Cùng với đó là sự đa dạng về loại hình phânphối bán lẻ, bên cạnh những loại hình bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàngbán lẻ truyền thống, các loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại như siêu
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng, mạng lưới bán lẻ truyềnthống đã tồn tại và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, baogồm các loại hình cơ bản như chợ, cửa hàng, cửa hiệu, sạp hàng… Hiện nay,trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, các loại hình bán lẻ truyền thống tồn tại là phổ biến.Chợ truyền thống là loại hình bán lẻ có lịch sử phát triển lâu đời nhất, phổ biếnnhất, đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng và tiêu thụ hàng hoá, nhất là ởkhu vực nông thôn của tỉnh Bên cạnh mạng lưới chợ, loại hình bán lẻ truyềnthống khác cũng khá phát triển là các cửa hàng, cửa hiệu nhỏ
Cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của đất nước, thị trường bán
lẻ đã có nhiều thay đổi sâu sắc Với sự xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế kế hoạchhóa tập trung, thay vào đó là cơ chế thị trường, thị trường bán lẻ Việt Nam đãthực sự thể hiện được vai trò của mình là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngườidân và góp phần thúc đẩy sản xuất Cùng với đó là sự đa dạng về loại hình phânphối bán lẻ, bên cạnh những loại hình bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàngbán lẻ truyền thống, các loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâmthương mại, cửa hàng tiện lợi,… đã được hình thành và phát triển làm thay đổidần thói quen tiêu dùng của người dân và đưa lại diện mạo mới cho ngànhthương mại của đất nước
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, các loại hình bán lẻ hiệnđại đã xuất hiện và không ngừng phát triển Sự ra đời của các siêu thị, trung tâmthương mại, cửa hàng tiện lợi,… trên địa bàn tỉnh đã tạo nên sự cạnh tranh sôiđộng trên thị trường bán lẻ Điều này đã tạo điều kiện cho người tiêu dùng trongtỉnh được hưởng nhiều tiện ích, có thêm nhiều lựa chọn khi thực hiện mua sắm.Không những mua được sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng bảo
Trang 2đảm, giá cả ưu đãi, người tiêu dùng còn được hưởng nhiều chương trình khuyếnmãi, giảm giá, Bên cạnh đó, người dân trong tỉnh cũng bắt đầu được làm quenvới phương thức mua sắm hiện đại, chất lượng dịch vụ cao từ khâu tiếp thị, tưvấn bán hàng đến chính sách sau bán hàng đều được quan tâm và chuyênnghiệp; không gian, môi trường sạch sẽ, đảm bảo an toàn thực phẩm, Mặtkhác, các các đơn vị sản xuất hàng hóa trên địa bàn tỉnh cũng có cơ hội thựchiện quảng bá, tiêu thụ những sản phẩm thế mạnh, đặc sản của địa phương quacác loại hình bán lẻ hiện đại này
Phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại ở tỉnh Phú Thọ trong bốicảnh cả nước đang thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa,hiện đại hóa và chủ động hội nhập với khu vực và thế giới là một đòi hỏi thực tếkhách quan Với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt là mức tăngcủa tiêu dùng và quá trình đô thị hoá của tỉnh Phú Thọ, cùng với triển vọng đầu
tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của các thành phần kinh tế vào địa bàn tỉnh đặt
ra yêu cầu cần phát triển đầy đủ, ổn định và hài hoà mạng lưới các cơ sở bán lẻhiện đại Tuy nhiên, để phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đạitại địa bàn tỉnh Phú Thọ phải có những điều kiện tiên quyết cho các loại hìnhbán lẻ hiện đại hình thành và lớn mạnh Với lý do đó, nghiên cứu sinh đã chọn
đề tài “Phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm luận án tiến sĩ kinh tế của mình.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất giải pháp nhằm phát triểnmạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán
lẻ hàng hóa hiện đại của một tỉnh;
Trang 3- Đánh giá thực trạng các điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻhàng hóa hiện đại của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2013;
- Xây dựng quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển mạnglưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về điềukiện để mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọphát triển
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đánh giá các điều kiện phát triển các cơ sở bán
lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 đến 2013 và
đề xuất các giải pháp cho thời kỳ đến năm 2020
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Phú Thọ trong mối quan hệ với các
tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Hà Nội
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các điều kiện để phát triển mạng lưới
các cơ sở bản lẻ hàng hóa hiện đại (tập trung chủ yếu vào phát triển hệ thốngsiêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi)
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
sở bán trên địa bàn Phú Thọ phát triển, Do vậy cần phải sử dụng cách tiếp cận
Trang 4thực tiễn, hệ thống, biện chứng và tổng hợp để: hệ thống những lý luận về pháttriển các cơ sở bán lẻ hiện đại, rút ra những đánh giá về các điều kiện để pháttriển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn Phú Thọ, làm rõ xu hướngphát triển của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại, từ đó đề xuất giải pháp nhằmphát triển mạng lưới này.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu: hệ thống hóa và khái quát hóa, thống kê, phân tích, tổng hợp,diễn dịch, quy nạp, so sánh - đối chiếu, khảo sát và dự báo Đồng thời nghiêncứu sinh còn sử dụng hình thức nghiên cứu tại bàn kết hợp với kế thừa số liệu,tài liệu của của một số tổ chức, cá nhân, cụ thể:
- Sử dụng phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa để kế thừa có chọn
lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đếnluận án trên cơ sở đó khái quát hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn của đềtài, đồng thời sử dụng phương pháp tổng hợp để xây dựng những luận cứ có tínhđộc lập và khoa học cho luận án
- Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh - đối chiếu và quy nạp để đánh giá những điều kiện phát triển mạng
lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; phát hiện những vấn
đề còn hạn chế của các điều kiện này, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế
để mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại của tỉnh Phú Thọ phát triểntrong thời gian tới
- Phương pháp khảo sát, điều tra được sử dụng để thu thập thông tin sơ cấp
về sự phát triển của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn tỉnh PhúThọ Phương pháp này được kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích vàtổng hơp để đánh giá thực trạng phát triển các cơ sở bán lẻ trên địa bàn tỉnh PhúThọ thời gian qua
Trang 5- Phương pháp dự báo được sử dụng để nêu lên các xu hướng phát triển
của thị trường bán lẻ hiện đại, xu hướng phát triển của các loại hình tổ chức bán
lẻ trong tương lai và xu hướng vận động của các điều kiện để phát triển mạnglưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời gian tới
5 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận về phát triển mạng lướicác cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại đối với một tỉnh, trong đó tập trung cơ sở lýluận về điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại như:phân tích khái niệm về điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóahiện đại, khái niệm về phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại, xác địnhcác tiêu chí đánh giá sự phát triển của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiệnđại đối với một tỉnh cụ thể
- Tổng kết thực tiễn các điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻhàng hóa hiện đại của tỉnh Phú Thọ, qua đó rút ra những nhận định về thuận lợi
và khó khăn đối với phát triển của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đạitrên địa bàn tỉnh
- Xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng phát triển mạng lưới các cơ sởbán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời kỳ đến năm 2020 Đềxuất một số giải pháp để phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đạitrên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan các vấn đề nghiên cứu, Kết luận, Mụclục, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng, biểu đồ và phụ lục, nộidung của Luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ
hàng hóa hiện đại trên địa bàn thị trường một tỉnh;
Trang 6Chương 2: Đánh giá thực trạng điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở
bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
Chương 3: Giải pháp phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện
đại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 7TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
1.1 Các nghiên cứu của nước ngoài
Phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại đang là một xu thếchung của thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế phát triển cao Chính vìvậy, chủ đề phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại đã được cácnhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả trên các ấn phẩm Nhìn chung, cáccông trình nghiên cứu về bán lẻ nói chung và loại hình tổ chức bán lẻ hàng hóahiện đại nói riêng đều tập trung vào việc luận giải cơ sở khoa học của việc phátcác loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại; đưa ra các điều kiện để xây dựng và pháttriển hệ thống bán lẻ; xây dựng các mô hình phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
và quản trị bán lẻ hiện đại
Dưới đây là tổng quan kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiêncứu ngoài nước:
C.Lonsdale, J.Sanderson and G.Watson, 2002, Supply Chain, Markets andPower: Mapping buyer and supperlier power regimer” (Năng lực thị trường vàchuỗi cung ứng: Tương quan quyền lực giữa người mua và người bán) Nghiêncứu này đã tập trung phân tích sự phát triển quan hệ và tương quan quyền lựcgiữa người bán và người mua trong chuỗi cung ứng nói chung của thị trường,thiết lập cơ sở cho việc xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm của hệ thống phânphối hiện đại
Dr Gerd Wolfram, 2003, “Metro group: Future store initiative” (Tập đoànMetro: Sáng kiến cho tương lai của siêu thị” Nghiên cứu này đã giới thiệu, phân tíchkinh nghiệm, chiến lược xây dựng và sự phát triển trong tương lai của tập đoànMetro trên thị trường quốc tế, trong đó tập trung vào phát triển mạng lưới phân phối,
Trang 8đáp ứng sự hài lòng của khác hàng về sản phẩm và chất lượng cung cấp dịch vụ…Coriolis Research, 2004, “Tesco: Case Study in Suppermarket Excellence”(Tesco: Nghiên cứu tình huống siêu thị danh tiếng); Anitha Y Institute ofInformation Technology - Bangalove Electronic City, 2004, “7 - ELEVEN AnEnterprise Case Study” (Nghiên cứu trường hợp của các chuỗi cửa hàng tiện lợi 7
- ELEVEN ); Oliver, 2004, “Wal-Mart SVP of Human resources” (Nguồn nhânlực cho các chuỗi cửa hàng của Wal-Mart SV); Ingrid Bonn, Graduate School ofManagement, Griffith University, 2005, “Aldi in Australia” Các công trìnhnghiên cứu nêu trên đã tập trung nghiên cứu tình huống phát triển chuỗi siêu thịTesco và chuỗi cửa hàng tiện lợi 7-Eleven, cũng như phát triển nguồn nhân lựccủa Wal Mart ở thị trường Hoa Kỳ Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đềcập tới những lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng nói chung, phương thức phát triển
hệ thống phân phối hiện đại, kinh nghiệm xây dựng thương hiệu,…
David Simchi-Levi, Philip Kaminsky & Edith Simchi-Levi, 2004,
“Managing the Supply Chain” (Quản trị chuỗi cung ứng) Nghiên cứu này đãphân tích phương thức quản trị chuỗi cung ứng của hệ thống phân phối dạngchuỗi siêu thị Theo nghiên cứu này, quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là quá trìnhlên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các hoạt động của chuỗi cung ứng nhằmmục đích đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách hiệu quả nhất Quản trịchuỗi cung ứng diễn ra trong toàn bộ quá trình vận chuyển và lưu trữ nguyênliệu, kiểm kê công việc đang thực hiện và các thành phẩm từ điểm gốc đến điểmtiêu thụ Nghiên cứu này cũng chỉ ra nội dung và những lợi ích của hoạt độngquản trị chuỗi cung ứng Chẳng hạn, quy trình quản trị chuỗi cung ứng gồm: Lên
kế hoạch và kiểm soát; Cấu trúc công việc; Cơ cấu tổ chức; Cơ cấu thiết bị dòngsản phẩm; Cơ cấu thiết bị dòng thông tin; Các phương pháp quản trị; Cấu trúclãnh đạo và quyền hạn; Cấu trúc rủi ro và thưởng; Văn hóa và thái độ…
Ling Li, Old Dominion University, USA: “Supperly Chain Managerment:
Trang 9Concepts, techniques and Practices - Exchangcing Value Throught Collaboration”(Quản trị chuỗi cung ứng: Trao đổi kinh nghiệm thông qua sự hợp tác) Nghiên cứunày đã đề cập đến những kinh nghiệm trong quản trị chuỗi cung ứng nhằm thànhcông trong cạnh tranh của một chuỗi cung ứng với các chuỗi cung ứng khác.
