SỰ PHÁT TRIỂN CÁC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC Từ truyền thống đến hiện đại PGS.TS Trần Khánh Đức ĐH Quốc gia Hà Nội Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình th
Trang 1TRẦN KHÁNH ĐỨC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC-ĐHQG HÀ nỘI
TẬP BÀI GIẢNG
SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC
Từ truyền thống đến hiện đại
HÀ NỘI- 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
I QUÁ TRèNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA
GIÁO DỤC THEO CÁC NỀN VĂN MINH ……… 3
II NỀN VĂN MINH VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
PHƯƠNG ĐễNG TRUYỀN THỐNG ………7
III NỀN VĂN MINH VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHƯƠNG TÂY 23
IV TƯ TƯỞNG VÀ Mễ HèNH GIÁO DỤC VIỆT NAM
THỜI KỲ THUỘC PHÁP ( 1884- 1945 )……….29
V TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG
CUỘC CẢI CÁCH NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 38
VI xã hội và CÁC QUAN ĐIỂM giáo dục hiện đại …… 44
VII KINH TẾ TRI THỨC VÀ GIÁO DỤC TRONG NỀN
KINH TẾ TRI THỨC……… 61
VIII NHÀ TRƯỜNG TƯƠNG LAI – 6 KỊCH BẢN CỦA OECD………… 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Trang 3SỰ PHÁT TRIỂN CÁC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
Từ truyền thống đến hiện đại
PGS.TS Trần Khánh Đức
ĐH Quốc gia Hà Nội
Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn
được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xãhội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế
hệ trước cho các thế hệ sau Cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào, hoạtđộng giáo dục được tổ chức, phát triển nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích
và các mục tiêu giáo dục phù hợp với các quan điểm, tư tưởng giáo dục từng giai đoạn phát triển của xã hội, của các nền văn minh nói chung và của
các thể chế chính trị-xã hội ở các quốc gia nói riêng
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa - 2001)thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là "Hoạt động hướng tới con ngườithông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những trithức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng vàđạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực,phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đốitượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt độngđặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được
để duy trì và phát triển con người và xã hội Giáo dục là một bộ phận củaquá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáodục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của pháttriển xã hội " Các tư tưởng giáo dục vừa là sản phẩm vừa là nhân tố thúcđẩy quá trình vận động và phát triển của các nền văn minh
I QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC THEO CÁC NỀN VĂN MINH
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của cáchình thái kinh tế-xã hội và các nền văn minh
Tiếp cận theo các nền văn minh, Anwin Toffer (1992) nhà dự báo Mỹnổi tiếng đã phân tích lịch sử phát triển của xã hội theo 3 làn sóng lớn (giaiđoạn phát triển) chính:
Trang 41 Xã hội nông nghiệp.
2 Xã hội công nghiệp
3 Xã hội hậu công nghiệp (thông tin, trí thức.)
Xã hội nông nghiệp là một xã hội mà nền kinh tế dựa vào nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lao động giản đơn, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủcông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp dựa vào những điều kiện tự nhiên vàcon người làm việc theo kinh nghiệm với phương pháp thử và sai Hệ thốnggiáo dục chưa phát triển và vì lý do đó, số lượng người được đào tạo có trình
độ học vấn ở mức thấp Các cơ sở giáo dục nhỏ bé và chủ yếu dựa vào mô
hình nhà trường gia đình trong cộng đồng, làng mạc Tài nguyên và giá trị
của quốc gia dựa vào đất đai và dân số Ở châu Á (bao gồm Việt Nam,Trung Quốc và Hàn Quốc) đây là giai đoạn xã hội được xây dựng dưới chế
độ phong kiến và theo nền giáo dục Nho giáo của Khổng Tử Đồng thờicũng là thời kỳ phát triển của các tư tưởng giáo dục Phật giáo ở Ấn độ và lantỏa sang nhiều quốc gia khác đặc biệt ở Châu á Ở Châu âu, trong thời kỳnày giáo dục chịu ảnh hưởng và chi phối bởi Nhà thờ với các hệ tư tưởngThiên chúa giáo; Cơ đốc giáo; Đạo Tin lành…
Xã hội công nghiệp bắt đầu hình thành từ thế kỷ 17-18 ở Châu Âu
(Đức, Pháp, và Anh) với sự phát triển nhanh về kghoa học-công nghệ và cáclĩnh vực sản xuất công nghiệp như: cơ khí, điện tử, hóa chất… Nền kinh tếchủ yếu dựa vào mạng lưới của các cơ sở khai khoáng, nhà máy cơ khí vàđiện tử Nền kinh tế thị trường và giao dịch thương mại đó thiết lập nên thịtrường lao động Năng lực làm việc và sức lao động trở thành hàng hóa.Giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu về việc gia tăng nhân lực LĐKT và
dịch vụ Hệ thống trường học theo mô hình nhà máy, đặc biệt là hệ thống
giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp Giá trị tài nguyên của quốc gia dựa trênnguồn vốn (tiền-tư bản) Con người (người công nhân, nhân lực) là chỉ mộtthành phần đầu vào của quá trình sản xuất Xã hội công nghiệp khởi đầu từthế kỷ 17-18 gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ về nghệ thuật, khoa học vàcông nghệ của nền văn minh Phương Tây và chịu sự chi phối cùng ảnhhưởng của hệ tư tưởng và triết lý phương Tây với các đại diện xuất xắc nhưHeghen; Kant… cùng các nhà tư tưởng giáo dục lớn như Jean Piaget (Thuysĩ); Emile Durkheim (Pháp) John Dewey (Mỹ)…
Xã hội hậu công nghiệp hay còn gọi là xã hội thông tin, kinh tế tri thức bắt đầu hình thành từ sau giữa thế kỷ 20 (1960) với sự phát triển nhanh
chúng của khoa học hiện đại và công nghệ cao ( hi-tech) Nền kinh tế chínhdựa vào tri thức và mạng lưới thông tin Giá trị hàng hóa và dịch vụ phụthuộc vào hàm lượng chất xám Hệ thống giá trị tài nguyên của quốc gia dựa
Trang 5vào tri thức và kỹ thuật hiện đại Nguồn vốn con người là giá trị quan trọngnhất Giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là thành phần, là động lựcchính để phát triển đất nước
Xã hội hậu công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ với nhiềuquan điểm, tư tưởng giáo dục mới phù hợp với nhu cầu mới của thời đạikinh tế tri thức như: giáo dục cho mọi người; xây dựng xã hội học tập; họcsuốt đời; bốn trụ cột của nền giáo dục hiện đại ( UNESCO) ;E-learning…
Trong giai đoạn này, trường học theo mô hình của cơ sở nghiên cứu
và sáng tạo, nhà trường thông minh (sáng tạo, khai phá, quá trình dạy họcdựa vào mạng lưới thông tin) Sự phát triển của xã hội và nhà trường tại mỗigiai đoạn được trình bày theo hình 1
Hình 1: Các bước của quá trình phát triển xã hội và mô hình nhà trường
Những đặc trưng của nhà trường sẽ thay đổi khi nhà trường chuyển từnền giáo dục truyền thống sang hiện đại, bao gồm: các loại hình trường, mụcđích và nội dung giáo dục, phương pháp dạy và học, cách đánh giá, mối liên
hệ giữa nhà trường và cộng đồng Những đặc trưng trong tương lai củatrường học theo các giai đoạn phát triển của xã hội được trình bày ở bảng 1
Xã hội Thông tin
Mô hình nhà trường thông minh
Xã hội Công nghiệp
Mô hình nhà trường nhà máy
Xã hội Nông nghiệp
Mô hình nhà trường gia đình
Trang 6Bảng 1: Các đặc trưng của trường học trong mỗi giai đoạn phát triển
Xã hội Công nghiệp
Mô hình nhà trường
hiện đại
Xã hội Thông tin
Mô hình nhà trường tương lai
Mục đích và mục tiêu - Không rõ ràng
- Tổng quát và rộng về phạm
vi kiến thức -Đào tạo tầng lớp quan lại và tri thức tinh hoa
- Hẹp,chuyên môn hóa
- Giá trị văn hóa
- Học theo kinh nghiệm của thầy
- Tập trung vào khả năng nhớ
- Đào tạo số đông
Trang 7Cách đánh giá - Định tính, chủ quan
- Thiên về số lượng
- Đào tạo hàng loạt
- Dựa trên bài kiểm tra, kết quả
- Kết hợp đánh giá ngoài
và đánh giá trong.
