Từ đó những ngườiquan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: Nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhàcung cấp, người lao động, nhà nước… để đưa ra các quyết định kinh tế như: Đầu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là hoạt động nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu
kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuânthủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành
Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các Báo cáo tài chính (BCTC) Từ đó những ngườiquan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: Nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhàcung cấp, người lao động, nhà nước… để đưa ra các quyết định kinh tế như: Đầu tư, cho vay,cấp tín dụng thương mại, bán hàng, đưa ra các chính sách thuế phù hợp… Những nhận xétđánh giá của những công ty này chính là căn cứ cho các nhà đầu tư khi họ cân nhắc có nênđầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các số liệu
kế toán của một công ty
1 Lý do chọn đề tài
Trên thế giới đã và đang xảy ra nhiều vụ kiện các doanh nghiệp khổng lồ do gian lậnbáo cáo tài chính (BCTC) dẫn đến sự vỡ nợ và phá sản như Enron, Worldcom, SNhững vụviệc này đang đặt ra cho giới truyền thông nghi vấn về trách nhiệm của kiểm toán viên(KTV) và làm tăng sự nghi ngờ của công chúng và những nhà đầu tư về tính trung thực củaBCTC đã kiểm toán
Hiện nay, thị trường chứng khoán nước ta đang phát triển rất mạnh mẽ Nhiều nhà đầu
tư Việt Nam và nước ngoài đã tham gia vào thị trường chứng khoán Họ bắt đầu quan tâmđến BCTC đã kiểm toán của những công ty niêm yết Do quyền lợi của những nhà quản lýdoanh nghiệp gắn liền với sự lên xuống của giá cổ phiếu, nên các gian lận trên BCTC có khảnăng xảy ra rất cao và gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư Lúc này, tại Việt Nam, việcKTV đảm bảo BCTC phản ánh trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp và BCTCkhông còn sai phạm trọng yếu (bất kể do gian lận hay sai sót) là rất quan trọng KTV nếu
Trang 2thực hiện tốt trách nhiệm này sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thu hút được vốn, giúp nhữngnhà đầu tư có cái nhìn đúng đắn về doanh nghiệp để thực hiện việc ra quyết định đầu tư đúngđắn và giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn
Việc tìm hiểu về các vụ kiện, tranh chấp có liên quan đến công ty kiểm toán trên thếgiới và Việt Nam trong thời gian qua giúp KTV hiểu rõ trách nhiệm của mình, hoàn thànhtốt mục tiêu của cuộc kiểm toán, có bằng chứng về sự tuân thủ chuẩn mực và tránh được cáctrách nhiệm pháp lý trong những vụ kiện về gian lận trên BCTC đã kiểm toán
2.Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu giúp ta hiểu rõ những mặt còn thiếu sót, hạn chế trong hệthống kiểm toán hiện nay, từ đó rút ra bài học từ những sự thất bại của các công ty kiểm toánlớn, tránh đi vào vết xe đổ
Nghiên cứu sự thay đổi các điều luật, chuẩn mực, quy định của kế toán, kiểmtoán
3.Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng công cụ phân tích
Phân tích thông tin
4.Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về các vụ kiện trong và ngoài nước
Tìm hiểu sự thay đổi về chuẩn mực, quy đinh về kế toán, kiểm toán
Trang 31.Diễn biến sự việc
1.1.Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ :
Thành lập năm 1985, trên cơ sở sáp nhập hai công ty Houston Natural Gas và Internorth
of Omaha, cái tên Enteron (ruột) xuất phát từ ý tưởng cho rằng đó là bộ phận không thể thiếutrong quá trình tiêu hóa, Enron nhanh chóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnhtrong lĩnh vực năng lượng sau thời gian ngắn 15 năm Enron đã bắt đầu từ con số không đểtrở thành công ty lớn thứ bảy của Hoa Kỳ và có lúc là công ty năng lượng nổi tiếng hàng đầuthế giới Công ty có hoạt động ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam Họ sửdụng hơn 21 nghìn nhân viên và hiện diện ở hơn 40 nước trên toàn thế giới, trong đó có7.500 nhân viên làm việc tại tòa nhà 50 tầng ở trung tâm Houston Một công ty chuyên vềhơi đốt thiên nhiên ở Omaha thuộc bang Nebraska (Mỹ) và điều hành 59.200 km đường ống.Năm 1989, Enron bắt đầu kinh doanh các mặt hàng hơi đốt thiên nhiên Trong nhiềunăm, công ty trở thành nhà kinh doanh đường ống và điện năng lớn nhất Bắc Mỹ và AnhQuốc
Năm 1997, công ty bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động bằng việc sang kinh doanh cácsản phẩm than đá, giấy và bột giấy, nhựa, kim loại và viễn thông Enron thường được xemnhư là trung tâm của các cuộc cách mạng liên quan đến viễn thông, Internet, sự bãi bỏ kiểmsoát về năng lượng, v.v
Không còn gì nhiều để nói về sự thành công và thất bại đầy tai tiếng của ông trùm nănglượng Enron ở Texas Cùng với việc sản xuất năng lượng, họ cũng tạo nên một đặc trưng
Trang 4thương hiệu mạnh mẽ Enron giành được giải thưởng “Công ty Đột phá Nhất nước Mỹ” củatạp chí Fortune sau 6 năm hoạt động, họ cũng được xếp hạng cao trong biểu đồ “Những công
ty tốt nhất để làm việc” cũng của tạp chí này Công ty cũng cổ vũ hình ảnh của một công dântốt của cộng đồng, ấn hành các báo cáo xã hội và môi trường nhắm vào những hoạt động củacông ty với sự cẩn trọng đối với những hệ quả môi trường của công việc, các chính sáchchống hối lộ và tham nhũng cùng những mối quan hệ đồng sự
Nhờ những quy định mới về tự do hóa thị trường năng lượng Mỹ trong thập niên 90, họ
đã lột xác từ một hãng làm ăn mờ nhạt thành tập đoàn có thể thay đổi sự cân bằng trong lĩnhvực kinh doanh năng lượng Luật chính sách năng lượng năm 1992 buộc các công ty nhỏphải mở cửa đường truyền tải điện cho hệ thống phân phối của Enron Ngoài ra, Enron kiếmrất nhiều tiền từ việc mua bán trên thị trường năng lượng Trên thực tế, họ chỉ là những nhàbuôn sắp xếp hợp đồng giữa người mua và bán rồi lấy tiền hoa hồng Trong tay Enron, thịtrường năng lượng ngang hàng với một sự đầu cơ tài chính Hãng này đã xây dựng nhữngnhà máy trị giá hàng triệu USD khắp thế giới nhưng chỉ sở hữu chúng khi giá năng lượng lênngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay lập tức Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đãvươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễn thông
Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước dễ dãi nhất về luật kếtoán Hệ thống công ty mẹ-công ty con được thiết kế bởi các chuyên gia tài chính rất tài giỏi,
và được bảo đảm bởi một trong 5 đại gia ngành kiểm toán của thế giới: Arthur Andersen.