AT Kearney: “Những cánh cửa hy vọng của bán lẻ toàn cầu - Chỉ số pháttriển bán lẻ toàn cầu 2009” Tài liệu xếp hạng các thị trường bán lẻ trên thế giớidựa trên cơ sở đánh giá các nhóm chỉ tiêu để xác định chỉ số phát triển bán lẻcủa từng quốc gia (GRDI) như nguy cơ kinh tế, chính trị, độ hấp dẫn của thịtrường bán lẻ, mức bão hòa của thị trường bán lẻ và sự khác nhau giữa tăngtrưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) và tăng trưởng bán lẻ Theo báo cáo nàyViệt Nam là một trong 10 thị trường bán lẻ phát triển nhanh nhất thế giới
Fels, Allan: “Quản trị bán lẻ - Bài học từ các quốc gia đang phát triển”,Asia Pacific Business Review, số 1 năm 2009 Tác giả đã tổng kết kinh nghiệm
về quản trị bán lẻ và rút ra bài học quản lý bán lẻ ở các nước đang phát triển.Những kinh nghiệm được đề cập đến là tổ chức mạng lưới cửa hàng, đào tạonguồn nhân lực, kỹ năng quản lý, tiếp cận khách hàng, quảng bá hình ảnh…Tsinnopoulos, C Durham University Bussiness School, Mena, C CranfieldUniversity, 2010, “Competing Supply Chain Stratergier: Tesco, Aldi and Liddl”(Cạnh tranh của các hãng phân phối hàng đầu về chuỗi cung ứng: Tesco, Aldiand Liddl) Đã đề cập từng khía cạnh riêng của vấn đề phát triển hệ thống phânphối hiện đại và áp dụng cho thị trường các nước công nghiệp phát triển
Nhìn chung các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến vấn đềbán lẻ hiện đại, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển mạnglưới bán lẻ hiện đại ở tỉnh Phú Thọ
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới phát triển kinh tế đến nay, vấn đề pháttriển thị trường bán lẻ ở nước ta nói chung và vấn đề phát triển thị trường bán lẻ
Trang 10hiện đại nói riêng đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhàkhoa học trong nước Cụ thể:
PGS.TS Lê Trịnh Minh Châu, “Các giải pháp phát triển hệ thống phân
phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, năm 2002 Đề tài đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản vềquản lý hệ thống phân phối hàng hóa; Đánh giá thực trạng và chỉ ra các nguyênnhân cản trở việc phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệpViệt Nam; Tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc phát triển hệthống phân phối, trong đó tập trung làm rõ cơ sở khoa học và các giải pháp pháttriển các mối liên kết dọc và liên kết ngang trong các hệ thống phân phối
PGS.TS Lê Xuân Bá, “Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ, năm 2004.
Đề tài này đã tập trung làm rõ bản chất, nội dung của thể chế kinh tế thị trườngcủa Việt nam, trong đó đề cập đến các vấn đề pháp luật, cách thức tổ chức thịtrường, các lực lượng thị trường, cơ chế giám sát, thể chế cạnh tranh,…
TS Nguyễn Thị Nhiễu, “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu
thị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,
năm 2005 Đề tài đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về siêu thị, nghiên cứukinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới về tổ chức quản lýkinh doanh siêu thị; Xây dựng các tiêu chí phân biệt siêu thị với các loại hìnhkinh doanh thương mại khác; Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống siêu thị vàthực trạng quản lý nhà nước về siêu thị của nước ta hiện nay Đề tài cũng đã đềxuất được những vấn đề đổi mới quản lý nhà nước đối với siêu thị và quản trịkinh doanh siêu thị nhằm phát triển hệ thống siêu thị của nước ta trong thời giantới
ThS Lê Minh Châu, “Giải pháp phát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi vận
doanh theo chuỗi ở Việt Nam đến năm 2010”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Trang 11Bộ, năm 2005 Đề tài đã làm rõ vấn đề lý luận về cửa hàng tiện lợi, các hìnhthức thành lập cũng như đặc điểm của hệ thống cửa hàng tiện lợi vận doanh theochuỗi; Đánh giá được thực trạng phát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi vận doanhtheo chuỗi ở nước ta những năm vừa qua và từ đó đề xuất được các giải phápphát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi vận doanh theo chuỗi ở nước ta đến 2010
TS Lê Danh Vĩnh: “20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt
Nam, những thành tựu và bài học kinh nghiệm”, Nhà xuất bản Thống kê Hà
Nội, năm 2006 Cuốn sách đã phân tích những thành tựu và hạn chế trong quátrình đổi mới cơ chế, chính sách thương mại ở nước ta Qua đó, tác giả đã đềxuất các kiến nghị tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ về cơ chế, chính sáchthương mại trong thời gian tiếp theo
TS Nguyễn Thị Nhiễu “Nghiên cứu các dịch vụ bán buôn, bán lẻ của một
số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, năm 2007 Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ bán buôn,bán lẻ của một số nước trên thế giới trên các phương diện chế định pháp lý, môhình hoạt động và tổ chức quản lý, trên cơ sở đó đã đề xuất được một số giảipháp đổi mới và hoàn thiện các chế định pháp lý, vận dụng và phát triển các môhình và phương thức tổ chức quản lý bán buôn, bán lẻ hiện đại với tư cách là cácphân ngành của ngành dịch vụ phân phối, trong đó tập trung nghiên cứu các điềukiện, xu hướng phát triển và chính sách quản lý các dịch vụ này ở một số nước,vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
Lê Văn Hóa “Nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển thương mại thông
qua việc thâm nhập vào hệ thống phân phối đa quốc gia”, đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ, năm 2008 Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về pháttriển thương mại và hệ thống phân phối qua đó đề xuất được một số giải phápnhằm phát triển thương mại quốc gia thông qua việc xâm nhập vào hệ thốngphân phối của tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam
Trang 12Phạm Hữu Thìn, “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn
minh hiện đại ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 2008 Luận án đã làm
rõ một số nội dung cơ bản mang tính khoa học về loại hình tổ chức bán lẻ vàtính đa dạng của nó, luận giải và đưa ra khái niệm cũng như tiêu chí để xác định
và nhận dạng loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại, luận giải và rút ranhững đặc điểm chính của các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại tiêubiểu trên thế giới Luận án đã tổng hợp và đưa ra khái niệm phát triển các loạihình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại đồng thời đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu cụthể để đánh giá sự phát triển của các loại hình tổ chức bán lẻ này Thông quanghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài (Trung Quốc, Thái Lan), Luận án đã rút
ra 9 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về phát triển các loại hình tổ chức bán lẻvăn minh, hiện đại Luận án xác định những nhóm yếu tố tác động, những lý do
về sự cần thiết phải phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ởViệt Nam cũng như các điều kiện, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển cácloại hình tổ chức bán lẻ này ở Việt Nam Luận án đã phân tích và rút ra những
xu hướng phát triển của ngành bán lẻ cũng như các loại hình tổ chức bán lẻ vănminh, hiện đại trên thế giới cùng những xu hướng đang diễn ra trong sự pháttriển của các loại hình tổ chức bán lẻ này ở Việt Nam Từ việc phân tích thựctrạng triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh hiện đại ở Việt Nam, Luận án
đã chỉ ra những thành tựu, hạn chế, bất cập, nguyên nhân và những vấn đề cầngiải quyết trong sự phát triển và quản lý nhà nước đối với các loại hình tổ chứcbán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam Cuối cùng, luận án đề xuất những quanđiểm, mục tiêu, tiêu chí, định hướng và những giải pháp vi mô và vĩ mô nhằmphát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam
TS Từ Thanh Thủy, “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển
dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ, năm 2009 Đề
tài đã nghiên cứu tổng quan về dịch vụ bán buôn, buôn lẻ ở Việt Nam, đánh giá
Trang 13thực trạng và đề xuất hoàn thiện môi trường kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ nàytheo một số tiêu chí chủ yếu từ góc độ thuận lợi hóa thương mại cho thương nhân.
