1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện các hệ thống quản lý , công cụ quản lý và quy hoạch môi trường

61 646 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện các hệ thống quản lý , công cụ quản lý và quy hoạch môi trường
Tác giả Ngô Ngọc Chính
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản lý môi trường
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức về tầm quan trọng của môi trường, hiểu rõ các vấn đề môi trường của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang phát triển theo chiều hướng nào

Trang 1

CHƯƠNG I – MỞ ĐẦU

1.1GIỚI THIỆU

Trong quá trình sinh sống và phát triển của mình, loài người đã tác động nhiều đến thiên nhiên, làm thay đổi chúng và cũng là làm thay đổi khung cảnh sống của chính mình

Do không nhận biết được các quy luật tự nhiên hoặc do chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt,

trong quá trình phát triển xã hội, loài người đã làm cho môi trường sống suy thoái, tài

nguyên cạn kiệt

Ngày nay môi trường trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia và của cộng đồng quốc tế Các vấn đề ô nhiễm không khí, nguồn nước, suy thoái đất đai, tàn phá rừng, sa mạc hoá, sự suy giảm tính đa dạng sinh học, nguy cơ diệt chủng nhiều loại sinh vật quý hiếm, mất cân bằng sinh thái Đang trở thành phổ biến và trầm trọng trên phạm

vi toàn cầu Đặc biệt là sự suy giảm tầng ozon Sự nóng dần lên của khí quyển và do đó nguy cơ nâng cao mực nước biển đang đe doạ sự sinh tồn và phát triển của loài người

Đấu tranh để bảo vệ môi trường, giữ gìn ngôi nhà chung - trái đất chúng ta đang sống là nghĩa vụ của mọi người, vì sự phát triển chung của cả nhân loại Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ mà gây tổn hại môi trường thì đó chính là hành động ngăn chặn quy trình phát triển của chính mình, nếu không nói là sự tự phá huỷ mình

Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học thấm thía Nhiều vùng rộng lớn trước kia đã từng có nền văn minh chói lọi nay trở thành xa mạc Một trong những nguyên nhânchủ yếu là do sự phát triển không đi đôi với bảo vệ môi trường, không tuân thủ các quy luật tự nhiên

Ô nhiễm môi trường gây ra do con người trong hoạt động nông-lâm nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, do chiến tranh và do những chất thải sinh hoạt ở các khu dân cư tập trung

Trang 2

Ở các nước công nghiệp, đất không chỉ mất lớp phủ thực vật do phá rừng mà còn là

“nghĩa địa” chôn cất bã phóng xạ, chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt

Trên đất nông nghiệp, do thâm canh và đốt rừng lấy đất trồng trọt nên đất bị thoái hóa và

ô nhiễm hóa học do dùng phân bón và thuốc hóa học bảo vệ thực vật Nguồn nước sạch,

kể cả nước ngầm cũng bị thu hẹp bởi không những do tốc độ khai thác ngày càng cao mà còn do nước bị ô nhiễm, chẳng hạn hàm lượng nitrat (là một trong những chất độc) trong nước ngầm tăng lên gấp 3 lần so với 20-30 năm trước đây.Biển và đại dương hàng năm nhận trung bình 1,6 triệu tấn dầu do tàu thuyền thải xuống và do tai nạn của các tàu chở dầu Đại dương còn là bãi chôn cất các chất thải phóng xạ Không khí bị ô nhiễm, khí hậu

bị xáo trộn, do khai thác rừng bừa bãi nên diện tích rừng hàng năm bị thu hẹp dần (mà

rừng là bộ máy điều hòa và duy trì tỷ lệ CO2/O2 trong không khí), nền công nông nghiệp hàng năm thải vào khí quyển khoảng 1-2 tỉ tấn CO2 và cứ tăng dần theo tốc độ công

nghiệp hóa, lượng oxit lưu huỳnh, CH4, CFC, Chính vì những lẽ đó Thế giới ngày càng phát triển càng gây nên những tác động xấu đến môi trường, làm cho môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, rộng lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn của hành tinh chúng ta Vì vậy, vấn đề môi trường và phát triển bền vững đã trở thành vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta hiện nay Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.Bảo vệ môi

trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâusắc

Mục tiêu của công tác quản lý bảo vệ môi trường là “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường,

phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa

dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị

và nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế-xãhội bền vững tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”

Trang 3

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nhận thức về tầm quan trọng của môi trường, hiểu rõ các vấn đề môi trường của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đang phát triển theo chiều hướng nào

Hoàn thiện các hệ thống quản lý , công cụ quản lý và quy hoạch môi trường thích hợp hơn

Trang bị một cách nhìn tổng thể vững, quy hoạch môi trường và quản lý môi trường,

Tìm hiểu sự cần thiết việc tham gia của các nhà hoạt động và công chúng trong quy hoạchmôi trường và quản lý môi trường và nhận thức về kế hoạch hoá phát triển và quy hoạch môi trường,

Thiết lập một mối liên kết giữa phát triển bền sâu sắc vai trò tương ứng của họ trong quá trình tham gia của cộng đồng

Đưa ra hướng giải quyết mới , tốt hơn cho vấn đề môi trường Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng

và cả nước

Các vấn đề môi trường phát sinh từ sinh hoạt , sản xuất của các khu công nghiệp trong tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Quy hoạch môi trường của tỉnh

Tình trạng quản lý Môi Trường của tỉnh

Hiện trạng việc sử dụng các loại tài nguyên

Mục tiêu trước mắt là phải ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự

cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra; khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phụchồi các hệ

sinh thái đã bị suy thoái; quản lý, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ đa dạng sinh học; từng bước nâng cao chất lượng môi trường

Trang 4

Ô nhiễm, suy thoái môi trường là một trong những vấn đề mà loài người đang phải đối mặt song song với các vấn đề đói nghèo, đại dịch AIDS vì vậy, bảo vệ môi trường cũng đồng nghĩa với bảo vệ môi trường sống, bảo đảm mọi người dân được sống trong môi

trường trong lành, sạch đẹp, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của

nhân dân, đồng thời là nội dung quan trọng của phát triền bền vững

Nếu công tác phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường được thực hiện khoa học, nghiêm túc và hiệu quả thì sẽ tiết kiệm được nguồn lực lớn cho công tác khắc phục, phục hồi môi trường sau này

Phương pháp tham khảo tài liệu về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

Phương pháp đánh giá nhanh hiện trạng môi trường

Phương pháp khảo sát trực tiếp

Phương pháp thống kê số liệu

Phương pháp điều tra, phỏng, nhân viên có liên vấn các công nhân quan

Tìm hiểu về cơ sở lý luận của quản lý môi trường

Thu thập các dữ liệu và khảo sát các khu công nghiệp tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Thu thập các dữ liệu và khảo sát về ĐDSH trên địa bàn tỉnh

Tìm hiểu các văn bản pháp quy có liên quan đến việc quản lý môi trường

Tìm hiểu về cơ cấu nhân sự , bộ phận chuyên trách , có liên quan đến quản lý

Đánh giá thực trạng quản lý môi trường tại KCN và STNMT Tỉnh

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải tiến cho công tác quản lý môi trường

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN

Trang 5

2.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

2.1.1 Lịch sử hình thành

Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây:Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam Chữ tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn ( tứcTam Thuyền )