- Tự đánh giá
- Chất lượng hiệu quả
Quản lý - Trên xuống dưới
- Áp lực
- Tập trung vào kiểm soát
- Kiểm soát chất lượng
- Tập trung hóa
- Kết hợp trên –dưới và dưới - trên
Con người là“ Cấp dưới phụ thuộc và hệ thống phân cấp
Con người là
cá nhân tự chủ và linh hoạt
Thông tin và
kiến thức
Là lãnh địa riêngcủa quản lý
Bị nhà quản lý khốngchế và hạn chế chia
sẻ
Được phổ biến rộng rãi
Danh tính cá nhân bị xoá bỏ( cá nhân mangtính xã hội hơn )
Trang 8Phân công lao
động
Nhà quản lý quyết định
Người làm công thực hiện
Nhà quản lý quyết định
Người làm công suynghĩ và thực hiện
Nhà quản lý vàNgười làm công và cùng quyết
định và thực hiện
Quyền lực Tập trung ở cấp trên Bị giới hạn, có sự
Chia sẻ chức năng/trao quyền cho cấp dưới
Phân tán và được chia sẻ
Nguồn: Quản lý trong thế kỷ 21 ( tr 308)
II NỀN VĂN MINH VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHƯƠNG ĐÔNG
TRUYỀN THỐNG
Nền văn minh phương Đông đã sớm hình thành và phát triển trong
hàng ngàn năm trước đây ở các nước khu vực Châu á (Trung quốc, Nhậtbản, Hàn quốc, Việt Nam ) với các công cụ sản xuất đồ sắt, đồ đồng trongnền sản xuất lúa nước và các thể chế phong kiến tập quyền Nền văn minhphương Đông nổi tiếng không chỉ có các phát minh lớn trong sản xuất và đờisống như la bàn, thuốc súng, thuật in bản khắc gỗ mà còn là cái nôi của các
hệ tư tưởng lớn chi phối sự phát triển của đời sống xã hội và giáo dục nhưNho giáo, Phật giáo; Đạo giáo
2.1 Tư tưởng giáo dục Nho giáo
Nho giáo với tư cách là một hệ tư tưởng thống trị Trung hoa cổ đạihàng ngàn năm đã hình thành và phát triển các cơ sở giáo dục (các trườngNho giáo) để truyền bá các tư tưởng, triết lý của mình trước hết cho cáctầng lớp tinh hoa, giới quan lại Trung quốc Nền giáo dục Nho giáo Trungquốc có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục nước ta Nho giáo có khởi nguyên từthời Tây Chu (tk XI-VIII TCN), được Khổng tử (555-479) thời Xuân Thu hệthống hóa và truyền bá nhằm duy trì trật tự xã hội chiếm hữu nô lệ cũ đangtan rã Đến thời Chiến quốc Mạnh tử (372-289 TCN) tiếp tục bổ sung và
Trang 9truyền bá tư tưởng của Khổng tử, hai ông được xem là thánh và á thánh Trừmột thời gian ngắn đời Tần (224-206 TCN) Tần Thủy Hoàng đốt sách, giếtnhà nho, từ đời nhà Hán (206-220 TCN) đến cuối đời Thanh (1911) các triềuđại phong kiến đều xem Nho giáo như quốc giáo Qua quá trình phát triển,Nho giáo đã trải qua những biến đổi và bổ sung lớn: từ một hệ tư tưởng bắtnguồn trong xã hội chiếm hữu nô lệ, nó đã biến thành hệ tư tưởng phục vụcho việc củng cố chế độ phong kiến Vào thời Tây Hán (206-24 TCN) ĐổngTrọng Thư đưa thêm tư tưởng mệnh trời vào Nho giáo, tăng thêm tính thần
bí, làm cho Nho giáo thật sự biến thành một thứ tôn giáo Đến thời Tống,Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107) và Chu Hy (1130-1200) đãphát triển cơ sở triết học của Nho giáo, vay mượn tư tưởng của Phật giáo vàĐạo giáo Các nhà Tống nho đã cố thuyết minh rằng những đạo đức mà Nhogiáo truyền bá là cái lý đương nhiên vĩnh hằng của trời đất Như vậy, chođến nay Nho giáo có lịch sử phát triển hơn 3000 năm Trật tự xã hội mà Nhogiáo nêu thành giáo lý là “tam cương, ngũ thường” (tam cương: quan hệ vuatôi, cha con, vợ chồng; ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) Các tài liệu giáokhoa chính thống được sử dụng cho các trường học và các kỳ thi là Tứ thư,Ngũ kinh với sự chú giải và phát triển bởi Hán nho và Tống nho ( Lê văn
Giạng Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam NXB Chính trị quốc gia, 2003)
Theo lịch sử thành văn, ở Việt Nam cổ xưa, nhà nước Âu Lạc tồn tạivào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên trong một xã hội đã manh nha
có giai cấp.Tuy nhiên, quốc gia nhỏ bé này đã phải đương đầu với các thếlực phong kiến tập trung phương Bắc Năm 111 TCN Nhà Tần xâm chiếm
Âu Lạc và mở đầu cho sự thống trị của của Trung Quốc kéo dài hơn mộtnghìn năm, đến năm 938 SCN Nhà Tần chưa có hoạt động giáo dục nào ởViệt Nam được ghi lại Nhà Tần chủ trương cai trị bằng luật pháp, bài xíchNho giáo Sau khi Hán diệt Tần, Hán Cao tổ - Lưu Bang đã đưa Nho giáothành quốc giáo Trong thời kỳ này, các thế lực phong kiến phương Bắc đãtiến hành các hoạt động giáo dục ở Việt Nam nhằm truyền bá Nho giáo.Những người đầu tiên đã truyền bá Nho giáo vào Việt Nam là Tích Quang,Nhâm Diên (đầu thế kỷ 2), Sỹ Nhiếp (cuối thế kỷ 2 đầu thế kỷ 3)
Nho giáo đã trở thành quốc giáo ở Việt Nam trong suốt thời kỳ Bắcthuộc Sau khi dành lại độc lập các nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhậnthấy Nho giáo phù hợp với thể chế phong kiến tập quyền nên đã coi Nhogiáo là quốc giáo và thực hiện chế độ giáo dục Nho giáo đối với toàn dân
Mặc dù vậy đối với nhân dân lao động thì Phật giáo lại có ảnh hưởngsâu sắc và rộng lớn hơn bởi tính nhân bản cao và hướng sự quan tâm chủyếu vào tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ trong khi Nho giáo chủ yếuhướng vào tầng lớp tinh hoa, các đẳng cấp cai trị
Trang 102.1.1 Tính chất của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết đạo đức – chính trị với nội dung được xâydựng và biến đổi qua nhiều thời kỳ, nhiều tác giả khác nhau
Nho giáo ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cứu vãn nhà nước phong kiếntập quyền nhà Chu đang suy tàn với các cộc chiến tranh giành quyền lựcgiữa các nước chư hầu Chủ trương của Nho giáo là vạch ra trật tự nền nếp,
xử lý các mối quan hệ trong xã hội phong kiến và dần dần trở thành công cụduy trì và củng cố xã hội phong kiến cũng như đào tạo tầng lớp quan lại caitrị trong xã hội đó
Nội dung chính của Nho giáo là đạo tam cương ngũ thường được chứađựng trong tứ thư, ngũ kinh
Nho giáo đã xâm nhập vào Việt Nam theo chân của những tập đoànphong kiến bành trướng phương Bắc
Giai cấp phong kiến Việt Nam cũng đã lợi dụng Nho giáo để duy trìmột trật tự xã hội đẳng cấp mang đặc trưng của Việt Nam là luôn đấu tranhcho sự tồn tại như một quốc gia độc lập bên cạnh Trung Quốc rộng lớn Nhogiáo khi vào Việt Nam cũng đã được chọn lọc cho phù hợp với các giá trịtruyền thống của người Việt như đề cao tinh thần trung quân - ái quốc… Nho giáo có tác dụng thúc đẩy sự hình thành và tồn tại của nhà nướcphong kiến tập quyền và duy trì sự tồn tại độc lập của dân tộc Việt Namtrước các thế lực ngoại xâm
Nhược điểm của Nho giáo là trọng chữ nghĩa, khoa cử và thiếu tínhthiết thực Phương pháp thì rập khuôn và giáo điều,thuộc lòng, triệt tiêu sựsáng tạo và phát triển Những nhược điểm đó làm cho các xã hội chịu ảnhhưởng của Nho giáo trì trệ hàng ngàn năm Những tàn dư xấu của Nho giáocòn ảnh hưởng sâu sắc đến tận ngày nay
và với sự bất bình đẳng giữa quan và dân, giữa thầy và trò, giữa nam và
nữ, giữa già và trẻ, giữa quân tử và tiểu nhân
- Đào tạo tầng lớp trí thức tinh hoa, các quan lại cho hệ thống quản chế xãhội
Trang 11Trong thời kỳ phong kiến độc lập đó là phổ biến các giáo lý của xã hộiphong kiến và đào tạo tầng lớp trí thức- quan lại phong kiến trung với vuaphục vụ chế độ phong kiến
2.1.3 Chính sách giáo dục
Các thế lực phong kiến phương Bắc thực hiện chính sách đồng hoábằng giáo dục: cho người Hán di cư ở lẫn với người Việt, dạy chữ Hán vàtruyền bá Nho giáo và văn hoá Trung Hoa cho người Việt, mở trường để dạyhọc cho con em các quan lại người Việt và người Hán theo ngôn ngữ và luậtpháp Trung Hoa để đào tạo quan lại
Trong thời kỳ độc lập, nhà nước phong kiến Việt Nam có ý thức xâydựng một quốc gia độc lập nên đã chú trọng phát triển giáo dục và trọngdụng nhân tài theo tư tưởng giáo dục nho giáo
Tuy nhiên, do nguồn lực nhà nước có hạn nên nhà nước phong kiếnchỉ mở rất ít các trường học công cho con em các quan lại và hoàng thânquốc thích Việc tổ chức trường lớp và công việc giảng dạy chủ yếu do nhândân lo liệu Nhà nước tổ chức và quản lý chặt chẽ hệ thống thi tuyển để lựachọn quan lại Mong muốn thi đổ và được làm quan đã kích thích dân cư tạicác hương thôn từ trẻ tới già đầu tư vào việc học hành và tạo ra một truyềnthống hiếu học và chăm lo cho thi cử của Việt Nam
Đặc biệt, nhà nước phong kiến thực hiện chính sách rộng mở tronggiáo dục, không phân biệt tuổi tác, ai cũng được tham dự thi cử để chọnnhân tài
Tuy vậy, cũng có vai hạn chế như phụ nữ, con nhà đào hát không có
vị trí trong học hành và bổ dụng làm quan
2.1.4 Mô hình giáo dục
Nội dung giáo dục là các giáo điều của Nho giáo ( Tứ thư, Ngủ kinh ).Nhà nước tổ chức thi cử theo nội dung đó để lựa chọn người đỗ đạt, còntrường sở do các tầng lớp dân cư bản địa Việt Nam tự lo liệu Tuy nhiên, nhànước cai trị hạn chế đào tạo trình độ cao cho người Việt
Năm 1076, được coi là điểm mốc đánh dấu sự ra đời của hệ thống giáo dục Nho học, với việc nhà Lý khởi lập Quốc Từ Giám- trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, Quốc Tử Giám tổ chức giảng dạy dỗ cho
con em trong hoàng tộc, đến năm 1253, đổi thành Quốc Tử Viện, giảng dạycho cả con em thường dân học giỏi ở các tỉnh, huyện Hệ thống giáo dụcNho giáo bắt đầu mở rộng ra ở các địa phương với đối tượng rộng rãi hơntrong các tầng lớp nhân dân
Nội dung và phương pháp giảng dạy
Trang 12Hệ thống giáo dục Nho học, trên cơ sở lấy kinh điển Nho giáo làm nộidung giảng dạy, thông thường phân thành các bậc học như sau:
8 tuổi học sách Hiếu kinh, Trung kinh ;
12 tuổi học sách Luận Ngữ, Trung dung, Đại học ;
15 tuổi học sách Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu, Chư tử
Tứ thư ,ngũ kinh nguyên bản chữ Hán hoặc dịch sang chữ Nôm lànội dung cơ bản của giáo dục Nho giáo thời phong kiến độc lập
Người Việt cũng chế tác ra một số sách nhưng chủ yếu vẫn lấy nộidung trong tứ thư ngũ kinh
Các bài thi chủ yếu:
- Ám tả cổ văn
- Kinh nghĩa(Nghị luận).Thực chất là bình luận một đoạn văn nào đó trong
tứ thư ngũ kinh nhưng không được có ý kiến riêng của mình mà chỉ thuậtlại ý kiến người xưa
- Văn sách là bài bình luận về một chủ đề nhất định căn cứ vào các luậnđiểm trong tứ thư ngũ kinh
- Chiếu, Chế, Biểu là các văn bản hành chính các cấp Chiếu, Chế là cácdạng quyết định của vua, còn Biểu là văn bản trình lên vua
- Thơ và phú theo những niêm luật được quy định chặt chẽ
- Thời Hồ Quý Ly có thêm trường thi toán pháp
Phương pháp học tập chủ yếu là học thuộc lòng ( thuật nhi bất tác tức
là thuật lại chứ không được phép thêm bớt, tầm chương trích cú tức là tìm
và trích dẫn theo sách), không sáng tạo, xa rời thực tế
Có hai loại hình trường: trường công và trường tư Trong đó, nhà nướcchỉ quản lý trực tiếp đối với các trường công ở kinh đô và một số ít trườngcông ở các tỉnh, phủ và huyện; Trường tư phổ biến ở các làng xã do nhândân đóng góp xây dựng, tự hoạt động ngoài sự quản lý của nhà nước phongkiến tập quyền
Qua vài nét sơ lược trên đây chúng ta thấy: cơ cấu bậc học, cấp độquản lý của hệ thống giáo dục Nho học là hết sức đơn giản, mang tính chấtước lệ Vì yếu tố có tính cốt yếu trong hệ thống giáo dục Nho giáo chính là
hệ thống khoa cử
Thực ra, dưới thời phong kiến có nhiều hình thức thi cử: thi văn, thi
võ và thi lại viên, nhưng thi văn hay còn gọi là khoa cử Nho học vẫn là quantrọng nhất
Trang 13Có thể khái quát cơ cấu hệ thống khoa cử thời phong kiến bằng sơ đồ
dưới đây: (Xem hình 2)
Nhìn vào Hình 2 chúng ta thấy: hệ thống khoa cử Nho học được chialàm 3 cấp: thi Hương, thi Hội, thi Đình Thi Hương là thi cấp địa phương(huyện, phủ); thi Hội là thi ở trung ương do triều đình tổ chức; thi Đình là kỳthi do nhà vua trực tiếp đứng ra tổ chức, chấm thi và xếp loại
Muốn tham dự kỳ thi Hương, các sĩ tử trước hết phải qua một kỳ thi
sát hạch gọi là khảo thí, được Lý trưởng ở địa phương xác nhận lý lịch và
gửi danh sách lên hội đồng thi Hương.Thi Hương chia làm bốn trường, trong
đó thí sinh phải đỗ đủ cả 4 trường đạt bậc Cử nhân trở lên mới được tham gia thi Hội, đỗ đầu gọi là Giải nguyên, đỗ bậc cao gọi là Cử nhân, đỗ bậc dưới gọi là Tú tài.