Trong nhiều năm, Enron chứng tỏ họ là một công ty lớn mạnh và có lợi nhuận cao:Thành công đáng kể nhất của Enron là trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm
2000 Trong khoảng thời gian này, giá cổ phiếu của Enron tăng từ dưới 20 USD lên trên 80USD Năm 2000, giá trị thị trường của Enron đạt 77 tỉ USD Lợi nhuận của công ty cũngtăng rất nhanh, từ 20 tỉ USD trong năm 1997 lên thành 101 tỉ USD trong năm 2000, tăng hơnnăm lần chỉ trong vòng bốn năm, là một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD
Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp chí Fortune, luôn đánh bóng Enron là công ty
có nhiều tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD
Trang 5Từ năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công ty liên tục tăng lên Cao điểm làvào tháng 10/2001, giá cổ phiếu của công ty đã tăng hơn gấp đôi trong vòng chỉ một năm.Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinh doanh của Enronngày càng mang thêm nhiều rủi ro Trong việc kinh doanh vận chuyển qua hệ thống đườngống, cả lượng và giá đều ổn định Nhưng trong lĩnh vực buôn bán khí đốt và xăng dầu, giá cảdao động rất mạnh đồng thời số lượng cũng giao động do sức ép cạnh tranh.
Enron lớn đến mức không ai tin nó có thể sụp đổ Vậy tại sao Enron, một công ty nănglượng lớn nhất nước Mỹ, đứng thứ bảy trong số các công ty lớn nhất của Mỹ, lại rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng và phá sản nhanh đến thế
1.2 Khủng hoảng và sụp đổ:
Ngày 10/1, Tòa Bạch Ốc chính thức thông báo lãnh đạo tập đoàn Enron, ông KennethLay, đã từng liên hệ với giới chức cao cấp của chính quyền Bush, trong đó có Bộ TrưởngNgân Khố Paul Oneil và Bộ Trưởng Thương Mại Don Evans để tìm kiếm sự giúp đỡ, xinchính phủ can thiệp tài chính để thoát khỏi bờ vực phá sản, nhưng đều bị hai Bộ Trưởng từchối Lúc đó, ông O'neil đã không thông báo cho Thủ Tướng Bush về cuộc khủng hoảng củaEnron và chính quyền cũng không làm gì để bảo vệ cho các nhân viên cũng như cổ đông củaEnron
Đến tháng 10-2001, Ủy ban Chứng khoán Mỹ đã điều tra sổ sách kế toán của Enron và
sự thật mới bắt đầu hé lộ
Tập đoàn Arthur Andersen chịu trách nhiệm kiểm toán, lưu giữ chi tiết các hoạt động tàichính của Enron vừa thú nhận rằng họ đã hủy bỏ "một số lượng đáng kể nhưng không xácđịnh được" những tài liệu nói về sai phạm tài chính ở Enron Các công tố viên cho biết sốlượng tài liệu liên quan bị hủy bỏ có thể lên đến hàng ngàn
Nhiều nhà phân tích tài chính liên tục đánh giá cao công ty này, cho đến sát thời điểm nósụp đổ Theo chuyên san tài chính Bloomberg Markets, đến trung tuần tháng 10/2001, vẫn có
ít nhất 6 nhà phân tích nổi tiếng ở Wall Street tiếp tục khuyên nên mua cổ phiếu Enron
Trang 6Ngày 26/10/2001, công ty lần đầu tiên thừa nhận đã lỗ hàng trăm triệu USD trong mộtquý:
Enron công bố lỗ 618 triệu USD trong quý III nhưng thực tế lên tới 1,2 tỷ USD Số nợ1,2 tỷ USD bị giấu đi đã gây hoảng loạn trên thị trường chứng khoán khi nó bị tiết lộ
Vào tháng 8/2001, Giám đốc Điều hành Jeffrey Skilling từ chức vì lý do cá nhân
Tháng 12 năm 2001,Ủy ban Chứng khoán Mỹ thông báo rằng ủy ban này đã kiện ôngFastow trước một tòa án ở Washington vì không giao nộp các tài liệu liên quan đến các hoạtđộng tài chính bất minh của Enron và không trình diện ủy ban theo trát đòi ngày 30/10.Giámđốc tài chính Fastow phải ra đi
Khi công ty khó khăn, họ thuyết phục nhân công nhận lương và thưởng bằng cổ phiếu.Việc trả lương bằng cổ phiếu chẳng những không thể làm cho giám đốc điều hành đặt quyềnlợi cổ đông lên trên hết, mà còn gây hậu quả ngược lại – mua lấy sự im lặng của các giámđốc này về tình hình tài chính Làm cách đó, giá trị của Enron đã bị giảm sút nghiêm trọng
Đã có những dự báo trước:
*) Tháng 1/2001, một nhân viên kiểm toán của Andersen đã cực lực phản đối phươngpháp kế toán của Enron Vài tuần sau, nhân viên này bị Andersen chuyển sang bộ phận kháctheo đề nghị của Enron Một nhân viên của Merrill Lynch (công ty đánh giá xếp hạng chứngkhoán) đã xếp hạng cổ phiếu của Enron vào loại “không có triển vọng” Nhân viên này bị sathải ngay sau đó
*)Cổ phiếu của Enron tụt giá thảm hại: Ngày 15/8/2001, cổ phiếu Enron bắt đầu mất giá,đầu tháng 11 năm 2001, giá cổ phiếu của Enron giảm xuống dưới 10 USD, cuối năm 2001,mỗi cổ phiếu chỉ còn giá 0,6 USD
Ngày 9/2002 Hoa Kỳ đã chính thức cho chuyển hồ sơ của tập đoàn Enron sang bộ phậnđiều tra hình sự Cuộc điều tra này dự kiến được chỉ thị từ Hoa Thịnh Đốn nhưng sẽ có Công
Tố Viên nhiều tiểu bang tham gia Trước đó, Enron đã trải qua hằng loạt cuộc điều tra dân sựkhi nộp đơn xin phá sản lần thứ hai vào tháng 12-2001
Trong thời điểm này các công tố viên quan tâm đến một yếu tố có khả năng gây chấn
Trang 7sự của Bộ Tư Pháp về công ty Enron, sau khi thông tin về số tiền 61 000 Mỹ kim mà Enronđóng góp vào quỹ tranh cử vào Thượng Viện của ông trong năm 2000 được công bố Toàn
