1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng điện tử địa lý 9 bài cộng đồng các dân tộc việt nam (6)

27 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 4,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh một số dân ca nhất là dân ca giao duyên được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc.. Trang phục:

Trang 3

Tên chÝnh phñ: Dao

Tên gọi khác:Mán, Đông, Trại, Dìu Miền,

Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu

Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v

Nhóm ngôn ngữ: Các ngôn ngữ Miêu-Dao,

Tai-Kadai, Trung, Việt

Trang 4

Cư trú: Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu v.v

Trang 5

Trang phục

Trước đõy đàn ụng để túc dài, bỳi sau gỏy hoặc để chỏm túc dài trờn đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn, người Dao nam mặc quần và ỏo đơnưgiản Cỏc nhúm Dao thường cú cỏch đội khăn khỏc nhau ỏo cú hai loại, ỏo dài và ỏo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc ỏo dài yếm, vỏy hoặc quần Y phục theo rất sặc sỡ Họ khụng theo theo mẫu vẽ sẵn trờn vải mà hoàn toàn dựa vào trớ nhớ, thờu ở mặt trỏi của vải để hỡnh mẫu nổi lờn mặt phải Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cõy

thụng, hỡnh chim, người, động vật, lỏ cõy Cỏch in hoa văn trờn vải bằng sỏp ong ở

người Dao rất độc đỏo Muốn hỡnh gỡ người ta dựng bỳt vẽ hay nhỳng khuụn in vào sỏp ong núng chẩy rồi in lờn vải Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lờn hoa văn mầu xanh lơ

do phủ lớp sỏp ong khụng bị thấm chàm.

Trang 6

Văn hóa: Sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68%

là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng,

phong tục tập quán Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ

nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng Bên cạnh

một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện

văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung

Quốc Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ

lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như:

"Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca"

Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%) Một

số truyện tuy có chủ đề khác nhưng trước khi đề cập

đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của

người Dao.

Trang 7

Phong tục tín ngưỡng

Họ có phong tục thờ tổ tiên là Bàn Hồ Có thể xác định dòng họ và thứ bậc của người Dao qua tên đệm Ma chay của người Dao được làm theo tục lệ xa xưa Vài vùng có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên Tục ở rể có thời hạn và vĩnh viễn…

Trang 8

Nhà cửa

Người Dao sống trong các nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất hay nhà trệt

Trang 9

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh

Y chuyên làm ruộng nước Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá Phần lớn các

nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai Họ chăn nuôi trâu,

bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao Họ ưa dùng vải nhuộm chàm

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma

Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật

Trang 12

Cư trú: Hiện họ cư trú tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Tuỳ từng nơi,

người Pà Thẻn quen ở nhà sàn, nhà nền đất hay nửa sàn nửa nền đất Hiện nay nhiều nơi đồng bào đã dựng nhà cột kê khang trang, vững chãi

Trang 13

Trang phục: Có đặc điểm tộc người đậm nét khác phong cách

các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ hay khu vực Cái độc đáo của trang phục Pà thẻn là ở trang phục nữ, được biểu hiện ở lối tạo dáng áo dài, cách dùng màu và lối mặc, tạo nên một phong cách riêng

Trang phục nam: Nam thường mặc áo quần màu chàm Đó là

loại áo cánh ngắn xẻ ngực, quần lá tọa, giống phong cách trang phục các dân tộc Tày,

Trang phục nữ: Phụ nữ Pà Thẻn đội khăn màu chàm quấn thành

nhiều vòng trên đầu Đó là lối đội khăn chữ nhất quấn thành mái xòe rộng như mũ, hoặc lối đội khăn hình chữ nhân giản đơn hơn cũng tạo thành mái nhô ra hai bên mang tai Áo có hai loại cơ bản

là áo ngắn và áo dài Áo ngắn xẻ ngực, cổ thấp, màu chàm, cổ làm liền với hai vạt trước Áo này thường mặc với váy rộng nhiều

nếp gấp, màu chàm Áo dài là loại xẻ ngực, có thể gọi là áo lửng,

cổ thấp liền hai vạt trước, khi mặc vạt phải đè chéo lên vạt trái, phía dưới của vạt phải nhọn xuống tạo thành vạt chính của thân trước Ống tay và toàn bộ thân áo được trang trí với lối dùng màu nóng sặc sỡ Áo này mặc với váy hở dệt thêu hoa văn đa dạng

(hình thập ngoặc, hình quả trám ) Giữa eo thân áo được thắt dây lưng là loại được dệt thêu hoa văn Phụ nữ ưa mang nhiều đồ trang sức, vòng cổ, vòng tay, Màu sắc chủ yếu trên phụ nữ là đỏ, đen, trắng Hoa văn chủ yếu được tạo ra bằng dệt

Trang 14

Văn hóa: Sinh hoạt văn hóa dân gian của dân tộc Pà Thẻn

khá phong phú, thể hiện qua kho tàng truyện cổ tích, các làn

điệu dân ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn

bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc )

Văn hóa: Sinh hoạt văn hóa dân gian của dân tộc Pà Thẻn khá phong

phú, thể hiện qua kho tàng truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc ).