Bộ Công Thương, “Phát triển thị trường trong nước đến năm 2010 và định
hướng đến 2020”, đề án trình Chính phủ, năm 2007 Đề án đã xây dựng các
quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển (các loại hình doanh nghiệp, loạihình kết cấu hạ tầng thương mại, các mô tình tổ chức lưu thông hàng hóa) vàgiải pháp phát triển thương mại trong nước
Phạm Hồng Tú, “Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Việt Nam thời kỳ 2010 - 2020”, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 2011 Luận án đã hệ
thống hóa và góp phần bổ sung, phát triển cơ sở lý luận về phát triển thị trường bán
lẻ ở nông thôn dựa vào cơ sở lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới ởViệt Nam; Luận án cũng đã phân tích, đánh giá một cách khoa học thực trạng pháttriển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, các chính sách phát triển thịtrường của Nhà nước trong những năm qua và chỉ ra những kết quả đạt được,những hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu Từ đóluận án đã đề xuất các quan điểm, mục tiêu, phương hướng hoàn thiện khung khổchính sách và phương hướng xây dựng cấu trúc thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ởnông thôn nước ta trong thời kỳ 2011 - 2020 Đề xuất một số nhóm giải pháp mới
và có giá trị thực tiễn cao đối với phát triển và hoạt động bán lẻ trên thị trườngnông thôn
TS Trần Hùng, “Các giải pháp phát triển hệ thống phân phối hiện đại
của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, năm 2006 Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hệ thống phânphối hiện đại, vai trò của các hệ thống phân phối hiện đại trong việc nâng caokhả năng cạnh trang của các doanh nghiệp thương mại nói riêng và ngànhthương mại Hà Nội nói chung, sự cần thiết phải phát triển hệ thống phân phối
Trang 14hiện đại ở Hà Nội; Nghiên cứu khảo sát thực trạng hình thành và phát triển hệthống phân phối hiện đại ở Hà Nội; Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hệ thốngphân phối hiện đại ở một số nước và một số hệ thống phân phối của các tập đoànlớn trên thế giới Đề tài cũng đã đưa ra các quan điểm định hướng và đề xuấtđược một số giải pháp phát triển hệ thống phân phối hiện đại ở Hà Nội trongthời gian đến năm 2010 và những năm tiếp theo.
PGS.TS Lê Quân, “Hoàn thiện hệ thống bán lẻ tiện ích tại các khu đô thị
mới ở Hà Nội”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2007 Đề tài đã làm rõ
cơ sở lý luận về bán lẻ tiện ích trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa;Đúc rút được kinh nghiệm quốc tế về phát triển bán lẻ tiện ích; Nghiên cứu đượcthực trạng hệ thống bán lẻ tiện ích tại các khu đô thị mới của Hà Nội Đề tàicũng đã đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện hệ thống bán lẻ tiện ích tại cáckhu đô thị mới của Hà Nội
TS Hoàng Văn Hải, “Giải pháp phát triển chuỗi cửa hàng tiện lợi ở các
khu đô thị mới Thành phố Hà Nội”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm
2008 Đề tài đã hệ thống hóa và hoàn thiện các cơ sở lý luận về chuỗi cửa hàngthuận tiện ở đô thị mới Phân tích và đánh giá thực trạng chuỗi cửa hàng thuậntiện tại các khu đô thị mới của Hà Nội, điển hình ở ba khu vực đô thị mới: ĐịnhCông, Trung Hòa - Nhân Chính, Mỹ Đình,… Qua đó đã xác lập được các vấn đềđặt ra đối với chuỗi cửa hàng thuận tiện ở các khu đô thị mới Hà Nội Đề tài đã
đề xuất được các giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện chuỗi cửa hàngthuận tiện tại các khu đô thị mới Hà Nội làm cơ sở cho các chính sách về quản
lý nhà nước và quản trị điều hành các doanh nghiệp phân phối
PGS.TS Phan Thị Thu Hoài, “Xu thế lựa chọn loại hình cửa hàng bán lẻ
của người tiêu dùng theo cách tiếp cận marketing ở các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm
2008 Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng được một khung lý thuyết về hành vi lựa
Trang 15chọn điểm bán và các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn cửa hàng để mua sắm củangười tiêu dùng; Nghiên cứu được thực trạng hành vi và xu thế lựa chọn cửa hàngmua sắm của người tiêu dùng trên địa bàn nội thành Hà Nội, đặc điểm của hoạtđộng kinh doanh nói chung và hoạt động marketing của doanh nghiệp thương mạibán lẻ trên địa bàn Thành phố Hà Nội Đề tài tập trung nghiên cứu hành vi chọncửa hàng bán lẻ theo các mô hình lựa chọn và các nhân tố ảnh hưởng với lựa chọncửa hàng bán lẻ của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội ở khu vực nộithành và đề xuất được các giải pháp marketing cho các doanh nghiệp thương mạibán lẻ trên địa bàn nội thành Hà Nội nhằm khai thác hiệu quả những đặc điểm và
xu thế lựa chọn điểm bán và dịch vụ phân phối bán lẻ của người tiêu dùng
Nguyễn Thanh Hải, “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Luận án tiến sĩ
kinh tế, năm 2011 Luận án đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về bán
lẻ hiện đại, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiệnđại; Phân tích quan điểm đánh giá hiệu quả, xác định tiêu chuẩn và hệ thống chỉtiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiệnđại và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nàytrong bối cảnh hiện nay; Luận án cũng đã khái quát được tình hình hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại trên địa bàn Thànhphố Hà Nội, đã đi sâu phân tích, đánh giá về hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp thương mại bán lẻ hiện đại, đưa ra được các nhận định chung về nhữngvấn đề cơ bản cần được giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của cácdoanh nghiệp này; Luận án cũng đã phân tích những cơ hội và thách thức củamôi trường kinh doanh đối với các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hiện đại,đưa ra quan điểm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp thương mại bán lẻ hiện đại và đề xuất được một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này
Trang 16Phạm Huy Giang, “Phát triển hệ thống phân phối hiện đại dạng chuỗi siêu
thị bán lẻ trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Luận án tiến sĩ kinh tế, năm 2011.
Luận án đã xây dựng được mô hình tổng quát về hệ thống phân phối hàng hóabán lẻ và xây dựng được các nội dung cơ bản của các bộ phận cấu thành mô hình
hệ thống phân phối hiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ của một khu vực hay mộtđịa bàn nhất định trên ba góc độ: Tổ chức, quản trị và nguồn lực của hệ thốngphân phối; Luận án cũng đã phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống phân phốihiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ trên địa bàn nội thành Thành phố Hà Nội theo
mô hình đã phát triển và theo các nội dung đã xây dựng ở phần cơ sở lý luận, đãđánh giá được những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân hạn chế sự phát triển các hệthống phân phối hiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ trên địa bàn Thành phố HàNội Đề xuất được các giải pháp có tính hệ thống nhằm phát triển hệ thống phânphối hiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ theo các nội dung của mô hình đề tài đềcập đến nhằm nâng cao hiệu quả của toàn hệ thống chuỗi và đáp ứng với các yêucầu phát triển của lĩnh vực thương mại của thành phố, đồng thời thỏa mãn đượctoàn diện nhu cầu của người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội và phù hợp vớiđiều kiện phát triển hiện tại của thành phố Hà Nội cũng như của nước ta
2 Những vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu có liên quan và hướng nghiên cứu của luận án
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cónhững nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu của Luận án Nghiên cứu sinh
có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu để giải quyết một số nội dung nghiên cứucủa đề tài như: Các khái niệm về bán lẻ; bán lẻ hiện đại; một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về phát triển kênh phân phối nói chung, bán lẻ và bán lẻ hiện đại nóiriêng;… Tuy nhiên, từ góc độ phát triển thị trường bán lẻ và bán lẻ hiện đại thìchưa có công trình nào giải quyết một cách toàn diện và có tính hệ thống cácvấn đề lý luận và thực tiễn, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về phát
Trang 17triển các cơ sở bán lẻ hiện đại gắn với các điều kiện kinh tế - xã hội của một tỉnhthuộc vùng trung du miền núi còn nhiều hạn chế như Phú Thọ (Việt Nam).Nghiên cứu này tập trung làm rõ con đường phát triển mạng lưới các cơ sở bán
lẻ hàng hóa hiện đại dựa trên cơ sở các điều kiện cụ thể của tỉnh Phú Thọ
Trang 18PHẦN NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ HÀNG HÓA HIỆN ĐẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRƯỜNG MỘT TỈNH
1.1 Khái niệm và các loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm bán lẻ
Theo từ điển American, Heritage định nghĩa: bán lẻ là bán hàng cho ngườitiêu dùng, thường là với khối lượng nhỏ và không bán lại
Theo NAICS, năm 2002, lĩnh vực bán lẻ (mã ngành 44-45) bao gồm những
cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá (thường không có hoạt động chế biến) và cungcấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá trình bán lẻ là khâu cuối cùng trongphân phối hàng hoá Các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏcho người tiêu dùng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức bán từng cái, từng ít một trựctiếp cho người tiêu dùng Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa:Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tạimột địa điểm cố định, hoặc không cố định và thông qua các dịch vụ liên quan.Trong cuốn sách Quản trị Marketing, Philip Kotler đã định nghĩa: bán lẻ làbao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụtrực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân,không kinh doanh.[37]
Theo phân loại sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC - CentralProducts Classification), bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng
Trang 19hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểmkhác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan
Những khái niệm trên đây đã xác định bán lẻ là: bán với khối lượng nhỏ;bán trực tiếp cho người tiêu dùng; bán lẻ hàng hoá và các dịch vụ có liên quan;người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình, khôngdùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất (phân biệtgiữa hàng tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất); bán lẻ là công đoạn cuối cùngtrong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng; bán lẻ tại một địađiểm cố định, hoặc không cố định và thông qua các dịch vụ khác.[32]
Danh mục mã CPC xác định rằng “dịch vụ chính do các nhà bán buôn vàbán lẻ thực hiện là bán lại hàng hóa kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ cóliên quan khác như: bảo quản, lưu kho hàng hóa; sắp xếp và phân loại đối vớihàng hóa khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hóa khối lượngnhỏ; dịch vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ khuyến mãi donhững người bán buôn thực hiện; và các dịch vụ liên quan đến việc kinhdoanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng
- Cửa hàng chuyên doanh là cửa hàng chuyên bán một chủng loại hẹp
sản phẩm, nhưng rất đa dạng Ví dụ như các cửa hàng quần áo, cửa hàng dụng
cụ thể thao, cửa hàng đồ gỗ, cửa hàng sách, cửa hàng bán hoa,…
- Cửa hàng bách hóa tổng hợp là cửa hàng bán một số loại sản phẩm,
thường là quần áo, giày dép, mỹ phẩm, đồ trang sức, đồ gia dụng và đồ trang bị
Trang 20nội thất, trong đó mỗi loại được bán ở những gian hàng riêng biệt do nhân viêncủa từng gian hàng phụ trách
- Siêu thị là một loại cửa hàng tự phục vụ, quy mô tương đối lớn, có chi
phí bán hàng thấp và mức lời thấp, được thiết kế để phục vụ tất cả mọi nhucầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các sản phẩm bảo trì nhà cửa,
… Ở các nước phát triển, mỗi siêu thị bán khoảng chừng từ 10 đến 15 nghìnmặt hàng
- Cửa hàng hạ giá là cửa hàng bán những sản phẩm tiêu chuẩn (không
phải sản phẩm kém phẩm chất) thường xuyên với giá thấp và bán với khốilượng lớn hơn Để giảm chi phí, chủ cửa hàng sử dụng những cơ sở ở những khuvực tiền thuê nhà rẻ, nhưng đông người qua lại, cắt giảm mạnh mức giá, quảngcáo rộng rãi và bán những loại sản phẩm có chiều rộng và chiều sâu vừa phải
- Cửa hàng bán giá thấp là cửa hàng bán cho người tiêu dùng với giá thấp
hơn giá bán lẻ bình quân trên thị trường Hình thức phổ biến nhất của cửa hàngbán giá thấp là cửa hàng của nhà máy thuộc quyền sở hữu của người sản xuất và
do người sản xuất điều hành, thường bán các loại sản phẩm dư thừa, mặt hàng
đã chấm dứt sản xuất hay sai quy cách
- Phòng trưng bày catalog là phòng chuyên trưng bày các catalog cho
người mua xem và lựa chọn mua sản phẩm qua catalog Chủ các phòng trưngbày này bán hàng với hạ giá rất nhiều các loại sản phẩm có nhãn hiệu, lưu thôngnhanh, giá trị cao như đồ kim hoàn, dụng cụ điện, máy ảnh, túi xách, thiết bịnhỏ, đồ thể thao,… Họ kinh doanh theo cách cắt giảm chi phí và mức lời để
có thể bán được giá thấp hơn nhưng khối lượng bán lớn hơn
Về tổ chức phục vụ khách hàng, các cơ sở bán lẻ trên đây có thể chọn mộttrong bốn mức độ dịch vụ để đa dạng hóa sự lựa chọn và thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng:
Trang 21+ Bán lẻ tự phục vụ đối với những sản phẩm thông dụng và trong chừngmực nào đó đối với sản phẩm mua có lựa chọn Tự phục vụ là yếu tố cơ bản củacác cửa hàng hạ giá Nhiều khách hàng muốn tự mình lựa chọn, so sánh tại chỗ
để tiết kiệm chi phí
+ Bán lẻ tự chọn, trong đó khách hàng tham gia tìm kiếm sản phẩm và hoàntất việc mua bán của mình sau khi thanh toán tiền hàng cho nhân viên bán hàng.+ Bán lẻ phục vụ hạn chế có mức độ hỗ trợ bán hàng cao hơn, kể cả cácdịch vụ bán trả góp và nhận lại hàng đã mua
+ Bán lẻ phục vụ đầy đủ có nhân viên bán hàng sẵn sàng giúp đỡ trong quátrình lựa chọn, so sánh tại chỗ Bán lẻ phục vụ đầy đủ có chi phí cao để duy trìnhân viên phục vụ, và thường áp dụng cho những sản phẩm có nhu cầu đặc biệt(hàng thời thượng, đồ kim hoàn, máy ảnh,…) với chính sách cho phép trả lạihàng đã mua, bán trả góp, giao hàng tại nhà miễn phí, phục vụ tại chỗ đối vớihàng lâu bền, và những tiện nghi dành cho khách hàng như phòng ngồi nghỉ vàgiải khát không mất tiền
* Bán lẻ không qua cửa hàng
Loại hình bán lẻ không qua cửa hàng ngày càng phát triển nhanh chóng vàchiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong doanh số bán lẻ Những hình thức chủ yếucủa bán lẻ không qua cửa hàng bao gồm:
- Bán trực tiếp, là hình thức bán trực tiếp ra đời cách đây nhiều thế kỷ do
những người bán hàng rong thực hiện, và ngày nay vẫn còn được sử dụng kháphổ biến, nhất là đối với hàng tiêu dùng Một cách bán hàng trực tiếp được gọi
là marketing nhiều cấp hay hình thức “bán hàng hình tháp”, theo đó một doanhnghiệp tuyển mộ những người kinh doanh độc lập làm người phân phối các sảnphẩm của mình, những người này lại tuyển mộ và bán hàng cho những ngườiphân phối phụ, rồi những người cuối cùng sẽ tuyển mộ những người khác để bánsản phẩm của mình, thường là tại nhà khách hàng Tiền thù lao của người phân
Trang 22phối bao gồm một tỉ lệ phần trăm doanh thu của toàn bộ nhóm bán hàng dongười phân phối tuyển mộ cũng như số tiền kiếm được trong mọi trường hợpbán trực tiếp cho các khách hàng bán lẻ Bán trực tiếp là hình thức bán hàng rấttốn kém và phải chi phí vào những việc thuê, huấn luyện, quản lý và động viênlực lượng bán hàng.
- Marketing trực tiếp, marketing trực tiếp xuất phát từ marketing đơn hàng
qua bưu điện, nhưng ngày nay cách tiếp cận công chúng đã khác đi, chứ khôngphải viếng thăm tại nhà hay công sở, và bao gồm marketing qua điện thoại,marketing giải đáp trực tiếp trên truyền hình và mua hàng qua hệ thống internet
- Bán hàng tự động, hình thức bán hàng tự động đã dược áp dụng cho
những loại sản phẩm khác nhau từ những sản phẩm thông dụng mua ngẫu hứng(thuốc lá, nước giải khát, đồ uống nóng, bánh kẹo, đồ điểm tâm, báo chí) vànhững sản phẩm và dịch vụ khác (đồ lót, áo phông, sơ mi, sách vở, album nhạc,băng hình, đổi và rút tiền tự động,…) Máy bán hàng tự động được lắp đặt tạinhà máy, công sở, khách sạn, nhà hàng, cây xăng, ga tàu xe và sân bay, phục vụsuốt ngày đêm Bán hàng tự động là một hình thức bán hàng tiện lợi nhưng khátốn kém và giá hàng thường cao vì phải thường xuyên nạp hàng ở những địađiểm phân tán, tỉ lệ mất cắp cao, và không phải bao giờ cũng làm hài lòng ngườimua, vì một thực tế là khách hàng không thể trả lại hàng
- Dịch vụ mua hàng, đây là hình thức người bán lẻ không có kho hàng,
phục vụ những khách hàng đặc biệt, thường là nhân viên của các tổ chức lớnnhư trường học, bệnh viện, các tổ chức của Nhà nước Những thành viên củadịch vụ mua này được quyền mua theo một danh sách chọn lọc nào đó củangười bán lẻ với giá chiết khấu Chẳng hạn một người cần mua một máy vi tính
cá nhân sẽ nhận được một phiếu ở cơ sở làm dịch vụ mua này, đem đến ngườibán lẻ đã hợp đồng trước đó và mua với giá chiết khấu Người bán lẻ sẽ trả mộtkhoản lệ phí nhỏ cho cơ sở dịch vụ mua hàng
Trang 231.1.1.2 Khái niệm bán lẻ hiện đại
Để đưa ra khái niệm về bán lẻ hiện đại, trước hết luận án làm rõ khái niệmcủa từ “hiện đại” Theo cố GS Nguyễn Lân, “hiện” là “rõ ràng trước mắt”, “đại”
là “đời”; vì thế với chức năng là một tính từ, “hiện đại” có nghĩa là “thuộc về
thời đại hiện nay” [22] Mặt khác, theo cố tác giả Nguyễn Văn Đạm, “hiện đại”
được hiểu theo hai nghĩa: một là “thuộc thời bây giờ” và hai là “mới nhất vàđược coi là chưa bị vượt” (nhất là về khoa học kỹ thuật) [30] Bên cạnh đó cũng
có một số cách lý giải khác về từ “hiện đại” như: kiểu mới nhất, ở thời hiện tại,thuộc về hay gắn liền với thời hiện hành,… Trong các cách lý giải trên, cách lýgiải của cố tác giả Nguyễn Văn Đạm được xem là hợp lý và phù hợp nhất khinói về tính hiện đại của tổ chức bán lẻ Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về bán
lẻ hiện đại như sau: bán lẻ hiện đại là loại hình bán lẻ có tính chuyên nghiệp cao
trong tổ chức quản lý, vận hành kinh doanh, có áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động bán lẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của khách hàng.
Biểu hiện tính hiện đại trong hoạt động bán lẻ là hoạt động bán hàng trựctiếp đến người tiêu dùng, trong đó các cơ sở bán lẻ chủ yếu bán hàng theo phươngthức tự phục vụ hoặc kết hợp chọn lấy hàng trên giá cho khách hàng và để kháchhàng tự chọn hàng trên giá trưng bày để ngỏ với sự hỗ trợ của nhân viên bánhàng Nhiều trường hợp, người bán và người mua không cần tiếp xúc trực tiếp vớinhau mà việc mua bán vẫn có thể diễn ra Hoạt động bán hàng ở các cơ sở bán lẻhiện đại còn có thể được thực hiện dưới hoặc kết hợp với các hình thức vàphương pháp bán hàng như bán hàng qua ti vi, bán hàng qua bưu điện, bán hàngqua điện thoại, bán hàng trực tuyến (qua Internet), và bán hàng bằng máy bánhàng tự động
Tuy nhiên, với sự cách tân và áp dụng từng phần phương thức bán hànghiện đại nên có không ít trường hợp rất khó phân biệt hoặc phân loại một cáchchính xác giữa cơ sở bán lẻ hiện đại và cơ sở bán lẻ truyền thống, trên thực tế
Trang 24loại cửa hàng hoạt động độc lập của hộ kinh doanh áp dụng phương thức bánhàng tự chọn đang trở nên phổ biến
1.1.1.3 Khái niệm cơ sở bán lẻ hiện đại
Hoạt động bán lẻ được thể hiện thông qua hai hình thức là bán lẻ qua cơ
sở bán hàng (gọi tắt là cơ sở bán lẻ) và bán lẻ không qua cơ sở bán hàng Hìnhthức bán lẻ thông qua các cơ sở bán lẻ là loại hình bán lẻ có không gian và địađiểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng, đồng thời người tiêu dùng hoànthành việc mua hàng chủ yếu ở địa điểm này Hình thức bán hàng không qua
cửa hàng là loại hình bán lẻ, theo đó hàng hóa được chuyển trực tiếp từ nhà sản
xuất/phân phối đến người tiêu dùng không thông qua cơ sở bán hàng như bánhàng trực tuyến qua internet, bán hàng qua truyền hình/ti vi, bán hàng qua điệnthoại, bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua catalog, bán hàng tận cửa hay bánhàng lưu động
Theo Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính Phủ quyđịnh chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt độngliên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài tại Việt Nam, cơ sở bán lẻ được định nghĩa là đơn vị thuộc sở hữu củadoanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ Theo các chuyên gia của Dự án MutrapIII năm 2010, cơ sở bán lẻ được coi là tên gọi chung cho các loại hình chợ, cửahàng, trung tâm thương mại, máy bán hàng tự động hay các hình thức dưới tên gọi khác được tổ chức để thực hiện hoạt động bán lẻ
Như vậy, cơ sở bán lẻ được hiểu là tên gọi của đơn vị có không gian và địa điểm cố định nhất định để trưng bày và bán hàng
Từ phân tích trên, chúng ta có thể hiểu cơ sở bán lẻ hiện đại là tên gọichung cho các đơn vị có không gian và địa điểm cố định cần thiết để thực hiệnhoạt động bán lẻ với tính chuyên nghiệp trong quản lý và vận hành kinh doanh
Trang 25cũng như được ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn nhu cầucủa khách hàng
1.1.1.4 Khái niệm mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại
Mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại được hiểu là tổng thể các cơ sở cungứng dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại trên một địa bàn địa lý nhất định Trongphạm vi của luận án này, mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại bao gồm: hệ thốngcác siêu thị, hệ thống trung tâm thương mại và hệ thống các cửa hàng tiện lợi
1.1.2 Các loại hình bán lẻ hiện đại
1.1.2.1 Siêu thị (Supermarket)
Kinh doanh siêu thị là một trong những loại hình kinh doanh hiện đại, ra đời và phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hoá và đô thịhoá ngày càng cao ở quy mô thế giới Sự ra đời của loại hình kinh doanh nàyvào năm 1930 ở Mỹ sau đó mở rộng sang châu Âu được coi là một trong nhữngcuộc “cách mạng” hữu ích nhất đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực lưu thôngphân phối ở thế kỷ XX
"Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài - "supermarket"(tiếng Anh) hay "supermarché" (tiếng Pháp), là một loại cửa hàng bán lẻ ápdụng phương thức tự phục vụ và hàng hóa chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùnghàng ngày
Chính thức ra đời từ những năm 1930, tự phục vụ là một đặc trưng cơ bảncủa siêu thị đã trở thành công thức chung cho ngành phân phối ở các nước pháttriển Tự phục vụ đồng nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại Nó có nhiều
ưu điểm so với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiệm đượcchi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thườngchiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh) Tự phục vụ giúp người mua cảm thấythoải mái khi được tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hóa mà không cảmthấy bị ngăn trở từ phía người bán Cũng chính vì áp dụng phương thức tự phục
Trang 26vụ mà các siêu thị phải niêm yết giá cả rõ ràng để người mua không phải tốncông mặc cả, tiết kiệm được thời gian và hàng hóa bày bán trong siêu thị thường
là những hàng hóa phổ biến, không phải là hàng cá biệt, đặc hiệu
Merchandising là khoa học, nghệ thuật và cũng là các quy tắc sắp xếp trưngbày hàng hoá trong siêu thị Merchandising với các kiểu trưng bày đẹp mắt, hiệuquả và tạo cảm giác hứng khởi, thoải mái, tiện nghi cho khách hàng cũng là mộtsáng tạo của siêu thị Ngoài ra, phương thức thanh toán tại các siêu thị rất thuậntiện Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào,dùng máy quét scanner để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Tất cả những đặc điểm này thể hiện tính chất "siêu" của siêu thị
Siêu thị là một dạng cửa hàng bán lẻ thuộc mắt xích trung gian gần vớingười tiêu dùng nhất Tuy nhiên, khi nói đến siêu thị, ta ngầm hiểu đó là cáchtiếp cận từ góc độ phân loại mang tính tổ chức đối với những cửa hàng bán lẻtheo phương thức hiện đại Hệ thống các cửa hàng này ở các nước phương Tâybao gồm cửa hàng tiện dụng (convenience store), siêu thị nhỏ (mini super), siêuthị (supermarket), đại siêu thị (hypermarket), cửa hàng bách hoá lớn (departmentstore), cửa hàng bách hoá thông thường, cửa hàng đại hạ giá (hard discounter),trung tâm thương mại (commercial center) Những loại hình cửa hàng này vớiquy mô ngày càng lớn, trang hoàng đẹp và mua bán nhanh chóng, thuận tiện đãtạo nên diện mạo của ngành thương nghiệp bán lẻ hiện đại tại các nước châu Âu
và Mỹ.[34]
Theo điều 2 Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ trưởng
Bộ Thương mại nay là Bộ Công Thương về việc ban hành quy chế Trung tâmthương mại, siêu thị, quy định “Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanhtổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng,bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ
Trang 27thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ vănminh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”.[6] Siêu thị hiểu theo cách thông thường nhất là loại hình cửa hàng bán lẻnhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng ở cộng đồng
cư dân khu vực đặt cửa hàng và/hoặc một lần đi mua sắm của khách hàng; hànghóa được trưng bày để ngỏ, bán hàng theo phương thức tự phục vụ là chủ yếu,tách biệt cửa ra và cửa vào, thực hiện thanh toán tập trung.[34]
Bên cạnh loại với quy mô trung bình, có loại hình siêu thị tổng hợp quy môlớn được gọi là “đại siêu thị” (hypermarket)
Ngoài đại siêu thị, trong ngôn ngữ của nhiều nước, loại hình siêu thị tổnghợp quy mô lớn còn được thể hiện dưới các tên gọi khác như siêu cửa hàng(Superstore), cửa hàng phức hợp (Combination store) và siêu trung tâm(Supercenter).[34]
Theo quy định của Nhật Bản thì siêu thị chuyên doanh khác cửa hàngchuyên doanh chủ yếu ở việc áp dụng phương thức tự phục vụ trong bán hàng
và tỷ trọng bán loại hay nhóm hàng mà siêu thị chuyên doanh mang tên trongtổng doanh số bán chỉ cần chiếm 70% trở lên (tỷ trọng này ở cửa hàng chuyêndoanh là từ 90% trở lên) [34]
1.1.2.2 Cửa hàng tiện lợi (convenience store)
Cửa hàng tiện lợi là cửa hàng kinh doanh nhỏ, hàng hóa được trưng bàytheo một hệ thống khoa học nhằm tạo thuận tiện nhất cho người mua hàng, có ápdụng những phương pháp thu ngân và thanh toán hiện đại Quy mô của nó lớnhơn so với tiệm tạp hóa Các cửa hàng tiện lợi thường liên kết thành chuỗi cáccửa hàng
Giống như tên gọi, đây là loại hình cửa hàng cung cấp sự tiện lợi cho ngườitiêu dùng; quy mô cửa hàng nhỏ; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh chủ yếu là
Trang 28những hàng hoá thiết yếu nhất với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của conngười; thời gian kinh doanh dài
Cửa hàng tiện lợi ở các nước khác nhau là không giống nhau, kể cả vềtrang trí cửa hàng (trừ khi đó là cửa hàng cùng mang thương hiệu của doanhnghiệp chuỗi mẹ), quy mô cửa hàng hay mối quan hệ với các loại hình tổ chứcbán lẻ khác [34]
1.1.2.3 Cửa hàng chuyên doanh
Cửa hàng chuyên doanh là loại hình cửa hàng chỉ kinh doanh (hay tập trungkinh doanh) một mặt hàng hoặc một loại (nhóm) hàng hóa nào đó, hoặc địnhhướng vào một loại nhu cầu hay một nhãn hiệu nhất định, hàng hóa kinh doanhtrong phạm vi hẹp nhưng cung cấp sự lựa chọn sâu (hay rất phong phú) về hànghóa hoặc loại nhãn hiệu hàng hóa kinh doanh với phẩm cấp và giá cả khác nhaucùng với các loại hàng hóa và/hoặc dịch vụ bổ sung có liên quan khác Có thểchia cửa hàng chuyên doanh nói chung thành 2 loại:
- Cửa hàng chuyên doanh (Specialty store) là loại hình cửa hàng bán lẻchuyên bán một mặt hàng hoặc một loại (nhóm) hàng hóa nào đó Ví dụ: cửahàng giày thể thao, cửa hàng giày dép, cửa hàng đồ chơi,
- Cửa hàng đại lý độc quyền (professional/exclusive shop) là loại hình cửahàng bán lẻ chuyên bán hoặc được uỷ quyền bán một nhãn hiệu hàng hóa chủyếu nào đó [34]
1.1.2.4 Cửa hàng bách hóa (Department store/plaza)
Cửa hàng bách hóa là loại hình cửa hàng nằm trong một tòa nhà, thườngchiếm vị trí nổi bật ở trung tâm thành phố, thị xã hoặc là cửa hàng chính trongcác trung tâm mua sắm ngoại ô; kinh doanh tổng hợp nhiều loại hàng hóa vàcung cấp đầy đủ các loại dịch vụ (kể cả giao hàng tận nhà và cho nợ ); phạm
vi kinh doanh rộng, hàng hóa phong phú, đa dạng nhưng chủ yếu bán loại hàng
có đặc tính là khi quyết định mua, khách hàng cần phải có sự so sánh, đối
Trang 29chiếu với hàng hóa cùng chủng loại về chất lượng, giá cả Tùy theo đặc điểmtừng gian, quầy hàng mà cửa hàng bách hóa áp dụng hoặc kết hợp áp dụngphương thức chọn lấy hàng trên giá cho khách hàng và phương thức để kháchhàng tự chọn hàng trên giá trưng bày để ngỏ với sự hỗ trợ của nhân viên bánhàng Cửa hàng bách hóa có tên tiếng Anh là “Department store” với quanniệm như đề cập trên là khác với “Cửa hàng bách hóa tổng hợp” tồn tại ở ViệtNam thời bao cấp là loại hình cửa hàng bán hàng theo phương thức phục vụ tạiquầy (tức là khách hàng cần loại hàng gì thì nêu yêu cầu hoặc chỉ để người bánhàng lấy đưa cho) Ở các nước khác nhau, cửa hàng bách hóa cũng có nhữngđặc điểm không giống nhau.[34]
1.1.2.5 Cửa hàng chiết khấu - hay còn gọi cửa hàng bán giá rẻ (discount store)
Cửa hàng chiết khấu là loại hình cửa hàng bán lẻ các loại hàng hóa tiêudùng (kể cả hàng có nhãn hiệu nổi tiếng) với giá rẻ hơn so với giá bán lẻ bìnhthường So với cửa hàng bách hóa, loại cửa hàng chủ yếu bán hàng hóa có nhãnhiệu nổi tiếng được sử dụng trên phạm vi quốc gia (national brand) hay quốc tế,cửa hàng bán giá rẻ có điểm khác là: Lãi thấp (hạn chế các chi phí xây dựng,trang trí nội thất, nhân công, quản lý ); quay vòng nhanh (tỷ suất quay vònghàng tồn kho cao hơn hẳn cửa hàng bách hóa); và bán hàng theo phương thức tựphục vụ giống như cửa hàng tiện lợi
Nhờ thực hiện chiến lược bán hàng với giá thấp một cách triệt để nên loạihình cửa hàng bán giá rẻ luôn thu hút được đông đảo các đối tượng khách hàng.Phối hợp các tiêu chí khác nhau, có thể chia cửa hàng giá rẻ thành nhiềuloại với tên gọi khác nhau; trong đó có 2 loại hình cửa hàng giá rẻ tiêu biểu làcửa hàng dạng nhà kho và cửa hàng hội viên dạng nhà kho.[34]
1.1.2.6 Chuỗi cửa hàng bán lẻ (Chain store)
Cửa hàng chuỗi là một trong một loạt cửa hàng giống nhau (có cùngthương hiệu, cùng trang trí bề ngoài và bán cùng một loại hàng hóa) trong chuỗi
Trang 30cửa hàng bán lẻ Còn chuỗi cửa hàng bán lẻ (Retail store chain/a chain of retailstores) là hệ thống các cửa hàng bán lẻ được tiêu chuẩn hóa và vận doanh cótính chất thống nhất, các chức năng quản lý, chuẩn bị nguồn hàng, quyết địnhchính sách bán hàng, giá cả được tập trung vào doang nghiệp chuỗi mẹ, cáccửa hàng chủ yếu chỉ thực hiện nhiệm vụ bán hàng theo kế hoạch đã được doanhnghiệp chuỗi mẹ thông qua.
Cấu tạo của một chuỗi cửa hàng gồm 3 thành phần chính: Doanh nghiệpchuỗi mẹ, trung tâm phân phối và các cửa hàng thành viên
Theo phạm vi hoạt động, có chuỗi cửa hàng theo vùng (Regional chain) haychuỗi cửa hàng địa phương (Local chain), chuỗi cửa hàng quốc gia (National chain)
và chuỗi cửa hàng xuyên quốc gia (Transnational chain).[34]
Theo phương thức vận doanh, có nhiều loại chuỗi cửa hàng khác nhau, mỗiloại có một phương thức vận doanh riêng Tuy nhiên, dù thuộc loại hình chuỗicửa hàng nào thì đặc trưng và trình độ của nó cũng được thể hiện trên bốn mặt
cơ bản, đó là: (1) Mức độ liên kết các thành viên trong chuỗi với nhau; (2) Mức
độ chuyên môn hóa các chức năng trong chuỗi; (3) Mức độ tiêu chuẩn hóa đốivới các cửa hàng thành viên; và (4) Mức độ áp dụng công nghệ thu nhận, truyềnphát và xử lý thông tin của chuỗi
Tùy theo mức độ và phương diện liên kết chủ yếu, các chuỗi cửa hàngđược chia làm các loại cơ bản: Chuỗi cửa hàng thông thường; chuỗi cửa hàngnhượng quyền; chuỗi cửa hàng tự nguyện; và chuỗi cửa hàng phức hợp.[34]
1.1.2.7 Trung tâm mua sắm (hay có thể gọi là trung tâm thương mại bán lẻ)
Trung tâm mua sắm (TTMS) (shopping center/mall) là cơ sở bán lẻ tập trung do chủ đầu tư xây dựng TTMS lập ra theo quy hoạch Trong TTMS có bốtrí nhiều loại hình cửa hàng bán lẻ hàng hóa, cửa hàng ăn uống và các cơ sở dịch
vụ khác , trong đó có một hoặc một số siêu thị và/hoặc cửa hàng bách hóa màvới quy mô và vị trí của nó được chọn làm cửa hàng chính (hay cửa hàng hạt
Trang 31nhân) là tâm điểm thu hút khách hàng TTMS không chỉ đơn thuần là nơi muahàng mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí và các dịch vụ khác nhưlàm đẹp, thể thao, của người tiêu dùng Vì vậy, trong TTMS còn bố trí các cơ
sở, thiết bị để phục vụ những nhu cầu này
Đặc điểm loại hình TTMS được xác định dựa vào các tiêu chí sau:
1) Vị trí quy hoạch TTMS;
2) Phạm vi thị trường (về địa lý và nhân khẩu);
3) Quy mô diện tích (bao gồm diện tích xây dựng và diện tích dành cho bán lẻ);4) Số lượng, cơ cấu cửa hàng và loại hình cửa hàng chính (Cửa hàng chínhhay cửa hàng hạt nhân của TTMS (anchor/flagship store/key tenant) là cửa hàngbán lẻ lớn nhất, thường nằm ở cuối hoặc các góc của TTMS, đóng vai trò làtrung tâm thu hút khách hàng đến mua hàng ở TTMS);
5) Các tiêu chí khác (như dung lượng nơi đỗ xe chung; hình thức kiến trúc
và hình dạng TTMS )
Dựa vào tổ hợp các tiêu chí nêu trên, theo tiêu chuẩn của Hội đồng quốc tế
về TTMS, loại hình TTMS được chia thành 5 loại sau:
(1) Trung tâm mua sắm hạng đặc biệt là loại hình trung tâm mua sắm có
tổng diện tích kinh doanh (diện tích có thể cho thuê) từ 150.000 m2 trở lên, đượcxây dựng để trở thành trung tâm mua sắm cấp quốc gia và quốc tế (tương đươngloại “mega super-regional shopping center” hay “mega shopping center”, tạmgọi là “siêu trung tâm mua sắm khổng lồ”)
(2) Trung tâm mua sắm hạng I là loại hình trung tâm mua sắm có tổng
diện tích kinh doanh (diện tích có thể cho thuê) từ 50.000 m2 trở lên, thườngđược xây dựng ở các trung tâm kinh tế - thương mại cấp quốc gia, vùng hoặccác đô thị lớn (tương đương loại “super-regional shopping center/super-regionalshopping mall”, tạm gọi là “siêu trung tâm mua sắm vùng”)
Trang 32(3) Trung tâm mua sắm hạng II là loại hình trung tâm mua sắm có tổng
diện tích kinh doanh (diện tích có thể cho thuê) từ 30.000 m2 trở lên, thườngđược xây dựng tại các trung tâm kinh tế - thương mại cấp tỉnh, thành phố (tươngđương loại “regional shopping center/regional shopping mall”, tạm gọi là “trungtâm mua sắm vùng”)
(4) Trung tâm mua sắm hạng III là loại hình trung tâm mua sắm có tổng
diện tích kinh doanh (diện tích có thể cho thuê) từ 10.000 m2 trở lên, thườngđược xây dựng ở các trung tâm kinh tế - thương mại cấp quận/huyện, thành phố/thị xã (tương đương loại “community shopping center”, tạm gọi là “trung tâmmua sắm cộng đồng”)
(5) Trung tâm mua sắm hạng IV là loại hình trung tâm mua sắm có tổng
diện tích kinh doanh (diện tích có thể cho thuê) từ 5.000 m2 trở lên, thường đượcxây dựng ở các thị trấn, thị tứ, cụm dân cư tập trung (tương đương loại
“neighborhood shopping center”, tạm gọi là “trung tâm mua sắm lân cận”)
1.1.2.8 Trung tâm thương mại (Trade Center)
Với một nghĩa chung nhất, “Trung tâm thương mại (TTTM) là một nơi tậptrung các doanh nghiệp kinh doanh giải trí, dịch vụ phân phối bán lẻ, nhằm phục
vụ dân cư khu vực xung quanh” (từ điển bách khoa Columbia)
Theo khái niệm của các nước châu Âu thì TTTM được hiểu là một tổ hợpbao gồm các cửa hàng bản lẻ và các loại hình thương mại dịch vụ tập trung tạimột địa điểm được quy hoạch, xây dựng và quản lý như một tổng thể thốngnhất Cụ thể: “TTTM thường bao gồm một cửa hàng bán lẻ tổng hợp (là mộtsiêu thị hay một đại siêu thị…) chuyên bán thực phẩm và hàng tiêu dùng thiếtyếu hàng ngày cùng với nhiều cửa hàng chuyên doanh như hiệu thuốc, cửa hàngthời trang, giầy dép và đủ loại dịch vụ như dịch vụ ngân hàng, du lịch, bưuđiện… Tất cả tập trung trên một khu vực lớn nằm ở ngoại ô các thành phố vàkèm theo là những bãi đỗ xe rất rộng, có bán xăng cho khách hàng”[34]
Trang 33Theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ trưởng
Bộ Thương mại nay là Bộ Công Thương về việc ban hành quy chế Trung Tâmthương mại, siêu thị, thì “Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanhthương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ
sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê… được bố trítập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứngcác tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổchức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhucầu phát triển hoạt động kinh doanh của thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng”.[6]
Trung tâm thương mại thường được xây dựng trên diện tích lớn, tại vị trítrung tâm đô thị để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu
1.1.3 Phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại
1.1.3.1 Khái niệm phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại
Để đưa ra khái niệm về phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại, luận
án sẽ trình bày sơ lược khái niệm của phát triển trên phương diện kinh tế học.