bộ văn phòng Tư Pháp tại Houston, cơ quan được chỉ định điều tra vụ Enron, cũng đã rút luikhỏi tiến trình điều tra với lý do "có liên hệ tài chính" với Enron
Ngày trong tháng 12 năm 2001 , công ty tuyên bố phá sản
2.Phân tích nguyên nhân
Chính sự bí hiểm về tài chính của Enron là cội nguồn cho sự sụp đổ của công ty này.Giới chuyên gia cho rằng, sai lầm của công ty này chính là phụ thuộc quá nhiều vào cácgiao dịch tài chính Theo các chuyên gia kinh tế, một công ty hoạt động lành mạnh phảicông khai tài chính với các đối tác và ngược lại Thế nhưng, nhiều đối tác của Enron đãkhông tuân theo các nguyên tắc kế toán khiến họ bất lực trong việc kiểm soát tình hình tàichính
Do các chi phí kế toán: Andersen đã ký hợp đồng làm tư vấn cho Enron, sau đó chínhmình lại đóng vai trò kiểm toán để xác nhận những báo cáo tài chính của Enron Phí tư vấn
và kiểm toán đều là những con số khổng lồ Ví dụ, năm 2000, Enron Corp trả ArthurAndersen chi phí kiểm toán 25 triệu, chi phí tư vấn và các phí dịch vụ khác lên đến 27triệu đôla, và tổng số là 52 triệu đôla Như thế có nghĩa là công ty Enron Corp đã trảArthur Andersen khoảng 1 triệu đôla/tuần
Lãnh đạo Enron đã lợi dụng kẽ hở luật pháp để lập ra các công ty con mà không khaibáo tài chính để che giấu việc công ty đã vay quá khả năng chi trả Bằng cách này, Enronvừa không phải công khai các khoản nợ, vừa che giấu được những khoản lỗ Kết quả làEnron đã thổi phồng lợi nhuận của mình và giá cổ phiếu của công ty cũng theo đó tăng lênvun vút Khi mà Enron phải thông báo chính thức rằng từ năm 1997 công ty đã thua lỗ trên
500 triệu USD, những người "trong cuộc" đã kịp thời thu những món lợi khổng lồ từ cổphiếu của công ty Cụ thể, ông Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Kenneth Lay đã giữ 138triệu cổ phiếu của công ty Đầu năm 2001, Kenneth Lay bán ra với giá 79 USD một cốphiếu Hầu hết những vụ mua bán này đều không được công bố
Trang 8Những hoạt động tài chính của Enron đều được dựa trên sự thiết kế và vận hành củađiều mà nhiều nhà phân tích đặt tên là "những liên minh ma quái" Một mạng lưới chằngchịt quan hệ giữa Enron, một số quan chức chính phủ và đặc biệt là Công ty kiểm toánArthur Andersen đã giúp Enron Kế toán trưởng của Enron là Richard Causey - người đãthiết kế ra hệ thống lừa dối cổ đông - nguyên là kiểm toán viên của Andersen chuyển sang.
Sự sa thải liên tiếp các lãnh đạo cao cấp của công ty, một số nhân viên và việc dànhhàng trăm triệu USD cho các quan chức và nhân viên mua cổ phiếu hay chứng khoán vớigiá đặc biệt là một nguyên nhân không kém phần quan trọng
Công ty sụp đổ với khoảng nợ quyết đoán với 13 tỷ dollars và hàng tỷ dollars nợ vay,tái trả tín dụng và trả các hợp đồng năng lượng Enron phải tuyên bố phá sản đánh dấu vụthất bại kinh doanh lớn nhất ở Hoa Kỳ Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ quyết định điều tra xem có phảicác giới chức Enron đã phạm tội lừa đảo trước khi công ty phá sản hay không
Lật lại hồ sơ, người ta thấy rằng Tổng Thống Georges W Bush đã nhận được từ Enron
và những người liên quan đến công ty hơn 550 000 dollars - số tuyền hậu thuẩn tài chính lớnnhất Đổi lại, ông dành cho Enron những ưu đãi đáng kể trong việc làm ăn Enron và KenLay - giám đốc điều hành của Enron, người được ông Bush đặt tên thân mật là "Kenny Boy"
- đã quyên góp tiền cho ông Bush từ hai lần ông tranh cử thống đốc bang Texas năm 1994 và
1998 (với tổng số tiền 312 500 dollrs), đến chiến dịch tranh cử tổng thống và cả tiền cho lễđăng quang tổng thống hồi đầu năm 2001 Lay nói rằng ông ta ủng hộ ông Bush bởi có quan
Trang 9hệ lâu với gia đình Bush Thậm chí sự ủng hộ của Lay bắt đầu từ chiến dịch tranh cử tổngthống của Bush cha ít nhất vào năm 1980.
Hàng loạt quan chức của Enron và Andersen hoặc đã vào tù hoặc đang chờ án tù.Những nạn nhân chính là những người mua cổ phiếu Những người "bên trong" đã nhanh taybán cổ phiếu trước khi thảm hoạ được phát hiện Còn hầu hết cổ đông "bên ngoài", cuộc tháochạy giống như một thảm hoạ Có những người đã mua cổ phiếu với giá 90 đô la và để nhậnđược 0,6 đô la sau không đầy 1 năm
Enron phá sản mọi sự dính líu về chính trị cũng được phơi bày Trong đó có nhữngquan hệ gần gũi của công ty này với Nhà Trắng Enron đã ủng hộ nhiều triệu đô la vào chiếndịch tranh cử năm 2000 của George Bush Mặc dù cá nhân ông Bush là một người bạn của vịGiám đốc điều hành Kenneth Lay của Enron, ông này mau chóng cách ly với mọi dính líu cóthể gây tai tiếng với công ty này
Tập đoàn Enron còn hậu thuẩn tài chính cho hơn 250 thành viên quốc hội thuộc haiđảng Dân Chủ và Cộng Hòa trong thời gian từ năm 1989 đến 2001 Đứng đầu danh sáchnhận tiền của Enron là các Thượng nghị sĩ đại diên bang Texas: Kay Baley Hutchinson 99