Trang 15

Phong tục nhảy lửa của người Pà Thẻn

Trang 16

Đặc điểm kinh tế: Người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy Lúa, ngô là

cây lương thực chính

Hoạt động sản xuất: Trước kia người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nương rẫy

Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ, khoai môn Công cụ sản xuất là rìu, cuốc, dao Do sản xuất phụ

thuộc vào thiên nhiên, nhất là những lúc mất mùa, giáp hạt, người Pà Thẻn vẫn phải lên rừng đào củ mài, củ nâu Vì thế hái lượm còn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh

tế Nghề dệt của họ có từ lâu đời, sản phẩm dệt được nhiều dân tộc xung quanh ưa

thích Ðàn ông thường đan lát, làm mộc Người Pà Thẻn chăn nuôi các loại gia súc và gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà Ngoài phục vụ nhu cầu sức kéo, chăn nuôi còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và lễ nghi tôn giáo.

Trang 18

Tªn chÝnh phñ: Hm«ng

Tên gọi khác: Mông Đơ (Mông Trắng),

Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ),

Mông Đú (Mông Đen) …

Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy du canh, trồng ngô,

trồng lúa ở một vài nơi có nương ruộng bậc thang.

Tổ chức cộng đồng

Đồng bào Mông cho rằng những người cùng dòng họ là anh em cùng tổ tiên, có

thể đẻ và chết trong nhà nhau, phải luôn luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cưu mang nhau trong nguy nan Mỗi dòng họ cư trú quây quần thành một cụm, có một trưởng họ đảm nhiệm công việc chung.

Trang 19

Cư trú

Cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An

Trang 20

Trang phục

Quần áo của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt Đậm đà tính cách tộc

người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng

Trang phục nam Hmông độc đáo khác nhiều tộc người trong khu vực; trang phục nữ khó lẫn lộn với các tộc khác bởi phong cách tạo dáng và trang trí công phu, kết hợp kỹ thuật nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghéo, dệt hoa văn với kiểu váy rộng và đẹp

Trang 21

+ Trang phục nam

Nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng

Áo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Loại bốn thân xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông Loại bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn ngang trên ống tay Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực Đầu thường chít khăn, có

nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi

mang vòng bạc cổ, có khi không mang

Trang 22

+ Trang phục nữ

Người HMông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục nữ

các nhóm cũng có sự khác biệt Tuy nhiên nhìn chung có

thể thấy phụ nữ Hmông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực

không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy

Ống tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn

ngang từ nách đến cửa tay, đường viền cổ và nẹp hai thân

trước được trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và

hoa văn trên nền chàm) Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo

xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa

ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng và trang

trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc Váy phụ nữ Hmông

là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn

nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm Hmông (Hóa, Xanh, Trắng, Đen ) Đó

là các loại váy trắng, váy đen, váy in hoa, vẽ sáp ong kết hợp thêu Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở đoạn giữa Khi mặc váy thường

mang theo tạp dề Tạp dề mang trước bụng phủ xuống chân là 'giao thoa' giữa miếng vải hình tam giác và chữ nhật; phần trang trí hoa văn là miếng vải hình tam giác cân phía trên, miếng hình chữ nhật là màu chàm đen, kích thước tùy từng bộ phận người Hmông Phụ nữ thường để tóc dài quấn quanh đầu, có một số nhóm đội khăn quấn

thành khối cao trên đầu Đồ trang sức bao gồm khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn

Trang 23

Văn hóa

Tết cổ truyền của người Mông tổ chức vào tháng 12 dương lịch Trong 3 ngày tết, họ không ăn rau xanh Nam nữ thanh niên vui xuân thường thổi khèn gọi bạn

Nhạc cụ của người Mông có nhiều loại khèn và đàn môi Sau một ngày lao động mệt mỏi, thanh niên dùng khèn, đàn môi gọi bạn tình, ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, của quê hương, đất nước