Về mặt kinh tế xã hội, phát triển là sự đi lên, sự tiến bộ của xã hội một cách toàndiện về các nội dung: (1) tăng trưởng kinh tế (phản ánh sự phát triển về lượng),(2) sự thay đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế (phản ánh sự phát triển vềchất), (3) sự biến đổi ngày càng tốt hơn các vấn đề về môi trường, xã hội nhưđời sống tinh thần, trình độ dân trí, tuổi thọ, môi trường sinh thái, (phản ánhmục tiêu của sự phát triển) Ngoài khái niệm về phát triển, kinh tế học còn cókhái niệm về phát triển bền vững Năm 1987, Báo cáo Brundtland của Uỷ banMôi trường và Phát triển Thế giới (WCED, nay là Uỷ ban Brundtland) đã đưa rakhái niệm: “phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhucầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của cácthế hệ tương lai” Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, Hội nghị về Môi trường
Trang 34và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này: Phát triển bềnvững là quá trình phát triển kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hoà giữa ba mặt của
sự phát triển, bao gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
Từ cách hiểu về phát triển theo nghĩa bao quát như trên, luận án xin rút ra khái
niệm phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại như sau: Phát triển mạng lưới
các cơ sở bán lẻ hiện đại là quá trình tăng tiến về mọi mặt của các cơ sở bán lẻ hiện đại; là sự kết hợp chặt chẽ giữa quá trình tăng trưởng về số lượng, quy mô, đa dạng hoá về loại hình với quá trình hoàn thiện đặc điểm của từng loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm, tiêu dùng đa dạng của các đối tượng tiêu dùng và đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển chung của xã hội.[34]
1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại
Với cách hiểu toàn diện về sự phát triển, việc đánh giá sự phát triển củamạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại dựa trên các tiêu chí cơ bản sau đây
* Xét ở tầm vĩ mô
- Mức độ tăng trưởng, quy mô, mật độ cơ sở và cơ cấu loại hình của các cơ
sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn:
+ Mức độ tăng trưởng của các cơ sở bán lẻ hiện đại qua các giai đoạn được
thể hiện ở các chỉ tiêu tăng trưởng về: số lượng cơ sở, diện tích kinh doanh củacác cơ sở bán lẻ hiện đại; và thị phần, doanh thu qua các thời kỳ của các cơ sởbán lẻ hiện đại
+ Quy mô chuỗi cửa hàng của từng loại hình bán lẻ hiện đại được thể hiện
ở số lượng cửa hàng trong chuỗi: Số lượng cửa hàng càng nhiều thì quy môchuỗi cửa hàng càng lớn Đi đôi với quy mô là mức độ tập trung của chuỗi cửahàng: Số lượng cửa hàng càng nhiều mà số lượng doanh nghiệp đầu mối càng ítthì mức độ tập trung của chuỗi cửa hàng ở thị trường càng cao và ngược lại
Trang 35+ Phân bố và mật độ cơ sở bán lẻ hiện đại: Phân bố cơ sở được tính theo số
lượng cơ sở bán lẻ ở từng địa phương (tỉnh, thành phố, huyện, ) và địa bàn(thành thị, nông thôn,…) Mật độ cơ sở được tính theo số lượng cơ sở bán lẻ trên1.000 dân hay 100.000 dân; hoặc được tính theo số lượng cơ sở bán lẻ trên 1
km2 hay 10 km2
+ Cơ cấu loại hình của các cơ sở bán lẻ hiện đại: Là tỷ trọng về số lượng
cơ sở (hoặc thị phần) của từng loại hình cửa hàng (như siêu thị tổng hợp, siêu thịchuyên doanh, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng giá rẻ, trungtâm mua sắm,…) trên tổng số cơ sở bán lẻ hiện đại tại một địa bàn Tại một thịtrường bán lẻ nhất định, càng nhiều loại hình cơ sở bán lẻ khác nhau xuất hiện thì mức độ đa dạng về loại hình càng cao và ngược lại
- Việc thực hiện mục tiêu phát triển và những tác động của các cơ sở bán lẻhiện đại:
+ Mức độ thoả mãn nhu cầu và làm thay đổi thói quen mua sắm, tiêu dùng của các đối tượng khách hàng trên thị trường mục tiêu: Thể hiện ở các chỉ tiêu
về doanh số, thị phần, sự đa dạng hoá về loại hình,… của mạng lưới các cơ sởbán lẻ hiện đại
+ Mức độ bảo đảm hiệu quả kinh doanh của cơ sở bán lẻ hiện đại: Thể
hiện thông qua các số liệu thống kê về tỉ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu
+ Mức độ đóng góp vào việc thúc đẩy sản xuất phát triển: Thể hiện qua
việc tạo nguồn hàng với yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm cao
+ Mức độ đóng góp vào việc giải quyết việc làm: Thể hiện ở số lượng nhân
viên mà các cơ sở bán lẻ hiện đại đã thuê làm
* Xét ở tầm vi mô
- Tính văn minh, hiện đại của các cơ sở bán lẻ hiện đại: Đây là yếu tố quantrọng quyết định khả năng cạnh tranh của các cơ sở bán lẻ hiện đại trên thịtrường bán lẻ Tính văn minh hiện đại của các cơ sở bán lẻ hiện đại thể hiện ở
Trang 36các tiêu chí xác định loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại Tính văn minh hiện đạicủa các cơ sở bán lẻ bán lẻ hiện đại phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của chủ đầu
tư, kinh doanh bán lẻ hiện đại: Tiềm lực tài chính có dồi dào thì chủ đầu tư mới
có khả năng đầu tư cho việc phát triển các cơ sở bán lẻ hiện đại và việc nghiêncứu triển khai áp dụng các loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại mới Không chỉ cótiềm lực tài chính, tính văn minh hiện đại của loại hình tổ chức bán lẻ hiện đạicòn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới hiện đại vàoquá trình xây dựng và kinh doanh tại các cơ sở bán lẻ hiện đại Ngoài ra tính vănminh hiện đại của các cơ sở bán lẻ hiện đại còn phụ thuộc vào trình độ của lựclượng lao động của các cơ sở đó
- Khả năng cạnh tranh của cơ sở bán lẻ hiện đại: Khả năng cạnh tranh của
cơ sở bán lẻ hiện đại được hiểu là khả năng tồn tại, duy trì và gia tăng thị phần,lợi nhuận của cơ sở bán lẻ hiện đại đó trên thị trường bán lẻ
- Khả năng tiếp cận các cơ sở bán lẻ hiện đại: Khả năng tiếp cận của kháchhàng đối với các cơ sở bán lẻ hiện đại phụ thuộc vào mật độ cơ sở bán lẻ hiệnđại và chính sách giá cả Cụ thể là, mật độ cơ sở bán lẻ hiện đại càng dày thìmức độ gần gũi với các đối tượng tiêu dùng càng cao; chính sách giá cả linhhoạt và hợp lí sẽ thu hút được nhiều khách hàng tiềm năng
- Mức độ hoàn thiện về đặc điểm loại hình của các cơ sở bán lẻ hiện đại:Các cơ sở bán lẻ hiện đại càng hoàn thiện về đặc điểm loại hình thì càng pháttriển, đồng thời các đối tượng tiêu dùng càng có nhiều cơ hội tiếp cận một cáchthuận lợi và bình đẳng hơn
Trên đây là một số tiêu chí dùng để đánh giá sự phát triển của mạng lướicác cơ sở bán lẻ hiện đại được xét trên góc độ vĩ mô và vi mô Tuy nhiên nếu xét
ở một góc độ khác, ta cũng có thể đánh giá sự phát triển của mạng lưới các cơ sởbán lẻ hiện đại theo hai phương diện: Sự phát triển trên bề mặt và sự phát triểntheo chiều sâu Sự phát triển trên bề mặt của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại
Trang 37được thể hiện ở những con số thống kê định lượng về số lượng cơ sở bán lẻ,diện tích cơ sở bán lẻ, số lượng chuỗi cửa hàng, quy mô chuỗi cửa hàng, doanhthu qua các thời kỳ,… Còn sự phát triển theo chiều sâu được thể hiện chủ yếu ở
sự hoàn thiện đặc điểm loại hình của bản thân các cơ sở bán lẻ hiện đại Ngoài
ra, sự phát triển theo chiều sâu của mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại còn đượcthể hiện ở mức độ tập trung, cơ cấu loại hình của các chuỗi cửa hàng; khả năngcạnh tranh, khả năng tiếp cận cũng như mức độ áp dụng khoa học công nghệhiện đại vào hoạt động kinh doanh,… Để đạt được mục đích phát triển, mạnglưới các cơ sở bán lẻ hiện đại phải hướng tới cả sự phát triển trên bề mặt và sựphát triển theo chiều sâu; trong đó sự phát triển theo chiều sâu có ý nghĩa vôcùng quan trọng bởi chính nó làm cho quá trình hình thành và phát triển mạnglưới các cơ sở bán lẻ hiện đại trở nên bền vững
