1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay

151 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 919 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cuộc sống lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước, người dân xứ Nghệ đã sáng tạo và lưu giữ được một nguồn di sản văn hóa dân gian phong phú, đa dạng và độc đáo với

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nghệ An là một trong những địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, nơi sinh ra các bậc hiền tài, những danh nhân lỗi lạc Từ cuộc sống lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước, người dân xứ Nghệ đã sáng tạo và lưu giữ được một nguồn di sản văn hóa dân gian phong phú, đa dạng và độc đáo với nhiều thể loại mang đậm bản sắc địa phương: Trong đó, dân ca ví – giặm được xem là “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần con người xứ Nghệ Di sản đó là món ăn tinh thần đã hình thành và nuôi dưỡng nên cốt cách, tâm hồn của người dân nơi đây Điều đó lý giải vì sao trước tác động của sự giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, dân ca ví – giặm xứ Nghệ về cơ bản vẫn giữ được bản sắc độc đáo, không bị lai tạp, đồng thời được cải biên thành những làn điệu mới trên cơ sở cái gốc của làn điệu ví - giặm để có thể đứng vững cho đến ngày nay

Tuy nhiên, cũng có thể thấy, do chịu tác động của nhiều yếu tố lịch sử, xã hội

và quy luật của sự hội nhập, đổi mới, toàn cầu hóa về kinh tế - văn hóa, dân ca ví giặm xứ Nghệ đang đứng trước những vấn đề lớn:

Vấn đề 1: Hiện nay, di sản dân ca xứ Nghệ (ví và giặm) chưa được tư liệu hóa

đầy đủ thành một kho tàng di sản để có thể quảng bá rộng rãi và lưu giữ Các hoạt động sưu tầm, thu thập và lưu giữ còn mang tính đơn lẻ của một số cá nhân, các nhà nghiên cứu hay các cán bộ chuyên trách, một số các đơn vị quản lý

Vấn đề 2: Một số làn điệu cổ, âm nhạc đang bị lãng quên hoặc “cải biên” thành

các làn điệu mới để phù hợp với sự phát triển chung của thời đại Tuy nhiên, dù có thế nào, chúng ta cũng phải có một tư duy rằng, muốn bảo tồn để phát huy giá trị văn hóa của dân tộc tất yếu phải bảo lưu được cái gốc, cái “hồn” của di sản được lưu truyền trong dân gian, đồng thời cần được khai thác, sử dụng, tránh hiện tượng “hóa thạch” vốn cổ

Vấn đề 3: Dân ca ví - giặm đang bị tách khỏi môi trường diễn xướng, không

gian sinh hoạt văn hóa đã và đang dần bị mai một, thay vào đó là các hình thức có tính chất biểu diễn, được sân khấu hóa, trong khi đó bản thân di sản dân ca là “di sản

Trang 2

sống”, chỉ có thể tồn tại và có giá trị khi có thể tác động, đứng vững và được nuôi dưỡng trong đời sống văn hóa của cộng đồng.

Vấn đề 4: Bảo tồn, trao truyền hay sáng tạo văn hoá phi vật thể đều phụ thuộc

và mang dấu ấn cá nhân khá rõ rệt, đại diện chung cho cả cộng đồng xã hội Cho nên, các nghệ nhân, nói như các nhà nghiên cứu, đó là “báu vật sống” Và muốn bảo tồn dân ca cũng đồng nghĩa với việc bảo tồn báu vật đó Vậy nhưng, số lượng các nghệ nhân hát dân ca hiện nay cũng ngày một ít đi theo thời gian Theo thống kê, cả tỉnh có

8 nghệ nhân thì hiện nay còn lại 6 và hầu hết đang ở tuổi cao sức yếu Điều đáng nói

là Nghệ An chưa thực sự có những cơ chế thích hợp để tập hợp, “nuôi dưỡng” các nghệ nhân Thiết nghĩ, nếu không có những động thái đúng đắn trong công tác bảo tồn thì nguy cơ mai một vốn cổ là điều không thể tránh khỏi

Vì vậy, cần có những đánh giá và nhận diện thực trạng, vai trò của di sản văn hóa phi vật thể ví – giặm trong đời sống tinh thần của nhân dân xứ Nghệ, đồng thời, xem xét các xu hướng vận động, các quan điểm thẩm mỹ khác nhau, qua đó, xác lập, định hướng có tính dự báo, kiến nghị các giải pháp để bảo tồn và phát huy hiệu quả dân ca xứ Nghệ trước xu thế hội nhập, toàn cầu hóa là một việc làm cấp bách và đặc

biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đề tài khoa học “Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ Nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay” được

thực hiện sẽ phần nào giải quyết những vấn đề đang đặt ra đối với di sản dân ca Ví – Giặm xứ Nghệ

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là sở lý luận góp phần vào công tác vinh danh dân

ca xứ Nghệ lên một vị thế mới, được đứng vào hàng ngũ các di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới Hướng đến Tổ chức UNESCO, văn hóa xứ Nghệ sẽ có được “tấm hộ chiếu văn hóa” cho việc mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa với các nước bạn trên thế giới, đồng thời, góp phần làm phong phú cho bản sắc văn hóa xứ Nghệ, văn hóa dân tộc Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nhận thức kho tàng di sản văn hóa dân gian Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm rất nhiều đến vấn đề điều tra, sưu tầm các di sản văn hoá

Trang 3

dân gian nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước Ngày nay, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của giá trị văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội và con người Việt Nam, nơi lưu giữ những nét độc đáo, những giá trị tinh hoa của bản sắc văn hóa dân tộc.

Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương hoạt động có hiệu quả về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể Nhiều năm qua, Huế đã huy động được rất lớn sự giúp đỡ của các quốc gia trên thế giới, các cuộc hội thảo mang tầm quốc gia và khu vực bàn về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Huế Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế - di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được Tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã minh chứng cho thành quả của những năm phấn đấu, chuẩn bị không mệt mỏi của chính quyền Trung ương, địa phương và người dân xứ Huế

Khu vực Tây Nguyên, sau nhiều nỗ lực lưu giữ và bảo tồn di sản âm nhạc cồng chiêng, năm 2005, không gian văn hoá cồng chiêng chính thức được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại

Tại Hà Nội, sau năm 1954, dòng nhạc Ca trù tưởng bị lãng quên cũng đã có một quá trình tìm lại khá lâu Người có công đầu tiên khơi lại giá trị nghệ thuật đó là nhạc

sĩ Nguyễn Xuân Khoát Năm 1976, GS – TS Trần Văn Khê đã thu băng giọng hát của

nữ nghệ nhân ca trù Quách Thị Hồ và bắt đầu hành trình giới thiệu di sản cho công chúng trong và ngoài nước biết đến Từ những bước đi ban đầu đó cho đến năm 2005, Liên hoan ca trù toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức và bộ hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể truyền thống của nhân loại được hoàn tất Đến năm 2009, di sản Ca trù cùng với dân ca Quan họ chính thức được đứng vào hàng ngũ các di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

Liên tiếp những năm gần đây, chúng ta lại vinh dự đón thêm tin vui từ Lễ hội Gióng, hát Xoan của Phú Thọ (công nhận năm 2011), Giỗ tổ Hùng Vương (năm 2012) đã góp phần nhân lên niềm tự hào của toàn thể nhân dân Việt Nam

Rõ ràng, sau nhiều năm nỗ lực nghiên cứu, sưu tầm và gìn giữ, chúng ta đã có được những thành công đáng ghi nhận, 7 di sản văn hóa phi vật thể lần lượt được tổ chức UNESCO công nhận Niềm vinh hạnh đó đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin và

Trang 4

kinh nghiệm cho các địa phương trong cả nước áp dụng để khai thác và đưa nguồn văn hóa dân gian còn tồn tại trong nhân dân lên tầm quốc tế Trong 2 năm, năm 2011

và 2012, hàng chục tỉnh, thành trong cả nước đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đề nghị đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Trên cơ sở đó, Bộ sẽ xem xét, có

kế hoạch cho việc lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận những di sản tiêu biểu vào những năm tới, theo đúng quy trình của UNESCO như: Nghi lễ Then của người Tày; Nghi lễ Chầu văn của người Việt; nghệ thuật truyền khẩu sử thi Tây Nguyên, trong

đó có hát giao duyên ví – giặm của xứ Nghệ đó là những động thái đúng đắn đối với di sản văn hóa truyền thống của dân tộc

Ngoài ra, các cuộc hội thảo mang tầm khu vực, quốc tế cũng đã góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn, phát triển di sản văn hóa, nhất là trong lĩnh vực hợp tác quốc tế nhằm trao đổi thông tin và kinh nghiệm Đơn cử: tháng 8/2009 tại Hà Nội, Viện Âm nhạc Việt Nam (Bộ Văn hóa-Thông tin) tổ chức hội thảo khoa học quốc tế

"Âm nhạc dân tộc cổ truyền trong bối cảnh toàn cầu hóa" Tại hội thảo, các nhà

nghiên cứu Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã đưa ra nhiều kinh nghiệm quý báu

về công tác bảo tồn và phát huy nền âm nhạc dân tộc cổ truyền, chẳng hạn: âm nhạc

cổ truyền là môn học bắt buộc trong trường học (Nhật Bản), xây dựng kênh riêng về nhạc dân tộc trên sóng phát thanh (Hàn Quốc), chú trọng đào tạo các nhạc sĩ âm nhạc dân tộc chuyên nghiệp (Trung Quốc)…

Ở Nghệ An, ý thức sự mai một của văn hóa truyền thống sẽ trở thành mối đe dọa đối với công tác xây dựng một nền văn hóa – văn nghệ mang đậm tính chất dân tộc, của xứ Nghệ nói riêng, hàng thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian trong tỉnh đã có nhiều chương trình, kế hoạch, các cuộc hội thảo, các đợt điền giã để sưu tầm, khai thác ở hầu khắp mọi miền quê trong tỉnh với mục đích bảo tồn và lưu giữ vốn cổ ví - giặm riêng có của xứ Nghệ

Thời kỳ Pháp thuộc, ông Nguyễn Văn Ngọc đã bỏ nhiều công sức đi sưu tầm,

ghi chép, kết quả là đã sưu tập được 2 tập “Tục ngữ phong dao”, xuất bản năm 1928

do Vĩnh Long thư quán xuất bản Tiếp đó Giáo sư Nguyễn Đổng Chi cũng cho ra tập

“Hát dặm Nghệ Tĩnh” của Tân Việt Hà Nội, xuất bản 1944 Có thể nói, đây là 2 công

Trang 5

trình ra đời sớm nhất, mở đầu cho quá trình tìm lại vốn di sản dân ca còn được lưu giữ trong đời sống nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc lại bắt đầu đứng trước cuộc chiến tranh mới, trường kỳ trong kháng chiến chống Thực dân Pháp, mãi đến sau năm 1954,

ông Vũ Ngọc Phan cho ra cuốn khảo cứu về “Tục ngữ dân ca” do Ban nghiên cứu

Văn-Sử - Địa xuất bản, Hà Nội, 1956 Đầu năm 1958, ông Nguyễn Chung Anh ra quyển

“Hát ví Nghệ Tĩnh” Ngoài ra có một số bài, 1 số câu đăng trên các báo chí tất cả công

trình đó đều là những bước đầu nhưng đều rất quý báu

Xứ Nghệ còn có đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học khá đông đảo, các nhạc sỹ tài hoa, tiêu biểu trong đó có GS Nguyễn Đổng Chi (đã mất), PGS Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Trần Hữu Thung, Thanh Lưu, Lê Hàm, Đào Việt Hưng, An Thuyên, Hoàng Thọ là những người đã đi khắp các làng xã ở Nghệ Tĩnh, từ khe Nước Lạnh đến đèo Ngang, từ miền biển lên miền núi, ở đâu có vốn dân ca cổ truyền, có nghệ nhân dân gian hát dân ca có chất giọng tốt, họ đều có mặt để sưu tầm, ghi chép, bảo lưu, cải biên và thể nghiệm Để rồi sau này lại cho ra đời hàng loạt các công trình nghiên cứu, sưu tầm như

của PGS Ninh Viết Giao với “Hát phường vải”, Nhạc sĩ Lê Hàm với “Dân ca Nghệ Tĩnh” (3 tập), Hát giặm Nghệ Tĩnh của Nguyễn Đổng Chi, Dân ca Nghệ Tĩnh của Vi Phong, Hoàng Thọ và Lữ Minh Dân với “Dân ca các dân tộc thiểu số” , trong đó phải

kể đến “Âm nhạc dân gian xứ Nghệ”của 3 tác giả Hoàng Thọ - Lê Hàm - Thanh Lưu,

được xem là một tập đại thành về kho tàng dân ca của xứ Nghệ Đồng thời đó còn là một tài liệu quý, góp phần giúp các thế hệ hiện nay và mai sau có điều kiện tiếp cận và tiếp thu để bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của các làn điệu dân ca của quê hương