Trang 24

Phong tục người H'Mông cướp vợ

Trang 25

Tháng giêng, khi những rừng mơ nở trắng, báo hiệu mùa cưới lung linh sắc màu thổ cẩm rộn lên khắp các bản làng Tây Bắc và Ðông Bắc cũng rộn lên Người Mông có tục kéo con gái về làm vợ ( Cuớp vợ ) Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ họ sẽ đi kéo cô gái về nhà Để kéo được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa tuổi để họ đi kéo giúp Chàng trai và bạn bè của anh có thể tìm cô gái ở chợ,

ở đêm chơi trăng hay lúc đi làm nương Khi đã kéo được cô gái về nhà, chàng trai lại phải mời rượu bạn để cảm ơn Chàng trai sẽ phải nhờ chị gái của mình (hoặc em gái) để trông không cho

cô gái trốn khỏi nhà mình Chị gái của chàng trai sẽ có mặt bên cô gái được kéo về suốt cả ba ngày đêm

Phong tục chính là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội của con người, được mọi người công nhận và làm theo Có những phong tục mang tính cổ hủ, song có phong tục tô đẹp bản sắc văn hóa người dân Việt Nam

Tục cướp vợ được coi là chế độ lược hôn Tục này rất phổ biến ở các vùng Tây - Ðông Bắc ở vùng Tây Bắc giáp biên giới nước Lào, tục cướp vợ có sắc thái biểu cảm thật trữ tình Vào một đêm trăng thanh, chàng trai miền núi vác chiếc thang tựa cửa nhà người yêu, rồi thổi một điệu kèn môi tình tứ bằng chiếc lá Âm điệu du dương khiến lòng cô gái thổn thức, xốn xang Nàng bắt đầu hé cửa sổ thì chàng lập tức ghé thang lên, trèo vào và cõng nàng chạy vào rừng Họ ở bên nhau 3 ngày, rồi trở về nhà bố mẹ vợ, xin phép cưới.

Ở vùng tiếp giáp biên giới Trung Quốc, tục cướp vợ mang tính mạnh mẽ, quyết liệt hơn Chàng trai đi chợ, bắt gặp một cô gái xinh đẹp Chàng liền quay về, rủ một số bạn trai thân tình, mượn những con ngựa thật khoẻ Họ hùng dũng ra chợ, chàng đi sát bên cô gái, bất ngờ bế thốc cô gái lên ngựa rồi phi nước kiệu Nếu chàng và nàng đã có tình ý từ trước thì chàng đặt tay trái về phía

cô, cô đặt tay trái lên rồi đạp chân trái của mình lên mô bàn chân cứng cáp của chàng, theo đà lên ngựa Họ sống với nhau từ 2 đến 7 ngày Sau đó, chàng đưa nàng về nhà vợ hỏi cưới.

Trang 26

Nhà cửa

Nhà có những đặc trưng riêng Nhà thường

ba gian không có chái

Bộ khung bằng gỗ, vì kéo kết cầu đơn giản, chủ

yếu là ba cột có một xà ngang kép hoặc hai xà

ngang, một trên một dưới

Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt sinh hoạt: khá

thống nhất giữa mọi nhà Nhà ba gian: gian

chính giữa giáp vách hậu bao giờ cũng là nơi

đặt bàn thờ tổ tiên Gian này còn là nơi dành

cho ăn uống hằng ngày Một gian đầu hồi dành

cho sinh hoạt của các thành viên nam và khách nam Ơở đây thường có bếp phụ Còn gian đầu hồi bên kia dành cho sinh hoạt của nữ, đồng thời cũng là nơi đặt bếp chính Bếp của người Mèo thuộc loại bếp kín - bếp lò - một sản phẩm của phương Bắc

Chuồng gia súc đặt trước mặt nhà

Riêng nhà người Mèo ở Thuận Châu và Mộc Châu, Sơn La lại có đặc trưng riêng Vẫn

là nhà đất nhưng làm theo hình thức nóc của người Thái Đen Nóc hình mai rùa nhưng không có khau cút Bộ khung nhà, có người cũng làm theo kiểu Thái Duy có cách bố trí trong nhà còn giữ lại hình thức cổ truyền của người Mèo

Trang 27

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là

làm nương định canh hoặc nương du canh

trồng ngô, lúa, lúa mạch Nông dân có truyền

thống trồng xen canh trên nương cùng với cây

trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc,

vừng, đậu Chiếc cày của người Hmông rất

nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả

Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây

ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là

những hoạt động sản xuất đặc sắc của người

Hmông

Người Hmông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Hmông

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương

ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục

vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân Các thợ thủ công Hmông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép

Chợ ở vùng Hmông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt

Ngày đăng: 31/12/2015, 07:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm