tư, với những tổn hại ít nhất đếnmôi trường và ít nguy hiểm nhất đối với con người

Trang 29

Greeland (1994): HTNNBV là hệ thống quản lý đất bền vững, không làm suythoái đất, hoặc làm ô nhiễm môi trường trong khi đáp ứng được những nhu cầu cầnthiết của cuộc sống con người

Eckert và Breitchuh (1994): NNBV là sự quản lý và sử dụng hệ sinh tháinông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh vàhoạt động của nó, để nó có thể hoàn thành những chức năng kinh tế, xã hội và sinhthái ở hiện tại và trong tương lai trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu, màkhông làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song về nội dung thường bao gồm 3thành phần cơ bản sau:

1 Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thốngnông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường

2 Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mốiquan hệ con người cho cả đời sau

3 Bền vững thể hiện tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý

Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tàinguyên đất dai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế,năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế

hệ và hạn chế rủi ro

Mục dích của nền nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững

về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoã mãn những nhu cầu củacon người mà không làm huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường

Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản suất lươngthực thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ thống tựnhiên Nông nghiệp bền vững là một hệ thống trong đó con người tồn tại và sử dụngnhững nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụngnguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục phá hoại nhữngnguồn tài nguyên đó Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã

có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái 1161

Trang 30

Trong nông nghiệp việc lạm dụng phân hoá học và các hoá chất bảo vệ thựcvật đã làm hỏng cấu tượng và nhiễm độc đất, làm ô nhiễm môi trường, không khí, ônhiễm nguồn nước Việc công nghiệp hoá nông nghiệp theo mục đích thu lợi nhuậntối đa đã mang lại những hậu quả Có thể nói, chúng ta đang sống trong một cuộckhủng hoảng môi trường toàn cầu Những năm gần đây, nhiều hội nghị thượng đỉnh

đã hợp bàn tìm cách giải quyết những vấn đề trên, nhưng việc thực thi các nghịquyết gặp nhiều khó khăn trở ngại và kết quá thu được chưa cao Nông nghiệp bềnvững có thể góp phần tìm ra những giải pháp cho những vấn đề trên

Trong nông nghiệp bền vững, chúng ta thiết kế và xây dựng những hệ sinhthái và phải áp dụng những kỹ thuật khác nhau tuỳ vào điều kiện khí hậu, đất đaikinh tế xã hội của từng địa phương [17] Các yếu tố cần được đặt trong mối quan hệ

hỗ trợ nhau Mỗi yếu tố phải đảm bảo ít nhất hai chức năng, mỗi yếu tố trong hệthống phải dược chọn lọc và đặt vào vị trí có thể bảo đảm được nhiều chức năngnhất Hồ ao có thể dùng để tưới cây, cung cấp nước uống cho gia súc, trữ nước cứuhoả, cũng có thể là nơi nuôi cá, nuôi vịt Nước ao hồ làm tăng nhiệt độ mùa đông vàlàm môi trường mát đi vào mùa hè Đập chứa nước có thể làm đường đi, trồng cây.Hợp tác chứ không cạnh tranh, làm cho mọi thứ đều sinh lợi, không bỏ phí thứ gì,thí dụ có thể sử dụng nước thải, các chất hữu cơ phế bỏ để ủ phân rác Chỉ làm việc

gì khi việc đó mang lại hiệu quả, tận dụng mọi thứ tới khả năng cao nhất của nó Chíphí đầu tư thấp nhất để đạt dược năng suất cao nhất Đó là những nguyên lý cơ báncủa nông nghiệp bền vững, mặc dù các chuyên gia về nông nghiệp bền vững đềuthống nhất với nhau về nền tảng đạo đức và nguyên lý nói trên

Như vậy, triết lý của nông nghiệp bền vững là phái hợp tác với thiên nhiên,tuân thủ những qui luật của thiên nhiên, không chống lại thiên nhiên Phải xem xéttoàn bộ hệ thống trong sự vận động của nó, không tách rời từng bộ phận; phải suynghĩ đến lợi ích của toàn cục, không vì lợi ích của bộ phận mà làm hại đến toàn cục.Tấn công vào thiên nhiên chính là tự tấn công vào mình và cuối cùng tự huỷ diệt.Như vậy, nông nghiệp bền vững không thu hẹp trong phạm vi nông nghiệp mà còntham gia vào việc giải quyết nhiều vấn đề lớn của toàn cầu