Và, gần 40 năm hình thành và phát triển của nền kịch hát dân ca xứ Nghệ đã thể hiện lối tư duy đúng đắn, phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội trong chiến lược gìn giữ di sản dân ca Bắt đầu những năm 1957 – 1960, từ các tiết mục biểu diễn

của phong trào văn nghệ quần chúng như Hai tổ hò khoan, Chiếc xê đầu đến các vở kịch đầu tiên mang tính chất sân khấu như Chiếc cày ông Tư ; Không phải tôi của Nguyễn Trung Giáp; Chuyện tình ông vua trẻ của Phùng Dũng là mỗi bước ngoặt

đánh dấu cho quá trình trưởng thành đi từ các giai đoạn thể nghiệm đến độ chín muồi của nền kịch hát xứ Nghệ Riêng các diễn viên, nhạc công của Nhà hát dân ca Nghệ

Trang 6

Tĩnh (nay là Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ) đều thực hiện chế

độ “3 cùng” với các nghệ nhân “cùng ăn, cùng ở, cùng học tập” (học hát, học múa,

học đàn) trong các đợt điền dã Nhiều tư liệu quý về văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộc đã được sưu tập, khai thác và sử dụng; nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm đã được công bố bằng các phương tiện in ấn (xuất bản sách) và bằng công diễn trên sân khấu hoặc trên sóng phát thanh truyền hình Hàng trăm dị bản dân ca sưu tập được (không kể dân ca các dân tộc thiểu số) với đủ các thể loại Theo sự thống kê (sưu tầm) của Hội văn nghệ dân gian thì thể Ví có khoảng 7.000 – 8.000 bài, Giặm có 1.000 bài, chưa kể các hệ lai như Ca trù, tuồng, chèo, xẩm và hàng chục thể loại dân ca của các đồng bào dân tộc ở Nghệ An Điều đó cho thấy sự phong phú về mặt số lượng mà không phải di sản âm nhạc dân gian nào cũng có được

Như vậy, bàn về vấn đề nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ nói riêng, di sản dân ca Việt Nam nói chung đã không còn là vấn đề mới nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ là thỏa đáng Đã có khá nhiều công trình, khá nhiều tư liệu đề cập tương đối đầy đủ song, trên thực tế vẫn chưa có một đề tài khoa học nghiên cứu cụ thể

và có hệ thống về lý luận di sản dân ca xứ Nghệ, sưu tầm và điều tra về không gian diễn xướng xưa và nay, về ảnh hưởng của dân ca xứ Nghệ trong đời sống của cộng đồng nhân dân xứ Nghệ để có những đánh giá khoa học, khách quan về thực trạng và các giá trị của di sản dân ca xứ Nghệ Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi cho công tác bảo tồn và phát huy di sản dân ca hiện nay Ngoài ra, kết quả của đề tài còn là cơ sở dữ liệu cho công tác nghiên cứu và lập hồ sơ đệ trình lên tổ chức UNESCO ghi danh di sản dân ca xứ Nghệ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho

nhân loại Với đề tài nghiên cứu khoa học “Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ

Nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay” sẽ giải quyết được

những vấn đề mà các công trình, đề tài nghiên cứu khác chưa hoặc ít đề cập đến

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 7

3.2 Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống các tư liệu liên quan đến di sản dân ca qua công tác điều tra, thu thập, khảo sát và sưu tầm tại một số huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Nghệ An (có phối hợp với tỉnh Hà Tĩnh)

- Đánh giá một cách khoa học về các đặc điểm, giá trị của di sản dân ca xứ Nghệ (đặc điểm của dân ca xứ Nghệ, sự khác biệt với các loại dân ca khác, sự hưởng ứng của lớp trẻ hiện nay )

- Đề xuất các giải pháp mới có tính khả thi nhằm góp phần bảo tồn và phát huy

kho tàng dân ca của xứ Nghệ trước xu thế hội nhập và đổi mới đất nước hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát

- Điều tra theo phiếu điều tra xã hội học

Địa bàn điều tra: 10 huyện, thị tỉnh Nghệ An: TP Vinh, Thị xã Cửa Lò, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Qùy Hợp và 4 huyện tỉnh Hà Tĩnh: Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ

Đối tượng 1: Cán bộ quản lý của Trung tâm văn hóa huyện, thị; cán bộ xã và người dân

Nội dung điều tra gồm các làn điệu; không gian và hình thức diễn xướng; nghệ nhân, ảnh hưởng của dân ca đến người dân xứ Nghệ

Đối tượng 2: Học sinh THCS và PTTH các huyện, thành thị Nội dung điều tra nhằm

tìm hiểu, nghiên cứu ảnh hưởng của dân ca xứ Nghệ đến thế hệ trẻ hiện nay

- Điều tra, khảo sát theo tư liệu (thư tịch, văn bia, lễ hội ) tại một số huyện, thị tỉnh Nghệ An (có phối hợp với tỉnh Hà tĩnh)

Địa bàn: 6 huyện, thị Nghệ An (TP Vinh, Thị xã Cửa Lò, Nam Đàn, Thanh Chương,

Đô Lương, Anh Sơn) và 4 huyện ở Hà Tĩnh (Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ)

Nội dung điều tra, khảo sát: Các tư liệu thành văn (các công trình nghiên cứu, thư tịch cổ, bản chép tay, các công trình kiến trúc như văn bia, mỹ thuật, hoạt động lễ

Trang 8

hội ), các tài liệu không thành văn (các băng đĩa quay phim, ghi âm, chụp ảnh ) được lưu giữ trong đời sống nhân dân

Hoạt động kết hợp: Mời các chuyên gia am hiểu về ngôn ngữ Hán – Nôm dịch sang tiếng Việt các tư liệu như: văn bia, thư tịch cổ, các chạm khắc mỹ thuật có ngôn ngữ Hán – Nôm liên quan đến dấu tích của di sản dân ca xứ Nghệ và dựng phim

- Khảo sát tại một số tỉnh thành trong nước có cộng đồng người Nghệ sinh sống (Cộng đồng người Nghệ ở Hà Nội; ở TP Hồ Chí Minh; Ấp Nghệ Tĩnh ở Đà Lạt)

Nội dung: Điều tra, khảo sát mức độ bảo lưu, lan tỏa của di sản dân ca xứ Nghệ trong cộng đồng những người Nghệ xa quê

4.2 Phương pháp phân tích tài liệu: Dựa trên sự phân tích nội dung những tư liệu

đã sưu tầm như các công trình nghiên cứu về di sản dân ca, tập trung dân ca Ví – Giặm; các tài liệu thư tịch cổ; tài liệu thống kê về hệ thống công trình kiến trúc, văn bia hoặc tài liệu ghi âm về giọng hát, ký lời của bài hát Điều cốt lõi trong phương pháp này là cần sưu tầm được đúng và đầy đủ các tư liệu cần thiết, liên quan đến di sản dân ca xứ Nghệ Sau đó, phải chọn lọc những tư liệu hữu ích phục vụ cho vấn đề

mà đề tài đang hướng đến

4.3 Phương pháp chuyên gia: Tập hợp các chuyên gia ở Hội di sản văn hóa Việt

Nam, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Nghệ An và Hà Tĩnh, Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ, Hội văn nghệ dân gian Nghệ An, trường đại học và các ngành liên quan am hiểu về di sản dân ca xứ Nghệ thông qua việc đặt hàng các chuyên

đề nghiên cứu Vì vậy, để phát huy tối đa hiệu quả trong nghiên cứu, triển khai đề tài thì việc tranh thủ các kiến thức, hiểu biết của đội ngũ các nhà nghiên cứu được xem là

ưu tiên hàng đầu, phối hợp trong suốt quá trình thực hiện đề tài khoa học

5 Phạm vi, giới hạn đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Kho tàng di sản dân ca xứ Nghệ rất phong phú gồm có hò – ví – giặm, các hệ lại như sắc bùa, ca trù, xẩm, Bên cạnh đó, còn có khối lượng dân ca đồ sộ của các đồng bào dân tộc thiểu số như hát Nhuôn, hát Xuối, Lăm, Khắp, điệu Đu đu điềng điềng Ở đây, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu 2 đối tượng chính: Ví và Giặm (dân ca của người Việt), là “đặc sản” riêng có của Nghệ An và Hà Tĩnh.

Phạm vi không gian nghiên cứu của dân ca ví – giặm là khu vực đồng bằng và trung du của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Để phù hợp với nội dung và mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng một số

cụm từ như Di sản dân ca xứ Nghệ, dân ca ví – giặm xứ Nghệ thay cho cụm từ

Kho tàng dân ca xứ Nghệ.

Trang 10

CHƯƠNG 1 DÂN CA VIỆT NAM - DÂN CA XỨ NGHỆ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN

1.1 Đôi nét về dân ca Việt Nam

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có nền văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và giá trị của nó đã vượt qua bao thử thách của thời gian, bởi lẽ bản chất của văn hóa dân gian là lòng nhân nghĩa thủy chung, vì nghĩa tình, vì ấm no và hạnh phúc Đó là một cống hiến lớn lao, xứng đáng góp vào nền văn hóa chung của nhân loại

Dân ca là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học và âm nhạc dân gian của cả dân tộc Một trong những giá trị quý báu của dân ca là cho chúng ta thấy khá sâu sắc về cuộc sống, tâm hồn của người Việt Nam Qua lời văn, nét nhạc, hình tượng dân ca, con người lao động Việt Nam từ bao đời nay muốn phô bày một cách chân thực nỗi lòng, ý nghĩ, tình cảm của mình Mỗi miền dân ca trong cả nước, ta lại không gặp con người Việt Nam chung chung, với một phong cách dân tộc chung chung, mà ở đây ta gặp những con người Việt Nam cụ thể, những tâm hồn có phong cách riêng được hun đúc từ bao đời ở những vùng văn hóa dân gian khác nhau Con người Việt Nam qua dân ca là con người gắn bó với cuộc sống, tha thiết với quê hương, say sưa trong yêu đương, thủy chung trong tình nghĩa, cần cù, giản dị mà giàu ước mơ, hoài bão

Vậy, dân ca Việt Nam là gì?

Trong từ điển Tiếng Việt có định nghĩa: Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng [25;105]

Theo Tiến sĩ khoa học Phạm Lê Hòa (Đại học sư phạm Nghệ thuật Trung ương): Dân ca là một loại hình âm nhạc với các thuộc tính: không có tên tác giả; được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng; gắn với đời sống của người dân và mang màu sắc vùng miền

Theo Tiến sĩ Trần Quang Khải1: Dân ca là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của

1 www.tranquanghai.info/timhieudan caVietNam

Trang 11

người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

Tóm lại, dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng và bền vững cùng với thời gian Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao giá trị các sáng tác dân gian, một bộ phận quan trọng của di sản văn

hóa phi vật thể Năm 1958, tại Hội nghị cán bộ văn hóa, Người khẳng định: “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không “trường thiên đại hải”, dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp sáng tác của quần chúng Những sáng tác

ấy là hòn ngọc quý”.

Dân ca của mỗi vùng, mỗi miền đều có đặc điểm riêng về âm điệu và phong cách riêng biệt Sự khác nhau này tùy thuộc vào môi trường sống, hoàn cảnh địa lý và đặc biệt là ngôn ngữ Ví dụ: dân ca quan họ khác với dân ca xứ Nghệ, dân ca các dân tộc Tây Nguyên khác với dân ca Nam Bộ

Nhiều làn điệu dân ca đã đạt tới trình độ nghệ thuật cao và có sức hấp dẫn, truyền cảm mạnh mẽ, được phổ biến sâu rộng như: Dân ca quan họ Bắc Ninh, Hò Huế

Ngoài những làn điệu thuộc các loại dân ca khác nhau còn có những loại hát

có nhạc đệm theo như Chầu văn, ca trù, ca Huế, ca Quảng, Đờn ca tài tử miền Nam…

và những hình thức ca kịch dân tộc độc đáo như Tuồng, Chèo, Cải lương, Kịch hát

Dân ca Việt Nam có rất nhiều thể loại:

Xét đặc điểm âm nhạc, làn điệu, có thể chia dân ca thành hai loại chính là loại: Đa điệu (nhiều làn điệu) như dân ca quan họ Bắc Ninh; đơn điệu như hát ví, hát giặm Nghệ - Tĩnh, hát trống quân…

Xét về văn hóa vùng miền: Bắc bộ: Dân ca quan họ Bắc Ninh, hát Xoan ở Phú Thọ, hát Ví, hát Trống quân ở nhiều làng quê Bắc bộ, hát Dô ở Hà Tây ; Trung bộ: hát Ví - Giặm ở Nghệ An và Hà Tĩnh, hò Huế, Lý Huế, hát Sắc bùa…; Nam bộ: các điệu Lý, điệu Hò, nói thơ…

Trang 12

Ngoài ra còn có dân ca của các dân tộc miền núi phía Bắc (đồng bào Thái, H'Mông, Mường…), dân ca của các dân tộc Tây Nguyên (Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng…) mỗi một miền dân ca đều mang một bản sắc, nét độc đáo riêng có.