Đây là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy bảo vệ bà con đường thuỷ vào Gia Địnhchống lại bọn cướp biển Vào năm 1822 vua Minh mạng ban thưởng phẩm hàm và cấpđất cho họ khai khẩn lập làng làm ăn sinh sống Đội thuyền thứ nhất do ông Phạm ĐăngDinh chỉ huy lập nên làng Thắng Nhất, đội thuyền thứ hai do ông Lê Văn Lộc chỉ huy lậpnên làng Thắng Nhì, đội thuyền thứ ba do ông Ngô văn Huyền chỉ huy lập nên làngThắng Tam

Để nhớ ơn ông Phạm Văn Dinh là người đã lập ra khu đất này, người ta đã lấy tên ông đặtcho con sông duy nhất ở Vũng Tàu: sông Dinh và tên một dãy núi: núi Dinh ( Ngoài racòn có một giải thích khác về tên của dãy núi Dinh: núi Dinh là núi Kho, thế kỷ XVIII cáctướng lĩnh của chúa Nguyễn ánh xây dựng doanh trại trên núi này và Dinh còn có nghĩa làdoanh trại Dãy núi Dinh gồm các ngọn núi Dinh, ông Trịnh, Thị Vải Sách Đại NamNhất Thống Chí ( thời Tự Đức 1829 - 1883 ) viết: "Vùng đất này xưa thuộc Phước namThắng cách Phước Thọ 31 dặm về phía Tây - Nam, là một mũi đất càng nhô ra biển cànglớn

Phía Bắc mũi đất ôm giếng Ngọc, phía nam nối tiếp tới ghềnh Rái và che chở cho biểnCần Giờ một vịnh lớn được hình thành bởi các dòng sông, chảy ra biển, là chố yên ổn chotàu thuyền trú ngụ " Hẳn do địa hình như vậy nên Vũng Tàu còn có một cái tên khác làThuyền áo ( áo của Thuyền ) Trong bản đồ dinh Trấn Biên của các chúa Nguyễn ( Thế kỷXVII ) của cuốn Biên Hoà Lược sử toàn biên, Vũng Tàu ngày nay đã được ghi là Thuyền

áo

Trang 6

Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là : Cinco Chagas VeirdareirasNăm vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có năm ngọn núi,người đi biển dễ nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với

họ Các bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha đều ghi Vũng Tàu là Cinco ChagasVeirdareiras Nhưng khi cuốn hải trình nổi tiếng "Biển Phương Đông" (La NeptuneOriental) của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì nó lại có tên là Cap Saint Jacques, cóngười giải thích đó là do cách đọc của các thuỷ thủ Châu Âu nên Cinco Chagas trở thànhSilkei Chagas và cuối cùng là Saint Jacques

(Theo nhà văn Nguyễn Tuân, Saint Jacques là tên một loài sò quen thuộc với người Pháp

- Coquille Saint Jacques có mặt tại vùng biển này) Trong thời Pháp thuộc Vũng Tàu cómột cái tên khác là Ô Cấp hoặc Cấp Ô Cấp là phiên âm của tiếng Pháp au Cap trong câuAller au Cap (đi ra mũi đất) Ô Cấp lúc đầu dùng để chỉ cả vùng đất Vũng Tàu Khi nóiđến Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu khônggiống như Ô Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũiđất chạy nhô ra biển

Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất vùng biển Ở đây khác nhau chỉ

là cách đặt tên thao mũi đất chỗ lồi hướng ra biển, người phương Đông đặt tên theo vũngchỗ lõm (hướng vào đất liền), thể hiện một tâm lý nào đó về cách nhìn ra thế giới bênngoài

Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá từ thế kỷ XVII, lúc đầu Bà Rịa thuộcdinh Trấn Biên, tỉnh Gia Định Năm 1808 vua Gia Long đổi Trấn Biên thành Biên Hoà.Tên Bà Rịa có hai cách giải thích: Theo các cuốn "Gia Định thành thống chí", "Đại Namnhất thống chí" và một số bộ sử khác thì Bà Rịa vốn là đất của tiểu vương Bà Lỵ (bị ChânLạp thôn tính) Năm 1622 theo thoả ước của chúa Nguyễn Phúc Nguyên với vua ChânLạp Chey Chetta II, những nhóm cư dân Việt đầu tiên được phép khai phá xứ Mô Xoài xứ

bà Lỵ Tên Bà Lỵ được người Việt phát âm chệch thành Bà Rịa Một cách giải thích khác:Vào khoảng năm 1789 có một người đàn bà tục gọi là Bà Rịa người Bình Định đưa dân

Trang 7

nghèo vào khai hoang ở Tam Phước (tên gọi ngày nay) Nhờ uy tín và tài năng tổ chức, bàđộng viên được nọi người ra sức khẩn hoang, xây dựng cuộc sống trên vùng đất mới Vềgià, Bà Rịa đem hết tài sản của mình làm việc công ích, lập quỹ cứu tế để trợ giúp ngườinghèo, rước thầy về dạy học cho trẻ Bà chết năm 1803 được dân lập đền thờ như một vịphúc thần Tên của bà đã trở thành tên của tỉnh.

2.1.2 Vị trí địa lý

Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phíaĐông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, mặt còn lại giápbiển Đông với hơn 200 km bờ biển trong đó có 40 km là bãi tắm

Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và 4huyện trên đất liền : Châu Đức Tân Thành, Xuyên Mộc và Long Đất nằm ở kinh độ107'05" Đông, vĩ độ 10'50" Bắc Huyện Côn Đảo nằm ở kinh độ 106'35" Đông, vĩ độ8'42" Bắc có 66 km bờ biển Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2

Trang 8

Dân cư có tổng số là 719.000 người, trong đó dân ở thành phố, thị trấn là 271.549 người.

 Dân tộc: Chủ yếu là người Việt, ngoài ra có các dân tộc khác như Hoa, Châu Ro, Mường, Tày

Trang 9

 Lực lượng lao động: Chiếm 51,56% số dân.

2.1.4 Khí hậu - Thời tiết

Khí hậu nhiệt đới ôn hoà do chịu ảnh hưởng cảu biển Hàng năm có hai mùa: khô (từtháng 11 đến tháng 4), mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), nhiệt độ trung bình từ 25 đến

27 độ C, ít gió bão lớn, lượng mưa trung bình 1300mm - 1750mm Độ ẩm bình quân cảnăm là 80%

Nếu như ở Hà Nội thời tiết còn rất lạnh, mọi người còn phải mặc áo ấm thì ở Vũng Tàukhí hậu vẫn nóng bức, biển Vũng Tàu được gọi là biển nóng, tắm được quanh năm

Bán đảo Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các tỉnh phía nam bởi ba mặtgiáp biển Đông, quanh năm lộng gió, nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, lượng mưatrung bình 1.500mm/năm

Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngượcnhau, trừ những ngày chuyển tiếp Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đếntháng 10), gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4)

Gió thổi mạnh, tốc độ khoảng 35km/giờ Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyểnmùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bãokhông đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho thuyền bè

Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống Biên

Trang 10

2.1.5 Tài nguyên du lịch

Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong

những tỉnh có cửa ngõ giao lưu giữa

Việt Nam và thế giới, có hệ thống

đường biển, đường sông và đường

hàng không rất thuận tiện

Bên cạnh những tiềm năng to lớn về

dầu khí Bà Rịa - Vũng Tàu đang

từng bước khẳng định thế mạnh du

lịch của mình, nhờ lợi thế về tiềm

năng thiên nhiên và nhân văn phong phú Bà Rịa Vũng Tàu là một quần thể thiên nhiênhài hoà, sơn thuỷ hữu tình, có những dãy Núi Lớn - Núi Nhỏ - Minh Đạm, Núi Dinh chechắn, xa xa biển Đông có Côn Đảo bao bọc, ở gần có Long Sơn quy tụ