23 TÌNH HÌNH NGHIÊN cúu NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI

Trang 31

2.3.1 Tình hình chung

Trong vài chục năm qua nông nghiệp đô thị phát triển nhanh song song vớiquá trình đô thị hóa Ở Hoa kỳ, từ 1980 đến 1990 nông nghiệp đô thị tăng 17%, ởNhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Sĩ cũng tăng mạnh

Trong 25 năm cuối của thế kỷ 20 trong thế giới đô thị hóa, xuất hiện một xuhướng ngược lại với quá trình tách rời giữa quá trình xây dựng đô thị hiện đại vớinông nghiệp - công nghiệp hóa xảy ra từ thế kỷ 19 Chính sự phát triển của nôngnghiệp đô thị đã hài hoà hai quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp hiện đại.Trong các năm 1970 nông nghiệp đô thị còn ít được chú ý, ở một số nước châuPhi bắt đầu xây dựng các dự án nông nghiệp đô thị như ở Ghana, Zaire, Zambia vói sựgiúp đỡ của Pháp FOA, ƯNICEF Sang các năm 1980 nhiều tổ chức phát triển của cácnước và tổ chức quốc tế hỗ trợ nhiều dự án ở châu Phi, Á, Mỹ Latinh Sang các năm

1990 thì phong trào nông nghiệp đô thị phát triển mạnh ở nhiều nước và bắt đầu pháttriển cả ở các nước đã phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan Nhiều tổ chức quốc tế

về nông nghiệp đô thị ra đời, thúc đẩy việc nghiên cứu về vấn đề này Các tổ chức phichính phủ tham gia vào phong trào này ngày càng đông từ thực tiễn phát triển nôngnghiệp đô thị của các nước có thể rút ra mặt tích cực của nông nghiệp đô thị: Đô thị có

xu hướng phát triển với mật độ dân số thấp hơn trước nên có nhiều đất để làm nôngnghiệp Nông nghiệp đô thị có hiệu quả và tính cạnh tranh cao hơn nông nghiệp nôngthôn, nhất là trong những ngành rau, thuỷ sản, gia cầm, lợn Nông nghiệp đô thị ở cácnước đang phát triển nhằm tạo an ninh thực phẩm, việc làm, môi trường còn ở các nướcđang phát triển thì nhằm vào chất lượng cao

Theo các dự báo từ năm 1993 đến 2005, nông nghiệp đô thị tăng tỷ lệ tự túcthực phẩm từ 15% lên 33%, phần rau, thịt, cá, sữa dùng ở dô thị tăng từ 33 lên 50%,

số nông dân ra đô thị sản xuất hàng hóa tăng từ 200 lên 400 triệu người Công nghệtrong nông nghiệp đô thị bắt đầu phát triển nhanh và trong thời gian tới sẽ phát triểnrất nhanh Châu á là một vùng có nhiều châu thổ đông dân Vấn đề phát triển củacác châu thổ này từ lâu đã là một đề tài mà nhiều ngành khoa học quan tâm VùngNam và Đông Nam châu á có hai loại châu thổ: Châu thổ đông dân (trên 300 dân

Trang 32

một km2), có 250.000km2 với 120 triệu dân và châu thổ thưa dân có 120.000 km2 với

10 triệu dân

Trước sự phát triển nhanh của nền nông nghiệp dô thị ở các nước có tốc độ

đô thị hoá rất cao, nhiều tổ chức trên thế giới đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và có hỗtrợ chương trình này Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua các chươngtrình định hướng như: AGA Sub - Programme on Peri-urban Production Sytems ơnanimal production, health and veterinary public health, chương trình Food supply anDistribution to cities (AGSM), chương trình Urban and Peri-urban íorestry Qua cácchương trình này, FAO nghiên cứu các hoạt động nông nghiệp, hỗ trợ chính sách,trợ giúp kỹ thuật xây dựng các đặc trưng về nông nghiệp đô thị và ven đô thị Ngoài

ra, còn nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ nghiên cứu vấn đề này, như:UNDP, IDRC, WB, Bên cạnh đó, một sô tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc như:ƯNHCR, ƯNICEF, UNWHO cũng tham gia vào nghiên cứu

