1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

mô hình hoá theo quan điểm quản lý giáo dục và giáo dục học.

14 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với giáo dục Luật giáo dục là một qui phạm pháp luật của nhà nước qui định chi tiết toàn bộ hoạt động có liên quan đến giáo dục, bảo đảm cho mọi hoạt động giáo dục, mọi cá nhân,

Trang 1

Câu 1: Nêu nội dung quản lý nhà nước về giáo dục trong Luật giáo dục

Từ nội dung đó hãy mô hình hoá theo quan điểm quản lý giáo dục và giáo dục học.

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người qua các thế hệ Giáo dục mang tính tất yếu, phổ biến, lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc Giáo dục có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội với chức năng kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng văn hóa Cùng với giáo dục, quản lí nhà nước về giáo dục là một đòi hỏi tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộc, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của nền giáo dục

Quản lý nhà nước về giáo dục chính là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương đối với các thành tố của hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã xác định

Cùng với giáo dục Luật giáo dục là một qui phạm pháp luật của nhà nước qui định chi tiết toàn bộ hoạt động có liên quan đến giáo dục, bảo đảm cho mọi hoạt động giáo dục, mọi cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội và toàn thể nhân dân hiểu và cùng thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất, nhằm đưa nền giáo dục nước nhà phát triển một cách ổn định, vững chắc góp phần có hiệu quả vào công cuộc xây dựng phát triển đất nước phồn vinh Thực tiễn giáo dục luôn vận động phát triển cùng với sự phát triển chung của nhân loại, theo đó Luật giáo dục cũng phải phát triển theo, và Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi năm 2009 của chúng ta thay thế Luật giáo dục năm 1998 là một tất yếu khách quan

Một trong những nội dung rất quan trọng của Luật giáo dục đó là nội dung về giáo dục (được qui định tại Điều 99 Luật giáo dục), theo đó nội dung quản lý nhà nước về giáo dục được qui định bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ

sở giáo dục khác;

Trang 2

3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in

và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

4 Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;

5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

7 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

10 Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

11 Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

Trên cơ sở 12 nội dung quản lý nhà nước về giáo dục nêu trên được qui định trong Luật giáo dục, cho thấy để quản lý và vận hành hoạt động giáo dục có hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các nội dung trên, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào và trên quan điểm quản lý giáo dục và giáo dục học, các nội dung đó được xem xét trong mối quan hệ tổng thể, tác động qua lại thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển Các quan hệ đó có thể được thể hiện qua một số mô hình hóa quá trình quản lý như sau:

Từ 12 nội dung quản lý nhà nước về giáo dục trong Luật Giáo dục bổ sung, sửa đổi năm 2009, chúng ta có thể khái quát thành ba mô hình hoá theo quan điểm quản lý giáo dục và giáo dục học thông qua các biểu đồ sau đây:

Trang 3

* M« h×nh ho¸ thø nhÊt: M« h×nh ho¸ qu¶n lý tÝnh toµn vÑn cña qu¸ tr×nh

gi¸o dôc

Trong mô hình trên

- M: là Mục tiêu đào tạo giáo dục - N: là nội dung đào tạo giáo dục

- P: là phương pháp đào tạo giáo dục - Th: là lực lượng đào tạo

- Tr: là đối tượng đào tạo - Đ: là điều kiện đào tạo

- Q: là quản lý quá trình đào tạo

- Điều kiện đào tạo; Đó chính là nguồn vật lực, tài lực và nhân lực, công

nhân viên phục vụ cho quá trình đào tạo Đây là thành tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục ở từng nhà trường

- Quản lý quá trình đào tạo: Quản lý giáo dục đào tạo được hiểu theo hai

cấp độ vĩ mô và vi mô Đối với cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở cấp độ vi mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có

3

Q

N

§

P

Tr M

Th

Trang 4

mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường (cơ sở giáo dục), nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách của người học theo mục tiêu, mô hình giáo dục và đào tạo đặt ra Qua đó cho thấy, có 4 yếu tố của quá trình quản lý giáo dục đào tạo, đó là: chủ thể quản

lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời trong quá trình quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động của các chủ thể và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định, nhằm đạt mục đích đề ra của quản lý bằng cách thực hiện các chức năng nhất định và vận dụng các biện pháp, nguyên tắc, công cụ quản lý thích hợp