Ngoài những bãi tắm tuyệt đẹp với bờ cát mịn thoai thoải, nói đến Bà Rịa - Vũng Tàukhông thể không nhắc đến hai khu rừng nguyên sinh nổi tiếng: rừng cấm Bình Châu -Phước Bửu và rừng quốc gia Côn Đảo với những loài động thực vật quý hiếm, môi trường

đa dạng tập hợp nhiều kiểu rừng của các vùng sinh thái

Đến với khu du lịch suối khoáng nóng Bình Châu, du khách thực sự được thư giãn để tậnhưởng bầu không khí ấm áp, làn sương khói la đà len lỏi giữa rừng cây xanh rải rác nhưgiữa chốn thần tiên, đây đó là những khu nhà nghỉ dưỡng, trị bệnh bằng nguồn nướckhoáng nóng bổ ích

Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là miền đất có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời với nhữngkhu di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử, toàn tỉnh hiện có 29 khu di tíchđược xếp hạng cấp quốc gia

Với những lợi thế và tiềm năng to lớn nói trên, thời gian qua du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu

đã có những bước phát triển mạnh mẽ, hàng loạt dự án đầu tư nước ngoài vào các lĩnhvực khách sạn, khu vui chơi giải trí, các tuyến, điểm du lịch với tổng số vốn đầu tư lên

Hình 2.3 Du lịch tỉnh BRVT

Trang 11

đến hàng trăm triệu đôla đang hoạt động hết sức nhộn nhịp Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 65khách sạn với trên 2300 phòng trong đó có 1100 phòng được công nhận đạt tiêu chuẩnquốc tế.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu (1995 - 2010) với 5 trungtâm kinh tế - du lịch, trong tương lai không xa, Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ phát triển mạnh mẽ,tương xứng với vị thế và tiềm năng của một trung tâm du lịch quan trọng của cả nước

Thành phố Vũng Tàu

Thành phố Vũng Tàu cách thành phố Hồ Chí Minh 125km và cách thành phố Biên Hoà

90 km Vũng Tàu giống như một hòn đảo bởi nó được bao bọc ba mặt là biển và sông ánngữ mặt thứ tư

Bờ biển

Thành phố có bờ biển trải dài 20km, hầu hết là ghềnh đá nhấp nhô từ chân Núi Lớn vàNúi Nhỏ chạy ra biển.Từ rặng Bồng Đào đến mũi Nghinh Phong, bờ biển được tạo bởinhững vách đá dựng đứng có một cửa sông và bờ vịnh kín gió thuận lợi cho tàu bè thảneo

Đất và đồi cát

Ngoài hai ngọn núi đá Núi Lớn và Núi Nhỏ, phần đất còn lại vủa Vũng Tàu được cấu tạobởi những lớp đất cát Loại đất này thích hợp với các loại cây: xoài, mãng cầu, nhãn đượctrồng nhiều trong thành phố

Thành phố Vũng Tàu có dãy đồi cát nằm song song với bãi biển chạy từ chân Núi Nhỏđến Cửa Lấp dài khoảng 10km, cao từ 4m đến 12m Nhờ dãy đồi cát này mà các luồnggió mạnh từ biển thổi vào theo hướng Đông Nam không làm thiệt hại hao màu, cây cối.Núi non

Thành phố Vũng Tàu có hai trái núi nằm ở phía Tây Nam thành phố:

Trang 12

Núi Lớn (còn gọi là tương kỳ) diện tích khoảng 400ha gồm các đỉnh Núi Lớn (245m),Vũng Mây (220m), Hòn Sụp (215m).

Núi Nhỏ (còn gọi là Tao Phùng) cao 138m, diện tích khoảng 180ha Ao hồ

Sau dãy đồi cát chạy song song với bãi biển là một hồ sen trải dài từ chân Núi Nhỏ đếnkhu Thắng Nhất, sau hồ sen là cánh rừng chạy đến rạch Cây Khế hết địa phận thành phốVũng Tàu

Hồ sen rộng 400ha là một thắng cảnh và là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào Người tađánh bắt cá cua, lươn, ếch và thu hoạch hột sen, ngó sen trong hồ để chế biến các đặcsản cho du khách

Sông rạch

Thành phố Vũng Tàu chỉ có một con sông lớn nhất là sông Dinh Sông bắt nguồn từ núiDinh, chảy qua Phước Lễ, xuôi theo hướng Tây Bắc Vũng Tàu dài 11 km, chỗ rộng nhất1000m chỗ hẹp nhất 300m, hơi sâu nhất 25m

Phía Đông Bắc thành phố có rạch Cây Khế dài 6 km Rạch Bà dài 7,9km nằm chắnngang, làm ranh giới giữa khu Thắng Nhất và Thắng Nhì

Tại khu Thắng Nhì, phía sau cù lao Bến Đình có rạch Bến Đình dài 5,5km, phía ĐôngPhước Thắng nơi Cửa Lấp có 3 rạch dẫn nước biển vào thành phố là rạch Ông Nam, rạchSuối Nước và rạch Sông Cái Sông rạch ở Vũng Tàu cũng là những cảnh quan đẹp

Đường sá

Đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước đến mũi Nghinh Phong rađường Thuỳ Vân (Bãi Sau) dài 6km ôm sát chân núi, chạy lên dốc cao, có đoạn chạy sátbiển, có chặng luồn giữa những khu vực cây cối xanh tươi Đi dạo theo con đường này, dukhách được hít thở không khí trong lành, hưởng gió biển, ngắm cảnh biển bao la và nhữngcảnh sắc luôn thay đổi dọc theo bên đường

Đường vòng Núi Lớn (đường Trần Phú) chạy quanh sườn Núi Lớn, từ Bến Đình - Thích

Ca - Phật Đài - Bãi Dâu đến Bãi Trước dài 10km, cách mặt biển 40 - 50m một bên là núi,

Trang 13

phía dưới là biển, hùng vĩ hơn đường vòng Núi Nhỏ, có nhiều thắng cảnh dọc đường nhưtượng Đức Mẹ, núi Ghềnh Rái, Bến Đá Điện Bà

Các mũi đá nơi có nhiều gió mà du khách thích đến là mũi Nghinh Phong, ở đây gió thổiquanh năm Ngoài ra còn có mũi Đá trước toà Bạch Dinh, mũi đá Cao Trang ở đầu đườngvòng Núi Lớn, cũng là những nơi buổi chiều du khách thường đến dạo chơi

Trên đường vòng quanh Núi Nhỏ sau khi qua khỏi bãi Vọng Nguyệt, nếu để ý du khách

sẽ thấy một hòn đảo nhỏ như một tría núi nhô lên mặt nước Khi nước ròng hạ thấp người

ta có thể đi bộ ra đây, qua một bãi đá lởm chởm làm cầu, đó là hòn Bà

2.1.6 Thông Tin Về Các Khu Công Nghiệp

Theo Quyết định số 742/QĐTTg ngày 06/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ phê quyệtquy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thời kỳ 2001-2010, tỉnh BR-VT

sẽ phát triển 09 KCN với tổng diện tích 4.460 ha

Đến nay toàn tỉnh đã phát triển được 9 KCN với tổng diện tích trên 3.591 ha, trong đó 2khu mới thành lập trong năm 2006 là Mỹ Xuân B1-Tiến Hùng, Mỹ Xuân B1 - Đại Dươngđang trong giai đoạn bồi thường-GPMB, đầu tư các hạng mục hạ tầng để thu hút dự án; 7khu còn lại gồm Phú Mỹ I, Đông Xuyên, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Cái Mép, Phú Mỹ II,