Thi Hội được phân ra làm 4 trường, trong đó thí sinh phải đỗ cả 4trường đủ điều kiện tham gia thi Đình
Thi Đình không chia ra làm các trường như thi Hương, thi Hội nhưngphân ra thành nhiều cấp bậc đỗ đạt từ cao thấp như sau:
- Đệ nhất giáp (hay còn gọi là Tam khôi) có 3 hạng: đỗ đầu
là Trạng Nguyên, thứ đến Bảng nhãn, Thám hoa
- Đệ nhị giáp có một hạng duy nhất là Hoàng giáp
Đệ Tam giáp cũng có 3 hạng: Tiến sĩ suất thân, Đồng tiến sĩ suất thân, và cuối cùng là Phó bảng (Xem Hình 2)
Những người đỗ thi Đình còn được vua ban mũ, áo, yến tiệc, thăm vườnThượng uyển, được khắc tên vào bia đá dựng ở Văn miếu, được võng lọngđưa về quê
Hệ thống thi cử đã hoàn chỉnh vào thời Trần- Hồ với các nội dung cảicách của Hồ Quý Ly Về sau chủ yếu thay đổi tên gọi và bằng cấp, học vị
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với ý tưởng khẳng định sự độclập, sự đối lập của đất nước và Vương quyền Việt Nam với hệ thống phongkiến tập quyền phương Bắc Trong thời gian cầm quyền ông đã tiến hành cáchoạt động cải cách giáo dục sau:
- Soạn sách Minh đạo, phê phán Khổng tử, chê trách Tống Nho
- Bắt sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục Ai thi đỗ Kinh Phật mới được làmsư
- Ngăn cấm nghề phương thuật
- Đề cao chữ Nôm, sử dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính, sángtác thơ phú
- Sửa đổi thi cử: Đề ra thi Hương ở địa phương, thi Hội, thi Đình Quy
định 4 trường thi tức 4 môn trong mỗi kỳ thi Thay thi ám tả cổ vănbằng thi kinh nghĩa sát thực tế Mở môn thứ 5 là viết chữ và toán
- Đặt học quan ở các lộ và cấp ruộng công cho giáo dục
Trang 14Thực chất, khoa cử chỉ là một trong những loại hình đánh giá, gắn
liền với việc phân biệt thứ hạng cao thấp thông qua hệ thống văn bằng, cấp
bậc… Ví dụ, trong hệ thống khoa cử Nho học tương đương với 3 cấp thi
hương, thi hội, thi đình thì có 3 loại bằng cấp tiến sĩ, cử nhân, tú tài Tuy
nhiên, trong mỗi cấp lại phân ra thành các bậc cao thấp, đỗ cao nhất trong thi
tiến sĩ thì gọi là Trạng nguyên, thứ đến là Bảng nhãn, Thám hoa v.v…
Giáo dục phong kiến đặc biệt đề cao khoa cử vì đây là biện pháp quan
trọng bậc nhất để phát hiện và tuyển chọn hiền tài ra làm quan cai trị giúp
vua giúp nước Thái độ đề cao đối với giáo dục – khoa cử của các vua chúa
phong kiến đó được sử sách ghi lại
Hình 2 HÖ thèng thi cö thêi phong kiÕn (*)
(thi v¨n)
Năm 1434, Lê Thánh Tông chiếu định phép thi hương và thi Tiến sĩ
có đoạn: “Muốn có nhân tài trước hết phải chọn người có học, phép chọn
người có học thì thi cử là hàng đầu” 1
(*) Nhµ trêng phæ th«ng ViÖt Nam qua c¸c thêi kú lÞch sö, NguyÔn §¨ng TiÕn, Nxb §HQG Hµ Néi, 2001,
+ Đôc bậc dưới: Sinh đồ (Tú tài)
* Đệ nhất giáp: Tam khôi
1 Tiến sĩ xuất thân
2 Đồng tiến sĩ xuất thân
3 Phó bảng (từ thời Nguyễn)
Trang 15Sắc dụ năm 1499 dưới thời Lê Hiến Tông chỉ ra rằng: “Nhân tài là
nguyên khí của Nhà nước, nguyên khí mạnh thì thế đạo mới thịnh Khoa mục là đường thẳng của quan trường, đường thẳng mở thì chân nho mới có Cho nên đời xua mở khoa thi chọn người tài giỏi tất phải nghiêm ngặt về quy tắc trường thi, cẩn thận về việc dán tên giữ kín, có lệnh cấm không được bảo nhau nghĩa sách, không được viết thư trao đổi với nhau…”2
Thế kỷ XIX, triều Nguyễn rất mực chú tâm phát triển giáo dục - khoa
cử Năm 1822, sau khi lên nối ngôi, vua Minh Mệnh có lời dụ về việc khoa
cử như sau: “Khoa thi Hội này là khoa thi đầu tiên, là điển lễ quan trọng,
các ngươi nên nhất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên của trẫm”3
Tuy nhiên, thái độ đề cao khoa cử qúa mức đã làm cho nền giáo dụcphong kiến bị hư hoại Những hoạt động đóng góp về tư tưởng – học thuậtkhông được chú ý tới, thay vào đó là thói háo danh, hữu danh vô thực Khoa
cử trở thành những nấc thang tiến thân của giới trí thức với nhiều tệ nạn sách
vở, hư danh, kinh viện, xa rời thực tiễn giáo dục Có thể coi đây là một trongnhững hạn chế có tính cố hữu của hệ thống giáo dục Nho học tồn tại daidẳng ở nước ta trong suốt thời kỳ phong kiến
Đội ngũ giáo viên
Thời kỳ bắc thuộc: Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người Hán Về saumột số người Việt đỗ cao cũng được giảng dạy
Thời kỳ độc lập: Đội ngũ giáo viên là các ông đồ Nho ở các hương,phủ đảm nhiệm việc giảng dạy Ở các cơ sở giáo dục của Triều đình (Quốc
tử giám) đã hình thành một đội ngũ các nhà khoa bảng, đỗ đạt cao (Trạngnguyên, Tiến sĩ ) đảm nhiệm các vai trò tổ chức quản lý và giảng dạy
Học sinh.
Thời kỳ bắc thuộc: Phong kiến Trung Hoa về cơ bản không kiểm soát
số lượng người đi học, nhưng trên thực tế chúng chỉ dạy cho dân Việt biếtchữ để thực hiện các mệnh lệnh cai trị nên số ngưòi đi học chủ yếu thuộctầng lớp trên Việc hạn chế số lượng người đi thi trình độ cao trên thực tếnhằm kìm hãm sự phát triển đối với người Việt
Thời kỳ độc lập: Không hạn chế bất kỳ điều kiện nào trừ phụ nữ bịcấm học hành, thi cử, và con nhà đào hát không được bổ dụng làm quan Tuy nhiên, trên thực tế chỉ những nhà có đIều kiện nuôi thầy mới tổ chứcđược việc học hành thi cử tốn kém cho con cái
Đào tạo quân sự thời phong kiến độc lập
2 Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến chương loạI chí, Khoa Mục chí – TIII, Tr.1
3 Trích theo Phan Đại Doãn, Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, 1997, Tr 173
Trang 16- 1253 Nhà Trần lập giảng Võ đường đào tạo và thi tuyển quan võ.
- 1429 Nhà Lê tổ chức khảo thí võ quan ở thành Đông Kinh theo 3 môn:Bắn cung, ném lao, lăn khiên Người đỗ cao được phong Võ uý
- 1721 Chúa Trịnh Cương cho mở trường dạy võ Giáo viên gọi là giáothụ
- 1724 Mở kỳ thi võ tuyển chọn võ quan tại Thịnh Quang
- 1836 Vua Minh Mạng nhà Nguyễn đặt khoa thi võ theo 3 cấp Hương
Võ, Hội võ, Đình võ, với độ khó ngày càng tăng Nội dung thi gồm 3trường tức 3 môn : Trường 1- thi võ kinh chủ yếu là theo sách Tôn Tử,Trường 2 thi võ nghệ tức kỹ thuật chiến đấu, Trường 3 thi võ sách tứcmưu lược chiến đấu
2.1.5 Sự tham gia của các giai tầng xã hội trong giáo dục.
Tham gia hệ thống giáo dục Nho giáo ở Việt Nam thời Bắc thuộc chủyếu là người thuộc tầng lớp quan lại giàu có, có điều kiện nuôi các thầy giáo
và tổ chức ra ra trường lớp Đa số nhân dân lao động vẫn ở trong tình trạngngu muội để bọn chúng dễ bề cai trị
Thời kỳ độc lập: Do chế độ đẳng cấp phân biệt giầu nghèo, quân tửtiểu nhân trong đó quân tử là người có học- lao tâm, tiểu nhân là người vôhọc- lao lực , quan cai trị dân, học để làm quan, thi đỗ để vinh quy bái tổ…
hệ thống giáo trị này đã thúc đẩy mọi người hăng hái tham gia học hành thi
cử để mong đỗ đạt làm quan, thay đổi số phận
Nhân dân đóng góp phần lớn của cải nuôi đội ngũ giáo viên tại nhà,tại làng
2.1.6 Những tác dụng tích cực của Nho giáo ở Việt Nam:
Đề cao lý tưởng độc lập, tư tưởng trung quân ái quốc giúp bảo tồn chế
độ phong kiến tập quyền Việt Nam
2.1.7 Những tác động tiêu cực của Nho giáo còn ảnh hưởng đến ngày nay, đó là:
- Lối học giáo điều, nhồi nhét, sách vở, khuôn sáo
- Hạn chế sáng tạo, nệ cổ, coi chân lý là ở người xưa
- Học tập chữ nghĩa, văn chương phù phiếm, đề cao văn chương
- Học vì hư danh, chạy theo học vị, bằng cấp, không phải để dùng vàothực tế mà vì mũ áo, cờ quạt, chức tước vua ban Học để làm quan, để cảnhà và cả họ được nhờ
- Tư tưởng đẳng cấp; trọng nam kinh nữ, ham thích quyền lực, đề caochính trị, đề cao xu hướng bành trướng ( học để tu thân , tề gia, trị quốc,bình thiên hạ )
Trang 17Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ phong kiến độc lập với giáo dục Nho học là chủ yếu Bên cạnh giáo dục Nho học có sự tồn tại các loại hình
giáo dục của Phật giáo và Đạo giáo Tuy có sự khác biệt song các loại hìnhgiáo dục trên không có sự bài trừ lẫn nhau Đặc biệt, Tam giáo thịnh vượngnhất là dưới thời Lý – Trần, triều đình nhiều lần đứng ra tổ chức kỳ thi Tamgiáo bao gồm cả 3 nội dung Nho – Phật - Đạo Tuy nhiên, các triều đạiphong kiến nối tiếp nhau luôn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống,nền giáo dục Nho học nhờ đó được bảo vệ, dung dưỡng, duy trì, củng cố,dần trở thành hệ thống giáo dục chính thống và bao trùm trong suốt thời kỳphong kiến Giáo dục Việt Nam truyền thống chủ yếu dung nạp, hoài hòanội dung từ tam giáo là đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão Tuy nhiên, nội dungcủa 3 tôn giáo này khi vào Việt nam đã được cải biến theo văn hoá và giá trịcủa người Việt
Đặc điểm nổi bật nhất của giáo dục thời kỳ phong kiến độc lập ở ViệtNam là Tam giáo đồng hành tức Nho, Phật, Lão giáo chung sống và cùng tácđộng vào đời sống cộng đồng Nhà nước phong kiến Việt Nam có nhiều kỳlấy Tam giáo làm nội dung thi
Đặc điểm thứ hai là nhà nước phong kiến chủ yếu quản lý việc thi cử
và một số trường công giành cho con em tầng lớp quan lại, còn việc học tậpchủ yếu do nhân dân tự đảm nhiệm theo chế độ dân lập hình thành mộtmạng lưới các cơ sở giáo dục tự phát ở các làng,xã, thôn, bản …và đội ngũThầy đồ tự do truyền thụ cho các tầng lớp học trò theo hiểu biết và kinhnghiệm cá nhân
Đặc điểm thứ ba là nhà nước gắn việc thi cử và đỗ đạt với chế độ bổnhiệm quan lại Vì thế mà xã hội đã đề cao quá mức việc học hành, khoa cử
và đỗ đạt làm quan, coi nhẹ mục tiêu mở mang dân trí và vận dụng kiến thứcvào thực tiễn Đặc điểm này còn ảnh hưởng tiêu cực đến ngày nay, nhiềungười đặt mục tiêu học tập là thăng quan tiến chức
Bảng 3 Các sự kiện chính của giáo dục Nho giáo ở Việt Nam
(Từ thời đại Hùng Vương đến năm 938).