* M« h×nh thø hai: M« h×nh chÊt lîng hiÖu qu¶ gi¸o dôc

- Knowiedge: Kiến thức * Head: Đầu (Trí lực)

- Attitude: Thái độ * Heart: Tim (Tâm lực)

- Skill: Kỹ năng * Hands: Tay (Thể lực)

- Behaviour: Hành động

Quá trình giáo dục phải đạt tới sự hài hòa đồng bộ của

K A

S B

H1

KABS & 3H

Trang 5

Mô hình này phản ánh quá trình dạy - nuôi trong quá trình đào tạo Trong đó, quá trình dạy học, người dạy phải có đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất, năng lực như: Phải là người có kiến thức (K) sâu, rộng; dạy những kiến thức, tri thức đảm bảo theo yêu cầu đối với đối tượng đào tạo Đồng thời, quá trình dạy học, giáo dục, người dạy cần phải có thái độ (A), động cơ đúng đắn, phù hợp; thể hiện sự say mê nghề nghiệp và sự nghiệp trồng người của mình Có nghĩa, quá trình đào tạo giáo dục phải là quá trình trang bị hệ thống kiến trức cho người học, hình thành kỹ sảo

kỹ năng thực hiện cho họ, trên cơ sở đó xây dựng thái độ, động cơ tình cảm và cao nhất là người học có được ý chí quyết tâm thực hiện (hành động) một cách đúng đắn, ví như hành vi chấp hành nghiêm luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, để có được hành vi đúng đắn và trở thành thói quen này, con người phải từ hiểu biết về nó, chấp hành đúng và luôn có ý thức trách nhiệm cao trong việc thực hiện khi tham gia giao thông

Theo đó, người dạy học, giáo dục phải rèn luyện cho bản thân những kỹ năng (S), kỹ xảo nghề nghiệp; trong đó đặc biệt là kỹ năng truyền thụ kiến thức, kỹ năng nói truyền cảm, thuyết phục người học, kỹ năng tổng hợp vấn đề dạy học, giáo dục đảm bảo tính khái quát, dễ hiểu, lôgíc chặt chẽ Đặc biệt người dạy học, giáo dục phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện văn hóa sư phạm cho bản thân;

có xu hướng sư phạm tốt, tài nghệ sư phạm giỏi, phong cách sư phạm mẫu mực Chính quá trình dạy đảm bảo tốt sẽ góp phần trang bị cho người học những kiến thức, tri thức, có trí lực (H1) tốt; có tâm lực (H2) trong sáng; có hành động đúng, luôn đủ sức lực để thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, hoàn thiện bản thân và phát triển sau này Đó là quá trình nuôi cho trí lực, tâm lực và thể lực ngày càng phát triển tốt

Kiến thức, thái độ, kĩ năng và hành động phải là một quá trình liên tục khép kín, không được tách rời, không được chỉ chú ý trang bị tri thức cho người học,

mà xem nhẹ không chú ý đến những tri thức đó có thực sự cần cho người học và được họ mong muốn thực hiện trên thực tế không Kiến thức, thái độ, kĩ năng và hành động sẽ chỉ được thực hiện có hiệu quả khi quá trình đó được chủ thể của quá trình đào tạo giáo dục (lực lượng đào tạo và đối tượng đào tạo) là những con

5 KABS &

3H

Trang 6

người có đầy đủ các yếu tố cả về trí lực, tâm lực và thể lực thực hiện Có nghĩa phải được những con người có năng lực, có tâm huyết…tiến hành thì quá trình đó mới được thực hiện có chất lượng, hiệu quả Chính vì vậy, quá trình giáo dục đòi hỏi phải đạt tới sự hài hòa đồng bộ của tất cả các yếu tố trong mô hình trên

* Mô hình thứ ba: Những công việc chỉ đạo trong quản lý giáo dục, quản lý

nhà trường

O

- P: Planning Kế hoạch hóa

- O: Organizing Tổ chức

- L: Leading Chỉ đạo

- C: Controling Kiểm tra

- I: Information Thông tin

Đây là mô hình thể hiện công tác chỉ đạo của tất cả các cấp, ngành, các cơ

sở giáo dục trong quá trình quản lý Đó là quá trình sử dụng những công cụ quản

lý giáo dục

Kế hoạch hoá (P) trong công tác quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