2.3.2 Nông nghiệp đô thị ở các nước phát triển

- Ớ Hoa Kỳ, trong số 2 triệu nông trại có 696.000 nông trại (chiếm 33%) ởtrên đất đô thị, các nông trại này chiếm trên 16% diện tích, sản xuất ra 35% sảnphẩm trồng trọt và chăn nuôi Khoáng 25% nông hộ tham gia nông nghiệp đô thị,sản xuất 38 triệu USD thực phẩm Có khoảng 1000 dự án nông nghiệp vùng ven đôthị Từ 1980 đến 1990 nông nghiệp đô thị của Hoa Kỳ tăng 17% Năm 1994, có30.000 nông trang tham gia vườn công cộng, trong đó thành phố NewYork có 1000vườn, Boston có 400, San Francisco có 100 Các nông trại đô thị bán nông sản gấp

13 lần trên một acre nông trại nông thôn Các nông trại đô thị nông nghiệp hữu cơphát triển nhiều hơn Các hiệu ăn ở Chicago và Washington mua 80% sản phẩmsản xuất ra ở vùng ven đô thị ở miền Nam California nơi có giá đất cao nhấtthế giới nhưng lại là nơi có nông nghiệp dô thị phát triển nhất, hoa và câycảnh sản xuất nhiều trong nhà kính và ngoài trời ở đây

- Ó Canada có 11% diện tích đất tự nhiên (105 triệu ha) có thể phát triểnnông nghiệp, trong đó chỉ có 43% dất trồng trọt có hiệu quả cao (45,9 triệu ha),nhưng có khoảng 1/3 đất này nằm trong các vành đai đô thị Gần 55% đất tốt nằmtrong vòng bán kính 161 km của 23 đô thị lớn, từ 1950 đô thị hóa xảy ra trong loại

Trang 33

đất này Canada phát triển mạnh nông nghiệp đô thị, hình thức vườn cộng đồng đượcphát triển phổ biến từ năm 1970 Các đô thị trích một phần đất chia cho dân với một

tỷ lệ nhất định để phát triển các nhà vườn Thành phố Montreal và Toronto có10.000 khu đất chia cho dân Vancouver đã phát triển hình thức này hon 20 nămnay

- Tại Berlin - Đức, có 15% đất dùng để phát triển đô thị, có 80.000 nhà vườnThành phố SanPetecbua - Nga có 500.000 nhà vườn Ớ Luân Đôn - Anh, tỷ lệkhông gian xanh chiếm 60%, người dân Luân Đôn có thể bảo đảm 18% nhu cầu cây

ăn quả và rau quả của họ Ớ Thượng Hải - Trung Quốc, Nông nghiệp đô thị và ven

đô sản xuất ra hon 50% thịt lợn và gà, hơn 90% trứng và sữa Theo ước tính, hiệnnay có khoảng 800 triệu dân cư đô thị trên thế giới kiếm sống nhờ sản xuất lươngthực thực phẩm

- Hà Lan là một nước dứng hàng đầu trên thế giới về nhiều mặt hàng nông sảncó

giá trị kinh tế cao, mặc dù là quốc gia có tốc độ phát triển đô thị rất cao nhưng cũng cónền nông nghiệp phát triển rất mạnh nhất là bộ phận nông nghiệp ở ven đô Phát triểnnông nghiệp đô thị và ven đô ở Hà Lan được xem như là giải pháp cơ bản trong pháttriển

nông nghiệp bền vững Ớ Hà Lan nông nghiệp đô thị chiếm 33% sản lượng nôngnghiệp là từ Nhiều hộ nông gia nông thôn chuyển thành nông gia đô thị do thay đổivành đai ven dô ở các thành phố của Hà Lan, để khắc phục khó khăn trong việcquản lý chất lượng rau xanh đã tiến hành kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm tạinơi tiêu thụ Đồng thời xây dựng mạng lưới chợ rau xanh để quản lý chất lượng sảnphẩm và báo vệ người tiêu dùng Điều đó đã tác động tích cực đến sản xuất, buộccác nhà sản xuất phải cải tiến quy trình sản xuất, tuân thủ các quy định về chấtlượng để tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường

- Ớ Nga, nông nghiệp đô thị có truyền thống lâu dời với các nhà vườn ở ngoại

ô, vào cuối tuần dân đô thị đến nghỉ ngơi và trồng trọt, khoảng 30% thực phẩm dượcsản xuất từ các nhà vườn này ở ngoại ô Thành phố St.Peterburg có 500.000 nhàvườn của dân dô thị, lượng rau quả sản xuất ở đây đã bổ sung đáng kể nguồn rauxanh của thành phố ở Moskva số người làm nông nghiệp tăng 3 lần từ 1972 dến

Trang 34

2.3.3 Nông nghiệp đổ thị ư các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển đã bắt đầu phát triển nông nghiệp đô thị trước Vàocác năm 1970, Ghana ở châu Phi phát triển nông nghiệp đô thị để giải quyết vấn đềthực phẩm, tập trung trước tiên vào sản xuất chuối bột, đậu bắp, lúa gạo và rau

Ớ ven đô của Zambia tập trung phát triển sản xuất rau và gia súc nhỏ từ năm

1980 phong trào này mở rộng ra Mozambique, Lesotho, Bostvana, Kenya, Chile,Philipin, Peru Từ 1990 phong trào nông nghiệp đô thị đã mở rộng ra hầu hết cácnước đang phát triển Nhiều điển hình nông nghiệp đô thị đã được tổng kết, phổ biến

ở các hội nghị quốc tế Phong trào đã phát triển mạnh sang cả châu Mỹ latinh với cácđiển hình như Cuba, Braxin, Arhentina, Peru

- Nông nghiệp đô thị ở châu á: ở châu á trước kia quy mô dân số các đô thịphụ thuộc vào lượng thực phẩm sản xuất ra để cung cấp cho đô thị Với sự phát triểncủa giao thông cước phí vận chuyển lương thực thực phẩm được chở từ các vùngkhác đến, do đó thư nhập đã trở thành nhân tố quyết định Tinh trạng thiếu ăn vànghèo khổ ở các dô thị trở thành một vấn đề gay gắt Việc sản xuất thực phẩm trongnội đô thị và vùng ven đô trở thành một nhu cầu: Do đô thị hóa, đất nông nghiệpvùng ven dô mất dẩn Đồng thời do sự đầu cơ đất nên việc bỏ hoang hay sử dựngkém hiệu quả đất ven đô cũng trở nên phổ biến do sự đầu cơ đất Do đó các nhà lãnhđạo và các nhà làm quy hoạch cho rằng không nên làm nông nghiệp trong đô thị, dovậy trong quy hoạch đô thị không có nông nghiệp, nông nghiệp đô thị dần lạc hậu

và giảm đi Các nước châu á phát triển ngày càng phụ thuộc vào thực phẩm nhập.Hiện nay nông nghiệp đô thị ở các nước châu á là phát triển vì cá là thức ăn chủ yếucủa người dân châu á Xu hướng phát triển cây có giá trị hàng hóa cao và chăn nuôithay cho cây lương thực, phát triển nhà vườn đã trở lên phổ biến, lâm nghiệp đô thị ítphát triển Nông nghiệp đô thị thường thâm canh cao và có kết quả

- Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đô thị tại Trung Quốc: Trung Quốc cómột chiến lược đô thị hoá phi tập trung với nhiều đô thị nhỏ trong nông thôn và nhưvậy nông nghiệp nông thôn cũng sẽ biến đổi VI vậy, nghiên cứu nông nghiệp đô thịnày có thể thấy dược phần nào hình ảnh của nông nghiệp nông thôn trong tương laigần Trong hoàn cảnh Trung Quốc tham gia WTO thì lợi thế so sánh của Trung