Tồn tại giáo dục dân gian và văn hoá cổ truyền.
Sự hình thành và truyền các nghề nông nghiệp và thủ công
Trang 18nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, đúc kim loại…
Giáo dục ý thức và văn hoá cộng đồng, truyền thống giữ nước và bảo tồn văn hoá dân tộc.
nhập của chữ Hán và Nho giáo vào Việt nam.
Thời kỳ này nhà Tần chủ trương bài trừ Nho giáo.
3 Thế kỷ 1, Đầu
công nguyên
Nhà Hán cho người sang ở lẫn với người Việt để dạy chữ
và truyền bá văn hoá Trung hoa.
Tích Quang và Nhâm Diên cho lập trường học đầu tiên ở nước ta.
- Thi Tiến sỹ không quá 8 người.
- Thi Minh kinh không quá 10 người.
Bảng 4 Các sự kiện chính của giáo dục Việt Nam thời kỳ phong kiến độc lập
( từ 938- 1858 )
Đằng, mở đầu thời kỳ phong kiến độc lập ở Việt nam.
2 Đầu thế kỷ 10 Xuất hiện việc dùng âm Hán Việt để thực hiện việc giáo
dục thay cho âm chữ Hán đã đánh dấu sự bảo tồn văn hoá dân tộc Việt Nam.
giáo dục Phật Giáo
5 1076 Lập Quốc Tử Giám, đào tạo quan lại cao cấp Đây là
trường học quốc lập đầu tiên của Việt nam.
Khuyến khích mở trường tư thục
Hồ Quý Ly cải cách giáo dục, phê phán Khổng Tử, đề cao nền giáo dục độc lập.
Truyền dạy chữ Nôm, chữ Nôm thay thế chữ Hán trong đời
Trang 19sống chính trị , văn học xã hội.
Phát triển giáo dục Nho giáo.
Hành Nhân Hạ Thanh và Tiến sỹ Hạ Thì thu sách vở và tài liệu về văn hoá và lịch sử Việt Nam.
Minh để khai thác nhân tài đất Việt.
nhà Lê.
phủ huyện.
nâng cao chất lượng đào tạo.
giáo viên gọi là giáo thụ, về sau gọi là giáo huấn đạo Muốn làm huần đạo phải trúng tuyển kỳ thi hội và trải qua
4 kỳ thi nữa và đủ 35 tuổi
đã cho mở kỳ thi chọn huấn đạo
21 1434,1437, 1444 Tổ chức các kỳ thi lại điển chọn quan lại.
Vũ Nguyên Tiềm và Tạ Bưu để đánh giá năng lực giảng dạy cho các Hoàng tử và sau đó thải 2 người này.
loại các quan yếu kém.
Cho in sách để cấp phát cho các trường, cấm dùng sách do Trung Quốc in.
chọn nhân tài và thúc đẩy việc học, sử dụng chữ Nôm thay chữ Hán.
27 1802 Vua Gia Long cho chấn hưng Nho học Đặt các chức
quan : đốc học, giáo thụ, huấn đạo để quản lý giáo dục và thi cử.
Trường học được phát triển đến các hương, phủ, huyện Cả nước có 158 trường quốc học.
Trang 20Vua Minh Mạng quy định kiến trúc nhà học để bảo đảm chất lượng giáo dục.
giáo dục Nho học.
Bảng 5 Kết quả giáo dục thời phong kiến độc lập.
2.2 Tư tưởng giáo dục Phật giáo
Đạo Phật là một tôn giáo lớn và lâu đời trên thế giới có ảnh hưởng đếnnhiều nước ở châu Á Phật giáo là một học thuyết mang nhiều tính tâm linh
và có một tinh thần nhân bản cao cả
Trang 21Nền văn minh Ấn độ là khởi nguồn của các tư tưởng, triết lý Phật giáomang nặng tinh thần từ bi, hỷ xả, hướng thiện Con người tu tâm, dưỡng tínhnơi trần tục để hưởng phúc trên cõi Niết bàn Để truyền bá và phát triển các
tư tưởng, triết lý của mình, các tổ chức Phật giáo đã đã hình thành các loại
hình trường vihares của đạo Phật để đào tạo cho các sư sãi ở Ấn Độ Các
triết lý, tư tưởng Phật giáo hình thành, phát triển và lan tỏa ra nhiều nước,nhiều khu vực trên thế giới trong đó đặc biệt là ở các nước Châu á nhưTrung quốc, Việt nam, Camphuchia…
Phật giáo vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, bao gồm 2trường phái chính là tiểu thừa và đại thừa và đã được người Việt Nam tiếpnhận có chọn lọc phù hợp với những phong tục văn hoá Việt Nam Để tuyêntruyền cho Phật pháp, các nhà tu hành đã xây dựng hệ thống chùa chiền trênkhắp đất nước Việt Nam Phật giáo đã có nhiều đóng góp cho giáo dục đạođức và tâm linh của người Việt Nam Hoạt động giáo dục của Phật giáo chủyếu diễn ra trong các chùa chiền gắn với các hoạt động tôn giáo và quá trình
tu luyện của các tăng ni, phật tử, các bậc cao tăng Tư tưởng, triết lý và cácnội dung giáo dục được phản ánh trong các Bộ kinh sách Hiện nay, còn lưugiữ được những bộ kinh Phật được người Việt Nam khắc bằng chữ Hán trêncác bản gỗ Đây là những bộ sách lớn của Việt Nam về Phật giáo còn đượclưu lại
Những đóng góp của Phật giáo cho văn hoá và giáo dục Việt Nam cònchưa được nghiên cứu đánh giá đúng mực và đầy đủ
Bảng 6 Các sự kiện giáo dục Phật giáo chính
Hán Hình thành trung tâm Phật giáo lớn là Luy Lâu.( ThuậnThành, Bắc Ninh hiện nay )
Việt Nam.
Đổng, Hà Nội ngày nay.
Phật giáo Xây dựng nhiều chùa chiền.
Văn hoá Phật giáo được truyền bá sâu rộng trong nhân dân Phật giáo có quyền trong việc đào tạo quan lại cho nhà nước phong kiến.
tại Trùng Hưng.
Trang 227 1298 Trần Nhân Tông lập phái Trúc Lâm Thiền Tông của Việt
tu luyện tại tâm với tư tưởng chủ đạo là từ bỏ các các tham vọng (tham, sân,
si - nguồn gốc của cái ác để từ biển mê đến biển giác, trong đó ý thức được
sự bình đẳng giữa các sinh giới và con người Phương châm sống và hànhđộng là từ bi hỷ xả, ở hiền gặp lành, chính tâm, làm điều thiện…
2.2.2 Chính sách giáo dục
Phật giáo là một tôn giáo không có giáo chủ, không mang xu hướngbạo lực nên gần gũi với nhân dân lao động Với triết lý sống ở cõi đời này làcõi tạm, chết về thế giới bên kia mới là cõi Vĩnh hằng, Phật giáo chủ trương
xa lánh sự đời, không tham gia chính sự Tuy nhiên, để truyền bá và pháttriển các tư tưởng, triết lý phật giáo, các tổ chức Phật giáo cũng tham gia và
có vai trò lớn nhiều hoạt động văn hóa-xã hội trong phạm vi quốc gia cũngnhư quốc tế
2.2.3 Mô hình giáo dục
Giáo dục Phật giáo phát triển theo quy định của các tổ chức Phậtgiáo Sự truyền bá Phật giáo được thực hiện bằng con đường tu luyện dướinhiều hình thức khác nhau như tu tại chùa, tu tại tâm, tu tại gia Hệ thốngtrường chùa và các Học viện phật giáo cao cấp cũng được hình thành và pháttriển nhằm góp phần giáo hóa, giáo dục tầng lớp trẻ và đào tạo các chức sắcphật giáo cao cấp
Đội ngũ giáo viên
Các tăng sư là những giáo viên chủ yếu Thường thường đây là nhữngngười thông tuệ tam giáo: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo
Học sinh.
Học sinh là những người tự nguyện tu hành trong các chùa Một phầnbao gồm con em nhân dân lao động được nhà chùa cho ăn học Nhà chùacòn là chốn nương thân cho những số phận thiệt thời trong xã hội
Sự tham gia của các giai tầng xã hội trong giáo dục.
Trang 23Các chùa ở Việt nam hầu hết do nhân dân xây dựng và rất gần gũi vớinhân dân lao động do vậy Phật giáo rất gần gũi với nhân dân và có nhiềuđóng góp cho hệ thống giáo dục của Việt Nam trong tất cả các giai đoạn củalịch sử dân tộc.