1.2 Điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hàng hóa hiện đại trên địa bàn thị trường một tỉnh
Điều kiện phát triển mạng lưới các cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn mộttỉnh được hiểu là tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội cần phải có để các
cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn địa lý của tỉnh đó tăng tiến về mọi mặt
1.2.1 Điều kiện về chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phát triển của các
cơ sở kinh doanh bán lẻ trên một địa bàn nhất định Các phương thức hoạt độngcủa thị trường bán lẻ như: Phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt độngtheo cơ chế thị trường Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản phápluật sẽ quyết định phương thức hoạt động cũng như phát triển của của thị trườngbán lẻ nói chung và các cơ sở kinh doanh bán lẻ nói riêng
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường cạnhtranh giữa các chủ thể tham gia vào thị trường bán lẻ Tại các nước phát triển thìcác chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng và tạo ra môi trường
Trang 38kinh doanh công bằng hơn cho các chủ thể hoạt động bán lẻ Ngoài ra, các chínhsách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can thiệp của mình vào các hoạt độngkinh doanh thương mại nói chung và hoạt động bán lẻ hiện đại nói riêng
Tại Việt Nam, bên cạnh chính sách luật pháp tạo môi trường cạnh tranhbình đẳng, các chính sách nhằm thực hiện lộ trình mở cửa theo cam kết WTO;chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa,như hỗ trợ đầu tư, tín dụng cho doanh nghiệp tham gia hạ tầng thương mại,chương trình bình ổn giá, kết nối cung cầu… để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Namtạo chuỗi từ sản xuất đến lưu thông, phân phối cũng là những yếu tố phát triểncác cơ sở bán lẻ
Những chính sách của Nhà nước cũng tạo nên sự thay đổi về môi trườngkinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ, cũng như quyết định sự phát triển của các
cơ sở bán lẻ hiện đại của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng.Những thay đổi của môi trường kinh doanh trong nước do Việt Nam tiếp tụcthực hiện đổi mới quyết liệt hơn và tích cực, chủ động tham gia hội nhập kinh tếquốc tế sẽ đặt ra những yêu cầu mới, đồng thời tạo thêm nhiều động lực mớicho phát triển các cơ sở bán lẻ hiện đại
Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển dịch vụ phânphối bán lẻ, Nhà nước sẽ tác động đến hiệu quả đầu tư xây dựng và hoạt độngcủa các cơ sở phân phối bán lẻ hiện đại Chẳng hạn, Nhà nước tác động đến việc
ra quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư của các vào các cơ sở cung ứng dịch vụphân phối bán lẻ thông qua: Chính sách đất đai, quy hoạch phát triển kết cấu hạtầng thương mại (thể hiện cụ thể ở địa điểm được phép mở cơ sở bán lẻ); Cácquy định chính sách về tiêu chuẩn của loại hình, tiêu chuẩn thiết kế của từng loạihình kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại; Các quy định về xây dựng,thủ tục đầu tư, quy mô tối đa, tối thiểu của các hạng mục, loại hình đầu tư phát
Trang 39triển kinh doanh bán lẻ; Chính sách tín dụng, ưu đãi hoặc hỗ trợ của Nhà nướcđối với từng loại hình phân phối bán lẻ; Chính sách đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cho phát triển các cơ sở bán lẻ nói chung và bán lẻ hiện đại nói riêng….
1.2.2 Điều kiện về kinh tế
Bản chất của hoạt động bán lẻ là các hoạt động kinh tế nên sự phát triểndịch vụ phân phối bán lẻ phụ thuộc chính vào sự phát triển kinh tế chung và đếnlượt mình dịch vụ phân phối bán lẻ phát triển lại đóng góp chính cho sự pháttriển chung của nền kinh tế Kinh tế phát triển là điều kiện tiền đề để phát triểndịch vụ phân phối bởi kinh tế phát triển sẽ tạo ra cả cung mới và cầu mới chophát triển dịch vụ phân phối bán lẻ nói chung và dịch vụ phân phối bán lẻ hiệnđại nói riêng Yêu cầu và nhu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự thayđổi nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân đòi hỏi ngành bán lẻ của một địaphương phải có sự phát triển mới Sự phát triển mới này không chỉ là sự tăngtrưởng về mặt quy mô hay số lượng các nhà bán lẻ mà quan trọng hơn đó là sựphát triển về chất của các dịch vụ này Đó là các nhà bán lẻ chuyên nghiệp, hoạtđộng trên cơ sở phát triển mạng lưới liên kết chặt chẽ và không ngừng đổi mới,vận dụng các phương thức kinh doanh tiên tiến hiện đại, phù hợp với điều kiệnthực tiễn của địa phương
Sự phát triển kinh tế của một tỉnh được đánh giá qua tốc độ công nghiệphoá, đô thị hoá của tỉnh đó Các loại hình bán lẻ hiện đại gắn liền với quá trìnhcông nghiệp hóa và đô thị hóa của địa phương, là kết quả của lối sống văn minh
và tác phong công nghiệp ở khu vực đô thị Đi liền với sự phát triển của cácngành công nghiệp và dịch vụ là quá trình đô thị hoá Xu hướng đô thị hóa hiệnđang diễn ra mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống, thói quen tiêu dùngcủa một bộ phận lớn cư dân ở các thành phố, thị xã nói riêng và người tiêu dùngnói chung Xu hướng đô thị hóa vẫn không ngừng mở rộng là điều kiện quantrọng và tạo đà cho phát triển các cơ sở bán lẻ hiện đại tại địa bàn một tỉnh
Trang 40Kinh tế địa phương phát triển dẫn đến sự cải thiện về mức sống và thu nhậpcủa người tiêu dùng tại địa phương đó Mức sống và thu nhập của người tiêudùng được cải thiện sẽ dẫn đến sự bùng nổ của thị trường bán lẻ Thu nhập bìnhquân đầu người là một chỉ tiêu hết sức quan trọng để các nhà đầu tư quyết định
mở cửa hàng bán lẻ hiện đại hay không Việc nâng cao mức sống và thu nhậpđang là yếu tố kích thích phát triển hoạt động kinh doanh bán lẻ hiện đại ở ViệtNam nói chung và tại từng tỉnh nói riêng
Mức thu nhập và chi tiêu của các tầng lớp dân cư xác định khả năng muasắm, yêu cầu về chất lượng hàng hóa, tần suất hay nhịp độ mua sắm… củangười tiêu dùng nên ảnh hưởng đến số lượng khách hàng, doanh số bán, thờigian hoạt động của các cơ sở bán lẻ Xu hướng phát triển của tiêu dùng và điềukiện sống của dân cư tác động mạnh mẽ đến cơ cấu, chất lượng và cả mức giáhàng hóa bán ra của các cơ sở bán lẻ
Bên cạnh tiêu chí thu nhập bình quân đầu người thì tốc độ tăng trưởng bán lẻhàng năm cũng là một chỉ tiêu quan trọng tác động tới sự phát triển của các cơ sởbán lẻ hiện đại Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng sẽ là điều kiện đểcác cơ sở kinh doanh bán lẻ quyết định đầu tư xây dựng cơ sở bán lẻ hiện đại
Sản xuất tạo cơ sở nguồn hàng cung cấp cho các cơ sở phân phối bán lẻ
Cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất là cơ sở quyết định cơ cấu nguồn hàng và cơcấu sản phẩm cung ứng qua các cơ sở phân phối bán lẻ Trình độ phát triển củasản xuất ảnh hưởng đến sự phát triển của các loại hình phân phối qua việc bảođảm nguồn hàng phù hợp với yêu cầu của từng loại hình phân phối về mặt sốlượng, chất lượng, cơ cấu chủng loại hàng và giá cả hợp lý
1.2.3 Điều kiện về xã hội
Hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định hành vi mua hàng của ngườitiêu dùng là nhân khẩu học và lối sống Nhân khẩu học là việc nghiên cứu dân
số theo các chỉ tiêu thống kê chi tiết về tuổi tác, giáo dục, giới tính, việc làm, thu