Kế hoạch hoá bao gồm: Xây dựng mục tiêu; chương trình hành động ; xác định

I C

P

O

L

Trang 7

từng bước đi; xác định những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý Kế hoạch hoá bao gồm 2 vấn đề cơ bản là: các loại kế hoạch và việc lập kế hoạch trong giáo dục

Để có chất lượng hiệu quả giáo dục đòi hỏi phải có quá trình quản lý (như mô hình trên) Mô hình này cho thấy, để quản lý được phải có những công việc, như có chiến lược, có qui hoạch, có kế hoạch về giáo dục Kế hoạch phải gồm cả dài hạn, ngắn hạn, kế hoạch tổng thể, kế hoạch cụ thể chi tiết Phải tiến hành tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, như tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng; tổ chức, quản lý đội ngũ nhà giáo Phải thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra…Tổ chức (0) chỉ đạo trong quản lý giáo dục và quản lý nhà trường là một chức năng quan trọng trong quản lý giáo dục Công tác chỉ đạo trong quản lý giáo dục và quản lý nhà trường (L) thuộc trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong ngành giáo dục Công tác kiểm tra trong quá trình quản lý giáo dục (C) có vị trí, vai trò rất quan trọng Thông qua kiểm tra kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai lệch, hạn chế và chỉ ra phương hướng khắc phục hiệu quả Thông tin (I) trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có vai trò rất quan trọng trong tình hình hiện nay Kế hoạch hoá - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra; đồng thời cấp năng lượng cho các khâu này hoạt động hài hoà, đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả cao nhất

Trên đây là ba quan điểm mô hình quản lý giáo dục và giáo dục học trong giáo dục hiện nay Việc vận dụng lựa chọn, tổ chức các mô hình hiệu quả trong quản lý giáo dục sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở nước ta trong tình hình mới

Câu 2: Hãy đề xuất các bộ số 3 về phát triển giáo đục trong hoàn cảnh hiện nay (tối thiểu 5 bộ ba).

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Quốc Bảo đã dày công nghiên cứu và đưa ra mười bộ ba về phát triển giáo dục Việt Nam, trên cơ sở các mô hình về mục tiêu

về các thành tố của quá trình giáo dục và quản lý giáo dục nhằm phát triển nền

7

Trang 8

giáo dục Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới Các bộ ba đó bao gồm:

- Mô hình “Nhân cách - Nhân lực - Nhân tài”

- Mô hình “Dân trí - Quan trí - Doanh trí”.

- Mô hình “Vốn con người - Vốn tổ chức - Vốn xã hội”.

- Mô hình “Chấn hưng văn hoá - Công nghiệp hoá - Hội nhập quốc tế”.

- Mô hình “Xã hội dân sự - Nhà nước pháp quyền - Thị trường”.

- Mô hình : Dân chủ - Nhân văn - Lao động”.

- Mô hình “Giáo dục chính quy - Giáo dục không chính quy - Giáo dục không

chính tắc”

- Mô hình “Dân vận - Quan vận - Doanh vận”.

- Mô hình “Quốc vận - Quốc ngữ - Quốc sử”

- Mô hình “Giáo dục nhà trường - Giáo dục gia đình - Giáo dục xã hội”.

Mười bộ ba trên đã phản ánh đầy đủ, rõ nét về tình hình thực tiễn cũng như mục tiêu yêu cầu phát triển nền giáo dục Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay

Những bộ ba trên nằm trong một chỉnh thể thống nhất, phản ánh toàn diện về phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay Trong bài viết này, tôi xin đi vào phân tích làm rõ thêm năm bộ ba sau:

Mô hình “ Vốn con người - Vốn tổ chức - Vốn xã hội”.

Mô hình “Chấn hưng văn hoá - Công nghiệp hoá - Hội nhập quốc tế”.

Mô hình “Giáo dục chính quy - Giáo dục không chính quy - Giáo dục

không chính tắc”

Mô hình “Quốc văn - Quốc ngữ - Quốc sử”.