Nghiên cứu và xác định lịch sử phát triển của giáo dục Việt Nam cầnxem xét đến vai trò giáo dục của Phật giáo cả trên bình diện lý thuyết vàthực tiễn Phật giáo khi vào Việt Nam không còn là một tôn giáo mà đã trởthành một di sản văn hoá giáo dục, một phần cội rễ của văn hoá giáo dụcViệt Nam
III NỀN VĂN MINH VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHƯƠNG TÂY
3.1 Tổng quan
Giáo dục Phương Tây nói chung và giáo dục đại học phương Tây nóiriêng gắn liền với văn minh phương Tây từ thời cổ đại (văn minh Hy-La)đến thế kỷ 10, trải qua thời kỳ Phục hưng (Thế kỷ 12-14), thời kỳ Ánh sáng
Trang 24(Thế kỷ 15-16) và phỏt triển mạnh trong giai đoạn cụng nghiệp hoỏ (thế kỷ17-19 ) và hiện nay là thời đại hậu cụng nghiệp, kinh tế tri thức Nền vănminh Hy-La phỏt triển vụ cựng sỏng lạng và là cơ sở của nền văn minhPhương Tõy sau này Hệ thống giỏo dục phương Tõy phỏt triển qua nhiềuthế kỷ với nhiều bước thăng trầm gắn liền với cỏc cuộc cỏch mạng khoa học-cụng nghệ, cỏch mạng xó hội, phỏt triển văn hoỏ và văn minh nhõn loại.Giỏo dục đại học phương Tõy thời kỳ đầu gắn liền đào tạo tinh hoa vớicỏc nội dung thần học, văn chương, luật, khoa học và nghệ thuật và sau nay
là khoa học-cụng nghệ hiện đại cựng nhiều lĩnh vực văn hoỏ-xó hội-nhõnvăn
Theo cỏc nhà nghiờn cứu GDĐH phương Tõy mọi nền văn minh đềucần đến GDĐH nhằm dào tạo giới tinh hoa để điều hành nhà nước trong mọilĩnh vực, nhưng chỉ trong thời trung cổ ở chõu Âu mới xuất hiện cỏc thực thể
với tư cỏch là trường đại học: một nhà trường bậc cao kết hợp giảng dạy với học thuật và được đặc trưng bởi quyền tự chủ và tự do học thuật.
Văn minh phương Tõy là cỏi nụi của nhiều nhà tư tưởng văn húa,triết gia lớn cú ảnh hưởng sõu sắc đến sự phỏt triển xó hội núi chung và nềngiỏo dục phương Tõy núi riờng
Socrate (469-399 TCN) –nhà triết học ngụy biện lớn nhất của Hy lạp.ễng cho rằng mục đớch của triết học khụng chỉ để nhõn thức tự nhiờn mà là
để nhận thức chớnh bản thõn mỡnh Trong lĩnh vực giỏo dục ễng phản đốiviệc dạy lý thuyết đơn thuần và chủ trương chỉ đặt ra những cõu hỏi cho họctrũ trả lời và qua đú cú thể đạt tới chõn lý ễng cũng cho rằng giỏo dục cúvai trũ “ bà đỡ” giỳp cho tư tưởng sinh ra
Platon( 427-347 TCN) học trũ của Socrate - triết gia vào giữa thế kỷthứ 5 và thứ 4 trớc công nguyên, về phân loại đối tợng giáo dục Platon chorằng con ngời đã đợc sinh ra với những khả năng khác nhau về trí lực và thểlực ễng chủ trương giỏo dục nờn do nhà nước tổ chức và quản lý v phảià phảiphù hợp với năng khiếu bẩm sinh của con ngời Do đó hệ thống giáo dục tốt,trong một xã hội lý tởng do Platon giả định, phải gồm 3 loại: giáo dục chongời lao động sản xuất, giáo dục cho lính tráng và giáo dục cho ngời caiquản xã hội Chủ thuyết này của Platon đã gây nhiều tranh cãi từ lúc mới ra
đời, trong thực tế chủ yếu là dựa vào suy luận triết học của Platon Xã hộitrong đó Platon thiết kế mô hình hệ thống giáo dục là một xã hội do Platon t-ởng tợng ra và đặt tên là “Nớc cộng hoà” (Republic)
Aristote ( 384-322 TCN) – Nhà triết học vĩ đại cổ Hy lạp- học trũ củaPlaton ễng là nhà bỏch khoa toàn thư với những niểu biết sõu rụng trờnnhiều lĩnh vực Về giỏo dục, Arisstote chủ trương mục đớch của giỏo dục làphỏt triển lý tớnh, nhà nước nờn mở cỏc cơ sở giỏo dục dạy con em tầng lớpquý tộc phỏt triển hài hũa về thõn thể, đạo đức và trớ tuệ
Thời kỳ phục hưng (Thế kỷ 14-16) xuất hiện cỏc tờn tuổi lớn nhưNicụla Cụpộcnich ( 1473-1543) với thuyết Nhật tõm nổi tiếng; Cỏc nhà họa
Trang 25sĩ và bách khoa tài năng Leonacdo de Vanhxi ( 1452-1519);Mikenlănggiơ
Thời kỳ khai sáng của nền văn minh phưong Tây (Thế kỷ 16-18) đã xuấthiện nhiều nhà triết học, tư tưởng xã hội nổi tiếng như C.L Montesquieu( 1689-1755) với tư tưởng tam quyền phân lập; J.J Rousseau ( 1712-1778)nhà tư tưởng xã hội Pháp với chủ trưong bênh vực quyền lợi của người dânđặc biệt là nông dân và dân nghèo, lên án chế độ sở hữu tư nhân và hậu quảcủa nó là tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Các nhà triết học nổi tiếngnhư Heghen với phép biện chứng; Kant- với tinh thần duy lý có ảnh hưởnglớn đến sự phát triển của xã hội nói chung và với khoa học, giáo dục PhươngTây nói riêng
Thời kỳ cách mạng công nghiệp và hậu công nghiệp (thế kỷ 19- đến nay)
đã nổi lên những tến tuổi lớn, những nhà canh tân giáo dục như EmileDurkheim (1858-1917); Jean Piaget (1869-1980); John Dewey (1859-1952) Emile Durkheim (1858-1917) -Triết gia, nhà hoạt động xã hội và giáodục Pháp người tiên phong trong cách tiếp cận cấu trúc chức năng và khoahọc xã hội mang tính giáo dục E Durkheim khẳng định “ mọi xã hội trongbất kỳ giai đoạn phát triển nào đều có một hệ thống giáo dục áp đặt lên các
cá nhân’ Thông qua giáo dục “ con người cá nhân” mới trở thành “conngười giáo dục “ Theo E.Durkheim, hệ thống giáo dục nhà trường có chứcnăng giáo dục và có tính độc lập tương đối Nó không chỉ phụ thuộc vào hệthống xã hội mà còn có tác động mạnh mẽ trở lại đối với xã hội Cải cáchgiáo dục không chỉ phản ảnh bối cảnh xã hội nói chung mà còn thể hiện cáchthức hệ thống nhà trường phản ứng, đáp ứng lại những yêu cầu mới xuấthiện và chưa được thể chế hoá trong xã hội Ông đã có nhiều đóng góp lớn
về phương pháp giáo dục, môi trường học đường, về giáo viên mở ra nhiềuvấn đề nghiên cứu về xã hội học giáo dục
Jean Piaget nhà tâm lý học Thuỵ sĩ nổi tiếng với những cống hiến xuấtsắc trong lĩnh vực phát triển tâm lý và các giai đoạn phát triển nhận thức củatrẻ em Ông nhấn mạnh rằng: Trẻ em không phải là bản sao chép của ngườilớn
.Chúng có những cách đặc trưng riêng của mình đẻ biểu đạt thế giới, tiếpcận với hiện thực và sử dụng ngôn ngữ cùng các phương thức này thay đổitheo thời gian Các quan điểm của Jean Piaget thể hiện các các tư tưởng tiến
bộ trong giáo dục thông qua quá trình nhận thức chủ động và tích cực hoạtđộng khám phá, tương tác với đối tượng nhận thức của chủ thể
John Dewey ( 1859-1952) -Triết gia nổi bật nhất của nước Mỹ đầu thế
kỷ 20 Trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình, ông kiên trì phát triển và ứngdụng học thuyết gắn kết giữa lý thuyết và thực hành với phương châm “ họctập chính là cuộc sống” và học thông qua hành động – learning by doing
Trang 26Ông là đại diện tiêu biểu cho Thuyết giáo dục học chức năng với quan niệm
tư duy không phải là một loạt những ấn tượng của tri giác hay một “ đồ tạotác” từ cái gọi là “ Ý thức”, cũng không phải là biểu hiện của Trí tuệ tuyệtđối mà là một phương tiện trung gian được phát triển nhằm phục vụ lợi ýcủa sự sống còn và lợi ích của con người
Theo Dewey, đối với cả trẻ em và người lớn, tư duy là phương tiện nhằmgiải quyết những vấn đề thực tế và tri thức được tích luỹ thông qua chínhquá trình giải quyết vấn đề đó Như vậy, ngay cả trẻ em cũng không phải là
tờ giấy trắng để giáo viên ghi lên đó những bài học của các nền văn minh( như nhiều quan niệm khác) mà cần nắm bắt những vốn kinh nghiệm, hiểubiết (tuy còn non nớt) cùng các tiềm năng phát triển của trẻ để tổ chức vàđịnh hướng các hoạt động giáo dục thích hợp Ông có nhiều đóng góp trongcác lĩnh vực phát triển giáo viên và các chương trình giáo dục có tính thựchành, thực dụng cao; phát triển mô hình nhà trường phù hợp với xã hội dânchủ (Dân chủ và Giáo dục) Mô hình trường Thực nghiệm ở Chicago tuykhông thành công như mong đợi của J Dewey nhưng cũng để lại nhiều ảnhhưởng đến sự phát triển của nền giáo dục Mỹ thời kỳ hiện đại
3.2 Hệ thống các triết lý giáo dục của Jonh Wiles và Joseph Bondi
Theo Jonh Wiles và Joseph Bondi, các triết lý chính về đời sống xã hộinói chung và con người, giáo duc nói riêng theo truyền thống được xác địnhtheo 3 tiêu chí cơ bản : cái gì đúng ? cái gì tốt? Cái gì thực ? Các quan điểmcủa cá nhân về cái tốt, chân lý, và hiện thực thường khác nhau đáng kể Việcphân tích các câu hỏi này cho thấy các mô hình thống nhất về cách trả lời.Các câu trả lời này được phân nhóm và đặt tên và qua đó chúng trở thànhcác tư tưởng, quan niệm chính thống hay triết lý
Theo ngôn ngữ triết học, quan niệm về cái tốt liên quan đến các địnhhướng, quan niệm hay lý thuyết về giá trị hay định hướng giá trị như giá trịcon ngưòi, giá trị nhân bản, giá trị cuộc sống, giá trị của những hànhđộng vv Trong giáo dục và nhà trường các quan niệm về giá trị chi phốiđịnh hướng tính chất, bản chất, các mối quan hệ cơ bản của nền giáo dục và
hệ thống nhà trường, chi phối quá trình tổ chức và quản lý hệ thống giáodục, quản lý nhà trường để hình thành những “ sản phẩm “ giáo dục mà xãhội mong muốn trong từng giai đoạ lịch sử Các triết lý về nhận thức luậnliên quan đến các câu hỏi về đặc trưng, bản chất của quá trình học tập, quátrình nhận thức và tư duy, môi trường học tập và các cách thức tiếp cận hoặccác phương pháp tìm ra chân lý Các khía cạnh bản thể của triết lý liên quanđến quá trình tìm kiếm, khám phá hiện thức hoạt động giáo dục ở các hìnhthức đa dạng trong thực tiễn: mục tiêu, nội dung, phương pháp., người dạy,
Trang 27người học v.v Do đó, các chuẩn mực của các yêu cầu mang tính triết lýliên quan đến cái tốt,chân lý, và bản thể (hiện thực) được chuyển đổi thànhnhững câu hỏi liên quan đến bản chất, nguồn gốc, đặc trưng, quy luật củaquá trình dạy học trong thực tiễn.