Trang 35

Quốc sẽ là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thuỷ sản vàsản xuất trong nhà lưới Hiện nay, Trung Quốc cũng đã xuất khẩu nhiều rau xanhsang các nước ASEAN Tại các đô thị lớn, nông nghiệp có xu thế đẩy xa ra các vùngkhác có cơ sở hạ tầng tốt, nối đô thị với các vùng xa hơn Nông nghiệp quanh các đôthị lớn dần (tuy còn chậm) định hướng theo nông nghiệp du lịch và sinh thái.

- Ớ Bangkok (Thái Lan): Do quá trình dô thị hoá nhanh dã gây nhiều biến dộng

về thị trường ruộng đất ở vùng ngoại ô, đã đẩy nông nghiệp ra các vùng xa hơn Để thúcđẩy các vùng sản xuất vệ tinh này phát triển đã xác lập các yếu tố tác động sau: dễ dàngtiếp cận tín dụng, các kỹ thuật mới đa dạng mà nông dân dễ tiếp cận, cơ sở hạ tầng pháttriển, tăng cường quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạođầu ra cho nông sản Các công ty tư nhân là yếu tố trực tiếp định hướng cho phát triểnnông nghiệp, đồng thời không thể thiếu vai trò của nhà nước trong việc: quy hoạch đấtđai, xây dựng cơ sở hạ tầng, điều tiết giá cả, làm trung gian giải quyết các vấn dề vềmôi trường, tư vấn, đào tạo và tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp

- Singapore là một trong những quốc gia quản lý và sử dụng tài nguyên đất đairất

có hiệu quả Trong phát triển nông nghiệp đô thị, Singapore vận dụng phương pháp kếthợp công nghệ truyền thống và hiện đại phù hợp với quốc gia có nhiều dân tộc trong đótập trung phát triển mô hình kinh tế trang trại Chăn nuôi là lĩnh vực chiếm tỷ trọng chủyếu trong cơ cấu nông nghiệp, các sản phẩm của chăn nuôi đô thị là thịt: lợn, gà, cátôm Lượng thực bình quân mỗi người dân là 70kg/năm, sản lượng rau tươi dùng trongnước do nông nghiệp ven đô cung cấp cũng chiếm 25% tổng sản lượng rau từ nôngnghiệp

- Inđônexia, nông nghiệp đô thị và ven đô được phát triển theo mô hình trangtrại Trong mô hình này, cây trồng và vật nuôi được phát triển trên nền sinh thái ẩmcủa đất và nước Nông nghiệp đô thị sinh thái ở nước này thể hiện sự pha trộn giữa

cổ truyền và hiện dại Với sự trợ giúp của Chính phủ, nông nghiệp đô thị ở đây đãphát triển thành ngành tương đối lớn mạnh

2.3.4 Những kỉnh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp đỏ thị sinh thái của một sỏ nước

Trang 36

- Hầu hết thủ đô và thành phố lớn của các nước công nghiệp cũng như cácnước đang phát triển đều hình thành các vùng vành đai phát triển nông nghiệp nằmxen kẽ hoặc tạo thành vành đai bao quanh vùng đô thị, các vùng sản xuất này phầnlớn bị chia cắt, qui mô nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm tự nuôi mình và cung cấp chothị trường đô thị Hình thành vành đai nông nghiệp, vành đai môi trường sinh tháicho vùng đô thị.

- Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường:Nước, đất, khí và rác thải từ vùng đô thị Điều này gây không ít khó khăn cho vùng nôngnghiệp Áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông nghiệp đô thị là vừa phải tiến hành sản xuất,vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi trường cảnh quan cho đô thị

- Các nước công nghiệp đều đầu tư rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đặcbiệt quan tâm đầu tư cho nông nghiệp ngoại thành nhằm thúc đẩy phát triển sán xuấtnông nghiệp, phát triển nông thôn, khắc phục hậu quả về môi trường và cũng chính

là làm cho các đô thị phát triển bền vững hơn

- Định hướng cho vùng nông nghiệp ở đô thị cũng có ý tưởng rõ ràng Đối vớivùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả vànuôi trồng thuỷ sản, nhưng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn để tạo cảnhquan, môi trường sinh thái cho đô thị

- Vùng nội đồ thị: Nông nghiệp phát triển theo hướng trồng hoa, cây cảnh để

cung cấp cho nhu cầu của dân và cho công viên và các nhu cầu trang trí tạo cảnh quancho thành phố; Phát triển vùng cây xanh điều hoà khí hậu, tạo bóng mát kết họp nuôitrồng thuỷ sản trên diện tích mặt nước hồ, ao sẵn có chủ yếu là tạo cảnh quan và môitrường sinh thái;

- Vùng ngoại ồ sát đô thị (ven đồ): Tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch tạo ra

sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng các nhu cầu của đô thị về nông sán và môi trường.Các cấp chính quyền phải có chính sách hỗ trợ để tạo ra vùng đệm về cảnh quan, sinhthái đô thị và góp phần giải quyết tại chỗ các nhu cầu của nhân dân thành phố

- Các vùng sản xuất nông nghiệp ngoại ô sẽ dược CNH - HĐH ở mức độ caonhằm kéo bót lực lượng lao động trẻ của khu vực này đi vào đô thị để học tập và làmviệc

Trang 37

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VIỆT NAM

Nông nghiệp Việt Nam, trong khoảng hai thập kỷ qua, nhờ cách mạng xanh

và những tiến bộ kỹ thuật, đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc giải quyếtvấn đề an ninh lương thực Tuy nhiên, việc đầu tư năng lượng hoá thạch trong thâmcanh cao ở các vùng đồng bằng Sông Hồng, Sông Cửu Long và duyên hải miềnTrung cũng đã và đang làm nảy sinh các vấn đề môi trường trong phát triển nôngnghiệp bền vững của các vùng trọng điểm nông nghiệp này Và một xu hướng mớitrong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững đã xuất hiện vào cuối những năm

70, đó là nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ Cho đến nay, xu hướng pháttriển nông nghiệp bền vững theo hướng sinh thái học đang trở thành xu hướng tấtyếu của sự phát triển bền vững ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới [29]

Việt Nam là một nước nông nghiệp, tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếmkhá lớn trong cơ cấu nền kinh tế, nhiều mặt hàng nông sản của nước ta đã chiếmđược vị trí xuất khẩu hàng đầu thế giới Song nhìn chung, nông nghiệp của nước tavẫn trong tình trạng lạc hậu và còn nhiều hạn chế Đặc biệt nông nghiệp đô thị vẫnchưa định hình, chưa được quan tâm để phát triển, còn mang tính tự phát và thiếu sựgắn kết trong quá trình phát triển đô thị

Các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, ĐàLạt., đều có xây dựng phát triển nông nghiệp đô thị, nhưng chưa được quy hoạch cụthể, tuỳ theo điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng vùng mà nông nghiệp đô thịmỗi nơi có những nét khác nhau [31]

0 vị trí trung tâm kinh tế khu vực đồng bằng sông Hồng, là đầu mối giaothông, giao lưu hàng hóa, Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển nền nông nghiệp

đô thị sinh thái Trên khắp các xã ngoại thành, xuất hiện ngày càng nhiều mô hìnhsản xuất nông nghiệp hàng hóa, cho thu nhập cao, là vành đai thực phẩm của thủ đô.Nông nghiệp đã bước đầu phát triển theo hướng đô thị sinh thái được áp dụng khoahọc công nghệ cao, sạch trong sản xuất giống cây trồng vật nuôi Trồng rau, hoatrong nhà kính, nhà lưới, sản xuất rau an toàn, nuôi lợn theo kiểu công nghiệp Nông nghiệp đã chuyển hướng sang sản xuất nông sản, thực phẩm có chất lượng caophục vụ nhu cầu đô thị và bảo vệ môi trường So với năm 2000, năm 2005 diện tích