Mô hình “ Giáo dục nhà trường - Giáo dục gia đình - Giáo dục xã hội”.

* Mô hình “Vốn con người - Vốn tổ chức - Vốn xã hội”:

Mô hình này phản ánh việc chăm lo phát triển giáo dục nhằm phát triển bền vững, hài hoà giữa vốn con người - vốn tổ chức - vốn xã hội trong một thể thống nhất, cùng song hành trong quá trình phát triển Trong đó, vốn con người là quan trọng nhất, bởi vì con người là trung tâm cho mọi sự phát triển, con người làm nên tất cả Phát triển vốn con người cả về tâm lực, trí lực và thể

Trang 9

lực Vốn tổ chức là việc chăm lo xây dựng, củng cố, cải cách, đổi mới các tổ chức trong hệ thống giáo dục quốc dân vững mạnh, trong sạch, lành mạnh để điều hành, tổ chức thực hiện quá trình giáo dục và quản lý giáo dục có hiệu quả, cả cấp vĩ mô và vi mô

* Mô hình “Chấn hưng văn hoá - Công nghiệp hoá - Hội nhập quốc tế”:

Là mô hình phát triển giáo dục có những nét mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chấn hưng văn hoá là xây dựng và phát triển một nền giáo dục vừa bảo đảm tính hiện đại, đáp ứng với

xu thế và yêu cầu sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, vừa giữ vững bản sắc truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam Chấn hưng văn hoá nhưng phải bảo đảm cho công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế phát triển đất nước

9

G

y

z

Vèn con ng êi Vèn tæ chøc

Vèn x· héi

G

y

z

ChÊn h ng v¨n ho¸

C«ng nghiÖp ho¸

Héi nhËp quèc tÕ

Trang 10

Ba yếu tố trên trong mô hình phát triển giáo dục có mối liên hệ mật thiết, biện chứng với nhau, yếu tố này làm cơ sở tiền đề cho yếu tố kia và ngược lại

* Mô hình “Giáo dục chính quy - Giáo dục không chính quy - Giáo dục không chính tắc”:

Giáo dục chính quy là hệ thống các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện đào tạo chính quy (tập trung, không tập trung) đối với từng cấp học, bậc học, ngành học dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước thông qua ngành giáo dục và các nhà trường

Giáo dục không chính quy được thực hiện thông qua các hình thức như: Học từ xa, học tại chức, các trung tâm giáo dục thường xuyên, bổ túc văn hoá

Giáo dục không chính tắc là sự giáo dục ngẫu nhiên, tự phát …

* M« h×nh “Quèc v¨n - Quèc ng÷ - Quèc sö“:

GD

x y

z

Giáo dục chính quy

GD không chính quy

GD không chính tắc

Trang 11

Thực tiờ̃n giỏo dục thời gian qua, việc học cỏc mụn Văn, tiếng Việt, Lịch Sử của học sinh, sinh viờn nước ta đó cú lúc đỏng bỏo động; một bộ phọ̃n khụng nhỏ người học khụng chú tõm vào học cỏc mụn này vỡ cho rằng ớt cú cơ hội làm giàu sau này; vỡ vọ̃y, chỉ tọ̃p trung thi vào cỏc trường kinh tế, kỹ thuọ̃t, cụng nghệ thụng tin với hy vọng làm giàu nhanh chúng sau khi ra trường * Mô hình “Giáo dục nhà trờng - Giáo dục gia đình - Giáo dục xã hội“:

Giỏo dục nhà trường gắn với giỏo dục gia đỡnh và giỏo dục xó hội thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xó hội chủ nghĩa Trờn cơ sở kết hợp giỏo dục tốt ba vấn đề đú sẽ gúp phõ̀n đào luyện ra thế hệ những con người Việt Nam cú đõ̀y đủ phẩm chất nhõn cỏch và trỡnh độ năng lực toàn diện phục vụ cho sự nghiệp xõy 11 G D x y z Quốc sử Quốc ngữ Quốc văn

G

y

z

Giáo dục nhà tr ờng Giáo dục gia đình

Giáo dục xã hội

Ngày đăng: 31/12/2015, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w