Triết lý giáo dục là một biểu hiện cụ thể của hệ tư tư tưởng và triết lý xãhội hết sức đa dạng và phức tạp trong các giai đoạn phát triển của lịch sử đờisống xã hội ở phạm vi toàn cầu cũng như ở từng quốc gia Những quanniệm, triết lý về giáo dục sẽ chi phối những câu hỏi và trả lời về các vấn đề
cơ bản như : nhà trường có nên tồi tại không ? lý do tồn tại ? dạy ai, dạy cái
gì, dạy như thế nào vv
Theo Jonh Wiles và Joseph Bondi có nhiều triết lý giáo dục hiện hữutrong đó có 5 triết lý nổi bật sau :
1 Triết lý vĩnh cửu: Là khuynh hướng triết lý bảo thủ, dựa theo truyền
thống, thường kém linh hoạt và thích ứng với sự thay đổi Triết lý vĩnh cửu
đặt niềm tin vào tính bất biến của vạn vật Giáo dục cũng như bản chất của
con người là không đổi Đặc điểm nội bật của con người là khả năng suyluận ( động vật cao cấp có ý thưc ) nên giáo dục phải chú trọng đến pháttriển khả năng suy luận lôgic, sự hợp lý như là một thuộc tính của tự nhiên
Để chuẩn bị cho cuộc sống nhà trường phải dạy cho học sinh tinh thần vàhiện thực tồn tại vĩnh cưủ của thế giới thông qua việc học tập có tổ chức.Triết lý vĩnh cưủ cho rằng : hiện thực là thế giới của lý tính và đó là chân
lý ( không cần chứng minh ) Chân lý đó được khám phá qua việc học vàmột số chân lý khác qua hoạt động tiên đoán (suy luận) Theo triết lý này cáitốt được tìn thây trong sự hợp lý của chính nó Những người theo triết lývĩnh cửu thiên về viẹc xây dung những chương trình bao gồm các môn họcvới các quy trình dạy học chặt chẽ, rèn luyện tính kỷ lụân và các hành viđược kiểm soát (theo quan điểm hiện nay) tồn tại chủ yếu để bộc lộ lý tínhbằng việc giảng dạy những chân lý bất diệt Giáo viên diễn dịch và thuật lạinhững chân lý, tin điều vĩnh hằng Học sinh là những người lĩnh hội thụđộng, tiếp nhận bới chân lý là bất diệt Tất cả những thay đổi của nhà trườngchủ yếu là ở hình thức ( bề mặt )
2 Triết lý duy tâm Là triết lý dựa trên quan điểm tán thành sự thông
thái của con người Hiện thực (thực tế) được xem như là thế giới trong tư
tưởng của từng cá nhân Chân lý được tìm thấy trong sự nhất quán của tưtưởng Cái tốt là một tình trạng lí tưởng, là cái gì đó còn mơ hồ mà conngười phải cố giắng để đạt được
Các nhà duy tâm thiên về nhà trường dạy các môn về tư tưởng, đời sốngtinh thần Giáo viên phải là những mẫu mực của những hành vi lý tưởng.Đối với các nhà duy tâm, chức năng của nhà trường là làm cho các quá trìnhtrí tuệ sâu sắc hơn, để giới thiêụ sự thông thái của các thời đại và để giới
Trang 28thiệu mô hình những hành vi gương mẫu (tấm gương) Học sinh trong loạihình trường này có vai trò bị động, đón nhận và học thuộc những bài giảngcủa giáo viên.Sự thay đổi của nhà trường được xem như được hướng dẫntrong trật tự của quá trình giáo dục.
3 Triết lý hiện thực: Đối với các nhà hiện thực thế giới là chính nó
Công việc của nhà trường là dạy học sinh về thế giới Cái tốt đối với nhàhiện thực được tìm thấy trong quy luật của tự nhiên và trong trật tự của thếgiới tự nhiên Chân lý là sự tương ứng đơn giản với sự quan sát (thực tiễn làtiêu chuẩn của chân lý)
Nội dung giáo dụng nhà trường theo triết lý hiện thực, thiên về các mônhọc về thế giới hiện thực và hiện đại như Toán, khoa học Học sinh được dạynhững thông tin, tri thức thực tế để có thể trở nên thông thạo Giáo viêntruyền đạt kiên thức về thực tế đến học sinh hoặc trình bày thực tế đó để họcsinh quan sát và nghiên cứu Lớp học có tính trật tự và kỷ luật cao như chính
tự nhiên và học sinh là người thụ động tham gia trong việc nghiên cứu sựvận Các thay đổi của nhà trường được xem như là sự tiến hoá của tự nhiên
để đạt được một trật tự hoàn hảo hơn
4 Triết lý thực nghiệm: Đối với các nhà thực nghiệm thế giới luôn
thay đổi Thực tế là cái gì đó mà người ta đã thực sự kinh qua Chân lý là cái
đang diễn ra Cái tốt là những gì được chấp nhận qua sự khảo sát của côngchúng.Triết lý thực nghiệm chấp nhận công khai sự thay đổi và liên tục tìmkiếm để phát hiện phương cách mới nhằm mở rộng và cải tiến xã hội
Các nhà thực nghiệm thiên về nhà trường với sự chú trọng mạnh mẽđến các môn học xã hội và kinh nghiệm Học tập được tiến hành thông quagiải quyết vấn đề và các hình thức, yêu cầu đòi hỏi Giáo viên giúp đỡ họcviên hoặc tư vấn cho học viên, những người chủ động tham gia và kinh quathực tế của thế giới họ đang sống Các chương trình giáo dục thường tậptrung vào sự phát triển các giá trị thực tiễn, phát triển các hình thức học tậptheo nhóm
5 Triết lý hiện sinh Các nhà hiện sinh chủ nghĩa nhìn thế giới theo sự
chủ quan của cá nhân Cái tốt, chân lý cái hiện thực là do cá nhân quyết
định Thực tế là thế giới hiện hữu, chân lý được lựa chọn theo chủ quan; cáitốt là vấn đề của sự tự do
Đối với các nhà theo chủ nghĩa hiện sinh, nhà trường, nếu có thực, là nớigiúp học sinh hiểu chính bản thân mình.và biết được chỗ đứng của mìnhtrong xã hội Nếu các môn học tồn tại, chúng cần nói về sự diễn giải ví dụnhư: nghệ thuật, đạo đức học hay triết học Sự giao tiếp giữa học sinh vàgiáo viên xung quanh việc giúp học sinh trong quá trình học tập của họ Sựthay đổi trong nhà trường được xem như các hiện tượng tự nhiên và cần
Trang 29thiết Khả năng khụng cần học ở trường và chương trỡnh học được quyếtđịnh theo cỏ nhõn là điều cú thể
Bảng 7 Hệ thống các triết lý giáo dục
( Jonh Wiles và Joseph Bondi - 2002 )
Triết lý
Dấu hiệu
Triết lý vĩnh cửu
Triết lý duy tâm
Triết lý hiện thực
Triết lý thực nghiệm
Triết lý hiện sinh
Hiện thực ( Bản
thể học )
Thế giới của lý trí
và chúa trời
Thế giới của tinh thần
Thế giói của sự vật Thếcủa kinh giới
nghiệm
Thế giới hiện hữu
Sự nhất quán của
t tởng
Sự tơng ứng của cảm giác
Thực tiễn
là chân lý Thuộc cánhân, lựa
chọn chủ quan
Cái tốt Triết lý
giá trị
Hợp lý Sự bắt
ch-ớc mẫu ngời lý t- ởng
Quy luật tự nhiên
Khảo sát của công chung
Tự do
Giảng dạy hiện
thực
Các môn học và các triết lý
Các môn học trí tuệ- viết,
đọc, triết học, tôn giáo
Các môn học về thế
nhiên : toán , khoa học
Các môn
kinh nghiệm xã
hội –nghiên cứu xã hội
Các môn học chọn lựa, nghệ thuật, đạo dức triết học
Giảng dạy chân
lý
Kỷ luật của tinh thần thông qua rèn luyện
Dạy các t tởng thông qua thuyết giảng, thảo luận
Dạy để tinh
thông,giải thích, thông tin,kể lại
Giải quyết vấn đề , PP
đồ án
Gợi mở các phản ứng cá nhõn đặt câu hỏi
Giảng dạy cái
Bắt chớc các anh hùng, mẫu
lý tởng
Đào tạo theo quy tác đạo đức
Đa ra các quyết định nhóm một cách trật
tự
Đánh thức bản thân
tự chịu trách nhiệm
Để mài sắc t tởng
quán trình trí tuệ
Cho they trật tự của thế giơí và
vũ trụ
Khám phá
và phát triển xã
hội
Giúp dỡ tree m tự biết mình
và vi trí trong xã hội
Phải dạy cái gì Chân lý
bất diệt Sự thôngthái của
các thời
đại
Quy luật của thực tế
tự nhiên
Các vấn đề xã hội và khao học xã hội
Không giới hạn chủ đề
Vai trò của ngời
thầy
Diễn giải, thuật lại Báo cáo,cá nhân đ- Biểu diễn,truyền đạt Giúp đỡ, tvấn Đặt câuhỏi, gơị
Trang 30Nhân, ghi nhớ
Vận dụng, tham gia thụ động
Tham gia chủ động
đóng góp
Tự quyết
định các quy tắc riêng
Thai độ của nhà
trờng với sự
thay đổi
Chân lý là bất diệt, không có
sự thay
đổi thực
Chân lý
đ-ợc lĩnh hội, chống thay đổi
Hớng về sự hoàn hảo, thay đổi
có trật tự
Thay đổi luôn hiện hữu, là cả
quá trình
Thay đổi luôn luôn cần thiết
Nguồn: Theo Jonh Wiles và Joseph Bondi ( 2002 )
IV TƯ TƯỞNG VÀ Mễ HèNH GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI KỲ THUỘC PHÁP ( 1884- 1945 )
4.1 Bối cảnh lịch sử
Năm 1858, sau khi nổ sỳng xõm lược Nam kỳ, thực dõn Phỏp từng bướcđặt ỏch đụ hộ lờn toàn cừi nước ta Trong suốt thời kỳ cận đại, để phục vụchớnh sỏch cai trị và cụng cuộc khai thỏc thuộc địa, thực dõn Phỏp đó tiếnhành nhiều chớnh sỏch, biện phỏp hũng xoỏ bỏ hệ thống giỏo dục Nho họcphong kiến và thiết lập hệ thống tõn học Phỏp - Việt trong phạm vi cảnước Sau khi diễn ra khoa thi Kỷ Mựi - khoa thi Nho học cuối cựng tronglịch sử Việt Nam, năm 1919, về cơ bản hệ thống giỏo dục Nho học bị bói bỏtrờn phạm vị toàn quốc
Năm 1924, toàn quyền Đụng Dương đề ra chủ trương: “phỏt triển
giỏo dục theo chiều ngang ” chỉ mở rộng giỏo dục ở cấp tiểu học, khống chế
đối với giỏo dục bậc trung học, cao đẳng và đại học
Trang 31Tớnh cho đến năm 1941 – 1942 toàn Đụng Dương chỉ cú 4 trường caođẳng (cao đẳng nụng lõm; cao đẳng thỳ ý; cao đẳng cụng chớnh và cao đẳngkhoa học ) và 3 trường Đại học (Y; Dược; Luật khoa) với số lượng sinh viờnhết sức hạn chế (khoảng vài trăm đến hơn 1 nghỡn sinh viờn bậc caođẳng/đại học) Chương trỡnh giảng dạy, tài liệu giỏo khoa chủ yếu nhập từ
mụ hỡnh cỏc đại học Phỏp; chuyển ngữ là tiếng Phỏp đội ngũ giỏo chức đạihọc chủ yếu là người Phỏp Cú một số người Việt làm trợ lý, trợ giảng Sinhviờn được tuyển chọn chặt chẽ, quy trỡnh đào tạo chớnh quy, hiện đại nờnnhỡn chung chất lượng đào tạo tốt Tuy cú những hạn chế nhất định nhưnggiai đoạn này đỏnh dấu một bước chuyển căn bản nền giỏo dục đại học ViệtNam từ mụ hỡnh nho giỏo truyền thống sang mụ hỡnh Chõu õu hiện đại và đósản sinh cho đất nước một đội ngũ trớ thức tinh hoa với nhiều tờn tuổi lớnnhư Nguyễn Lõn, Tụn Thất Tựng, Hồ Đắc Di v.v
So sỏnh dõn số nước ta năm 1942, cứ 1 triệu người thỡ cú 38 ngườitheo học bậc đại học và cao đẳng là một tỷ lệ học vấn thấp
Sau đây là Sơ đồ hệ thống giáo dục Pháp - Việt hệ 13 năm đợc chínhquyền bảo hộ áp dụng cho ngời bản xứ ( Xem hình 3)
Trong khoảng vài chục năm hệ thống giỏo dục hiện đại do người Phỏpđem vào Việt Nam đó hỡnh thành, phỏt triển, hoàn chỉnh từ tiểu học đến đạihọc với định hướng khoa học, nghề nghiệp đó thỳc đẩy giỏo dục Việt Namphỏt triển theo xu thế chung của giỏo dục thế giới
Cựng với việc hỡnh thành hệ thống giỏo dục kiểu mới ở Việt Nam mộtloại chữ Việt mới theo ngữ hệ La tinh do cỏc nhà truyền giỏo Phương Tõytạo ra trog vài trăm năm trước đõy ngày càng hoàn thiện và thay thế chữ Hỏn
cú nhiều hạn chế trong giỏo dục và cỏc sinh hoạt xó hội khỏc Điều này tạocho giỏo dục Việt nam cú một cụng cụ mới để phỏt triển và hội nhập với thếgiới
Hình 3 Hệ thống giáo dục thời cận đại
(Hệ thống giáo dục Pháp - Việt dành cho ngời bản xứ) (*)
(*) Giáo dục Việt Nam thời kỳ Cận đạI, Phan Trọng Báu, Nxb KHXH, H, 1994, Tr 159
Cao đảng và Đại học
Tỳ tài 2
Tỳ tài 1
Năm thứ 3 Năm thứ 2
Năm thứ nhấtBằng Thànhchung
Đệ tứ niờn
Đệ tam niờn
Đệ nhị niờn
Trung học (Ban tỳ tài)
Cao đẳng tiểu học
Trung
học
Phỏp
Việt
Trang 32Bảng 8 CÁC SỰ KIỆN CHÍNH CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM
THỜI THUỘC PHÁP
1 21 09 1861 Phó thuỷ sư đô đốc Sac- ne ký nghị định mở trường học đầu
tiên ở nam Kỳ lấy tên là trường Bá Đa Lộc, dạy tiếng Việt cho người Pháp và tiếng Pháp cho người Việt nhằm đào tạo những thông dịch cho quân đội và thư ký làm việc trong các cơ quan hành chính.