Mỹ Xuân B1 đã thu hút 130 dự án với tổng vốn đầu tư trên 6,7 tỷ USD (trong đó có 62

DA FDI, vốn đầu tư 4,28 tỷ USD) và có 6 khu (trừ KCN Mỹ Xuân B1) đã lấp đầy diệntích đất cho thuê từ 80% trở lên Số dự án hoạt động sản xuất – kinh doanh đến nay là 86

dự án, hàng năm đã đóng góp cho ngân sách nhà nước khoảng 2.500 tỷ đồng, giải quyếtviệc làm cho 19.000 lao động trực tiếp với thu nhập bình quân 1 triệu đồng/tháng Giá trịsản xuất công nghiệp tại các KCN chiếm tỷ trọng 38% so với giá trị sản xuất công nghiệptoàn tỉnh tính cả dầu khí, nếu trừ dầu khí chiếm tỷ trọng 86% Hoạt động từ các KCN đã

có tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng nhanh tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất của toàn tỉnh

Trang 14

Hình2.4 Ảnh quy hoạch tổng thể các kcn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Diện tích đất KCN : 301 ha; diện tích đất cho thuê : 301 ha; diện tích đã cho thuê

1,47 ha; diện tích còn cho thuê : 43,40 ha; tỷ lệ lấp đầy : 80,70%

KCN Mỹ Xuân A2

Trang 15

- Diện tích: 422,22 ha trong đó diện tích đất cho thuê 292,31 ha Diện tích đã cho

thuê: 129,3 ha, Diện tích còn cho thuê: 163 ha, Tỷ lệ lấp đầy: 44,23%

KCN Mỹ Xuân B1 - Tiến Hùng

Diện tích: 200 ha Diện tích đất cho thuê: 140 ha Diện tích đã cho thuê: 0 ha Diện tích còn cho thuê: 140 ha

KCN Mỹ Xuân B1 - Đại Dương

Diện tích: 145,7 ha Diện tích đất cho thuê: 95 ha Diện tích đã cho thuê: 0 ha Diện tích còn cho thuê: 95 ha

Trang 16

Theo nhận định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởngnặng nề từ biến đổi khí hậu (BĐKH), trong đó, BR-VT là một trong những tỉnh chịu tácđộng mạnh nhất

Trên cơ sở phân tích số liệu mưa và nước bốc hơi hơn 30 năm qua cũng như sự xuất hiệncảnh quan bán khô hạn ở một số vùng trong tỉnh, các nhà khoa học cho rằng: BR-VT đãchớm chuyển sang trạng thái bán khô hạn, nằm trong ngưỡng thiếu nước nghiêm trọng.Nếu tính theo chuẩn cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất 2.500 m3/người/năm

là bền vững thì khả năng cung cấp của nguồn tài nguyên nước BR-VT hiện nay chỉ đạt35,7% Xu thế bán khô hạn sẽ tiếp tục gia tăng do BĐKH Hiện tượng nhiễm mặn và ônhiễm nước ngầm cũng đã xảy ra Cụ thể, mỏ nước ngầm Bà Rịa hiện đã nằm sát biênmặn (1mg/lit), có nhiều khả năng bị nhiễm mặn là rất lớn…

Hiện tượng xói lở bờ biển và nước biển dâng cao là một mối đe dọa nguy hiểm cho

BR-VT Theo tính toán về khả năng dâng cao của mực nước biển Việt Nam, đến năm 2050nước biển sẽ dâng cao thêm 33cm Nếu vậy, một phần dải đất thấp ven bờ phía Đông củatỉnh - nơi tập trung cơ sở hạ tầng du lịch, nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, nơi ở củahàng vạn hộ gia đình sẽ bị sóng phá hủy Tình hình còn có thể nguy hiểm hơn nếu mựcnước biển dâng cao thêm 1m theo dự báo của các nhà khoa học Anh Lúc này, vùng đấtthấp dọc sông Thị Vải (nơi tập trung các khu công nghiệp) sẽ bị đe dọa Theo đánh giácủa Sở Khoa học và Công nghệ, hiện tượng xói lở bờ biển ở Vũng Tàu hiện đã diễn ra,bình quân hàng năm đường bờ khu vực Cửa Lấp (phường 12, thành phố Vũng Tàu) bị xói

lở từ 4-5m, có nơi lên đến 10m Theo thống kê của UBND phường 12, tại khu vực TrạiNhái nằm ở miệng sông Cửa Lấp từ năm 2002 đến nay biển đã tiến vào đất liền gần100m

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn tỉnh là do phần lớn các đô thị nhất là cáckhách sạn, nhà hàng chưa xây dựng đầy đủ hệ thống thoát nước bẩn, nước thải chỉ được

xử lý qua hệ thống tự hoại hoặc bán tự hoại, có nơi còn xả thẳng xuống sông, suối, ao-hồ,ngoại trừ một số phường trên địa bàn thi xã Bà Rịa được đấu nối đưa về xử lý tại nhà

Trang 17

máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung của tinh Các KCN, CCN của tỉnh Bà Rịa VũngTàu chỉ mới có chủ trương và đang tìm nhà đầu tư để xây dựng hệ thống xử lý nước thảitập trung Các cơ sở SXCN nằm ngoài các khu quy hoạch công nghiệp đã từng bước đầu

tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhưng nước thải sau xử lý vẫn chưa đảm bảo quyđịnh về xả thải hoặc có xây dựng nhưng còn vận hành mang tính chất đối phó

Nước thải ở các bệnh viện, trung tâm y tế huyện cũng chỉ xử lý sơ bộ đảm bảo yêu cầutheo quy định Nước mặt còn bị ô nhiễm bởi tình trạng xói mòn và rửa trôi gây Mất cânbằng sinh thái trong phát triển nông nghiệp thể hiện rõ nét ở tình trạng dịch bệnh phátsinh trên diện rộng do ONMT nước ở các mô hình nuôi thâm canh các tra, các dịch bệnhcho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, dịch bệnh lúa,… môi trường nước trên các sôngthuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Krôngnô và các hồ (Xuân Hương,Chiến Thắng, Tuyền Lâm, Đankia,…) trong tỉnh đã có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ và visinh, và đang có nguy cơ gia tăng gây

ra những biến đổi trong cân bằng sinh

thái Ở các vực nước mặt có sự lưu

thông nước thấp, sự mất cân bằng

sinh thái thể hiện rõ hơn do hiện

tượng phú dưỡng Đây là vấn đề các

nhà môi trường sinh thái cần đặc biệt

quan tâm và có cái nhìn lâu dài vì nó

có thể gây ra những hậu quả nghiêm

trọng trong tương lai

Hình 2.5 Nguồn nước bị ô nhiễm do rác sinh hoạt

Trang 18

2.2.2 Hiện trạng môi trường không khí

TP Vũng Tàu từ năm 1960 đến nay nhiệt độ

đã tăng 20C Những thay đổi về nhiệt độ đang

tiềm ẩn nhiều hệ lụy như nước biển dâng, xói

lở bờ biển, thiếu nước ngọt

Tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, mạnh đã gây

ra hàng loạt các vấn đề và môi trường không

khí nói riêng Theo thống kê của Sở Tài

nguyên Môi trường và Nhà đất Tinh Bà Rịa

Vũng Tàu, mỗi năm tỉnh phải tiếp nhận

khoảng 5.000 tấn bụi, khói; 5.000 tấn khí SO2; 25.000 tấn khí CO2 từ các cơ sở côngnghiệp thải ra Ngoài ra, các phương tiện giao thông ô tô, xe máy cũng được xác định như

là một nguồn phát thải lớn Những kết quả nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chất lượngkhông khí ở khu vực chưa bị ô nhiễm bởi CO, SO2, NO2 và bụi lơ lửng (TSP), ngoại trừtại các khu công nghiệp và các khu vực gần các tuyến đường giao thông liên tỉnh, đườngcao tốc Còn khu vực tại các khu công nghiệp, tuyến giao thông chính đều bị ô nhiễmnhưng ở các mức độ khác nhau Tại các tuyến giao thông, ô nhiễm bụi lơ lửng (TSP) làchủ yếu với nồng độ đo được cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 0.5 – 1.5 lần Những khuvực đang thi công các công trình xây dựng, giao thông, đô thị mới,… nồng độ TSP đođược thường cao hơn 3- 5 lần so với TCCP Nồng độ các khí SO2, NO2 trung bình hàngnăm tăng khoảng từ 10 – 20 %, nồng độ CO tại các trục giao thông chính cao hơn từ 1,5đến 3,6 lần so với TCCP

Các loại thực vật bị ảnh hưởng nhiều hơn so với động vật: Về bản chất,khả năng thíchnghi trong môi trường bị ô nhiễm hoặc BĐKH của thực vật kém hơn so với các loài độngvật Một điều tra đã cho thấy các loài thực vật trên cạn bị ảnh hưởng gấp 3 lần do ô nhiễmkhông khí so với động vật Ngược lại, trong HST nước ngọt, mức độ ảnh hưởng của thực

Hình 2.6 khói từ nhà máy đóng gạch

Trang 19

vật lại ít hơn nhiều so với động vật Một nghiên cứu ở Thuỵ Điển cho thấy: khi độ pH củanước giảm 1 đơn vị, sự đa dạng của động vật giảm 40%, trong khi tỷ lệ này ở thực

vật là 25%.Ô nhiễm không khí tác động đến các nhóm động thực vật khác nhau Sự tácđộng của ô nhiễm không khí đối với các loài động vật chủ yếu là tác động gián tiếp, thôngqua việc mất các nguồn thức ăn hoặc làm thay đổi cơ chế sinh sản Trong số các HST bịảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí đô thị, HST nước ngọt bị ảnh hưởng nhiều nhất

Cho đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng ô nhiễm không khí đô thị là một nhân tố làm suygiảm sự ĐDSH Sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí liên quan chủ yếu đến việc suy giảm, làmyếu đi các loài mà không phải là gây ra tuyệt chủng Tuy nhiên, với xu hướng tiếp tục ô nhiễmnhư hiện nay thì một số loài động thực vật bị mất đi là điều không tránh khỏi

2.2.3 Hiện trạng môi trường đất

Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây

ô nhiễm Nếu phân theo nguồn gốc phát sinh ta có:

- Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt

- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp

- Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp

Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có thể cùngmột nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt Do đó, người ta còn phân loại

ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm:

- Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trongđất), thuốc trừ sâu (chlo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ ), chất thải côngnghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit )

- Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải củasinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137)

Theo số liệu điều tra, hiện nay vấn đề ONMT đất trên địa bàn tỉnh BRVT chủ yếu là dotình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật

Trang 20

một cách tràn lan, không có sự kiểm soát của ngành chức năng đã gây môi trường đất,nước ngày càng ô nhiễm nặng hơn Bên cạnh đó, các hoạt động khai thác khoáng sảncũng gây ra những tác động bất lợi đến môi trường đất Ngoài ra, nguồn chất thải sinhhoạt, chất thải chăn nuôi và SXCN chưa được xây dựng hệ thống xử lý hoàn chỉnh cũngđang góp phần gây suy thoái môi trường đất.

Hệ thống quan trắc chưa hoàn chỉnh cùng với việc còn khó khăn về cơ sở vật chất cũngnhư kinh phí cho quan trắc môi trường còn hạn chế nên hiện tại tỉnh chưa thực hiện quantrắc các chỉ tiêu ONMT đất nên không đánh giá được tình hình ONMT đất trên địa bàntỉnh Năm 2009 là năm đầu tiên tiến hành quan trắc chất lượng đất Các thông số quan trắcmôi trường đất chủ yếu là: thành phần cơ giới, tỷ trọng, pH, , EC, P2O5, K2O, Tổng nitơ,Tổng hữu cơ, P2O5 tổng số, K2O5 tổng số, K+ trao đổi, Na+ trao đổi, Asen

Môi trường đất ô nhiễm thì các loại sinh vật trong đất sẽ ảnh hưởng có loài sẽ chết nhưgiun đất, kéo theo sự sinh trưởng kém của thực vật, suy giảm độ thoáng khí của đất rễ câylàm ảnh hưởng tới quá trình quang hợp dẫn đến ảnh hưởng tới môi trường sống của chúng

ta Cây có vai trò rất lớn đến việc giữ môi trường trong sạch, nếu môi trường đất bị ảnhhưởng dẫn đến nhiều ảnh hưởng khác không tốt

2.2.4 Đa dạng sinh học

Nếu được điều tra đầy đủ, chắc chắn số lượng các loài động và thực vật được ghi nhận ởBRVT sẽ rất phong phú Tính ĐDSH về các loài thực vật, động vật không chỉ thể hiện ởchỗ nhiều loài, mà còn có nhiều loài có giá trị bảo vệ đặc biệt không những ở trong nước

mà có giá trị toàn cầu

Côn đảo là một vùng đảo tương đối xa bờ, hoạt động của con người chưa làm biến đổi lớntính tự nhiên của các hệ sinh thái biển Rạn san hô ở đây còn giữ được những đặc tính đặctrưng cho vùng biển Các nghiên cứu cho thấy san hô có độ phủ trung bình là 42,6%.Trong số rạn san hô nghiên cứu, có đến 74,2% san hô đạt độ phủ cao, chỉ có 2,8% thuộcloại phủ thấp Mật độ cá rạn san hô ở những điểm nghiên cứu đạt trung bình 400 con/m2.Đây là giá trị rất cao so với các vùng biển ven bờ khác ở Việt Nam

Trang 21

Có thể coi Côn Đảo như một cầu nối cho sự phát tán sinh vật từ trung tâm đa dạng củavùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình dương đến vùng biển ven bờ Việt Nam.

Chế độ dòng chảy Biển Đông với sự thay đổi hai mùa gió chính đã tạo điều kiện thuận lợicho sự phát triển ấu trùng sinh vật biển từ Côn Đảo đi về phía Bắc và phía Nam Ngượclại, vùng biển này dễ dàng thu nhận nguồn phát tán từ các nơi khác Do vậy, thành phầnloài sinh vật biển ghi nhận ở đây tương đối đa dạng Cho đến nay, đã phát hiện 285 loàisan hô cứng, 202 loài cá, 153 loài thân mềm, 130 loài giun nhiều tơ, 110 loài giáp xác, 46loài da gai TS Võ Sĩ Tuấn, phó viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang cho biết:Côn Đảo được xếp vào vùng có độ đa dạng cao về giống loài của san hô tạo rạn Thànhphần thân mềm cũng được coi là đa dạng nhất khi so sánh với các quần đảo lớn khác ởViệt Nam