1.2 Dân ca xứ Nghệ

Trong mạch nguồn văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca khác nhau như Quan họ của vùng đất Kinh Bắc (Bắc Ninh), Chèo của Thái Bình, Nam Ðịnh, Ca Huế, Đờn ca tài tử Nam bộ vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa như:

Anh đến giàn hoa thì hoa kia đạ (đã) nở Anh đến bến đò thì đò đạ (đã) sang sông Anh đến tìm em thì em đạ (đã) lấy chồng

Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng lấy chi

Hay da diết và gợi nhớ như:

Người ơi! Bốn mùa xuân hạ thu đông Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng

Cũng có khi bộc trực và thẳng thắn đến độ:

Đã thương thì thương cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ đứng đầu truông Khi vui giỡn bóng

Khi buồn bỏ đi

Ðó là dân ca của Nghệ Tĩnh hay còn gọi là dân ca xứ Nghệ, chủ yếu là hát ví và giặm Dân ca xứ Nghệ như một làn điệu hội tụ "khí chất" của nhiều làn điệu dân ca Có một chút đa tình của quan họ, chút bâng khuâng, vương buồn của ca Huế, chút sâu lắng của ca trù và cái khoẻ khoắn, rắn rỏi, chất phác của dân ca Nam bộ Nhưng trên hết, ví

- giặm mang "khí chất" của chính người Nghệ, của những “mô, tê, răng, rứa” đậm hồn

xứ sở và là "đặc sản" tinh thần của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Nghệ Tĩnh được xem là vùng đất cổ của non sông đất nước, kể từ khi nước nhà

có tên là Văn Lang Trải qua bao thăng trầm với bao lần thay đổi tên gọi hành chính

về phủ - châu - trại - thừa tuyên… Nghệ Tĩnh vẫn là một dải đất chạy từ khe Nước Lạnh đến tận đèo Ngang, với vùng đồng bằng trung du rộng lớn, với núi rừng mênh

Trang 13

mông chiếm hơn 3/5 diện tích toàn tỉnh, người dân vẫn thủy chung, gắn bó với nhau

từ bao đời nay

Bên cạnh đó, Nghệ Tĩnh còn là nơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề đan lưới, nghề hái củi… là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền, chùa nổi tiếng Người xứ Nghệ vốn thông minh, rắn rỏi, bộc trực, mang cái “gàn” của ông đồ xứ Nghệ Các cộng đồng làng từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ,

đầy gian khó của vùng đất“nắng rát mặt, rét cắt da” Chính cái khát vọng sống của

người và đất xứ Nghệ đã hoá thân thành những làn điệu dân ca Ví – Giặm mộc mạc, chân chất, vừa tình tự, vừa sâu sắc, tựa như cái oai hùng, sừng sững của ngọn núi Hồng, của dòng sông Lam không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế Cũng bởi lớn lên từ câu hò, điệu ví mà vùng đất Nghệ Tĩnh đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng của đất nước như vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh, cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ, của những bậc thơ ca như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,

Từ đó, có thể hiểu, dân ca xứ Nghệ là thể loại dân ca do chính những người lao động Nghệ Tĩnh sáng tác nên, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng, ghi chép và mang đậm chất văn hóa địa phương của Nghệ Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh)

Dân ca Việt Nam nói chung và dân ca xứ Nghệ nói riêng quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và quốc tế

1.2.1 Về tên gọi dân ca xứ Nghệ

Xứ Nghệ là tên gọi của vùng Châu Hoan cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh),

có từ thời nhà Hậu Lê Vào năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức thứ 21) đã đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt là xứ Nghệ) đồng thời với các đơn vị hành chính khác lúc bấy giờ như: xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Thanh, xứ Lạng, xứ Huế

Trải qua bao lần tách nhập, Nghệ An và Hà Tĩnh trở thành 2 tỉnh hiện nay nhưng trong lịch sử lại là “xứ” có chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng và sông Lam (mặc dù núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh

Trang 14

và sông Lam nằm ở ranh giới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh) Trung tâm của văn minh xứ Nghệ nằm ở hai bên dòng sông Lam là phủ Đức Quang và phủ Anh Đô khi xưa (tức là các huyện Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của Hà Tĩnh và các huyện Thanh Chương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Anh Sơn của Nghệ An ngày nay).

Ngày nay, khái niệm “xứ Nghệ” không còn mang nặng tính chất địa giới hành

chính mà dùng để nói về văn hóa của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, gọi chung là “văn hóa xứ Nghệ” Vì lẽ đó, di sản dân ca ví, giặm là kho tàng vô giá của nhân dân hai tỉnh

Nghệ An và Hà Tĩnh, được gọi là dân ca xứ Nghệ

1.2.2 Nguồn gốc ra đời và phát triển của dân ca xứ Nghệ

Người Việt Nam vốn là người thích thơ ca, thích hát, có thể nói còn hơn cả thích

kể chuyện (nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi) Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta đã được nghe những điệu ru, điệu ví của bà, của mẹ Vào tuổi măng non lại ngân nga những bài hát đồng dao, ca dao Khi trưởng thành, bước vào sản xuất có những bài ca lao động; khi đất nước có chiến tranh thì có “tiếng hát át tiếng bom”; trong thời bình, có tiếng hát ngành y, tiếng hát ngành giáo dục, ngành văn hóa, ngành giao thông vận tải với người Nghệ, điều đó còn nổi trội hơn cả Thơ - ca - nhạc dân gian xứ Nghệ có thể ví như một dòng sông bắt nguồn từ những mạch sâu kín qua nhiều thời đại, mang theo tâm tư, tình cảm, ước mơ của con người trên mảnh đất vốn khô cằn sỏi đá Từ cuộc sống đầy vất vả mưu sinh, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với những cơ cực mà người xứ Nghệ đã bắt đầu bằng những lời ca, tiếng hát, trước là để cho tinh thần sảng khoái, tươi vui, cho công việc trở nên nhẹ nhàng, sau thành những cuộc hát đối đáp đầy ngẫu hứng, giao duyên được cả cộng đồng tham gia, đến nỗi mà:

Hát cho đổ quán xiêu đình, Cho long lanh nước, cho mình lấy ta Hát cho ngày rạng đông ra,

Mai về quan bỏ nhà pha cũng đành

Lý giải sự phong phú, đa dạng văn hóa trong kho tàng dân ca, có học giả nước ngoài cho rằng: do trong giọng nói của người Việt đã chứa sẵn âm điệu của những bài hát, mà thổ âm của mỗi nơi lại một khác, cho nên việc ra đời những làn điệu dân ca phù hợp với chất giọng của mỗi vùng, miền là một điều dễ hiểu Vậy nên, tìm hiểu dân ca xứ Nghệ cũng phải nghiên cứu đến “giọng Nghệ”: đơn âm không dấu, nặng và

Trang 15

trầm đục Và thế là âm nhạc dân gian xứ Nghệ trở nên độc đáo cũng từ giọng nói và cách phát âm của người Nghệ Tĩnh.

Từ đó mà làm nên một vùng dân ca xứ Nghệ đậm đà bản sắc So với dân ca vùng miền khác, hiếm có một vùng dân ca nào lại có sự gắn bó chặt chẽ với đủ các ngành nghề thủ công, có nét độc đáo nhất định Từ lao động, điệu ví – giặm được sản sinh: nghề trồng bông dệt vải có ví phường vải; nghề đan lưới có ví phường đan, nghề trên sông nước có ví đò đưa; hái củi có hát giặm Nó phản ánh chân thực cuộc sống cần cù vất vả, lời ăn tiếng nói mộc mạc chất phác của nhân dân lao động, thể hiện cả

sự yêu ghét rõ ràng, đôi khi là bốp chát Bên cạnh đó còn là những lời tố cáo bọn áp bức bóc lột, phê phán những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân ta, là những lời trữ tình đậm đà, tha thiết, những nét khắc họa về tâm lý không kém tỉ mỉ, giàu hình ảnh tươi đẹp, thấp thoáng những nụ cười hóm hỉnh, hồn nhiên và yêu đời

Cũng bởi xuất phát từ trong nhân dân lao động mà việc xác định dân ca xứ Nghệ

ra đời từ thế kỷ nào cũng khó chính xác Theo nhiều nguồn tư liệu để lại, căn cứ vào một ít bài hát giặm phản ánh tình hình thời Lê - Trịnh mà các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được ở Hà Tĩnh, từ thế kỷ XVII – XVIII, dân ca xứ Nghệ đã phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến trong quần chúng nhân dân Như vậy, quãng thời gian bắt đầu cho đến khi phát triển ắt phải trải qua một thời gian dài Qua dân ca ví – giặm, còn có thể đánh dấu sự phát triển thịnh vượng của cư dân các phường vải, phường củi, phường cấy, hái củi… và thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng nhân dân xứ Nghệ qua sự giao thương buôn bán, kết nghĩa trong thương mại và cả trong nghệ thuật

Có thể nói rằng, dân ca xứ Nghệ đã tồn tại trên mảnh đất Lam Hồng từ rất lâu trong lịch sử Trải qua bao thăng trầm, dân ca xứ Nghệ có sự biến thiên, không ngừng đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với đương đại nhưng không làm mất đi hơi thở, cốt cách của người Nghệ trong đó Có thể điểm qua một vài nét về quá trình đó:

Trước cách mạng tháng Tám, phong trào sinh hoạt hát dân ca diễn ra khá sôi nổi, lúc đó các nghề thủ công còn đang phát triển, còn chỗ không gian sinh hoạt văn hóa cho hát ví, giặm

Trang 16

Sau năm 1945, những buổi sinh hoạt hát ví, giặm theo hình thức dân gian cũng

ít dần, đặc biệt là hát giặm Theo tư liệu, nổi bật có khoảng ba buổi hát ví phường vải diễn ra ở thành phố Vinh với mục đích phục vụ cho cách mạng1:

- Buổi sinh hoạt hát Ví phường vải tại sân vận động thành phố Vinh ngày 02/10/1945 để tuyên truyền ủng hộ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm chiếm nước ta

- Buổi sinh hoạt hát Ví phường vải tại huyện lị Nam Đàn (ở Sa Nam) ngày 06/02/1946 gọi là hội chợ phát động phong trào rèn luyện chiến đấu sẵn sàng chống giặc ngoại xâm

- Buổi sinh hoạt hát Ví phường vải tại sân chùa Cực Lạc, xã Tự Trì - vùng đất nổi tiếng về tập tục hát ví phường vải, diễn ra vào đêm 23/8/1947 để hưởng ứng năm

mở đầu Tuần lễ ủng hộ thương binh

Tiếp đó còn có một số buổi hát ví nhỏ diễn ra như ở các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Yên Thành

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những năm 1960 – 1970, xứ Nghệ lại chứng kiến một giai đoạn đầy sôi động của sinh hoạt hát dân ca gắn với các phong trào văn hóa – văn nghệ của quần chúng… đặt nền tảng cho hàng loạt các hoạt cảnh, hoạt ca ra đời mang cả hình thức dân gian lẫn sân khấu chuyên nghiệp Cũng từ hình thức sân khấu quần chúng, các vở diễn lần lượt được dựng lên, đánh dấu cho giai đoạn thể nghiệm đến phát triển của dân ca xứ Nghệ, là minh chứng cho sự phát huy của dân ca vào đời sống, sự trường tồn của dân ca trong lòng người dân xứ Nghệ và

cả nước

Hiện nay, dù các hình thức sinh hoạt hát dân ca theo không gian diễn xướng dân gian không còn, thay vào đó là không gian ở các câu lạc bộ, các hội thi, hội diễn, trong trường học…song, dân ca xứ Nghệ đang thực sự hồi sinh mạnh mẽ với một dung mạo mới, giàu giá trị nghệ thuật mà không làm mất đi bản sắc và giá trị vốn có thủa nào

1.2.3 Khái quát đặc điểm hai làn điệu chủ yếu của dân ca xứ Nghệ: ví và giặm

Trang 17

phường củi, ví phường có bao nhiêu nghề nghiệp thủ công thì có bấy nhiêu loại ví

đó Có rất nhiều cách hiểu về thể loại ví, có người cho rằng ví là ví von, so sánh như:

Cổ tay em trắng như ngà Mắt em sắc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen Theo GS Đinh Gia Khánh: “Nhân dân gọi là hát ví, có lẽ hát ví hay dùng lối ví von để trao đổi tình cảm với nhau Giọng ví von rất gần với giọng thơ, âm giai và nhịp điệu Nếu chỉ hiểu đơn thuần như thế thì đâu gọi là đặc sản của riêng xứ Nghệ Vì hát

ví như thế thì dân ca Việt Nam ở mọi vùng miền cũng đều có lối ví von và so sánh

Từ ví còn có thể hiểu là tiếng địa phương có nghĩa là “với” Trong bài Nhớ của Hồng Nguyên, chúng ta bắt gặp từ này ở một câu thơ có nghĩa như vậy: Độc lập nhớ

rẽ viền chơi ví chắc (Độc lập nhớ rẽ về chơi với nhau) Từ “ví” có nghĩa là “với”

hoàn toàn phù hợp với hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ của loại dân ca này (hát với nhau)

Cũng có ý kiến cho rằng: “ví” là “vói” và hát ví là hát với, hát vói, tức bên

nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường, hát vói vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở dưới đồng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh với đám con trai đang nhổ mạ Hoặc trong khung cảnh “hát vói” giữa núi rừng:

Tiếng ai nói với bên non Muốn sang coi thử có dòn hay không?