500 dollars, thuộc đảng Cộng Hòa Bộ trưởng Tư Pháp bang Texas là John Cornyn cũng đãnhận hơn 150 000 dollars của Enron và của các nhân vật trong tập đoàn này Ngoài ra, ítnhất 15 giới chức cao cấp trong chính quyền Bush cho đến năm 2000 vẫn còn cổ phần ở tậpđoàn Enron, trong đó phải kể đến Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, cố vấn cao cấpcủa Tổng Thống là Karl Rove, Thứ trưởng Bộ Ngân Khố Peter Fisher và Đại Diện ThươngMại Mỹ Robert Zoellick (50 000 dollars mỗi năm) Kenneth Lay từng chơi golf với Tổngthống Bill Clinton và đóng góp hàng trăm ngàn đôla cho các ủy ban vận động tranh cử Dânchủ cũng như nhiều ông nghị Dân chủ, trong đó có thượng nghị sĩ Charles E Schumer vàdân biểu Martin Frost (có chân trong Ủy ban các điều luật Hạ viện)…
Dù sao, trong lúc tổ chức Enron có một tác động tiêu cực với cộng đồng kinh doanhTexas thì với những công ty trực tiếp dính líu đến Enron trong việc kinh doanh, hậu quả thật
sự là thảm họa Với công ty kiểm toán cho Enron, Arthur Andersen, việc dính líu này có mộttác động chết người
Trang 10Hơn nữa, vụ tai tiếng Enron có liên quan đến việc kiểm toán Đặc biệt là việc che giấu
hồ sơ liên quan đến tài khoản và những món nợ khổng lồ của Enron, một thực tế về sự đồnglõa của công ty kiểm toán Sự đồng lõa này càng rõ ràng hơn khi David Duncan, kế toántrưởng của Enron ở Andersen, bị buộc phải có mặt trong cuộc điều tra đầu tiên đã từ chối nóichuyện để cố chạy tội cho bản thân Ngay cả khi Joseph Berardino, trưởng ban điều hành củaAndersen, ngang ngạnh bảo vệ cho vai trò của công ty ông trong việc này cũng không thểtránh được những tổn thương bắt buộc Một khi họ đã bị cáo buộc là có tội trong việc hủyhoại chứng cớ, công ty gánh chịu sự tổn thương thương hiệu nghiêm trọng và những chấnđộng vẫn còn cảm nhận được trong toàn ngành công nghiệp kiểm toán
4 Bài học từ Enron :
Việc công bố thông tin: Theo qui định: Các công ty phải công bố một số, nhưngkhông phải tất cả, ràng buộc tài chính với các giám đốc Nhưng tại Enron, Enron đã công bốhợp đồng tư vấn với một thành viên ban kiểm toán, nhưng không đả động gì đến khoản đónggóp từ thiện cho những tổ chức liên danh của hai thành viên khác trong ban
Vì vậy, bài học đặt ra ở đây: Công bố toàn bộ các ràng buộc về tài chính là việc làm cầnthiết đối với các công ty
Về trình độ chuyên môn: Theo qui định: Các thành viên ban kiểm toán phải cho thấytrình độ hiểu biết cơ bản về tài chính, và một thành viên phải là chuyên gia tài chính Nhưng
ủy ban của Enron gồm một giáo sư ngành kế toán, một nhà kinh tế học, và hai doanh nhân
Rõ ràng họ không nhìn nhận được sự rủi ro trong những quan hệ đối tác nhằng nhịt của côngty
Bài học: Ban kiểm toán phải họp mặt làm việc thường xuyên hơn, xem xét các báo cáokiểm toán nội bộ, và được đào tạo về kiến thức tài chính trong ngành công nghiệp mà công tyđang hoạt động
Lợi ích người lao động: Hầu hết các công ty đang trả lương giám đốc chủ yếu bằng cổphiếu để gắn bó quyền lợi của họ với quyền lợi cổ đông Tại Enron, một số giám đốc đã bán
cổ phần trước ngày công bố kết quả kinh doanh tháng 8/2000 Việc cho phép các giám đốc
Trang 11này sở hữu một lượng lớn cổ phiếu đã khiến cho họ mất đi khả năng chất vấn đội ngũ quản lý
về tình hình hoạt động yếu kém của công ty
Bài học: Hãy trả lương bằng cổ phiếu, nhưng không cho phép bán ra trong nhiệm kỳ làmviệc
II WORLDCOM – BOM TÀI CHÍNH MỚI SAU ENRON
1 Diễn biến sự việc
1.1 Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ :
Năm 1989, Công ty Dịch vụ điện thoại đường dài giá rẻ (LDDS) sát nhập với công tyAdvantage Companies Inc trở thành công ty giao dịch công cộng Năm 1995, LDDS mua lạicông ty truyền phát dữ liệu và âm thanh Williams Telecommunications Group Inc (WilTel)với giá 2,5 tỷ USD tiền mặt và đổi tên thành WorldCom Inc Tổng giám đốc điều hành công
ty là ông Ebbers Ebbers đã thôn tính hơn 35 công ty Worldcom không chỉ hoạt động tronglĩnh vực điện thoại mà còn chuyển sang giao dịch thương mại điện tử và Internet
WorldCom mua MFS Communications với giá 14 tỷ USD vào năm 1996 đã nâng vịthế WorldCom và Ebbers lên đáng kể Lúc đó, công ty đã có tầm cỡ thế giới, có tên trongdanh sách Fortune 500
Năm 1998, WorldCom hoàn tất 3 vụ sáp nhập: với MCI Communications Corp: (40 tỷUSD) - vụ lớn nhất trong lịch sử khi đó; Brooks Fiber Properties Inc: (1,2 tỷ USD) vàCompuServe Corp: (1,3 tỷ USD ) Vụ mua lại MCI đã nâng doanh thu hàng năm củaWorldCom từ 5,6 tỷ USD lên 32 tỷ USD Và khi đó, người ta gọi Ebbers là Vua Bernie
Năm 1999, WorldCom và Sprint Corp đồng ý sáp nhập Cổ phiếu của WorldCom lêntới mức cao điểm hơn 64 USD, tổng trị giá tài sản của Worldcom lên đến 175 tỷ USD
Tháng 10/1999 họ đã làm phố Wall bàng hoàng khi liều mạng mua Sprint Khi đó, nó
là vụ mua lại công ty lớn chưa từng thấy Nhà chức trách quyết định ngăn cản thoả thuận nàyvào tháng 7/2000 và có thể nói đó là thời điểm chấm dứt sự tăng trưởng ngoạn mục củaWorldCom
Trang 12Tháng 9/2000, WorldCom tiếp tục mua Intermedia Communications Inc Một công tyđiện thoại và Internet địa phương đang gặp khó khăn, với giá 1,6 tỷUSD Người ta cho rằngEbbers đã bị lạc lối từ đó, khi bỏ 1,6 tỷ USD để mua một công ty chỉ được ước giá tầm 50triệu USD.