Về đa dạng sinh thái, vùng nước nông Côn Đảo có cả rạn san hô, thảm cỏ biển và rừngngập mặn Trong đó, rạn san hô quần cư là khá phổ biến, có thể tìm thấy ở hầu hết vùngven đảo Loại rạn riềm điển hình chiếm đến 59%, chứng tỏ rạn san hô này có điều kiệnphát triển trong một thời gian dài Cỏ biển tuy không phân bố rộng nhưng tập trung trêndiện tích tích lớn, khoảng trên 200ha Đa dạng sinh thái tạo điều kiện cho sự phát triểncủa các loài sinh vật quý hiếm Nghiên cứu về môi trường biển cho thấy chưa có sự ônhiễm biển ở đây

Hiện nay, Côn Đảo là vùng có nhiều rùa biển nhất ở Việt Nam, với hai loài thường gặp làđồi mồi và tráng đông Có 17 bãi cát được ghi nhận là bãi đẻ của rùa, trong đó có đến bốnbãi được ghi nhận là có

1.000 rùa mẹ lên đẻ hàng năm Côn Đảo cũng là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại mộtquần thể bò biển (Dugong dugong) có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển

Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa nguồn lợi ven biển và các hệ sinhthái nước nông Côn Đảo Dù sao, cùng với sự tồn tại của rạn san hô, thảm cỏ biển, rừngngập mặn và mối quan hệ sinh thái giữa chúng là môi trường thuận lợi cho sự sinh sản,ươm giống của nhiều nguồn lợi Các nghiên cứu của Viện Hải dương học về trứng cá, cá

Trang 22

bột ở VQG Côn Đảo cho thấy số lượng trứng cao hơn rất nhiều lần so với các vùng biểnkhác của Việt Nam

BRVT là tỉnh được đánh giá là có tính ĐDSH rất cao, chứa đựng một nguồn gen phongphú Đây là nguồn tài nguyên quan trọng đảm bảo sự phát triển nông nghiệp, đảm bảo anninh lương thực, đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước Sự đa dạng gentrong các quần thể các loài động, thực vật là cần thiết giúp duy trì quần thể các loài nguycấp, quý, hiếm, làm tăng khả năng phục hồi của các quần thể này trước những biến cố nhưdịch bệnh từ các quần thể cây trồng vật nuôi, sự xâm lấn của các loài ngoại lai, sựBĐKH nhiều loài đang bị đe doạ tuyệt chủng, suy giảm quần thể Trong một số trường hợp, đadạng gen của quần thể các loài trọng tâm cũng đang bị suy thoái do mất nơi sống và chia cắtmanh mún sinh cảnh, giảm hành lang ĐDSH, làm cô lập các quần thể này Các mối đedoạ đối với tính ĐDSH của tỉnh cũng đa dạng và có tác động với nhau

Hình 2.7 Rùa côn Đảo

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

2.3.1 Tình trạng khai thác gỗ

Trang 23

Những gốc cây sến, dầu, sao, vênh vênh, vôi đất, gõ… có đường kính từ 30-40cm củarừng nguyên sinh thuộc địa bàn xã Phước Thuận, Xuyên Mộc bị tàn phá nặng nề Lâm tặccông khai đưa máy cưa hạ cây và vận chuyển đi ra khỏi rừng ngay giữa ban ngày.

sau đó dân lấn chiếm rừng làm rẫy hoặc trồng cây công nghiệp…rừng bị mất dần:

Khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ trái phép: là một mối đe doạ nghiêm trọng do hoạt độngnày phần lớn tập trung vào một số loài cho sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế caotheo yêu cầu của người tiêu dùng và thường là khai thác quá mức, đe doạ một số loàitrước nguy cơ tuyệt chủng, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng và sản lượng rừng,không còn là sinh cảnh thích hợp của nhiều loài động vật hoang dã

Việc khai thác lâm sản có kiểm soát, xử lý thực bì, cây gỗ trên các khu vực rừng có chấtlượng thấp để trồng rừng kinh tế, trồng cây cao su… mặc dù đảm bảo tuân thủ các quytrình kỹ thuật nhưng cũng có một số ảnh hưởng như việc mở đường phục vụ vận chuyển

gỗ tạo điều kiện xâm nhập thuận lợi hơn cho các đối tượng khai thác gỗ, lâm sản, săn bắnđộng vật rừng trái phép, lấn chiếm đất rừng; diện tích đất rừng sau khi xử lý thực bì vàlàm đất trồng rừng cũng như các tuyến

đường đất thường bị rửa trôi xói mòn đất

vào mùa mưa làm tăng lượng phù sa bồi

lắng ở các hệ thống sông suối và hồ đập; sự

vận

hành của các phương tiện cơ giới gây tiếng

động, làm cho các loài động vật hoang dã

2.3.2 Săn bắt, buôn bán trái phép động vật rừng

Việc săn bắt động vật hoang dã trái phép vì mục đích thương mại như chế biến thức ănđặc sản, dược liệu, nuôi làm cảnh, cũng như săn bắt do nhu cầu của người dân sống gầnrừng, việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản mang tính huỷ diệt tại các thuỷ vực như sử dụng

Trang 24

thuốc nổ, dùng lưới có mắt lưới quá nhỏ… đã làm cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủngcủa nhiều loài Ở một số vùng, săn bắt quá mức làm cho quần thể sinh sản của các loài

động vật hoang dã thu nhỏ lại và phân tán rảirác, dễ bị tổn thương do bệnh tật hay tác động

từ các loài ngoại lai xâm lấn Các cơ hội phụchồi HST tự nhiên cũng sẽ làm giảm đi, đặcbiệt đối với các loài bị săn bắn có chức nănggiúp phát tán hạt giống hay thụ phấn

Hình 2.8 thu giữ động vât bị giết

2.3.3 Tình hình đánh bắt thủy sản

Theo tính toán của ngư dân, đánh bắt vùng ven bờ tuy không đem lại hiệu quả kinh tế caonhưng tiêu hao ít nhiên liệu, mỗi chuyến biển ít nhiều gì cũng có lời, chứ không bị lỗ.Thực tế đó đã đưa nghề cá đi ngược lại định hướng phát triển chung Ông Nguyễn VănNgọc, ngư dân phường 12 (TP Vũng Tàu) cho biết: Tại khu vực Cửa Lấp thuộc cácphường 11 và 12 (TP Vũng Tàu) cho tới các tuyến sông Dinh, sông Thị Vải trungbình mỗi ngày có khoảng 30-40 chiếc tàu đánh bắt, tàu nào đi lâu nhất cũng chỉ có 3-5ngày là về, số tàu nhỏ đánh bắt theo buổi cũng tăng lên gấp 2-3 lần “Cá thì ít tàu thìnhiều, tranh nhau đánh riết rồi cá tôm cũng cạn kiệt”

Hiện nay nguồn lợi thủy sản tại các vùng biển ven bờ đang giảm mạnh về sản lượng vàtrọng lượng Tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới chiếm tới 70% Một số loài hải sản có giá trịcao mà trước đây ngư dân đánh bắt với số lượng lớn như: cá trích, tôm hùm, bào ngư, sòđiệp và mực thì nay đã trở nên khan hiếm Theo Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợiThủy sản, một số loài đặc sản như: tôm he, cá song và các loài nhuyễn thể trai ngọc, tuhài… trước đây có ở vùng biển ven bờ, nhưng giờ đang có nguy cơ tuyệt chủng Việc giatăng tốc độ khai thác như hiện nay, nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, nơi cư trú, nơi cung cấpnguồn dinh dưỡng, bãi đẻ cho các loài thủy sản đang bị phá hủy và đe dọa Ông NguyễnVăn Nhàn, Chi cục trưởng Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho biết: Công

Trang 25

tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản còn gặp nhiều khó khăn, do nhiều ngư dân chưaquan tâm tới lợi ích cộng đồng, sử dụng phương tiện hủy diệt nguồn lợi cao Trong khi

đó, số lao động này thường là người nghèo, không có điều kiện đầu tư lớn để đánh bắt xa

bờ, cũng không có trình độ chuyên môn để có thể chuyển đổi sang nghề mới Do đó, sốlao động tham gia khai thác ven bờ tăng hàng năm

2.3.4 Hiện trạng quản lý chất thải

2.3.4.1 Thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp

Việc thu gom và xử lý CTR theo phương thức chôn lấp hợp vệ sinh chỉ mới thực hiệnđược ở TP.Vũng Tàu (100% lượng rác thu gom) và một phần ở huyện Long Điền Tỷ lệthu gom CTRSH ở đô thị trên toàn tỉnh mới đạt 70% Hiện tại Công ty Công trình Đô thịvẫn là đơn vị thu gom rác chính trên địa bàn tỉnh và Công ty đã được đầu tư 01 lò đốt rác

có công suất 250 kg rác/giờ, lò đốt này chủ yếu phục vụ cho xử lý CTRYT và một số loạiCTRNH khác

2.3.4.2 Thu gom và xử lý chất thải rắn công nghiệp

Hầu hết các CTRCN phát sinh từ các cơ sở SXCN trên địa bản tỉnh đều được thu gom vàtập trung đưa về bãi rác để xử lý Do trình độ công nghệ còn thấp nên vấn đề tái chế và tái

sử dụng CTRCN chưa được các doanh nghiệp chú trọng, công tác phân loại rác tại nguồnchưa được quan tâm đúng mức Từ khi văn bản và thông tư về quản lý CTNH có hiệu lực,các doanh nghiệp trên địa bàn cũng có ý thức chấp hành về vấn đề này Hiện tại đã cấp

được 07 sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH, tuy nhiên vấn đề này đang gặp rất nhiều khókhăn vì lượng CTNH sản sinh từ các doanh nghiệp không nhiều, và trên địa bàn tỉnh cũngchưa có đơn vị nào có khả năng thu gom và xử lý

2.3.4.3 Thu gom và xử lý chất thải rắn y tế

CTRYT chưa được thu gom xử lý tập trung, tuy nhiên tại các cơ sở y tế việc phân loạiCTRYT tại nguồn bước đầu đã được thực hiện, nhưng phương thức xử lý chủ yếu bằngbiện pháp chôn lấp

Trang 26

2.3.4.4 Chất thải rắn trong sản xuất nông nghiệp

Chất thải rắn nông nghiệp sau thu hoạch – CTRSTH, hầu hết là loại phế thải có thể tậndụng do chứa các thành phần dinh dưỡng, các chất hữu cơ và vô cơ có ích, rất dễ bị thốirữa và phân huỷ gây ô nhiễm môi trường Hiện nay, khối lượng CTRSTH thải ra rất lớn,nhưng chỉ một phần nhỏ được tận thu, số còn lại hầu hết chưa được quan tâm đúng mức,thiếu vốn, thiếu công nghệ, kỹ thuật,…trong quá trình xử lý và tận thu

Xử lý CTR nói chung và CTRSTH nói riêng là nhu cầu bức xúc cho sự phát triển nềnnông nghiệp bền vững Thực trạng ô nhiễm môi trường do CTRSTH là vấn đề cần quantâm vì nó không những ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khoẻ con người

mà còn hạn chế sự phát triển của nền kinh tế, tăng giá thành sản xuất, giảm sức cạnh tranhnông sản chế biến

Để phát triển nền nông nghiệp bền vững có năng suất, chất lượng cao, cần có ngành côngnghiệp bảo quản chế biến mạnh với phương châm: năng suất, chất lượng cao, tận dụng tối

đa nguyên liệu, phụ liệu; sử dụng, xử lý có hiệu quả sau thu hoạch Việc nghiên cứu, đánhgiá tình hình CTRSTH như thực trạng sử dụng, tác động của chúng đến môi trường cầnđược tiến hành một cách toàn diện, trên qui mô lớn Có như vậy, việc hoạch định chínhsách và giải pháp vĩ mô về quản lý và xử lý CTRSTH nhằm giảm thiểu các tổn thất

về kinh tế và ô nhiễm môi trường mới chính xác và hiệu quả

2.4 CƠ CHẾ , CHÍNH SÁCH , LUẬT PHÁP VỀ QUẢN LÝ BẢO VỆ TNTN

2.4.1 Về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường

Qua thời gian 05 năm hoạt động kể từ năm 2005, Phòng Môi trường thuộc Sở Tài nguyên

và Môi trường (nay là Chi cục Bảo vệ Môi trường) là bộ phận trực tiếp thực hiện công tácquản lý môi trường Với biên chế là 04 cán bộ đã không đáp ứng được đòi hỏi ngày càngphức tạp của công tác QLMT nên việc hình thành bộ máy QLMT địa phương từ cấp tỉnhđến cấp huyện, cấp xã là đòi hỏi tất yếu Thực tế hiện nay:

Trang 27

- Cấp tỉnh, đã thành lập tổ chức Chi cục BVMT với 10 cán bộ chuyên trách công tácBVMT, chính thức đi vào hoạt động vào đầu năm 2010.

- Lực lượng cảnh sát môi trường của tỉnh được thành lập tháng 10/2008 đến nay đã có 18cán bộ, chiến sĩ

- Ở cấp huyện, riêng cán bộ làm công tác QLMT được định biên 1-2 biên chế thuộc trongPhòng TNMT

Ngoài ra, công tác BVMT địa phương còn có sự góp sức của Trung tâm quan trắc Tàinguyên và Môi trường, các Trung tâm trực thuộc Sở Khoa học Công nghệ

2.4.2 Về mặt tài chính

Năm 2006 kinh phí dành cho công tác QLMT là 180 triệu.Từ khi Luật BVMT 2005 cóhiệu lực, UBND Tỉnh phấn đấu dành 1% thu ngân sách địa phương bố trí cho kinh phí sựnghiệp môi trường toàn tỉnh cụ thể:

Năm 2007 là 22.400 triệu đồng, trong đó phân bổ cho cấp huyện là17.708 triệu đồng: tậptrung cho công tác thu gom vận chuyển chất thải sinh hoạt, tăng cường phương tiện thugom vận chuyển rác thải sinh hoạt; cấp tỉnh là 4.615 triệu đồng tập trung cho việc tăngcường cơ sở vật chất cho Trạm Quan trắc và Giám sát môi trường; hoạt động của Trungtâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và Trung tâm Thông tin Tài nguyên vàMôi trường

Năm 2008 là 27.232 triệu đồng, trong đó phân bổ cho cấp huyện là 21.708 triệu đồng tậptrung cho công tác thu gom vận chuyển chất thải sinh hoạt, tuyên truyền nâng cao nhậnthức môi trường, điều tra đánh giá về chất lượng nền môi trường khu vực Cấp tỉnh 220triệu đồng dành để xây dựng chương trình quan trắc thành phần môi trường đất, nướcmặt, nước ngầm, không khí xung quanh trên địa bàn, nguồn vốn đối ứng từ ngân sách củatỉnh là 1.743 triệu đồng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa

Trang 28

tỉnh Lâm Đồng (Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ là 4.200 triệu đồng) Kinh phí năm 2009khoảng 30.000 triệu đồng, trong đó phân bổ cho cấp tỉnh là 5.524 triệu đồng tập trung chocông tác thu gom vận chuyển chất thải sinh hoạt.