Trang 38

lúa giảm 10.162ha, diện tích rau màu tăng 3.500 ha, diện tích cây ăn quả tăng trên

700 ha Chăn nuôi đang phát triển mạnh sản phẩm có chất lượng cao: Lợn hướngnạc đạt 14.000 con, tăng 60% so với năm 2000, nhiều giống gia cầm có chất lượngcao như: Ngan Pháp, gà thả vườn được đưa vào sản xuất Một số mô hình trồng cây

ăn quả và nuôi trông thuỷ sản gắn với du lịch sinh thái ngày càng gia tăng Trướctốc độ đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, ngành nông nghiệp Hà Nội

dã có những bước đi cụ thể, phù hợp nhằm phát huy lợi thế của mình Nghị quyếtđại hội lần thứ 13 đảng bộ thành phố và Chương trình 12 của Thành ủy Hà Nội về

"phát triển kinh tế ngoại thành và tùng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn"đang tạo ra một luồng gió mới, thôi thúc sự chuyển mình của nông nghiệp thủ đôtrên con đường CNH - HĐH, tạo lập sự liên kết hiệu quả giữa Hà Nội với kinh tếvùng trọng điểm phía bắc và cả nước Nông nghiệp Hà Nội tập trung vào ứng dụngcông nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến thúc đẩy năng suất, sản xuất giống cây trồng, vậtnuôi chất lượng cao và thực phẩm sạch cung cấp cho thủ đô và xuất khẩu [19]

Dựa trên quy hoạch không gian về sử dụng đất đai, đến năm 2010, diện tíchđất nông nghiệp chỉ còn khoảng 31-32 nghìn ha (giảm 11 nghìn ha) Chính vì vậy,thành phô đã xây dựng những chương trình nông nghiệp trọng điểm, tập trungchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "ba cây, ba con", gồm rau, hoa, quả, bò sữa,lợn hướng nạc và thủy sản Đến nay, "vành đai" thực phẩm thủ đô bước đầu hìnhthành sáu vùng chuyên canh: vùng trồng hoa 500 ha ở Tây Tựu (Từ Liêm); vùng rausạch 2.000 ha ở các xã Vân Nội (Đông Anh), Văn Đức, Đặng Xá (Gia Lâm); vùngcây ăn quả kết hợp du lịch sinh thái ở Từ Liêm, Sóc Sơn; vùng lợn hướng nạc ởĐông Anh; vùng bò sữa ở dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ(thuộc Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn); vùng nuôi trồng thủy sản ở xãĐông Mỹ, Đại Áng (Thanh Trì), Đông Anh [19]

Trước thực trạng làng hoa, các khu sản xuất nông nghiệp truyền thống của

Hà Nội bị xóa sổ do quá trình đô thị hóa thành phố, năm 2004 thành phố Hà Nội đã

triển khai đề tài nghiên cứu “Phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở khu vực ngoại thành Hà Nội phục vụ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

Ớ Đà Lạt, tập trung cho hoa, cây cảnh và rau á nhiệt đới, nông nghiệp đô thị

Trang 39

sinh thái chuyển mạnh sang phục vụ du lịch và xuất khẩu Ớ thành phố Hồ ChíMinh nông nghiệp đô thị phát triển mang đặc trưng của thành phố siêu đô thị, sảnphẩm của nó chủ yếu là rau, hoa, cây cảnh, chăn nuôi bò sữa và các ngành dịch

vụ nông nghiệp Nông nghiệp đô thị và ven đô thành phố hàng năm cung cấpkhoảng 28.858 tấn thịt lợn, 4.461 tấn thịt trâu bò, 10.632 tấn thịt gia cầm, 180-200ngàn tấn rau đáp ứng nhu cầu tại chỗ của dân cư đô thị

Tuy nhiên các nghiên cứu về nông nghiệp đô thị cũng đã được chú ý bắt đầu

từ những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX Các nhà khoa học về nông nghiệp của ViệnKHKTNN Việt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp ĩ - Hà Nội, Trường Đại học kinh

tế quốc dân, Viện Di truyền nông nghiệp., đã tiến hành một số nội dung nghiên cứu

về nông nghiệp sinh thái bền vững, nông nghiệp đô thị và nông nghiệp đô thị sinhthái nhằm góp phần phát triển nông nghiệp của các thành phố lớn theo hướng hiện

đại, bền vững Năm 2003 thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nội dung Nghiên cứu xây dựnẹ các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thi hoá ỞThành phô Hồ Chí Minh [8].