2 16 7 1864 Đô đốc Dơ La Grăngdie ra nghị định tổ chức một số trường
tiểu học ở Nam Kỳ, dạy Quốc ngữ và Toán.
3 10 07 1871 Đô đốc Đúp rê cho thành lập ở Sài Gòn Trường Sư phạm với
60 giáo sinh, tất cả đều được cấp học bổng.
4 08 1871 Đặt trường hàng tổng, mỗi tổng lấy từ 2 đến 6 người làm
tổng sư để dạy học sinh trong tổng Tổng sư được cấp 3 mẫu ruộng gọi là điền.
5 10 02 1873 Thành lập trường tham biện, đào tạo quan cai trị cấp tỉnh.
Môn học gồm: tiếng Việt, chữ Hán, tiếng Khơme, cai trị ở Việt Nam, xây dựng, trồng trọt.
đạo giáo dục trong toàn xứ.
7 06 03 1879 Đô đốc La Phông ký quyết định về tổ chức hệ thống giáo dục
ở Nam Kỳ gồm 3 cấp Cấp 1: học 3 năm cấp 2 học 3 năm, cấp 3 học 4 năm Cuối cấp 3 thi lấy bằng cao đẳng ( Brevet Superieur )
8 07 1894 Thành lập trường Quốc học Huế, do khâm sứ Trung kỳ kiểm
soát Nhà trường chỉ chọn học sinh từ 15 đến 20 tuổi Dưới đó
có trường dự bị cho học sinh từ 8 đến 15 tuổi Thời gian học
từ 5 đến 6 năm, dạy cả 3 loại tiếng: Pháp , Việt , Hán.
Bằng
cơ thuỷ
Lớp nhất Nhì đệ nhị Nhị đệ nhất
Sơ đẳng
Dự bị Đống ấu
Trang 33Bằng, Lạng sơn, Cao Bằng, Thất Khê.
10 06 06 1898 Toàn quyền Đông dương ra nghị định đặt kỳ thi phụ cho khoa
thi hương ở trường Nam Định gồm các môn : Viết tập tiếng Pháp, chính tả tiếng Pháp, dịch Pháp- Việt, hội thoại tiếng Pháp, đọc và dịch miệng một bài tiếng Pháp sang tiếng Việt, chính tả tiếng Việt, dịch chữ Hán ra chữ Việt Từ 1903, ai đỗ
cả 2 kỳ thi bắt buộc (chính và phụ) mới được bổ làm quan.
Nội tổ chức và điều hành Trường có 3 ngành: kỹ nghệ, nông nghiệp và mỹ nghệ Điều kiện dự tuyển là: tiếng Pháp, 4 phép tính Trong quá trình học có học thêm tiếng Pháp.
12 22 02 1902 Thành lập trường công chính , đào tạo nhân viên kỹ thuật
công chính người bản xứ Các môn thi vào gồm: luận chữ Pháp, Chữ Hán, Chữ Việt, Toán( số học, hình học), Đại số, Vật lý, Hoá học, Vẽ.
13 12 1903 Toàn quyền Pôn Bô ký nghị định thành lập Hội đồng nghiên
cứu cải cách giáo dục
14 20 06 1903 Thống sứ Bắc kỳ ra nghị định thành lập trường Hậu Bổ Hà
Nội để đào tạo tri phủ, tri huyện, huấn đạo, giáo thụ Điều kiện nhập học: cử nhân, tú tài, ấm sinh; thời gian học 3 năm Ngày 18 04 1912 đổi trường Hậu bổ Hà Nội thành trường
Sỹ Hoạn.
Ngày 15 10 1917 thành lập trường Pháp chính Đông dương thay cho Trường nói trên.
15 25 08 1903 Thành lập trường Y tế thực hành bản xứ ở Nam Kỳ, đào tạo y
tá và nữ hộ sinh cho các làng xã ở Nam Kỳ.
16 11 04 1904 Thành lập trường học nghề ở Sài gòn gồm 3 ngành học:
nguội, mộc, đúc Thời gian học 3 năm Mục tiêu là đào tạo công nhân kỹ thuật người bản xứ.
17 25 10 1904 Thành lập Crường cao đẳng Y khoa Đông Dương.
Nam sang học tại Đông Á đồng văn thư viện ở Nhật Bản Năm 1908, học sinh lên đến 200 người.
An làm hiệu trưởng Nguyễn Tất Thành trước khi vào Sài Gòn
có dạy ở đây.
Lâm… ở Quảng Nam, Quảng Ngãi do các nhà Nho yêu nước Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo.
Chữ Hán vẫn được tồn tại song yếu đi nhiều, thay vào đó là chữ Pháp và chữ Việt và các môn khoa học và toán học.
Quyền, Đào Nguyên Phố… đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm tạo phong trào chống Pháp trên mặt trận văn hoá.- giáo dục.
Trang 3423 10 11 1907 Thành lập viện Đại học Đông dương đầu tiên gồm 5 trường:
Cao đẳng Luật và pháp chính, Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng
y khoa, Cao đẳng xây dựng, Cao đẳng Văn chương
Sau 1 năm hoạt động, Viện Đại học Đông Dương phảI đóng cửa vì các khó khăn về tổ chức và nội dung giảng dạy.
24 05 05 1911 Vua Duy Tân ra dụ thành lập Trường Hậu bổ Huế nhằm bổ
túc kiến thức mới cho các quan cai trị có bằng tiến sỹ, phó bảng, cử nhân, tú tài trước khi ra làm quan, thời gian đào tạo
là 3 năm.
25 18 04 1912 Bãi bỏ chức học quan ở Bắc Kỳ( đốc học, kiểm học, giáo thụ,
huấn đạo )
26 13 11 1912 Vua Duy Tân ra dụ thành lập ngạch học quan ở Trung Kỳ.
27 29 12 1913 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định mở trường Y dược
Đông Dương.
28 11 10 1915 Khâm sứ Trung kỳ ra nghị định lập quy chế ngạch bậc giáo
viên người Việt cho các trường ở Trung kỳ.
29 16 10 1915 Mở trường Trung học nữ Sài Gòn.
30 18 12 1915 Thành lập Sở học chính Trung kỳ.
32 15 09 1917 Thành lập Trường Cao đẳng thú y Đông dương.
33 15 10 1917 Toàn quyền Đông dương ra nghị định thành lập trường Cao
đẳng sư phạm và trường Cao đẳng pháp chính Đông Dương.
34 17 10 1917 Đặt chức vụ tổng thanh tra học chính Đông Dương.
35 10 12 1917 Mở trường thực hành Nông Lâm Bến cát thuộc tỉnh Thủ dầu
một, Nam Kỳ.
36 21 12 1917 Toàn quyền Đông dương ban hành bộ học chính tổng quy mở
đầu công cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2, xoá bỏ nền giáo dục phong kiến.
Từ nay chỉ tồn tại duy nhất nền giáo dục duy nhất do người Pháp điều hành từ tiểu học lên đại học.
37 25 12 1918 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định ban hành quy chế
chung về bậc cao đẳng Đông Dương.
39 01 04 1919 Khoa thi Hội cuối cùng được tổ chức
40 15 05 1919 Khoa thi Đình cuối cùng được tổ chức, chọn được 7 tiến sĩ
và 16 phó bảng.
41 14 06 1919 Vua Khải Định xuống dụ bãi bỏ tất cả các trường học chữ
Hán cùng với hệ thống quản lý từ triều đình đến cơ sở.
Chấm dứt toàn bộ hệ thống giáo dục Nho học chữ Hán.
42 1 09 1919 Học Báo ra số đầu tiên, tờ báo này do Trần Trọng Kim làm
chủ bút là cơ quan chỉ đạo cải cách giáo dục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ theo đường lối giáo dục mới được ban hành.
43 21 12 1919 Trường Thể dục thể thao do Nguyễn Quý Toàn thành lập tại
Hàng Gà , Hà Nội
44 20 11 1920 Thành lập Tường Thương mại Đông Dương.
Trang 35dành cho học sinh 4 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh , Bình.
46 03 11 1922 Thành lập Nam triều Cao đẳng học dưỡng, đào tạo tri huyện.
Chương trình học : Lịch sử, địa dư, Hán văn, lễ chế và mỹ Á Đông
Trường này đến 1925 thì bãi bỏ.
47 30 05 1923 Trường Y dược Đông Dương được đổi thành Trường Cao
đẳng y dược Đông Dương.
Chương trình học 4 năm, người tốt nghiệp được cấp bằng y dược sỹ Đông Dương Học sinh giỏi được sang Pháp học tiếp
để thành bác sỹ.