Hiện nay, mặc dù công tác bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm, nhiều văn bản pháp luậtđược ban hành đã có tác dụng ngăn chặn, răn đe các hành vi xâm hại tài nguyên, nhưngnhìn chung vẫn còn nhiều khiếm khuyết, nhất là thiếu các khung chính sách định hướngcho bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH; chưa có chính sách cụ thể để khuyến khích việcnuôi trồng các loài động vật, thực vật hoang dã; chưa quan tâm đến quản lý, bảo vệ cácloài động vật, thực vật hoang dã sống ở môi trường nước; công tác quy hoạch bảo tồnĐDSH chưa cụ thể Tuy đã có những nỗ lực về phát triển KT-XH trong những năm vừaqua nhưng BRVT vẫn là một trong những tỉnh có năng lực tài chính đầu tư cho bảo tồnĐDSH còn nhiều hạn chế; đội ngũ cán bộ và chuyên gia về ĐDSH còn mỏng và chưađược đào tạo chuyên sâu Bên cạnh đó, năng lực của cơ quan thực thi pháp luật, cơ quanquản lý, nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH còn nhiều hạn chế, bất cập

CHƯƠNG III - CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ , PHÁT

TRIỂN MÔI TRƯỜNG HƯỚNG TỚI BỀN VỮNG 3.1 GIẢI PHÁP ĐÔ THỊ BỀN VỮNG :

Phát triển đô thị kết hợp với điều kiện tài nguyên tự nhiên và môi trường của đô thị, coitrọng môi trường sinh thái, thể hiện tính chỉnh thể của đô thị Cần tăng cường tính thânthiện với môi trường, nói cách khác là để người dân đô thị bên cạnh việc phải sống trongmôi trường mang tính bê tông hóa (đặc trưng của các đô thị lớn), bắt buộc phải có thêmnhững yếu tố thiên nhiên, không gian cây xanh mặt nước, công viên,… để đảm bảo khônggian sống, sức khỏe cộng đồng và giảm stress

Khi phát triển đô thị, chú trọng kế thừa tính địa phương và tính văn hóa lịch sử

đặc thù của đô thị Cần phát triển hài hòa, kết hợp giữa các yếu tố hiện đại và truyền

thống Chú trọng tới việc giữ gìn những không gian truyền thống, các di sản, di tích,…

Trang 29

cho người dân đô thị hôm nay và mai sau.

Phát triển đô thị bền vững cần phải chú ý đến tầm nhìn tương lai, đặc biệt là

vấn đề kiến trúc quy hoạch Chúng ta có thể thấy điều này qua di sản quy hoạch và kiếntrúc của các KTS Pháp để lại tại Hà Nội, Huế hay TP.HCM… dù đã hàng trăm năm vẫnkhông thấy sự lạc hậu Trong khi đó, nhiều đường phố, đô thị do chúng ta thực hiện, dùmới đầu tư xây dựng đã thấy lạc hậu, nhếch nhác mà chắc chắn con cháu chúng ta sẽ phảikhắc phục, xử lý rất tốn kém

Phát triển đô thị bền vững cần tăng cường các diện tích công ích công cộng

Tăng cường các không gian cây xanh, công viên, phố đi bộ… là những nơi mọi cư dân đôthị đều có thể được thụ hưởng

Khi quy hoạch và xây dựng đô thị, cần nỗ lực khai thác không gian ngầm có hiệu quả,tiết kiệm, hợp lý và không khô cứng; phục vụ vào nhiều mục đích như xây dựng hạ tầng

kỹ thuật đô thị, giao thông, sinh hoạt công cộng, thương mại dịch vụ…

Khai thác ngầm sẽ giúp quá trình phát triển đô thị có không gian bền vững và hài hòa

hơn, nâng cao chất lượng sống và tiện ích của cư dân đô thị Nó góp phần tạo nên sự hợp

lý hơn của quy hoạch tổng thể mặt bằng xây dựng đô thị vì sẽ để dành được nhiều hơnkhông gian trên mặt đất cho công viên, cây xanh, bảo vệ môi trường, sinh thái đô thị

Và dưới góc nhìn của nhà đầu tư Bất động sản, chúng tôi muốn đề cập sâu hơn đến vai tròcủa đầu tư “xây dựng xanh” trong việc phát triển đô thị bền vững

Như chúng ta đã biết, xây dựng xanh là phương thức làm tăng hiệu quả sử dụng cácnguồn tài nguyên như năng lượng, nước và nguyên vật liệu cho các tòa nhà, đồng

thời giảm những tác động của tòa nhà đối với sức khỏe con người và môi trường thông

Trang 30

qua việc chọn lựa địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì và tháo dỡ tốt hơn Cáctòa nhà xanh được thiết kế nhằm giảm thiểu toàn bộ ảnh hưởng của môi trường được xâydựng đối với sức khỏe của con người và môi trường thiên nhiên bằng cách:

- Sử dụng hiệu quả năng lượng, nước và các nguồn tài nguyên khác

- Bảo vệ sức khỏe của người dân và nâng cao năng suất lao động của những người

làm việc trong công trình nhờ có cảnh quan, môi trường phù hợp

- Giảm thiểu rác thải, ô nhiễm và sự thoái hoá môi trường

Theo các chuyên gia nước ngoài, xây dựng xanh, tòa nhà xanh là những mục tiêu ưu tiêncủa ngành xây dựng nhiều nước trên thế giới, nhằm giảm tác động môi trường, tạo racông trình lành mạnh, giảm nhu cầu năng lượng, nước và chi phí vận hành, cải thiện tiệnnghi và sức khỏe cho con người

Trong bối cảnh phát triển nóng của các đô thị Việt Nam hiện nay, về mặt xây dựng đô thị

đã nảy sinh hàng loạt vấn đề bất cập, đó là hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị,nhất là hạ tầng giao thông, cấp thoát nước và xử lý nước thải, rác thải bị quá tải do khôngđược coi trọng, thiếu đồng bộ, cơ chế bất cập, không có các hoạt động đầu tư hạ tầng sớm

để đấu nối hoặc do nhà đầu tư vì tiết kiệm chi phí nên chỉ lo đầu tư vào các công trình bềnổi; do mật độ dân cư gia tăng; nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng đang đượckhai thác một cách triệt để nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng và hoạt động của đô thị.Đơn cử, theo một khảo sát thực tế về mức độ tiêu thụ điện năng của TS Michael Waibel(Đại học Hambug) tại Việt Nam cho thấy, hơn 75% năng lượng tiêu thụ trong các

tòa nhà được dùng cho điều hoà không khí và đun nước nóng, còn lại sử dụng cho chiếusáng và đun nấu Và nếu chúng ta xây dựng các công trình xanh sẽ tiết kiệm được trên

30% năng lượng, tiết kiệm được 30 – 50% lượng nước sử dụng, giảm được trên 35%

lượng các bon… Những điều này là vô cùng quan trọng trong sự phát triển của đô thị

Do vậy, để phát triển đô thị bền vững, xây dựng mô hình đô thị xanh, công trình

Ngày đăng: 27/04/2013, 08:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.6 khói từ nhà máy đóng gạch - Hoàn thiện các hệ thống quản lý , công cụ quản lý và quy hoạch môi trường
Hình 2.6 khói từ nhà máy đóng gạch (Trang 18)
Hình 2.7  Rùa côn Đảo - Hoàn thiện các hệ thống quản lý , công cụ quản lý và quy hoạch môi trường
Hình 2.7 Rùa côn Đảo (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w