Trang 18

Khác với hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Phú Thọ và hát Cửa đình ở một

số nơi khác, nhân dân Nghệ Tĩnh hát ví không cần tính đến thời gian Quanh năm trên đất Nghệ Tĩnh, lúc nào cũng có thể nghe tiếng hát ví, không hát phường vải thì nghe hát phường củi, phường cấy, phường đan…

Đặc điểm nổi trội của hát ví, nhất là hát ví phường vải, phường đan đó là có

sự tham gia của tầng lớp nho sĩ Phần lớn các nho sĩ này là các trí thức bình dân, xuất thân từ quần chúng lao động, nhưng cũng có người là con nhà dòng dõi, con nhà khoa bảng, có khi là những người còn có tên trên bảng vàng Thường tham gia hát ví họ đóng vai trò là “thầy gà”, “thầy bày” cho bên nam và bên nữ Hát ví đã trải qua một thời gian dài lại có sự tham gia của các nho sĩ nên các câu hát ví vốn được sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể cũng thêm phần chải chuốt, điêu luyện, thể hiện tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều vẻ, nhiều câu mang tính trí tuệ, chơi chữ và có chất “trạng”:

Đá có rêu bởi vì nước đứng Núi bạc đầu bởi tại sương sa Thấy anh em muốn giao ca

Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời Thấy anh em muốn trao lời

Sợ chòm mây bạc giữa trời vội tan

Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì có rất nhiều loại hát ví, nghề nào có loại ví đó Nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví Nhưng dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu, thường gọi là làn điệu hát ví Khi câu hát ví được cất lên, người nghe có thể cảm nhận nét dí dỏm nhưng ẩn trong đó là nỗi buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu Ta có thể coi hát

ví là những bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân

quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân.

Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến,

họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi

Trang 19

những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, mà cũng rất đỗi tài hoa

Hát ví có thủ tục khá chặt chẽ Thông thường một cuộc hát có 3 chặng:

Chặng một: là các bước hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi Hát dạo là hát

khi mới đến, mới dạo qua xem thử có đối tượng để hát, để thăm dò Khi đã hát dạo xong, ướm chừng hợp tình hợp ý thì bắt đầu bước vào màn hát chào, hát mời Sau hát mời là hát hỏi Hát hỏi là để tìm hiểu, thăm dò đối tượng, yêu cầu đối tượng phải giới thiệu về bản thân và bộc lộ tình cảm Hỏi để thử trí thông minh, sự nhanh trí Hát dạo dạo, hát chào, hát hỏi cũng là cách bày tỏ thái độ trân trọng, lịch sử của chủ nhà, chủ hội với người đến hát

Thung dung rồi sẽ hiểu lời ra thưa.

Hát hỏi:

Hỏi chàng danh tính thế nào

Để khi thưa gửi, đón chào làm quen?

Hỏi chàng quê quán nơi đâu

Để khi nhắn gửi tờ câu, cánh hồng?

Chặng hai: là hát đố, hát đối Đây là giai đoạn thử thách tài năng của cả bên

nam và bên nữ Hát đố có khi hát đố sách, đố chữ, có khi đố kiến thức về mọi lĩnh vực trong đời sống Đặc biệt, giai đoạn này thường được đẩy lên kịch tính khi có sự tham gia của các nhà nho với tư cách là “thầy gà” nên câu đố cũng trở nên thâm thúy, hóc búa và đầy thú vị

Chặng ba: được xem là chặng quan trọng nhất, có nhiều câu hát hay, gồm: hát

mời, hát xe kết và hát tiễn Đây là chặng cuối, khi mà hai bên đã thân thiết, quyến

luyến và gắn bó hơn, vậy nên khi sắp phải chia tay để “rạng ngày ai về nhà nấy”

Trang 20

thường khiến cho bước xe kết kéo dài, có khi kéo thâu đêm suốt sáng với bao nỗi niềm nhớ thương, tiếc nuối.

Ra về để áo lại đây

Để đêm thiếp đắp, để ngày xông hương

Hay là:

Ra về răng được mà về Bức thư chưa gửi, lời thề chưa trao

Về cách hát, trước khi hát một câu, bên nam hoặc bên nữ phải xướng lên một câu Ví dụ như hát phường vải, bên nam gọi bên nữ: “Ơ này, chị em phường vải ơi!” Bên nữ thưa “Ơ thưa chi!” rồi bên nam mới hát Cứ thế cuộc hát cứ lần hồi cho đến

khi được đẩy lên đến cao trào, từ đầu hôm đến canh sáng, thậm chí cuộc hát có thể kế tiếp đến ngày hôm sau

* Một số làn điệu đặc sắc của hát ví:

Ví phường vải: Vùng Nghệ Tĩnh xưa kia là vùng đất có trồng nhiều bông sợi,

cũng là nơi có nhiều tập tục ví phường vải nổi tiếng như Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Diễn Châu, Quỳnh Lưu (Nghệ An), Trường Lưu - Can Lộc, Thạch Hà (Hà Tĩnh)…

Cứ đến tháng chạp âm lịch hàng năm, người nông dân đã bắt đầu vụ trồng bông Tới tháng 5 đã có bông đưa về làm thành những con cúi Dùng con cúi đó tác động vào

xa quay mà kéo thành sợi Từ những sợi đó còn phải trải qua một số thao tác kỹ thuật và lên khung cửu dệt thành vải Năm nào cũng từ tháng 5, tháng 6 âm lịch là bắt đầu kéo sợi, tới tháng chạp mới giảm

Công việc kéo sợi chỉ dành cho đàn bà con gái làm về đêm, tranh thủ thời gian rảnh rỗi Muốn kéo sợi ban đêm thì phải thắp đèn Để đỡ tốn tiền mua dầu đèn, người

ta nghĩ ra một cách vừa vui, vừa thuận tiện là họp phường Cứ ba đến năm cô gái xóm giềng với nhau họp thành một phường Mỗi bận họp phường, các cô đều vui miệng hát rải một đôi câu cho quên mệt nhọc và đỡ buồn ngủ Rồi dần dà những trai tráng trong làng dạo chơi, đêm hôm thấy thế cũng dừng bước ví đôi lời để cầu vui Thế là cuộc ví hát đối chọi nhau bắt đầu Sau dần, thấy vui và có lợi cho công việc kéo sợi, các bậc đàn anh trong thôn xã cũng hưởng ứng phong trào này Từ đó, cứ tới mùa kéo sợi, thế nào cũng có cuộc ví hát của đôi bên nam nữ gọi là “ví phường vải” Câu hát của ví phường vải thường nhẹ nhàng, thiết tha hòa quyện trong khung cảnh nhẹ

Trang 21

nhàng, trăng thanh gió mát của ngày hè, của tiếng xa sè sè, tiếng quay vo vo êm ả Thế mới có câu hát:

Hát phường vải là một loại hát ví đặc sắc trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh Cũng như các loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân, gắn liền với các phường vải của các cô gái xứ Nghệ, nhất là các vùng Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Diễn Châu (Nghệ An), Nghi Xuân, Kỳ Anh, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà (Hà Tĩnh) Hát phường vải mang đậm tính chất trữ tình, thể hiện chiều sâu tâm hồn của người dân qua các thời kỳ lịch sử, đằm thắm trong lời ca và âm điệu có lúc trầm buồn, man mác

Quần chúng nhân dân là những nghệ nhân dân gian, là "tác giả" của những câu hát phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví, vốn ca dao, dân ca truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa quê hương

Hát ví phường vải còn có các nhà nho tham gia ứng tác và đối đáp, vừa tình cảm vừa thể hiện trí tuệ, nhờ vậy hát ví chính là sự kết hợp giữa những người trí thức với người lao động Nếu xét về phương diện văn học thì ví phường vài còn là cuộc thi tài đọ sức về văn chương Tham gia cuộc hát yêu cầu người hát phải nhanh trí và khôn khéo, có khả năng ứng xử và đối phó mau lẹ, tinh tế với những tình huống bất ngờ Đó cũng là một trong tính cách nổi bật của người Nghệ: ham học, ham đọ kiến thức, tôn vinh trí tuệ ngay cả trong ca hát Chính vì thế HPV thu hút đông đảo các nhà trí thức xa gần tụ hội về miền đất ví như Nam Đàn, Trường Lộc để tham gia sinh hoạt

Hát ví phường vải đã để lại nhiều áng văn chương hay Người xứ Nghệ vốn yêu thơ ca, con nhà nông có, con nhà khoa bảng cũng có, khi hát đố sách, đố chữ, có khi hát

đố về những vấn đề thực tiễn, như là:

"Truyện Kiều anh thuộc làu làu,

Trang 22

Đố anh đọc được một câu hết Kiều",

Có khi là câu đố đố hóc búa:

Năm con ngựa cột cồn Ngũ Mã Chín con rồng nằm Cửu Long Giang

Chàng mà đối được, có lạng vàng em trao…

Ví phường vải là một thể vừa định hình vừa không câu trúc bởi điều gì, thậm chí không cần đến một nhạc cụ nào mà sức sống của nó rất lâu bền, dù canh cửi giờ đây không còn nữa

Ví đò đưa sông Lam

Đặc điểm của loại ví này chỉ hát trên sông, lúc đò đang đi xuôi hoặc ngược dòng, còn khi neo đậu không ai hát nữa Khi thuyền trôi trên sông, người chống đò cầm sào đi lên phía mũi thuyền, bỏ sào chống xuống nước, tay cầm đầu sào chống bả vai, rồi lấy sức chống con sào đi ngược với con thuyền, lúc nhổ sào người chống sào

đi thong thả về vị trí cũ hết một cội sào, lúc đó họ mới nghỉ ngơi và cất lên tiếng hát

Có lúc người ngồi bên mạn thuyền hát một câu ví tâm tình:

Người ơi! Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh.

Thuyền em lên thác xuống ghềnh Nước non là nghĩa, là tình ai ơi !

Âm điệu của ví đò đưa sông Lam nghe man mác, bao la và đầy sâu lắng

Ngoài ra, trong di sản hát ví còn có ví đò đưa sông La, ví phường cấy, ví trèo non, ví phường đan…

* Làn điệu Giặm:

Hát giặm cũng là một thổ sản đặc biệt của nhân dân Nghệ Tĩnh Nếu hát ví trong trẻo, nhẹ nhàng, duyên dáng thì hát giặm lại trầm lắng, chắc khỏe lộ rõ “chất Nghệ” hết sức độc đáo, tạo được cảm hứng mạnh mẽ cho người nghe Hát giặm cũng

có cả một quá trình phát sinh, phát triển nhưng không gian lại không rộng như hát ví, lưu hành chủ yếu ở một số địa phương như Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh của Hà Tĩnh và Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu ở Nghệ An Giặm có 2 hình thức chủ yếu: hát giặm nam nữ và hát giặm vè (tức vè sáng tác theo thể hát giặm) Đây là một hình thức dân ca đơn giản, mang dáng dấp hùng dũng nhưng đều đều của một

Trang 23

động tác khỏe được lặp đi lặp lại; cũng mang cái chất chác, phóng khoáng của con người thời cổ, hay của con người chốn núi rừng

Đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về “giặm”

Có người cho rằng nó xuất phát từ tính cách phân đoạn của bản thân hát giặm

Nhạc sĩ Vĩnh Long trong bài Hát Giặm Nghệ Tĩnh [37] đã nêu ra cả hai cách hiểu: Chữ Giặm là để chỉ hiện tượng láy lại câu cuối; và Giặm là giặm lại vần của bài hỏi.

Cũng có cách lý giải “giặm” nghĩa là “giắm”, điền vào chỗ trống trong câu hát

Giặm cũng là đặc sản của riêng xứ Nghệ Một số người từng cho rằng hát giặm xứ Nghệ giống hát giặm Quyền Sơn của Hà – Nam - Ninh về nhiều mặt, trong đó có cả

phần âm nhạc Tuy nhiên, theo tìm hiểu, loại hát ở Quyền Sơn là hát Giậm chứ không

phải Giặm, là một loại hát lễ nghi phong tục, hát cửa đền, gắn với nghi lễ thờ vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt

Nhân đây, chúng tôi cũng xin đưa ra một ý kiến mới của PGS Ninh Viết Giao, cho rằng: “giặm” được hiểu là sinh hoạt của những người đi hái củi trên sườn núi, khi tiếng hát được cất lên, thường va vào vách núi, vách tường và vọng lại, tạo thành tiếng vang, khiến cho câu hát có sự lặp lại ở cuối câu Thông thường thì yếu tố nhạc trong thơ đã có tiếng vang Đúng hay không cũng cần phải tiếp tục được nghiên cứu

Cách hiểu đơn giản nhất về “giặm” đó là cũng như hát ví, giặm là phương tiện quen thuộc, dùng để bày tỏ thái độ, tình cảm, tư tưởng riêng của người xứ Nghệ

Về mặt kết cấu, thể giặm có các điểm chú ý sau:

- Cũng như hát ví, nhân dân xứ Nghệ hát giặm quanh năm, không phân biệt xuân hay hạ, thu hay đông, mỗi khi có dịp cùng nhau lao động, gặp gỡ giữa trai và gái

là có hát giặm (giặm nam nữ)

- Hát giặm cũng có phưòng hội, song thủ tục lại không chặt chẽ và bài bản như hát ví Thường có 3 chặng cơ bản là: chặng hát dạo; chặng hát đố, hát đối và chặng hát hát xe kết

- Về thể thức: căn bản là khúc hát gồm năm câu, trong đó có một câu láy lại thường điệp cả ý lẫn lời (trừ trường hợp biến dạng):

Con voi to sức nghìn Còn ẩn bóng chưa ra Nghĩ như thân đàn bà

Trang 24

Nắng đến trưa phải chịu Nắng cháy sườn phải chịu

Hát giặm xứ Nghệ là hình thức hát thô sơ, giọng hát nghe đều đều, nhạc điệu đơn giản Mỗi lần hát có bài thường có ba đến bốn chục câu và hát theo lối ứng khẩu Các bài hát giặm thường dễ nhớ, dễ thuộc, có tính tự sự, khuyên nhủ, kể lể, trầm mặc, khuyên răn, có khi còn mang tính hài hước, dí dỏm, châm biếm, lai có cả trữ tình,

giao duyên So với hát ví, hát giặm mang nhiều âm ngữ địa phương như “mô, tê, răng, rứa, bà tui, bầy choa…”.

Hát giặm có các làn điệu: giặm kể, giặm nối, giặm vè, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm xẩm, giặm Lạch Quèn…

* Giặm có hai hình thức diễn xướng chủ yếu:

Hát giặm vè:

Hát giặm vè là loại sáng tác có sự chuẩn bị về mặt nội dung, có bố cục và được trau chuốt về hình thức Thường do một hoặc một số người sáng tác, được lưu truyền trong làng hay một vài xã Những bài hay, có giá trị sẽ được phổ biến rộng rãi cho nhiều vùng biết đến Mục đích của loại sáng tác này cũng rất phong phú, thường là phương tiện để giáo dục, phê phán những thói hư tật xấu, có tính chất tuyên truyền hay cổ động vấn đề gì đó mang nội dung lịch sử, cách mạng Cũng có bài có nội dung trữ tình về tình yêu trai gái, tình vợ chồng, tình cha con…

Hát giặm nam nữ:

Lời hát giặm nam nữ do thổ ngữ từng vùng mà hát theo vần tiết của thưo năm

chữ và thêm những chữ đệm để lấy đà hoặc lót như: rứa mới, rồi, mì, là ơ là

phương tiện để giao lưu, trao đổi tình cảm giữa con người với nhau trọng mọi không gian, thời gian, các hình thức lao động, nghề nghiệp như dệt vải, đi cày, đi cấy, đi buôn, chèo thuyền, hái củi… dựa trên các động tác, thao tác của lao động

Hát giặm gồm có hát nói và hát ngâm Hát nói tương tự như những câu nói thường tình, có âm tiết, có vần, gây một cảm giác chắc khỏe, đều đều, thế nên, dân

gian mới có câu “dại nhất ngồi thổi tù và, thứ hai ngồi hát giặm” Để đỡ phần khô khan, giọng hát ngâm trở thành phần thứ yếu của hát giặm, phát triển từ hát nói

Ôm lấy cam tiếc quýt

Ôm lấy bưởi tiếc bòng

Ôm lấy thị tiếc hồng

Trang 25

Ôm lấy nồi đất tiếc nồi đồng

Ôm lấy con gái tiếc mẹ giòng

Lạ chi cái thói đàn ông Muốn ôm lắc đi cả Muốn vơ quàng đi cả

Trong các cuộc hát, đoạn hát, người hát phải tự xứ lý sắc thái, giọng điệu để thể hiện phần hát của mình Hát giặm nam nữ thường có phường, có cuộc, có thể 2 -3 người, 5 – 7 người trong cuộc hát, tùy theo vấn đề, chủ đề cần diễn đạt, người hát có thể hát 10 – 15 câu, thậm chí vài chục câu Tất cả những câu này đều phải nghĩ ra

trực tiếp, ứng khẩu trực tiếp, có thể do người hát hoặc có sự tham gia của “thầy bày, thầy gà”

Tuy hát ví và giặm là 2 làn điệu khác biệt, song lại có mối quan hệ qua lại lẫn nhau về mặt ca từ và âm điệu Trong hát giặm, đặc biệt là giặm nam nữ có 2 lối hát chủ yếu: hát ngâm và hát nói.Trong đó, hát nói vẫn là cơ bản và chủ yếu của âm nhạc hát giặm Tuy nhiên, nếu suốt cuộc hát chỉ sử dụng lối hát nói, sẽ gây nên cảm giác nặng nề, mệt nhọc cho cả người hát lẫn người nghe, thế nên mới có thêm lối hát ngâm, tuy là thứ yếu song lại là nhân tố làm cho hát giặm đỡ nhàm chán, đỡ khô khan Hát ngâm… có khi đoạn mở đầu hát giặm đã được bắt đầu bằng hai câu lục bát, sau đó mới đến hàng loạt câu 5 chữ Và những câu lục bát hoặc mượn của hát ví hoặc sáng tác theo thể hát ví khiến cho âm điệu cũng có vẻ trầm bổng:

Anh say lời nói em rồi

Ngày đêm không chộ dạ bồi hồi lắm thay Cầm lấy trốc cày

Anh tưởng là trốc cuốc Tay bưng đọi ruốc Anh tưởng là đọi canh

Rõ ràng, về mặt ca từ, hát ví đã có ảnh hưởng nhất định tới hát giặm Ngược lại, hát giặm cũng có quan hệ mật thiết với hát ví, thể hiện rõ nhất trong hát ví phường vải

Trong cuộc hát phường vải, người ta nhận thấy nếu cứ hát mãi làn điệu ví cũng khiến người nghe cảm thấy đều đều, buồn chán Để thay đổi không khí, những

Trang 26

phường anh, phường chị đã sử dụng đến hát giặm (thường chỉ dùng một đoạn hay sáng tác một đoạn nhưng vẫn phải trọn vẹn ý tình) Chẳng hạn trong đoạn hát chào:

Khi máy mắt khi nhện sa Khi chuột rích trong nhà Khi khách kêu ngoài ngõ Tay em quay xa đủng đỉnh Tay em cầm chìa khóa động đào

Như vậy, giữa hát ví và hát giặm có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau rõ rệt về mặt

ca từ và âm điệu, chủ yếu là là ở 2 câu lục bát mở đầu cho bài giặm nam nữ và xen lẫn hát giặm giữa hát ví tạo nên nét độc đáo của dân ca xứ Nghệ Có thể thấy, bên cạnh một hát ví trong trẻo, nhẹ nhàng, lả lướt, thì sự lắng đọng, chắc khỏe, tâm tình của giặm đã hòa quyện vào nhau, tạo nên những “tổ khúc Ví - Giặm” độc đáo, đặc sắc khiến cho mọi người thêm yêu mến dân ca quê mình

1.3 Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của di sản dân ca xứ Nghệ

1.3.1 Đặc điểm và giá trị về mặt văn hóa và văn học của dân ca xứ Nghệ

1.3.1.1 Đặc điểm, giá trị về mặt văn hóa

Dân ca xứ Nghệ vốn được sáng tạo và lưu truyền trong nhân dân, đó là sản phẩm văn hóa dân gian đặc sắc, góp phần tạo nên diện mạo, một bản sắc văn hóa đậm

đà chất Nghệ, không thể trộn lẫn với bất cứ vùng văn hóa nào trong cả nước

Theo PGS Ninh Viết Giao, dân ca xứ Nghệ mà chủ yếu là ví và giặm có tám

đặc điểm nổi bật: là tài sản văn hoá phi vật thể cổ truyền, lâu đời, một thổ sản đặc biệt của cư dân xứ Nghệ; là một phương tiện văn nghệ tự túc; có sức sống lôi cuốn các danh sĩ, thi sĩ, các nhà khoa bảng tham gia sinh hoạt; là nguồn chất liệu để nhiều nhạc sỹ khai thác sáng tác các bài hát mới; là nguồn cứ liệu của nhiều luận văn thạc

sĩ, tiến sĩ; đã được sân khấu hoá thành một kịch chủng, cũng gọi là kịch hát dân ca;

đã để lại bao nghệ nhân có tên tuổi; đã có nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu có giá trị [46;14]

Cả tám đặc điểm đó của dân ca xứ Nghệ (cả ví và giặm) đều được xem xét trên bình diện văn hoá

- Xét riêng về hát ví mà tiêu biểu là hát phường vải:

PGS Ninh Viết Giao đã chỉ ra những đặc điểm và giá trị nổi bật chủ yếu trong

các công trình nghiên cứu của mình Hát phường vải nếu xét một cách toàn diện (cả

Trang 27

về văn hoá và văn học) thì có sáu đặc điểm dễ nhận thấy: Không kể thời gian; Có qui cách hẳn hoi; Có nhà nho tham gia; Ca từ hát ví…; Làn điệu hát ví; Không gian văn hoá của hát ví Bao gồm: Không gian văn hoá của nó; thời gian văn hoá; công cụ sinh hoạt; con người; nội dung sinh hoạt và thủ tục cuộc hát.

Từ các đặc điểm đó, ông cho rằng: “Ở xứ Nghệ khi trai gái hát ví giao duyên với nhau thì rõ ràng nó mang tính chất nguyên hợp của Phôn cơ lo”

+ PGS Ninh Viết Giao đã có chỉ ra sáu đặc điểm được xét trên các phương diện:

Về hình thức có 2 loại: hát giặm nam nữ và hát giặm vè; về thủ tục, về vai trò nhà nho,

về ca từ, về làn điệu, về không gian và thời gian văn hoá của hát giặm

+ Nhạc sĩ Hoàng Vinh cũng đưa ra sáu đặc điểm chủ yếu [46; ] đó là : Có nhịp điệu, tiết tấu, mỗi trổ hát giặm thường là 5 câu, câu thứ năm được nhắc lại, điệp lại;

Về điệu thức, hầu hết các làn điệu đều ở giọng thứ, rất ít các làn điệu ở giọng tưởng, không có giọng trung tính Về khúc thức, mỗi bài có nhiều trổ, mỗi trổ khoảng 5 câu, câu 5 được nhắc lại, điệp lại; Là một thể hát nói, là sự tiền luật của thể thơ 5 chữ, cũng có khi 4 hoặc 6, 7, 8 chữ Làn điệu được âm điệu hoá; Là lối hát tiết tấu khác với hò, ví là hát tự do; Có khuôn nhịp hẳn hoi, chủ yếu rơi vào các loại nhịp 2/4 và 7/8 Về hành văn, thường câu mở đầu được viết ở vần trắc, sau đó là vần bằng…

Trong các đặc điểm được nêu ra của hát giặm, có đặc điểm được xét trên bình diện văn hoá, có đặc điểm xét trên bình diện văn học hoặc có sự hoà lẫn cả hai bình diện Có những đặc điểm cũng có thể nhập làm một Đặc biệt, với sáu đặc điểm đó, tác giả bài viết chưa chú ý chỉ ra đặc điểm về không gian và thời gian diễn xướng của hát giặm, cũng như quan hệ ứng xử giữa con người với con người trong hình thức hát đó

Trang 28

+ GS Đỗ Thị Kim Liên (Khoa ngữ văn – ĐH Vinh) lại lưu tâm tới đặc điểm của câu giặm (câu láy lại) trong hát giặm Đứng ở góc độ ngôn ngữ học, tác giả đã khảo sát công phu, phân tích, lý giải để làm sáng tỏ những đặc điểm về giá trị biểu cảm của câu giặm.

Dựa trên kết quả nghiên cứu của những người đi trước như đã trình bày ở trên, chúng tôi sẽ hệ thống hoá các đặc điểm và giá trị về mặt văn hoá của dân ca xứ Nghệ, đồng thời bổ sung những chỗ còn thiếu trên các phương diện sau đây (nhìn một cách tổng quát):

Không gian văn hóa và hình thức diễn xướng xưa (nguyên bản) của dân ca

xứ Nghệ

Không gian văn hoá của dân ca xứ Nghệ có không gian hẹp và không gian rộng

- Không gian hẹp (không gian diễn xướng): Gắn với những nơi diễn ra sinh hoạt dân ca như trên sông nước, nơi đồng ruộng, trên những con đường, núi rừng, trong những mái nhà, đình làng, giếng nước, gốc đa… (đều là không gian bình dị của làng quê), mang đặc điểm chung của dân ca cả nước Đối với dân ca xứ Nghệ, phổ biến nhất

là hát trên sông nước (hát ví đò đưa sông Lam, sông La), hát trên sân nhà với hát phường vải, phường nón; trong mỗi ngôi nhà (hát ru) và trên đồng ruộng, chân núi rừng (hát phường cấy, phường củi ) Đó đều là môi trường gắn với cuộc sống lao động và sinh hoạt gia đình Còn không gian gắn với lễ hội ít được thấy, khác với dân ca quan họ Bắc Ninh, hát xoan Phú Thọ, hát dặm Hà Nam

+ Không gian rộng: gắn với địa bàn tồn tại và phát triển của dân ca xứ Nghệ

Đó là không gian địa chính cụ thể diện tích cộng lại của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ khe Nước lạnh giáp tỉnh Thanh Hoá đến đèo Ngang giáp tỉnh Quảng Bình, nhưng cũng muốn chỉ hình tượng không gian văn hoá là: ở đâu có con người xứ Nghệ, sinh sống yêu thích dân ca xứ Nghệ thì ở đó gọi là không gian văn hoá dân ca xứ Nghệ

Vì thế, không gian văn hóa của dân ca xứ Nghệ có sức lan tỏa, vươn xa Có thể

ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh vùng Duyên Hải, Tây Nguyên hoặc ở nhiều quốc gia trên thế giới có người Nghệ sinh sống làm ăn, sáng tạo và hưởng thụ văn hoá dân ca xứ Nghệ Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá lớn, dù

đi đến đâu, ở đâu trên thế giới, Người vẫn muốn nghe một câu dân ca xứ Nghệ Như vậy không gian văn hoá dân ca xứ Nghệ có thể nói rộng bao la, chưa tính hết được trong tâm thức của con người xứ Nghệ Thể hát giặm không phải "chỉ quẩn quanh ở địa phương

Trang 29

này" như ý kiến của GS Nguyễn Đổng Chi mà còn có mặt ở một số nơi ở tỉnh Quảng Bình thậm chí còn vươn xa tới Thành phố Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng và một số vùng

văn hóa khác Trong bài viết có tiêu đề : Một vài suy nghĩ bước đầu về đường ranh giới phía Nam của vùng văn nghệ dân gian Nghệ - Tĩnh, GS Nguyễn Xuân Đức đã

đưa ra một con số gây sự chú ý cho nhiều người: Đó là trong lần điền dã vào năm

1976, sinh viên khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Vinh (nay là Đại học Vinh) đã sưu tầm được 36 bài hát giặm tại một số làng ở huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) Trong 36 bài đó, có khoảng 30 bài do người dân ở vùng này sáng tác, chưa

thấy có trong cuốn Hát giặm Nghệ - Tĩnh của GS Nguyễn Đổng Chi và PGS Ninh

Viết Giao Như vậy thể hát giặm đã vượt đèo Ngang để tiến sâu vào phía trong Thể hát này đã từng tìm thấy khá nhiều ở ấp Nghệ Tĩnh, thành phố Đà Lạt, góp phần tạo

nên cái gọi là "Ốc đảo văn học dân gian" Lý giải nguyên nhân tạo nên sự lan tỏa đó,

cả hai tác giả của hai công trình đều thống nhất cho rằng: Đó là do sức sống mãnh liệt của văn nghệ dân gian xứ Nghệ, là kết quả của quá trình dịch chuyển địa bàn cư trú của người dân xứ Nghệ và có những nét tương đồng về mặt văn hóa giữa một số vùng phụ cận với vùng Nghệ - Tĩnh Trong xu thế hội nhập ngày nay, tìm hiểu "Ốc đảo" dân ca xứ Nghệ là việc làm cần thiết, giúp ta thấy rõ thêm giá trị lâu bền của dân ca ở vùng này khi nó du nhập tới một số vùng khác trên nước Việt Nam

Về diễn xướng và hình thức diễn xướng dân ca xứ Nghệ.

Diễn xướng: hiểu “diễn” là hành động và những động tác hình thể xảy ra của con người một cách sáng tạo “Xướng” là âm thanh của con người phát ra như nói hát (ca) mang tính nội dung Diễn xướng là sự kết hợp hài hoà gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùng chung sống Khi nói đến diễn xướng dân gian là muốn ngầm ý cả hình thức diễn xướng và môi trường diễn xướng

Như vậy, có thể hiểu diễn xướng dân gian làm liền mạch làn điệu dân ca, là tổng hòa nhiều thành tố: giai điệu, lời ca, lối hát, môi trường xung quanh và đóng vai trò đồng nhất giữa hát và hành động diễn Vậy thì cũng có thể gọi là môi trường diễn xướng (không gian văn hóa)

Dân ca xứ Nghệ cũng như dân ca các vùng miền khác, đều biểu hiện theo lối diễn xướng (Hát: làn điệu ví; kể và hát nói, ngâm như: làn điệu giặm kể…), điều này

lý giải tại sao lời ca biểu biểu đạt giá trị lớn lao về thời gian, nhân sinh quan và mang

Trang 30

nhiều hàm nghĩa khác nhau Trong quá trình điền giã nghiên cứu, các nhà âm nhạc học đã sưu tầm, ghi âm, làn điệu, kiểu hát, lối hát và cuộc hát trong các thời gian, không gian, địa điểm khác nhau nhằm làm sáng tỏ cội nguồn hình thành và giá trị nghệ thuật dân ca xứ Nghệ Và một đặc điểm nổi bật đó là lối truyền khẩu, nhập tâm làn điệu hoặc có dị bản sáng tạo trong đời sống dân gian Trong quá trình lao động, người diễn đã sáng tạo vận dụng các làn điệu, thể hát một cách rất phù hợp với không gian và thời gian diễn xướng Tuy nhiên, dân ca xứ Nghệ được sinh ra từ lao động, lối diễn xướng cũng là của lao động nên hình thức diễn xướng rất đơn giản, thiếu sự kết hợp giữa dân ca với dân nhạc và dân vũ

Trong thể hát Ví:

- Nếu không gian văn hóa của dân ca Quan họ hay Ca Trù gắn với không gian của lễ hội, của thính phòng thì không gian diễn xướng của hát ví xứ Nghệ lại rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, cũng có thể là một nam, một

nữ, nhưng thường đã họp thành phường hát thì cũng khá đông đảo Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp, giao duyên Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể

là từ trên sông vọng lên bờ Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải

- Dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức: Ví phường vải (hay còn gọi

là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa) Môi trường diễn xướng Hát phường vải thường diễn ra vào ban đêm, sau khoảng thời gian lao động nơi ruộng đồng, sông nước Hễ nơi nào có quay sa, kéo sợi thì nơi ấy có diễn ra buổi sinh hoạt hát phường vải Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước Người hát thường là những chàng trai chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng

- Thủ tục và cách tổ chức hát ví có thủ tục hẳn hoi, đạt đến trình độ quy củ, gồm có 3 chặng (hát mừng, hát hỏi đến hát đố, hát đối, sau là hát xe kết, hát tiễn)

Trang 31

Trong hát ví sử dụng hình thức “hát đối đáp, hát giao duyên” bằng thể thơ lục bát là chủ yếu Vì thế mà dư âm câu ví vừa sâu lắng, ân tình, vừa sâu sắc ý nghĩa

Trong thể hát giặm:

- Cũng như hát ví, người xứ Nghệ hát giặm quanh năm, không kể mùa xuân hay mùa hạ, bất kể không gian địa điểm nào, có khi trên đồng ruộng, khi trong nhà, ngoài sân… đều là những điều kiện cho tốp, phường, hội thanh niên nam nữ giao duyên, hát xướng với nhau Thông qua cuộc hát, họ đã chuyển tải được những thông điệp mang tính thời sự, có thể về chuyện làm ăn, chuyện làng xóm, đôi khi là tiếng lòng đầy chất tự sự, khuyên nhủ, kể lể sự tình

- Hát giặm có thủ tục và cách tổ chức cũng có 3 chặng hát chính (hát chào, hát mừng, hát hỏi thay cho hát dạo) nhưng quy củ không chặt chẽ như hát ví Thông thường những người có khả năng hát giặm ở một làng cùng nhau hợp thành đoàn theo giới tính Một đoàn thường gồm độ ba hay dặm bảy người, trong đó bao giờ cũng có một người đứng đầu Người này phải là tay “bẻ chuyện” giỏi Bẻ chuyện nghĩa là sáng tác ứng khẩu, đồng thời biết hát bẻ hoặc hỏi vặn đối phương Kế đó có một vài người “cặp” Cặp hay hát, cặp là lắp theo giọng hát người bẻ chuyện, làm sao cho mấy giọng hát từ mấy cái cổ họng đồng thời phát ra tạo thành một âm thanh tập thể

- Hình thức diễn xướng của giặm chủ yếu là hát ngâm và hát nói Tuy nhiên thể hát nói của giặm đơn giản hơn nhiều, không bị chi phối bởi khuôn khổ của nhạc một cách chặt chẽ như hát ca trù Cách hát của giặm chỉ ngân chứ không rung, tạo cho người nghe cảm giác đều đều, chắc gọn, có khi nặng nề Vì thế để tránh sự khô khan, nhàm chán về sau người ta chú ý đến hát ngâm, tạo vẻ du dương, man mác hơn

Những nét bình dị, độc đáo về không gian diễn xướng trong dân ca xứ Nghệ đã từng là môi trường nuôi dưỡng dân ca cổ, nuôi dưỡng tập quán sinh hoạt cộng đồng Trước đây, khi chưa có sự tác động của công nghệ âm thanh hiện đại, những làn điệu dân ca ví, giặm đơn thuần chỉ là những lời ca, tiếng hát mượt mà, tình tứ được các nghệ nhân có giọng hát trời phú cùng với sự say mê, yêu thích và tích lũy qua thời gian thể hiện Những buổi hát dân ca được thể hiện trong không gian làng quê mộc mạc, thân thuộc với cây đa, bến nước, sân đình, với đủ các ngành nghề lao động

Tuy không còn phù hợp với lối sống hiện đại, nhưng những giá trị về không gian văn hóa và hình thức diễn xướng theo lối nguyên bản, dị bản vẫn là kho tàng văn hóa để người đời khai thác, phát huy vào cuộc sống đương đại Không gian văn hóa nguyên bản

Trang 32

còn là cứ liệu để các cấp ngành văn hóa làm cơ sở để khôi phục môi trường diễn xướng theo lối đi mới nhưng vẫn không làm mất đi nét dung dị của nó như: xây dựng trong các làng nghề mới, trong lễ hội, trò chơi dân gian, phục dựng để phát triển ngành du lịch…

Không gian và hình thức diễn xướng dân ca xứ Nghệ ngày nay

Ngày nay, không gian sinh hoạt văn hóa của dân ca xứ Nghệ đã không còn được như trước Cùng với việc mất đi của một số làng nghề đã dẫn tới không gian diễn xướng loại hình nghệ thuật này cũng có sự thay đổi Không gian văn hóa hay còn gọi là không gian diễn xướng của dân ca giờ là các câu lạc bộ, sân khấu, các điểm biểu diễn văn hóa du lịch, hội thảo hay trong trường học…

Các trò diễn xướng trên sân khấu cũng tái hiện lại khung cảnh sinh hoạt trên đồng ruộng, sông nước của các cuộc hát ví – hát giặm nam nữ Như vậy, diễn xướng dân gian đã chuyển lên hình thức diễn xướng chuyên nghiệp, có đạo diễn, hóa trang, trang phục, ánh đèn… tổng hòa thành giá trị nghệ thuật cao hơn Nhịp sống mới, môi trường mới buộc dân ca cũng phải tìm cách thích ứng, kể cả việc thay thế không gian văn hóa cũ sang không gian mới, tạo nên những giá trị mới để có thể tồn tại về sau.Tuy dân ca ví – giặm không thể về với những giá trị nguyên bản, với cảnh bến nước, gốc đa, những đêm trăng phường vải, phường đan nhưng rõ ràng, không gian văn hóa mới cũng đã góp phần tiếp tục nuôi dưỡng dân ca, để dân ca có thể phát huy vào đời sống xã hội ngày nay Trong đó, phát huy giá trị không gian văn hóa – theo hình thức sân khấu hóa (ngoài tính chất hình thái văn hóa vốn có của dân ca cộng thêm hình thái nghệ thuật để lên sân khấu, sân khấu hóa) là hướng đi chủ yếu hiện nay

Sinh hoạt ví - giặm xứ Nghệ là tập quán sinh hoạt mang đậm tính cộng đồng

Cùng với các loại hình dân ca khác trong cả nước, dân ca xứ Nghệ biểu hiện khá sâu đậm về một trong những bản sắc văn hóa người Việt, đó là tính cộng đồng Chính vì sinh trưởng trên mảnh đất vốn đầy nắng và gió, buộc phải chung lưng đấu cật, vượt qua mọi thiên tai, địch họa đã góp phần tạo nên tính cố kết bền vững của người dân xứ Nghệ Khác với tập quán cộng đồng trong dân ca Quan họ, hát Xoan,

Hò Huế…, hát Ví – Giặm là tập quán sinh hoạt ca hát ngay cả trong lao động Khi tiếng hát được cất lên, không những làm vơi bớt nỗi vất vả của cuộc sống mưu sinh

mà còn thỏa mãn nhu cầu ca hát, giao lưu, thi thố tài năng Bắt đầu từ một vài người thành phường, thành hội; từ một làng đến nhiều làng, nhiều xã, đến hầu hết địa

Trang 33

phương của xứ Nghệ; từ hát ban sáng đến trưa và tối, qua tận ngày hôm sau… Lâu dần, tiếng hát trong lao động của người dân xứ Nghệ trở thành nét đẹp trong tập quán sinh hoạt cộng đồng, không cần đến lễ hội, mùa vụ Nếu sinh hoạt văn hóa của người dân Kinh Bắc là những liền anh, liền chị giao duyên, tinh tế trong tiếng mời trầu, chén nước mỗi độ lễ tết thì với người Nghệ, vẫn là hình ảnh quen thuộc của lao động, vẫn tay cày tay cấy, quay sợi, chèo đò, hái củi… nhưng lồng vào đó còn là cuộc dạo chơi đắm say trong lời ca tiếng hát Nét đẹp trong sinh hoạt đó lại nằm ở sự mộc mạc, chân chất, đôi khi là tiếng cười dí dỏm, tinh nghịch, có khi cũng bốp chát nhưng đầy thâm thúy và ân tình.

Khi đến với sinh hoạt văn hóa ví – giặm xứ Nghệ, bằng những phong tục, lề lối ước định của mình, người Nghệ đã hình thành những quan niệm đạo đức, những hành

vi và tình cảm bắt nguồn từ cội rễ sâu xa trong truyền thống văn hóa dân gian xứ Nghệ Kho tàng dân ca do nhân dân sáng tạo ra bộc lộ quan hệ giữa họ với tự nhiên, với xã hội, là nhu cầu giao lưu ca hát, giữa họ bao giờ cũng bộc lộ thái độ chân thành, bộc trực, có lúc tưởng như khô khan Người tham gia đều có quyền được sáng tạo, thể hiện trí tuệ, thưởng thức những giá trị văn hóa, nghệ thuật của chính mình, của những tri âm, tri kỷ, của cộng đồng người gắn bó, hòa hợp với mình, trong sự tự do và chân thật Các điệu hát của dân ca xứ Nghệ còn thể hiện tư tưởng dân chủ, bình đẳng giữa tầng lớp nho sỹ và người bình dân, giữa nam và nữ Qua dân ca, nhất là hát ví và hát giặm, chúng ta có thể hiểu được một số nét tính cách của người dân xứ Nghệ Đó là tính cộng đồng bền vững: sống nghĩa hiệp, sẵn sàng hy sinh vì bạn bè, người thân tạo nên tính cách khá đặc trưng của người Nghệ cho đến tận ngày nay

Sinh hoạt cộng đồng trong dân ca xứ Nghệ là nét văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác Nhưng khác với tính cộng đồng chung chung của con người Việt Nam, trong con người Nghệ còn trộn lẫn tính “gàn” Hai nét tính cách tưởng mâu thuẫn nhưng hóa ra lại là hòa hợp, rất riêng của người Nghệ Lý giải phần nào đó cho vấn đề này, Đại Nam nhất thống chí đã gọi đất Nghệ là "đất tứ đắc" Đất "tứ đắc" đã tạo cho con người nơi đây một tính gàn Nhưng con người phải có một cái tôi, cái bản ngã đạt tới mức nào thì mới thể hiện tính gàn được Như thế, gàn cũng tức là văn hóa của người dân xứ Nghệ Có lẽ nhờ vào tính gàn mà truyền thống văn hóa âm nhạc của người xứ Nghệ mới được lưu truyền, kế tục, tiếp nối và tiếp biến cho đến ngày nay, làm cho văn hóa âm nhạc xứ Nghệ khó trộn lẫn với nơi khác

Trang 34

Ngày nay, với nhịp sống hiện đại, giữa những xu hướng giải trí khác nhau của

con người khiến cho tập quán sinh hoạt cộng đồng như trước đã mai một, sẽ khó để còn những “đêm trăng phường vải”, “đêm đò đưa sông Lam, sông La” nhưng giá trị văn hóa đó vẫn sẽ bền vững, nhắc nhở con cháu xứ Nghệ về nét sinh hoạt đầy tính nhân văn, cần được phát huy theo hình thức mới, phù hợp với cuộc sống đương đại

Nghệ thuật xây dựng biểu tượng (hình tượng) văn hóa trong dân ca xứ Nghệ

Người xứ Nghệ xưa nay vốn thông minh, hồn nhiên, nên cách đưa biểu tượng, hình tượng vào trong hát đối đáp cũng đa dạng, phong phú và linh hoạt

Nếu trong dân ca quan họ Bắc Ninh có sự xuất hiện phổ biến của các liền anh liền chị gắn với tục kết bạn (kết chạ) thì trong dân ca ví giặm xứ Nghệ cũng xuất hiện rất nhiều các cặp đối đáp của phường anh – phường chị với chàng - thiếp, anh – em, bạn – mình, quân tử - thuyền quyên Đặc biệt đó còn là sự có mặt của những trí thức bình dân đóng vai trò là thầy gà (người bày) và cả người hát

Để ca ngợi về quê hương xứ sở, nếu dân ca quan họ dùng hình tượng về con thuyền, con đò… thì dân ca xứ Nghệ xuyên suốt là biểu tượng núi Hồng và sông Lam (kể cả sông La), góp phần tạo nên bản sắc Hồng - Lam trong văn hóa xứ Nghệ, làm cho văn nghệ dân gian vùng này "giàu hùng khí" (Bùi Dương Lịch) Để cụ thể hoá nỗi lòng, con người Nghệ Tĩnh ví von:

Hồng sơn cao ngất mấy trùng Lam giang mấy tượng thì lòng bấy nhiêu

Em như con chim phượng hoàng

Đỗ cao Thiên Nhẫn mây vàng bao quanh.

Hay giản dị chân chất như chính con người và cuộc sống khó khăn… như

Trang 35

Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng 1

Lối so sánh kiểu này được dùng phổ biến trong hát phường vải, làm cho ngôn ngữ của dân ca xứ Nghệ giàu sắc thái biểu cảm, giàu chất thơ.Làng quê xứ Nghệ trong hát đối đáp hiện lên với tất cả vẻ giàu đẹp, gian khổ và lam lũ của nó Đây là đặc điểm của đất làng Đồng Lưu (Thạch Hà) qua lời trách móc của một chàng trai đối với bạn tình:

“Nước thủy triều mau xuống mau lên Đất Đồng Lưu bọc địa thiếp mau quên nghĩa chàng”

Còn trai làng Nho Lâm (Diễn Châu) thì không dấu giếm sự vất vả của làng quê mình khi tỏ tình với con gái các làng chung quanh:

“Nho Lâm than quánh nặng nề

Em mà đang được thì về Nho Lâm”

Địa danh có khi là tên của những cái chợ Chợ Phuống (Thanh Chương) trong lời hát đầy lo lắng thương yêu của một chàng trai đối với một cô gái:

“Thuyền anh xuôi Chế sáu chèo Thuyền em ngược Phuống cheo leo một mình

Địa danh còn là tên các dòng sông, bến nước buôn bán sầm uất Vì thế khi xa nhau, phường buôn thường hò hẹn ngày gặp lại:

“Thứ nhất là vạn Tam Soa Thứ nhì vạn Phố, thứ ba vạn Nầm”

Rồi đến khi bên con trai hát:

“Thương nhau tam tứ núi cũng trèo Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua”

Thì bên con gái hát:

“Trót cùng chàng dan díu bấy lâu

Dù chàng có ngược Ngàn Phố, Ngàn Sâu em cũng chờ”.

Hay khi con gái bộc bạch nỗi lòng:

“Nước sông Lường 2 ai lắng mà trong?

Duyên chàng ai tạc cho lòng nhớ thương”

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ giàu bản sắc văn hoá

1 Khoa Văn – Đại học Vinh sưu tầm được ở một số xã ở huyện Nghi Lộc và nhà thơ Hoài Thanh cho rằng: chỉ cần một câu như vậy cũng có thể sánh ngang nhiều câu thơ hay ở trong thơ mới ở Việt Nam.

Trang 36

Bản sắc đó được hình thành theo vùng văn hoá, với tiếng nói, ngữ âm (phương ngữ), mang đặc điểm riêng, không giống Quảng Bình, cũng không giống Thanh Hoá Bản sắc đó còn thể hiện trong bản chất con người xứ Nghệ, sống thật thà, chất phác, tình cảm sâu nặng đối với người thân và bạn bè Nhà thơ Cù Huy Cận đã viết:

“Người xứ Nghệ quen lâu Nhưng bén rồi càng sâu lắng…”

Bản sắc đó đã khắc sâu trong tâm trí và tình cảm của bao người, kể cả người Nghệ xa quê và những người không phải quê hương xứ Nghệ, mỗi khi nghe câu ví, giặm cất lên, lòng thổn thức nhớ thương về một vùng quê sâu nặng, một xứ Nghệ ân tình Bản sắc đó lại không bị ảnh hưởng dân ca từ nơi khác đến hoặc đến với dân ca các nơi khác Các nhà nghiên cứu cho rằng: Tính biệt lập của vùng xứ Nghệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tính độc lập của dân ca xứ Nghệ Vì vậy, bản thân dân ca xứ Nghệ

đã góp phần hình thành bản sắc văn hoá xứ Nghệ

Chính sự lắng đọng của hồn quê, vương buồn trong câu hát ví – giặm mà suốt cuộc đời buôn ba khắp năm châu bốn biển đi tìm đường cứu nước, Hồ Chủ Tịch vẫn mang nặng tâm hồn văn hoá dân tộc, của xứ Nghệ Cho đến lúc lâm chung, Người vẫn muốn được nghe khúc dân ca quê nhà Theo tư liệu: đồng chí Vũ Kỳ có kể lại với

nhạc sĩ Trần Hoàn – tác giả sáng tác bài “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, một trong

những bài hát hay nhất viết về Bác Hồ, thì đầu tiên Bác muốn nghe một câu ví giặm Nghệ Tĩnh hoặc một câu hò của Huế nhưng giữa bệnh viện (Quân y 108) lúc bấy giờ không tìm được ca sĩ, cuối cùng đồng chí Vũ Kỳ phải khuyên cô Oanh - y Tá Quân y hát một câu Quan họ cho Bác nghe, vì cô không biết hát dân ca miền trung Câu hát dân ca đã làm Bác xúc động rơm rớm hàng mi, đã thỏa phần nào nỗi nhớ da diết về quê hương, về khúc hát dân ca thủa thiếu thời của Người

Ta còn bắt gặp thêm nỗi lòng của người con xứ Nghệ khi đứng “giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ” để thấy được nỗi niềm thiết tha về vùng văn hóa ví –

giặm.Tận bên trời tây giá rét của Matxcova, người nhạc sĩ bỗng nghe văng vẳng tiếng hát của xứ sở Cũng có thể, dân ca xứ Nghệ vượt khỏi biên giới nước Việt, theo dấu chân người Nghệ về bên trời Âu hay phải chăng đó là tiếng hát “vô hình” vọng từ trong tâm thức của người con khi xa quê hương

Xứ Nghệ còn là vùng văn hoá dân gian nổi tiếng, nhìn vào kho tàng ca dao, dân

ca, hò, vè, chuyện cười… của các nhà nghiên cứu để lại cũng đủ thấy: đây là vùng đất

Trang 37

giàu truyền thống văn hoá Một trong những giá trị quý báu của dân ca còn cho chúng

ta thấy khá sâu sắc và đậm đà về cuộc sống và tâm hồn của con người Nhưng điều đặc sắc ở dân ca là nơi đây ta không gặp con người Việt Nam chung chung với một phong cách dân tộc chung chung, ở đây ta gặp những con người cụ thể với những tâm hồn có phong cách riêng được hun đúc từ bao đời ở những vùng văn hoá dân gian khác nhau

Cùng chung một tình yêu và niềm tự hào về quê hương nhưng người xứ Nghệ nói:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

Ai vô xứ nghệ thì vô…

Non nước xứ Nghệ dần hiện ra, đẹp như một bức tranh và người dân xứ Nghệ với lời mời khá cứng cỏi nhưng đầy tự hào, đầy “chất Nghệ”, có thể hiểu rằng “ai vô thì vô” và “ai không vô thì thôi”

Trong khi đó, người xứ Huế sẽ nói dịu dàng hơn:

Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Yêu em anh cũng muốn vô…

Cũng về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, khác với địa phương khác, hình ảnh người phụ nữ xứ Nghệ lại có tính cách cứng cỏi và mạnh mẽ Để được giải phóng, họ dám phát biểu, đương đầu và không lệ thuộc vào những giáo điều Cho nên, con gái

xứ Nghệ tuy giàu tình cảm nhưng lại rạch ròi, dứt khoát trong tình yêu:

Đã thương thì thương cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ đứng đầu truông Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi

Trong khi người Bình - Trị - Thiên cũng mượn lại ý đó nhưng lại nhẹ nhàng hơn:

Có thương thì thương cho chắc cho chắn Cho xoắn cho vó, cho có lòng thương

Trong sự chia ly của tình yêu, với người con gái xứ Nghệ:

Đến duyên em cha mẹ ép phải lấy chồng

Em yêu anh như rứa có mặn nồng tuỳ anh Đừng trách nhau chi lắm, cho cực lòng nhau thêm

Trang 38

Ta tưởng như có chút lạnh lùng khi “mặn nồng tùy anh” nhưng ẩn đằng sau đó

là lòng thủy chung, son sắt, bởi “cha mẹ ép”, vì “ép” nên mới phải đành lòng chia ly.