Cổ phiếu của WorldCom sụt giảm mạnh còn khoản nợ 10,5 tỷ USD của Worldcomđược báo cáo so với khoản nợ thực 30 tỷ USD khi nó sụp đổ hoàn toàn Con đường phát triểnbằng cách sáp nhập của họ đã bị chặn lại Không còn giải pháp nào khác, Ebbers quay sangtiết kiệm chi phí bằng những biện pháp như tắt đèn khi hết giờ làm việc và hạn chế sử dụngđiều hòa nhiệt độ
1.2 Khủng hoảng và sụp đổ:
Từ tháng 3-2002, công ty WorldCom bắt đầu gây chú ý khi SEC (Uỷ ban chứngkhoán và hối đoái Mỹ) thực hiện cuộc điều tra tại sao và làm thế nào mà WorldCom cho tổnggiám đốc điều hành (cũng là người sáng lập) Bernie Ebbers vay 366 triệu USD trước khiEbbers tuyên bố từ chức vào cuối tháng 4-2002 (và được hưởng lương hưu 1,5 triệuUSD/năm đến suốt đời)
Số tiền được ông vay để đặt cược vào các cổ phiếu của WorldCom Khoản vay nàythực tế đã được ông Ebbers chuyển sang tài sản cá nhân, bao gồm một công ty bán thuyềnthể thao, một trang trại đậu nành và gần 27 triệu cổ phiếu của WorldCom
Tổng giám đốc mới là John Sidgmore Và một kiểm toán viên nội bộ đã phát hiện ra,công ty đang có những biểu hiện "bất thường" trong việc ghi sổ các chi phí vốn Một điều trasau đó của hãng kiểm toán KPMG (thay thế hãng kiểm toán đang gặp khó khǎn ArthurAndersen) đã bới ra các khoản chi phí trị giá tới 3,85 tỷ USD Khoản chi phí này đã bị phânloại một cách nhầm lẫn vào chi phí vốn (trong cả nǎm 2001 và quý I nǎm 2002, WorldCom
đã tính 3,85 tỷ USD vào các khoản đầu tư vốn mặc dù số tiền này được sử dụng vào các chiphí hàng ngày) Chính vì vậy mà trong năm 2001 luồng tiền và lợi nhuận của WorldCom đã
bị thổi phồng, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ lãi 1,6 tỷ USD và quý I/2002 là 172 triệu USD Cáccon số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ không đúng
Trang 13Những gì mà WorldCom đã làm là ảnh hưởng tới lượng tiền mặt tạo ra từ hoạt động kinhdoanh Trước đây, WorldCom đã công bố, các hoạt động kinh doanh nǎm 2001 của công tytạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt Nhưng giờ đây, công ty cho biết, số tiền mặt thực tế tạo ra là 4,6
tỷ USD Tổng luồng tiền của WorldCom sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sai sót trong sổsách vì việc công bố lại của WorldCom cũng sẽ làm giảm lượng tiền sử dụng trong các hoạtđộng đầu tư Các hoạt động này có tính đến đầu tư vốn Như vậy, 2 sự thay đổi sẽ triệt tiêunhau Tuy nhiên, điều này lại ảnh hưởng đến một cách đo lường luồng tiền khác đó là thunhập
Nǎm 2001, thu nhập (EBITDA) mà WorldCom công bố là 10,5 tỷ USD Con số đó theotính toán giờ đây sẽ là 6,3 tỷ USD Tương tự như vậy, EBITDA của WorldCom quý I/2002theo công bố là 2,1 tỷ USD nhưng khi phá sản, con số này được phát hiện chỉ là 1,4 tỷ USD WorldCom đã nợ 2,65 tỉ USD và vào thời điểm trước khi vụ việc đổ bể công ty này cònthương lượng vay 5 tỷ USD Trong số ngân hàng trở thành nạn nhân của WorldCom, cóNgân hàng Hoa Kỳ (Bank of America), J P Morgan Chase, Citigroup, FleetBostonFinancial, Mellon Financial, Bank One, Wells Fargo…
Năm 2001, WorldCom đã trả cho công ty kiểm toán Arthur Andersen chi phí dịch vụlên đến khoảng 16,8 triệu đôla Mỹ trong đó chi phí cho kiểm toán là 4,4 triệu đôla, dịch vụ tưvấn thuế là 7,6 triệu đôla, chi phí cho việc kiểm toán các bản báo cáo tài chính là 1,6 triệuđôla và các dịch vụ tư vấn khác là 3,2 triệu đôla
Ngày 19/7/2002, WorldCom, công ty điện thoại viễn thông đường dài lớn thứ hai nước
Mỹ sau AT&T, nộp đơn phá sản sau vụ gian lận lợi nhuận kế toán trị giá 11 tỷ USD
2 Nguyên nhân:
Có 3 nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất: các vụ scandal về tài chính, trong đó có việc gian lận và làm trái các thủ tục kếtoán
Trong khi những gian lận tại Enron liên quan tới các thủ thuật kế toán tinh vi thì tạiWorlcom các gian lận diễn ra rất đơn giản Worlcom khi đó đã tăng giả mạo các chỉ số kế
Trang 14toán hiện hành và bỏ đi các số liệu về vốn theo thời gian mà nhẽ ra phải công bố công khai.
Về bản chất, Worlcom đã chuyển dịch một loạt các con số từ cột này sang cột khác trong báocáo tài chính Đó là một việc làm hết sức sai lầm của ban lãnh đạo tập đoàn Worldcom.Trong cả nǎm 2001 và quý I nǎm 2002, WorldCom đã tính 3,8 tỷ USD vào các khoản đầu tưvốn mặc dù số tiền này được sử dụng vào các chi phí hàng ngày Hai khoản này rõ ràng làkhác biệt vì các khoản đầu tư vốn được đối xử khác với các chi phí về mục đích kế toán Đầu
tư vốn là số tiền được sử dụng để mua các tài sản lâu dài, chẳng hạn như với WorldCom làcáp quang hay các thiết bị chuyển mạch dùng để định hướng các cuộc điện thoại Vì vậy, chiphí này sẽ được rải đều ra trong vài nǎm
Thứ hai, nhiều vụ buôn bán nội gián cổ phiếu được phanh phui
Giá trị cổ phiếu của tập đoàn WorldCom đã có lúc tăng lên 63.5$/ cổ phiếu vào ngày18/6/1999 Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 2002, cơ quan điều tra của Mỹ đã điều tra về nhữnggian lận tại WorldCom và đã phát hiện những gian lận tại đây lên tới 3,8 tỷ USD và giá trị cổphiếu của WorldCom ngay lập tức giảm xuống mức 6.74$/ cổ phiếu và tiếp tục giảm cho đếnngày 25/6/2002 thì Tập đoàn đã tuyên bố phá sản
Nguyên nhân cuối cùng là mâu thuẫn về quyền lợi giữa Worldcom và những thành viênbên ngoài có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến công ty
Điều đáng quan tâm là không chỉ có Worldcom trực tiếp tham gia vào những gian lậntrong báo cáo tài chính mà lúc đó còn có rất nhiều “thế lực ngầm” khác trợ giúp
Như Enron, WorldCom cũng có những đường dây móc nối đến Nhà Trắng Cách đây hainăm, WorldCom còn trúng hợp đồng 450 triệu USD với Lầu Năm Góc Trong một thập niênqua, WorldCom bơm hơn 4 triệu USD cho các chiến dịch tranh cử của Đảng Cộng hòa lẫnDân chủ Trong mùa tranh cử Quốc hội tháng 11-2002, WorldCom đã góp hơn 1 triệu USDcho ứng cử viên cả hai đảng Dân biểu Charles W Pickering Jr (Cộng hòa) – người đại diệnkhu vực Clinton, nơi có đại bản doanh WorldCom – là chính khách nhận nhiều nhất
Ngoài ra còn có các ngân hàng, và các chuyên gia như các chuyên gia phân tích thịtrường chứng khoán,
Trang 153.Trách nhiệm pháp lý
Theo phán quyết của toà án Mỹ, Bernard Ebbers, 63 tuổi, cựu giám đốc điều hành tậpđoàn viễn thông Worldcom, đã phạm tội gian lận chứng khoán và cung cấp các số liệu tàichính không chính xác liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD dẫn đến sự phá sản của một trongnhững tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ Với các tội danh trên, Ebbers phải chịu hìnhphạt tổng cộng lên đến 85 năm tù giam Ebbers là một trong 6 cựu thành viên ban lãnh đạocủa Worldcom bị truy tố sau những bê bối tài chính đưa đến sự sụp đổ của Worldcom
Việc Worlcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền khiến giá cổ phiếu của nhiềuhãng viễn thông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ đã phải cải cách lại toàn bộ cácquy định hiện hành về kế toán
Bernie Ebbers, cựu huấn luyện viên bóng rổ, đã có công rất lớn trong việc đưaWorldcom từ một công ty nhỏ tại vùng Mississippi hẻo lánh trở thành một trong những tậpđoàn viễn thông lớn nhất trên thế giới trong vòng chưa đầy 15 năm Đã có thời điểm, giá trịcủa Worldcom trên thị trường chứng khoán vượt qua con số 100 tỷ USD Mặc dù được đánhgiá là một trong những thành viên năng động và nhạy bén nhất Worldcom trong các kế hoạch
mở rộng hoạt động kinh doanh vào thập kỷ 90, nhưng trước những lời cáo buộc tại toà ánrằng Worldcom đã che giấu các cổ đông về những khó khăn tài chính bằng nhiều gian lận kếtoán lên đến hàng chục tỷ USD khi công việc kinh doanh sa sút, Ebber luôn nói là mìnhkhông biết gì về các chi tiết tài chính của tập đoàn
Theo ước tính, bê bối tài chính tại Worldcom đã khiến các cổ đông của hãng chịu thiệthại khoảng 180 tỷ USD và làm cho trên 20.000 nhân viên bị mất việc Chưa kể việcWorlcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền kéo theo giá cổ phiếu của nhiều hãng viễnthông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ buộc phải cải cách lại toàn bộ các quyđịnh hiện hành về kế toán
4 Bài học từ Worldcom :
Trang 16Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp, mục tiêu trước mắt của doanh nghiệp là không nêntập trung vào quyền lợi của nhà đầu tư, mà nên tính đến lợi ích của nhân viên, khách hàng vàđối tác kinh doanh Phương châm “giá trị cổ đông” dựa trên cơ sở giá cổ phiếu đã không cònthích hợp, thay vào đó các công ty nên dành nhiều công sức cho việc xây dựng phương phápquản trị, trong đó nên nâng cao tính toàn vẹn của hệ thống kinh doanh và tính chính xác củacác số liệu hoạt động Điều quan trọng là phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các nhânviên, cổ đông hiểu rõ thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) phải có nhiệm vụ là quản lý niêmyết chứng khoán của các công ty Hịên nay UBCKNN không có chức năng quản lý niêm yếtchứng khoán của các công ty, như vậy sẽ là kẽ hở để các doanh nghiệp “bưng bít” thông tinthật sự của doanh nghiệp
Cuối cùng, về thông tin: Các doanh nghiệp cung cấp hàng đống thông tin, tài liệu chocác nhà đầu tư nhưng khả năng sử dụng được các thông tin đã cấp chỉ đạt 1% Giải pháp bâygiờ là TTCK nên lựa chọn một số tiêu chí về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đặc trưng cho từngngành nghề để nhà đầu tư có thể so sánh dễ dàng, xây dựng hệ thống “ngôn từ đánh giá”thống nhất trong báo cáo tài chính của công ty
III SỰ SỤP ĐỔ CỦA ENRON VÀ WORLDCOM ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI ĐIỀU CHỈNH TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TOÁN
Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom,nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhàđầu tư tốt hơn
Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu íchcho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi
mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có
Trang 17Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượngnghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luậtcăn bản của nghề kế toán, kiểm toán.
Dài 66 trang, đạo luật được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứngkhoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán
Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộccác công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tàichính khi công bố
Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân củagiám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh
đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt làkiểm soát công tác kế toán
Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, làcầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tintưởng cao hơn
Điểm quan trọng đạo luật Sarbanes-Oxley :
Các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tàichính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó Nếu cónhững sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù
Các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạtđộng kế toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công tykiểm toán cho tập đoàn đó
Các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán củamột tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tậptrung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra
Ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồngvới công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty
Trang 18 Hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin vềtình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.
Các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnhhưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802)
Một điểm đáng chú ý khác, trong Mục 404 của đạo luật yêu cầu: “Các công ty được yêucầu phải công bố thông tin trong báo cáo hàng năm của họ liên quan đến phạm vi và phù hợpvới kiểm soát nội bộ Các công ty phải đăng ký kế toán, trong cùng một báo cáo, chứng thực
và báo cáo về việc đánh giá về hiệu quả của các cơ cấu kiểm soát nội bộ và các thủ tục chocác báo cáo tài chính…”
Trong một diễn văn của mình tại Việt Nam năm 2008, ông Paul Sarbanes cho rằng, lúcđầu đạo luật này có nhiều điểm bị phản ứng mạnh từ phía các công ty đại chúng ở Mỹ, đặcbiệt là các công ty đang niêm yết cổ phiếu trên sàn New York do những yêu cầu rất cao vềtính minh bạch
Tuy nhiên sau những thỏa thuận về một vài thay đổi đáp ứng những yêu cầu từ các nhàlàm luật, đạo luật này mới chính thức được thông qua ở Hạ viện và Thượng viện trước khiđược nguyên Tổng thống George W.Bush (năm 2002) ký thông qua thành luật
IV VỤ BÊ BỐI SATYAM - “ VỤ ENRON CỦA ẤN ĐỘ”
1.Diễn biến sự việc
Satyam, do ông Raju thành lập năm 1987, hiện có 53.000 nhân viên tại 66 nước Satyam
có hơn 600 khách hàng trên toàn thế giới, trong đó có những “đại gia” như General Electric,Unilever, Nestlé, Cisco, Sony và Ngân hàng Thế giới (WB) Satyam là tập đoàn đầu tiêncủa Ấn Độ có cổ phiếu được niêm yết ở ba thị trường chứng khoán: Bombay, New York(Mỹ) và Amsterdam (Hà Lan) Bê bối kế toán tại Satyam được xem là vụ “Enron ở Ấn Độ”,sau sự sụp đổ do mua bán khống của tập đoàn Năng lượng Enron của Mỹ Ông Raju, người
bị buộc tội gian lận, âm mưu và giả mạo, đã thừa nhận đã phóng đại lợi nhuận và tăng bảngcân đối của công ty hơn 1 tỷ USD Vụ bê bối tài chính cũng khiến PricewaterhouseCoopers,công ty làm kiểm toán tài chính cho Satyam, bị xem là “không đáng tin cậy”
Trang 19Trong vụ này, người sáng lập Satyam, ông Ramalinga Raju đã làm giả sổ sách kế toán đểthổi phồng doanh thu và lợi nhuận công ty trong suốt một thời gian dài mà không bị phát
giác Satyam Computer Services, tập đoàn cung cấp các dịch vụ phần mềm máy tính và công
nghệ thông tin lớn thứ tư Ấn Độ đang được ví là Enron của nước này Enron, tập đoàn nănglượng lớn của Mỹ đã bị phá sản năm 2001 do có hành vi lừa đảo, khai man sổ sách, số liệutrong báo cáo tài chính để loè bịp các cổ đông và công chúng đầu tư
Kịch bản này đã được Satyam lặp lại y nguyên và cũng đã che giấu được mọi ngườitrong suốt một thời gian dài Tuy nhiên, vào ngày 7/1/2009, khi đã cùng đường, B.Ramalinga Raju, 54 tuổi, người sáng lập và là Chủ tịch Satyam đã buộc phải công khai thúnhận mọi hành vi lừa đảo, nhận hết trách nhiệm và xin từ chức Ngày 9/1, Ramalinga Raju đã
bị bắt tạm giam vì những sai phạm trên
Ngay sau khi thông tin về vụ lừa đảo "động trời" trên được tiết lộ, trong phiên giao dịchngày 8/1, tại Sở GDCK Mumbai (Ấn Độ), giá cổ phiếu của Satyam đã giảm tới 77,69%,xuống còn 39,95 rupee/cổ phiếu và Chỉ số chứng khoán cơ bản Sensex của TTCK Ấn Độcũng giảm 7,3% Ngày 9/1, cổ phiếu của Satyam tiếp tục "rơi tự do" xuống còn 11,50rupee/cổ phiếu (24 UScent/cổ phiếu), mức thấp nhất kể từ tháng 3/1998 Tính ra, so với thờicao điểm cách đây 6 tháng khi giá 1 cổ phiếu của Satyam là 544 rupee, theo đó vốn hoá thịtrường của Satyam là khoảng 7 tỷ USD thì nay con số này chỉ còn là 330 triệu USD
Còn Sở GDCK New York thì đình ngay lập tức mọi giao dịch liên quan đến cổ phiếu củaSatyam được niêm yết ở đây
Ramalinga Raju đã thừa nhận thổi phồng các số liệu về doanh thu và lợi nhuận củaSatyam Lúc đầu Ramalinga Raju mới chỉ "xào xáo" số liệu ở mức độ thấp, thấy ngon xơi và
"ngựa quen đường cũ" cứ thế mà làm, với quy mô ngày càng lớn hơn Song đâm lao phảitheo lao, nên có lúc Ramalinga Raju muốn dừng, song không thể Khi số liệu giả đã đạt đếnmức khủng khiếp, không thể giấu được nữa thì Ramalinga Raju buộc phải thừa nhận rằng, 1
tỷ USD, tương đương 94% lượng tiền mặt mà theo sổ sách Công ty đang có trong két là con
số ma
Trang 20Trước đó, vào giữa tháng 12/2008, ông này đã có ý định "làm sạch" lại số liệu hay nóiđúng hơn là hợp thức con số 1 tỷ USD ma kia bằng cách mua lại 2 công ty Maytas Properties
và Maytas Infrastructure do chính các con ông làm chủ với giá 1,6 tỷ USD Song, các cổđông và nhà đầu tư phản đối kịch liệt và bắt đầu vụ scandal bị vỡ lở dần B Rama Raju, emtrai Ramalinga Raju, người đồng sáng lập và Giám đốc điều hành (CEO) cũng xin từ chức
2.
Phân tích nguyên nhân
Chủ tịch Raju cho biết trong nhiều quý liên tiếp, ông đã khai khống lợi nhuận của Satyam
ở mức 20% so với con số trung bình và khoảng 3% trên thực tế như quý 3-2008 Thông báocủa ông Raju lập tức kéo giá cổ phiếu Satyam sụt gần 80% trên thị trường chứng khoánMumbai, xuống chỉ còn 40 rupee và 92% trên sàn giao dịch New York, chỉ còn 82 cent, đưatổng giá trị cổ phiếu Satyam từ 7 tỉ USD tụt xuống chỉ còn 550 triệu USD Cú sốc này khiếnthị trường Mumbai rung chuyển và sụt 7,3% ông Raju cho biết ban đầu cú lừa khổng lồ nàybắt đầu từ nỗ lực “làm sạch” một sự khác biệt nhỏ trong sổ sách kế toán, nhưng đã phình rađến mức không thể kiểm soát theo năm tháng khi công ty mở rộng hoạt động Ông Raju chobiết đã chuẩn bị ra đầu thú trước luật pháp và chấp nhận mọi hậu quả
Cuối năm 2008, Satyam gây cơn xáo động khi ông Raju tuyên bố muốn mua lại với giá1,6 tỉ USD hai công ty địa ốc Maytas Properties và Maytas Infra của chính ông Raju và cáccon ông điều hành (Maytas chỉ là chữ Satyam viết đảo ngược lại) Nếu hoàn thành, Satyam
sẽ mất 1 tỉ USD tiền mặt và nợ thêm 400 triệu USD Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau khi công bố
dự định trên, ông Raju đã phải bỏ cuộc do vấp phải sự phản đối dữ dội của các cổ đông vànhà đầu tư Khi đó, giới quan sát chỉ cho rằng đó là hành động trơ tráo của gia đình Rajunhằm đút túi số tiền mặt khổng lồ của Tập đoàn Satyam
Tuy nhiên, ông Raju thừa nhận trên thực tế vụ mua bán bất thành này là “nỗ lực cuốicùng nhằm đưa số tài sản ảo trở thành thực tế”.Ông Raju buộc phải tiết lộ sự thật do đã camkết trao 8% cổ phần của công ty cho các tổ chức cho vay quốc tế để đổi lấy những khoảnvay Khi giá cổ phiếu Satyam sụt giảm do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các tổ chứccho vay bắt đầu bán số cổ phiếu này để tránh lỗ Ngoài ra, nguy cơ Satyam bị mua lại hoặc
Trang 21sáp nhập khiến những khoản tiền ảo có nguy cơ lộ tẩy Ông Raju không còn sự lựa chọn nàokhác ngoài việc thú nhận sự thật
3.Trách nhiệm pháp lý
Đây được xem là vụ bê bối về tài chính có quy mô lớn nhất từ trước đến nay ở Ấn Độ
Vụ scandal này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tai hại đến uy tín của ngành công nghệ thông tin
Ấn Độ Vụ bê bối này có ảnh hưởng sâu rộng Với gần 53.000 nhân viên làm việc tại 65 quốcgia và vùng lãnh thổ, Satyam có nhiều khách hàng ruột quá nổi tiếng Đó là 185 công tytrong danh sách Fortune 500 (danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới - xét theo doanh thu),trong đó có General Electric, Nestlé, Merrill Lynch, Ford , rồi Ngân hàng Thế giới (WB),thậm chí cả Chính phủ Mỹ cũng là khách hàng của Satyam Nay các đối tác, khách hàng đềuđồng loạt tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ hợp tác, làm ăn với Satyam
Tập đoàn kiểm toán PricewaterhouseCoopers cũng có phần trách nhiệm không nhỏ khi lànhà kiểm toán chính thức của Satyam từ năm 2001, khi cổ phiếu của Satyam chính thức đượcniêm yết và giao dịch tại Sở GDCK New York Trong suốt hơn 7 năm qua,PricewaterhouseCoopers không hề phát hiện ra tội tày trời này
Vụ việc đã khiến hai kiểm toán viên của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers bịcảnh sát bắt giữ, các nhà chức trách bang Bangalore nơi Satyam đặt trụ sở phải hứng chịunhững lời chỉ trích nặng nề Chính phủ Ấn Độ mới đây đã tiến hành điều tra đối với 325 công
ty có liên đới tới vụ gian lận được xếp vào hàng lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ này
4.Bài học từ satyam
Không được dựa hoàn toàn vào các cơ quan quản lý và kiểm toán viên:
Các cơ quan quản lý và các kiểm toán viên là những “bộ lọc” quan trọng giúp ngăn ngừa
và phát hiện các sai sót và gian lận Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu nhà đầu tư dựa hoàn toànvào hai bộ lọc này để ra quyết định đầu tư
Về vai trò của Kiểm toán viên, sau khi vụ Satyam bị phanh phui, rất nhiều chỉ trích đượcdành cho kiểm toán viên của họ Việc không phát hiện số dư Tiền bị “thổi” tới 1 tỷ đô lađáng để Price Waterhouse bị lên án, bởi Tiền là một trong những tài khoản dễ kiểm tra nhất
Trang 22Tuy nhiên, vụ việc này cũng cho thấy một sự hiểu sai nữa của các nhà đầu tư đối với côngviệc của các kiểm toán viên Mặc dù chức năng của kiểm toán viên là kiểm tra và xác nhậntính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính, họ không phải là cảnh sát điều tra Các thủ tụckiểm toán được thực hiện trên cơ sở các tài liệu, bằng chứng do doanh nghiệp cung cấp (vàmột số bằng chứng khác do kiểm toán viên tự thu thập) Trong công việc của mình, các kiểmtoán viên thường dựa nhiều vào hệ thống kiểm soát nội bộ do doanh nghiệp thiết lập nhằmngăn ngừa các gian lận và sai sót (sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết để đánh giá hiệu lựccủa hệ thống này) Công việc của kiểm toán viên chỉ có hiệu quả cao nếu có sự hợp tác từphía doanh nghiệp Một khi những nhân vật quản lý cấp cao trong doanh nghiệp đã cố tìnhgian lận bằng cách tạo ra các giao dịch ảo hoặc hồ sơ chứng từ giả (các bằng chứng ban đầucho thấy dấu hiệu Satyam làm giả chứng từ ngân hàng), thì việc phát hiện các gian lận đó làcực kỳ khó khăn Trong nhiều trường hợp gian lận chỉ có thể được phát hiện khi có sự thamgia của các cơ quan điều tra Một vấn đề nữa các nhà đầu tư cũng nên hiểu là do giới hạn chiphí, kiểm toán viên không thực hiện các thủ tục để bảo đảm 100% không có sai sót trọngyếu Thông thường các phương pháp tiếp cận kiểm toán chỉ nhằm đạt tới 95% độ tin cậy.Điều này có nghĩa là nếu một công ty kiểm toán có 1,000 khách hàng, thì không có gì ngạcnhiên nếu vài khách hàng trong số đó có các sai sót trọng yếu mà không bị phát hiện Nóicách khác, các nhà đầu tư cần biết rằng, kể cả khi kiểm toán viên đã làm hết trách nhiệm củamình rồi, báo cáo tài chính được xác nhận là trung thực hợp lý rồi, thì vẫn có một xác suấtnhất định báo cáo tài chính không trung thực hợp lý, khiến cho quyết định đầu tư dựa trênthông tin từ báo cáo tài chính có thể sai lầm Để hạn chế nguy cơ này, một lần nữa các nhàđầu tư không nên quên nguyên tắc “đa dạng hóa danh mục đầu tư”.
V LEHMAN BROTHERS - SỰ SỤP ĐỔ ĐƯỢC VÍ NHƯ “SỰ TÀN PHÁ VĨ ĐẠI CỦA GIÁ TRỊ”
1 Diễn biến sự việc:
1.1.Trước khi lâm vào khủng hoảng và sụp đổ
Trang 23Thành lập từ năm 1884 bởi anh em nhà Lehman, con trai của một người di dân từ Đức,sau đó sát nhập với American Express năm 1969 và tách ra 1994 Lehman Brothers là mộtđịnh chế tài chính với hoạt động chủ yếu trên 4 lĩnh vực sau:
Đầu tư cổ phiếu (Equities), Trái phiếu và thu nhập cố định (fixed income), đây là thếmạnh lớn nhất của Lehman
Ngân hàng đầu tư (investment banking) mà thực ra bản chất giống với hoạt động tư vấncủa các công ty chứng khoán, Quản lý quỹ
Năm 1887, công ty của anh em nhà Lehman trở thành hội viên của Sở Giao dịch Chứngkhoán New York Năm 1899, lần đầu tiên công ty nhận bảo lãnh phát hành trái phiếu doanhnghiệp Sau khi Phillips lên làm chủ tịch công ty thì Lehman Brothers bắt đầu liên kết vớiGoldman Sachs và trong vòng 20 năm, liên danh này đã nhận bảo lãnh phát hành hàng trămtrái phiếu doanh nghiệp khác nhau Robert (con Philip) nối nghiệp ông cha đã làm nên kỳtích, giúp Lehman Brother vượt qua những ngày tháng khó khăn do cuộc Đại Khủng hoảnggây ra Lúc ấy công ty này đã hậu thuẫn tài chính cho các nhà đầu tư cá nhân và hỗ trợ tàichính cho các vụ sáp nhập doanh nghiệp Sự nghiệp kinh doanh mạo hiểm của LehmanBrothers bắt đầu từ đó
1.2 Quá trình phá s n ản
Những năm đầu của thập niên 2000, BNC Mortgage - công ty con của Lehman Brothers
đã tích cực cho vay thứ cấp đối với các dự án nhà ở Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứcấp làm cty này thua lỗ nặng Lehman Brothers đã quyết định đóng cửa cty con này vàotháng 8/2007 Tuy nhiên không chỉ riêng BNC Mortgage mà cả tập đoàn Lehman Brotherđều tích cực tham gia cho vay nhà ở thứ cấp Việc chứng khoán hóa các khoản cho vaykhông gặp thuận lợi bởi lãi suất không hấp dẫn
Năm 2008, công ty lỗ nặng chưa từng thấy Riêng trong nửa đầu năm 2008, cổ phiếu củaLehman Brothers mất giá tới 70% Tháng 4, Lehman Brothers đã huy động 4 tỷ đôla từ việcphát hành thêm cổ phiếu từ các nhà đầu tư
Ngày 9/6/2008: cổ phiếu Lehman sụt giá 8.7%, đứng ở mức 29.48 đôla tại New York