Như vậy ở nước ta nghiên cứu về vấn đề này còn rất mới mẻ, yêu cầu đặt ra làcần phải dược làm rõ và định hướng phát triển để góp phần thực hiện sự nghiệp côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

2.5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỂ NÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Tuy là thành phố lớn trong cả nước, nhưng Thái Nguyên chưa có nghiên cứunào về phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái Vấn đề nông nghiệp sinh thái mới chỉtiếp cận và thực hiện giai đoạn đầu của nông lâm kết hợp và thực nghiệm một số hợpphần đon lẻ của nông nghiệp sinh thái như: Sản xuất nông sản an toàn, quản lý dịchhại tổng hợp bảo vệ môi trường, mô hình công nghệ cao gắn với sử lý chất thái trongchăn nuôi các mô hình này thực chất mới được tiến hành gần đây và thực hiện rấtđơn lẻ, cho hiệu quả không cao Vì vậy, chưa có một cơ sở lý luận vững chắc để pháttriển nông nghiệp thành phố theo hướng đô thị sinh thái [24]

Trang 40

Phần III

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

3.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đất nông nghiệp, các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thànhphố Thái Nguyên và các vùng phụ cận thành phố

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Thành phố Thái Nguyên gồm 26 xã, phường Đề tài giới hạn với các nghiêncứu điển hình ở 3 xã, phường đại diện cho 3 vùng khác nhau của thành phố

+ Xã phường loại I (phường trung tâm thành phố)

+ Xã phường loại TI (xã phường nằm ven trung tâm)

+ Xã phường loại III (xã phường nằm xa trung tâm)

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN cứu

3.2.1 Điều tra bản

3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu thủy văn, điều kiện thổ nhưỡng,

sinh vật, cảnh quan môi trường,

3.2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội: Thực trạng phát triển kinh tế, dân số, lao động,

thực trạng phát triển cs hạ tầng, Thực trạng phát triển công nghiệp, thực trạng pháttriển thương mại, dịch vụ

3.2.1.3 Đánh giá chung

3.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phô Thái Nguyên

3.2.2.1 Tình hình sử dụng đất

3.2.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phô Thái Nguyên

3.2.2.3 Một sô mô hình trang trại sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái

Ngày đăng: 31/12/2015, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.4 : Đóng góp của các ngành vào táng trưởng tổng sản phẩm (%) - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.4 Đóng góp của các ngành vào táng trưởng tổng sản phẩm (%) (Trang 44)
Bảng 4.8: Tình hình sử dụng và biên động các loại đất chính - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng và biên động các loại đất chính (Trang 48)
Bảng 4.9: Một sô sản phẩm nông nghiệp thành phô Thái Nguyên - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.9 Một sô sản phẩm nông nghiệp thành phô Thái Nguyên (Trang 50)
Bảng 4.17: Hiệu quả kinh tê LUT 2 Lúa - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tê LUT 2 Lúa (Trang 52)
Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tê LUT cây ăn quả - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.21 Hiệu quả kinh tê LUT cây ăn quả (Trang 53)
Bảng 4.22: Hiệu quả kinh tê LUT vườn tạp - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.22 Hiệu quả kinh tê LUT vườn tạp (Trang 53)
Bảng 4.24: Hiệu quả kinh tếLUT nuôi trồng thuỷ sản - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.24 Hiệu quả kinh tếLUT nuôi trồng thuỷ sản (Trang 54)
Bảng 4.26 Hiệu quả kinh tế của các loại mô hình trang trại - MỘT số mô HÌNH sản XUÂT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP SINH THÁI ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Bảng 4.26 Hiệu quả kinh tế của các loại mô hình trang trại (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w