Khác với con gái xứ Nghệ, người con gái Bình - Trị - Thiên lại cảm thương cho tình cảnh ngang trái:

Đến duyên thì mẹ cha buộc em phải lấy chồng Trách nhau chi rứa nữa cho cực lòng nhau thêm.

Hay ta bắt gặp trong phong cách của xứ Thanh (qua hò sông Mã, hát ghẹo, hát khúc) lại mang nhiều nét gần với phong cách miền Bắc, thanh thoát và đầy sự trau chuốt Trong tình yêu lại có cái gì dào dạt và mênh mông:

Lòng em thương nhớ ước ao Mười đêm em ngắm ông sao cả mười Bóng trăng lấp ló bên đồi

Tưởng anh vượt núi đến chơi với tình

Đôi khi ta còn bắt gặp một người Nghệ đầy tinh nghịch, hóm hỉnh qua hình ảnh

ví von:

Con rồng kia phải bệnh ngáp dài Hỏi chàng quân tử uống bài thuốc chi?

Đáp rằng:

Hai củ nhân sâm, một củ hoàng kỳ

Ăn vào nó khỏi, uống thì nó thôi

Con người xứ Nghệ như thế đó: mãnh liệt sâu sắc nhưng trầm lặng kín đáo, di dỏm, là con người giàu tình cảm nhưng không bộc lộ ồn ào hời hợt, không dàn trải

mà sâu kín bền bỉ, chân tình và giàu nghị lực

1.3.1.2 Đặc điểm, giá trị về mặt văn học

Nội dung tư tưởng của sinh hoạt văn hóa dân ca xứ Nghệ

Dân ca xứ Nghệ phản ánh trung thực mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương Đó là cuộc sống phải cần cù lao động thì mới có thể tồn tại được trên vùng đất mà thiên nhiên vừa ưu đãi lại vừa khắc nghiệt đối với con người (vừa là cơ hội vừa là thách thức) Khi câu hát cất lên, người thưởng thức sẽ thấy lấp ló một tiếng cười dí dỏm lại vừa buồn man mác Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu, như là những bản tình ca của người lao động xứ Nghệ

Trang 39

Điều khác biệt là so với dân ca vùng miền khác, dân ca xứ Nghệ không chỉ phản ánh những tư tưởng của những người lao động bình thường về tình cảm gia đình, tình yêu trai gái, tình làng nghĩa xóm, về sản xuất, thời tiết mà còn hướng tới đỉnh cao vũ khí "tuyên truyền cách mạng", trong đó, hát ví (hát ví phường vải) là thể hiện rõ nhất khí chất này Các nhà cách mạng, sĩ phu yêu nước khi tham gia hát ví đã khéo léo lồng vào các nội dung cổ động, phát động phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc Có thể kể đến tên tuổi của cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ, Cao Thắng… Sử sách còn tương truyền giai thoại về chí sỹ Phan Bội Châu – nhà yêu nước, cách mạng bấy giờ Một lần, cụ Phan đến Nam Kim hát với phường bà cháu Ban Hình như giữa Phan và

bà cháu Ban cũng có mối tình thanh khí, nên nhiều câu hát giữa hai người mang đầy

ẩn ý Gặp nhau lần này, bà cháu Ban hát:

Sáp (gặp) nhau một gánh nặng nề Giang sơn bịn rịn, tình quê nghẹn ngào.

Vượt lên trên tình cảm riêng tư, nghĩ đến trách nhiệm cứu dân cứu nước đang nóng rẫy trong tâm tư, Phan đáp:

Đêm xuân gặp gỡ giữa đường Non sông một đội, cương trường hai vai.

Biết là không thể nói lấp lửng, xa xôi với ông đầu xứ San này mãi được, thời gian gặp gỡ có hạn, bà cháu Ban – lúc đó còn là cô Ban - thổ lộ rõ lòng mình:

Chung lưng chung cả đò đầy Cho em chung mẹ chung thầy với anh.

Âu đó cũng là nữ nhi thường tình Nào ngờ bị Phan mở rộng tình cảm lứa đôi

ấy thành tình nước non, thành nghĩa hợp quần để khêu gợi tinh thần dân tộc:

Chung binh chung tướng chung vương Cùng anh chung cả tứ phương sơn hà.

Bên cạnh đó, nhiều bài hát giặm thể hiện tình yêu quê hương xứ sở (như bài

Dạo chợ xem cảnh tỉnh nhà)… Nổi bật nhất vẫn là lòng yêu nước và tinh thần đấu

tranh chống mọi thế lực thù địch, nhất là phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp, chống phong kiến trong giặm vè

Mấy trăm dân cùng chộ (thấy) Mấy ngàn dân cũng tường (tỏ) Kháp (gặp) đâu đánh đó

Trang 40

Cứ phép thôn dân Cộôc (gậy) tre hãy dần (đánh nhừu tử)

Với những nội dung như vậy mà có người cho rằng: nếu dân ca quan họ Bắc Ninh ngọt ngào, đằm thắm; dân ca xứ Huế man mác thương nhớ thì dân ca xứ Nghệ

nặng nghĩa, nặng tình, chẳng khác gì như muối mặn, gừng cay.

Nói đến văn học còn nói tới nghệ thuật ngôn từ

Tìm hiểu đặc điểm và giá trị của dân ca xứ Nghệ trên bình diện này, chủ yếu là xem xét về ca từ trong các làn điệu Tuy nhiên, khác với văn học viết, ngôn ngữ trong văn học dân gian có quan hệ mật thiết với các thành phần nghệ thuật khác như âm nhạc, động tác và kể cả môi trường diễn xướng (ngữ cảnh)

Về đặc điểm, các ý kiến đã được trình bày ở phần trên (đặc điểm và giá trị về văn hóa) của GS Nguyễn Đổng Chi, PGS Ninh Viết Giao và một số tác gia khác đều đã đề cập tới đặc điểm ca từ của hát giặm và hát ví xứ Nghệ

Nhìn một cách tổng thể, dân ca xứ Nghệ thường sử dụng nhiều từ cổ, từ địa phương và kể cả từ Hán - Việt với tỷ lệ cao hơn so với dân ca các vùng khác (Đã có một số công trình đi sâu nghiên cứu điều này) Chẳng hạn trong bài viết có tiêu đề:

"Vai trò của phương ngôn trong dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ " đã đưa ra một thực tế

trên cơ sở của sự khảo sát, thống kê: " trong hát ví (chẳng hạn trong "hát phường vải", Ninh Viết Giao sưu tầm) trung bình có năm câu thì có một câu sử dụng tiếng địa

phương (chiếm 20%), riêng hát giặm ("Kho tàng vè xứ Nghệ" của PGS Ninh Viết

Giao), bài nào cũng có từ địa phương (100%), bài ít nhất có một từ, bài nhiều nhất có bảy đến mười từ Điều đó phản ánh và lý giải sự mộc mạc, dung dị, chân chất của ví, giặm xứ Nghệ

Từ thực tế điều tra, chúng tôi ghi lại được những câu ca mà ngôn từ của nó hầu hết là tiếng địa phương:

Đây nhòm đó, đó nhòm đây,

Đó đây nhòm chắc, nỏ chi hay bằng nhòm 1

Việc sử dụng khá nhiều từ Hán - Việt cùng với một số điển tích, điển cổ (Nhất

là trong "hát phường vải") đã tạo nên tính bác học của dân ca xứ Nghệ Đặc điểm này

đã được GS Ninh Viết Giao chứng minh, lý giải thấu đáo trong bài: Tính bác học trong ca từ của dân ca ví, giặm xứ Nghệ.

1 Khoa Văn - ĐH Vinh sưu tầm được ở xã Diễn An và Diễn Trung huyện Diễn Châu và chưa thấy có trong các cuốn sách đã công bố về dân ca xứ Nghệ

Ngày đăng: 31/12/2015, 11:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chung Anh (1958), Hát ví Nghệ Tĩnh, Nxb Văn sử địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát ví Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Chung Anh
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1958
25. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngư Văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngư Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
26. Lê Hàm sưu tầm (1970), Dân ca Hà Tĩnh, Ty VHTT & Hội văn nghệ Hà Tĩnh xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Hà Tĩnh
Tác giả: Lê Hàm sưu tầm
Năm: 1970
27. Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu (2000), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Nxb Nghệ An.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu
Nhà XB: Nxb Nghệ An.28
Năm: 2000
Lê Văn Hảo, Vài nét về sinh hoạt của hát Giặm và hát Ví, Tạp chí Đại học số 34/1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về sinh hoạt của hát Giặm và hát Ví
Năm: 1963
29. Nguyễn Thị Thu Hiền (2008): Đặc trưng ngôn ngữ hát phường vải trong sự đối sánh với Hát giặm Nghệ Tĩnh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ hát phường vải trong sự đối sánh với Hát giặm Nghệ Tĩnh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2008
32. Đào Việt Hưng, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Tạp chí âm nhạc số 3,4/1981 33. Đào Việt Hưng, Hát ví Nghệ Tĩnh, Báo văn hóa số 4/1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh", Tạp chí âm nhạc số 3,4/198133. Đào Việt Hưng, "Hát ví Nghệ Tĩnh
34. Đào Việt Hưng (1998), Hát ví Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát ví Nghệ Tĩnh
Tác giả: Đào Việt Hưng
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1998
36. Bích Lộc, Âm nhạc của hát giặm Nghệ - Tĩnh, tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 6/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc của hát giặm Nghệ - Tĩnh
37. Vĩnh Long, Hát giặm Nghệ Tĩnh, văn hóa dân gian số 4/1984 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
39. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, H: Âm nhạc.40 .Phạm Phúc Minh (1994) Dân ca Việt Nam. Nxb Âm nhạc 41. Tú Ngọc (1994) Dân ca người Việt, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, "H: Âm nhạc.40.Phạm Phúc Minh (1994) "Dân ca Việt Nam." Nxb Âm nhạc41. Tú Ngọc (1994)" Dân ca người Việt
Tác giả: Phạm Phúc Minh
Nhà XB: Nxb Âm nhạc41. Tú Ngọc (1994)" Dân ca người Việt
Năm: 1994
42. Vũ Ngọc Phan (1998), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Năm: 1998
43. Vi Phong, Đôi điều về hát ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh, Tạp chí nghiên cứu VHNT, số 6/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về hát ví và sức mở của dân ca Nghệ Tĩnh
44. Vi Phong (2000), Dân ca Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa thông tin xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Nghệ Tĩnh
Tác giả: Vi Phong
Năm: 2000
45. Lê Chi Quế (1990), Các thể loại trữ tình dân gian, Nxb Đại học và GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại trữ tình dân gian
Tác giả: Lê Chi Quế
Nhà XB: Nxb Đại học và GDCN
Năm: 1990
46. Sở VHTT&DL Nghệ An (2012): Kỷ yếu hội thảo khoa học: Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví – giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví – giặm xứ Nghệ
Tác giả: Sở VHTT&DL Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2012
47. Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hội Văn nghệ dân gian 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh
49. Nguyễn Tất Thứ (1999), Phường Vải Nam Đàn, Nxb Tân Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phường Vải Nam Đàn
Tác giả: Nguyễn Tất Thứ
Nhà XB: Nxb Tân Dân
Năm: 1999
52. Nguyễn Viêm (1996), Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt nam, Viện Âm nhạc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt nam
Tác giả: Nguyễn Viêm
Năm: 1996
53. Tô Vũ (1996), Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam
Tác giả: Tô Vũ
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số kết quả điều tra (từ phiếu điều tra) đến cán bộ văn hóa - Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
Bảng 1 Một số kết quả điều tra (từ phiếu điều tra) đến cán bộ văn hóa (Trang 67)
5. Hình thức sinh hoạt dân ca được ưu thích: - Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
5. Hình thức sinh hoạt dân ca được ưu thích: (Trang 68)
5. Hình thức sinh hoạt dân ca được ưu thích: - Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
5. Hình thức sinh hoạt dân ca được ưu thích: (Trang 73)
Bảng 2:  Một số kết quả điều tra (phiếu điều tra) đến học sinh và sinh viên - Bảo tồn và phát huy kho tàng dân ca xứ nghệ trước xu thế đổi mới, hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
Bảng 2 Một số kết quả điều tra (phiếu điều tra) đến học sinh và sinh viên (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w