48 18 09 1924 Toàn quyền Đông Dương ban hành quy chế trường tư.
49 27.10.1924 Thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương Thời gian đào tạo
là 3 năm Do Vichtor Tacđiơ làm hiệu trưởng.
54 12 10 1930 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định công nhận bằng tú tài
bản xứ tương đương bằng tú tài ở Pháp
55 7 8 1933 Thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục của Nam Triều do Phạm
Quỳnh làm thượng thư.
56 25.06 1938 Hội truyền Bá Quốc ngữ ra đời.
57 07 1941 Thành lập trường Cao đẳng khoa học, đào tạo sinh viên lấy
các chứng chỉ cử nhân khoa học như các trường đại học khoa học bên Pháp.
58 31 08 1941 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập ban cổ điển
Pháp ở 3 trường trung học phổ thông: Bảo hộ, Khải định, Pêtơruýt Ký ở 3 xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ.
học Đông Dương.
Đổi Trường Cao đẳng luật thành Trường Đại học luật khoa Đông Dương Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng tiến sỹ luật khoa.
60 11 1941 Chia bằng tũ tài bản xứ thành 2 ban triết học và toán học.
61 05 05 1942 Thành lập Ban Trung học cổ điển Viễn Đông Chương trình
học như của ban cổ điển của Pháp nhưng thay cổ học Hy – La bằng chữ Hán.
Mục tiêu giáo dục
Trang 36Hệ thống giáo dục của Pháp tại Việt Nam được thực hiện với nhiềumục tiêu khác nhau theo từng giai đoạn khác nhau của chủ nghĩa thực dântrong đó có cả mặt tiêu cực và mặt tích cực.
- Giáo dục thực hiện nhiệm vụ phục vụ hoạt động của quân đội Pháp ởViệt Nam Mục tiêu này đòi hỏi đào tạo các phiên dịch viên ngườiViệt và người Pháp
- Giáo dục phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa Mục tiêu này đòi hỏiđào tạo đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ và kinh tế dân sinh Hệquả là làm hình thành hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh và hiệnđại từ tiểu học đến đại học
- Giáo dục thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền văn minh Pháp, kiềm chế
và loại bỏ giáo dục Nho giáo và chữ Hán Mục tiêu này dẫn đến việcloại bỏ hoàn toàn hệ thống thi cử của hệ thống giáo dục phong kiếncũ
- Chính sách hạn chế giáo dục Nho giáo phong kiến
- Chính sách phát triển giáo dục tư nhân
Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên luôn trong tình trạng thiếu hụt do các nguyên nhân chủyếu:
- Chính quyền không đủ nguồn lực nuôi đội ngũ giáo viên
- Không chủ trương tư nhân hoá giáo dục để thu hút nguồn lực thựchiện hệ thống giáo dục mở vì chính quyền Pháp muốn độc quyền giáodục Pháp đề cao vai trò của mô hình giáo dục kiểu Pháp
- Ngôn ngữ dùng trong giáo dục bao gồm cả chữ Pháp, chữ Quốc ngữ,chữ Hán nên rất khó đào tạo đủ giáo viên cho các trường Pháp Việt
Học sinh.
Mặc dù chính sách giáo dục của Pháp không phân biệt nam nữ, giảiphóng quyền được học tập của phụ nữ nhưng trên thực tế chỉ những gia đìnhgiầu có mới có điều kiện cho con đi học
Bảng 9 Quy mô pháp triển giáo dục đại học cao đẳng
Trang 37Năm học Số sinh viên đại học
Sự tham gia của các giai tầng xã hội trong giáo dục.
Giáo dục thời Pháp thuộc đã có nhiều thay đổi đem lại sự phát triểnđột biến trong lịch sử giáo dục Việt Nam Nội dung giáo dục không hạn chế
ở lĩnh vực chính trị đạo đức mà bao gồm phần quan trọng là khoa học , kỹthuật, công nghệ, nghệ thuật, y khoa, thương mại… đã thu hút nhiều thànhphần nhân dân tham gia học tập
4.3 Các cuộc cải cách giáo dục của Pháp tại Việt nam.
4.3.1 Cải cách giáo dục lần 1(1906- 1915).
Mục tiêu
Xây dựng hệ thống giáo dục thích ứng với thời kỳ chuyển tiếp của xãhội phong kiến Việt Nam, khống chế và tiến tới loại bỏ giáo dục phongkiến (1906- 1915)
Các hoạt động chủ yếu:
- Xây dựng hệ thống giáo dục thích ứng với 3 loại hình trường: Trườngthuần tuý theo mô hình Pháp cho con em người Pháp tại Việt nam,Trường Pháp Việt theo mô hình Pháp có chấp nhận dạy ít chữ Hán,Trường chữ Hán
- Thành lập các trường chuyên nghiệp đào tạo nghề nghiệp cho xã hộicông nghiệp khai thác
- Biên soạn sách bằng chữ quốc ngữ để dân dễ học
- Thành lập trường đại học đầu tiên.(Đại học Đông Dương – 15/6/1906)
4.3.2 Cải cách giáo dục lần 2: (1917- 1929)
Mục tiêu:
Xoá bỏ nền giáo dục phong kiến, xác lập, củng cố và hoàn chỉnh nền giáo dục của Pháp tại Việt Nam.( 1917- 1929 )
- Ban hành bộ luật học chính tổng quy Xoá bỏ giáo dục phong kiến
- Hệ thống giáo dục gồm 2 loại trường: Trường chuyên Pháp cho ngườiPháp Trường Pháp Việt Chia hệ thống giáo dục thành 3 cấp: Tiểu
Trang 38học, trung học, cao đẳng và đại học Trường dạy nghề song hành tồntại.
- Các trường sơ đẳng dạy chữ quốc ngữ Các trường từ lớp 3 tiểu họctrở lên dạy bằng tiếng Pháp
- Hoàn chỉnh và phát triển toàn bộ hệ thống giáo dục cả về quy mô vàtrình độ đào tạo
V TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG CUỘC CẢI
CÁCH NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM
5.1.Tư tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh
Triết lí giáo dục cách mạng Việt Nam đương đại được định hìnhngay từ quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Đông dương năm 1930
và được thể hiện trong thực tiễn những thập niên đầu của nước Việt Namdân chủ cộng hòa Đó là những tư tưởng có tính nhất quán gắn kết nền giáodục cách mạng và tiến bộ với sự phát triển đất nước tự do và độc lập để sánhvai với các cường quốc ở năm châu Hồ chí Minh - lãnh tụ kính yêu của dântộc, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới chính là ngườikiến tạo và tổ chức thực tiễn để hiện thực hoá triết lí này ngay khi cáchmạng mới thành công và có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ tiến trình pháttriển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam từ trước đến nay
Với nhãn quan chính trị sáng suốt của một nhà cách mạng chân chính,
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vai trò và vị trí quan trọng của giáo dụctrong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành tự do và độc lập cho
Tổ quốc Trong cuốn sách nổi tiếng „Đường kách mệnh” Người đã chỉ rõyêu cầu cấp bách phải tuyên truyền,vận động, giáo dục các tầng lớp nhândân đặc biệt là thanh niên để có tri thức, hiểu biêt và nghị lực đi theo đườngcách mạng giái phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
Trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Nhật ký trong tù ‘ Hồ Chí Minh với trí tuệuyên bác và tâm hồn, cốt cách của một nhà hiền triết Phương Đông đã khôngchỉ thể thể hiện rõ ý chí và nghị lực sắt đá của người cộng sản chân chính màcòn thể hiện những tư tưởng, triết lý giáo dục, triết lý nhân văn sâu sắc:
Trang 39‘ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
hoặc : Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tự bông
Sông ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện ắt thành công
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, ngày 3/9/1945 Hội đồngchính phủ của nước Việt Nam độc lập họp phiên đầu tiên nghe Hồ Chủ tịchtrình bày "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa" Chống nạn dốt được coi là nhiệm vụ cấp bách thứ hai sau nạn đói Bác
Hồ đã nói câu nổi tiếng: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Người kêu
gọi toàn dân hăng hái mở chiến dịch chống nạn mù chữ
Khai giảng năm học đầu tiên dưới chính thể mới năm học 1945
-1946, Bác Hồ gửi thư cho học sinh Việt Nam thể hiện quyết tâm của chế độmới là xây dựng nền giáo dục của một nước độc lập, nền giáo dục đào tạo
thế hệ trẻ nên những người công dân hữu ích, làm phát triển hoàn toàn
những năng lực sẵn có ở họ Bức thư là lời thông điệp của non sông: "Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước trên toàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"
Chỉ trong vòng hơn một năm từ sau ngày thành lập nước Việt Namdân chủ cộng hoà, Hồ Chủ tịch đã kí và ban hành một loạt các sắc lệnh vềgiáo dục tương đối hoàn chỉnh cho sự vận hành hệ thống giáo dục quốc dân
có tính tiên tiến Trong đó đặc biệt có sắc lệnh 146 khẳng định 3 nguyên tắccăn bản của nền giáo dục mới là đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá,quy định hệ thống giáo dục có 3 bậc học là: Bậc cơ bản gồm 4 năm, bậc tổngquát và chuyên nghiệp, bậc đại học Sắc lệnh 147 quy định chi tiết việc thựchiện bậc học cơ bản: Người đi học không phải trả tiền, các môn học đều họcbằng tiếng Việt, đặt mục tiêu đến năm 1950 là bậc học cưỡng bách cho trẻ
em từ 7 - 13 tuổi
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: „ Vì lợi ích mười năm thì phảitrồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người’ Ngưòi là linh hồn của
Trang 40nguyên lý giáo dục„ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sảnxuất, nhà trường găn liền với xã hội ‘
Có thể nói rằng Hồ Chí Minh chính là người đã đặt nền tảng cho triết
lí, tư tưởng, quan điểm giáo dục Việt Nam hiện đại Những tư tưởng về giáodục của Người dù được hình thành từ thập niên đầu tiên của nước Việt Namdân chủ cộng hoà đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị Những tư tưởng nàycần được tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển trong công cuộc đổi mớigiáo dục hiện nay
V.2 Các cuộc cải cách giáo dục của giáo dục cách mạng từ 1945
đến nay.
5.2.1 Cải cách giáo dục lần 1 (1950) ở vùng giải phóng.
Cuộc cải cách giáo dục lần 1 được trình bày trong đề án do Hội đồngChính phủ nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà thông qua tháng 7 năm 1950,
đề án về giáo dục chuyên nghiệp do Hội đồng Chính phủ nước Việt namDân chủ Cộng hoà thông qua Bộ Quốc gia Giáo dục ban hành, đề án sắp xếpcác trường đại học, đề án xây dựng ngành bổ túc văn hoá, đề án xây dựngngành sư phạm, đề án xây dựng ngành mẫu giáo
Lý do và mục tiêu cải cách là xoá bỏ quan điểm cũ giáo dục trung lập vớichính trị, xây dựng quan điểm mới giáo dục gắn với thực tiễn, giáo dục cáchmạng gắn với các nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc
Nội dung cải cách giáo dục :
- Xây dựng cấu trúc hệ thống giáo dục phổ thông mới 9 năm từ 2 hệ thốngcác trường Pháp – Việt cũ và hệ thống Hoàng Xuân Hãn
Hệ thống mới năm 1950:
Hệ thống này quán triệt 2 tư tưởng chỉ đạo: Giáo dục phục vụ khángchiến và giáo dục phải thiết thực không quá hàn lâm, cắt bỏ những phầnchưa cần thiết cho cuộc sống hiện tại