Bảng: Tỷ lệ phần trăm % số nhân khẩu của hộSố nhân khẩu Số hộ Phần trăm % Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ Qua đó cho thấy, các nông hộ tại địa bàn nghiên cứu thì tổng số ngườ
Trang 1I SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong tất cả các ngành sản xuất thì ngành sản xuất nông nghiệp là có thu nhập thấp nhất, sự phát triển của trồng trọt tất yếu sẽ nâng cao mức sống của người dân Do
đó, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật là phương pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Có thể thấy rằng phân tích việc áp dụng khoa học kỹ thuật trở thành là một trong những vấn đề cần thiết hiện nay nên em đã chọn đề tài “Phân tích tác động của khoa học kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất lúa tại xã Hồ Đắc Kiện, huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng”
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mô tả thực trạng sản xuất của nông hộ liên quan các nguồn lực sẵn có
- Phân tích sự lựa chọn áp dụng khoa học kỹ thuật mới của nông hộ
- Nhận định và phân tích chính sách liên quan đến việc hỗ trợ ứng dụng KTM
- Đánh giá hiệu quả sản xuất của nông hộ đối với việc áp dụng KHKT mới
- Đề xuất các giải pháp phát huy các mặt tích cực và khắc phục những hạn chế trong quá trình triển khai và ứng dụng kỹ thuật đối với nông hộ sản xuất
III THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
HỘ TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Thực trạng sản xuất và hoạt động kinh doanh tại vùng nghiên cứu liên quan đến nguồn lực sẵn có của nông hộ chủ yếu tập trung vào bốn nguồn lực chủ yếu sau:
- Nguồn lực lao động
- Nguồn lực vốn đầu tư cho sản xuất lúa
- Nguồn lực đất đai canh tác
- Nguồn lực kỹ thuật sản xuất
1 Nguồn lực lao động
Để nghiên cứu về quá trình sản xuất của các nông hộ chúng ta tiến hành xem xét các vấn đề: số nhân khẩu, số lao động trực tiếp, trình độ văn hóa
1.1 Số nhân khẩu
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng số nhân khẩu của các nông hộ trung bình là
5 người Trong đó, số nhân khẩu cao nhất là 12 người (2,5%), thấp nhất là 1 người (2,5%) và đa số các hộ có khoảng 4 người (35%) đến 5 người (22,5%)
Trang 2Bảng: Tỷ lệ phần trăm (%) số nhân khẩu của hộ
Số nhân khẩu Số hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Qua đó cho thấy, các nông hộ tại địa bàn nghiên cứu thì tổng số người trong một gia đình là trung bình, không có đông con, đa số là từ 4 đến 6 người (72,5%) Điều đó cho thấy người dân tại đây đã từng bước áp dụng triệt để chính sách “kế hoạch hóa gia đình” do xã, huyện đề ra
1.2 Lao động trực tiếp tham gia sản xuất
Đặc điểm của ngành là không đòi hỏi số lao động có trình độ kỹ thuật cao, mà các thành viên trong gia đình có thể thay phiên nhau tham gia vào sản xuất
Bảng: Lao động gia đình tham gia sản xuất lúa
Lao động tham gia sản xuất Số hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp thì số lao động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất trung bình là 3 người Trong đó cao nhất là 9 người (2,5%), thấp nhất là 1 người (7,5%) và đa số có lao động trực tiếp là dưới 3 người (55%) Điều này cho thấy là trong sản xuất lúa không cần nhiều lao động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất (chỉ cần nhiều lao động ở giai đoạn chuẩn bị đất và thu hoạch lúa)
1.3 Trình độ học vấn của nông hộ
Bảng: Trình độ văn hoá
Trình độ văn hóa Số hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trang 3Trình độ văn hoá của các nông hộ tại địa bàn nghiên cứu là không cao, đa số người dân chỉ học đến cấp 1 và cấp 2 là không học tiếp Qua đó nó cũng phản ánh rằng khả năng tiếp thu các kiến thức về khoa học kỹ thuật mới của nông dân cũng còn nhiều hạn chế
2 Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất lúa
2.1 Nhu cầu về vốn
Bảng: Nhu cầu vốn sản xuất của nông hộ trong một vụ trên một công
Nhu cầu về vốn sản xuất Sô hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp thì nguồn vốn cần để sản xuất thì không nhiều bằng các ngành nghề khác Tuy nhiên để sản xuất có hiệu quả cao thì họ cũng cần phải có một số vốn đủ để chăm sóc cho đồng ruộng của họ Các hộ khác nhau thì
có nhu cầu về vốn khác nhau, những hộ có điều kiện kinh tế khá thì họ có nhu cầu vốn nhiều để đầu tư, chăm sóc cho cây lúa tốt hơn, những hộ không có điều kiện kinh tế thì
họ chỉ cần một số vốn vừa đủ để mua các nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất lúa như: mua giống, phân bón, thuốc trừ sâu…
Sản xuất lúa không cần nguồn vốn nhiều như những ngành nghề khác, để chăm sóc tốt cho ruộng lúa của mình thì chỉ cần nguồn vốn dưới 1.000.000 đồng/công
2.2 Nhu cầu về vay vốn
Trong quá trình sản xuất thì bên cạnh những hộ có đủ điều kiện về vốn thì cũng còn có những hộ không có đủ khả năng về vốn để chăm sóc tốt cho đồng ruộng của mình, do đó họ phải đi vay để bổ sung vào nguồn vốn còn thiếu
- Về số lượng vay: hầu như các nông hộ thường vay với số lượng không nhiều chỉ có hai hộ là vay với số lượng nhiều (10.000.000 đồng và 20.000.000 đồng) vì hai
hộ này có diện tích đất nhiều (khoảng 20 công đất)
- Về các tổ chức cho vay: chủ yếu vay của ngân hàng Nông Nghiệp (10%) với
số lượng vay cao nhất là 20.000.000 đồng và thấp nhất là 2.000.000 đồng trong một
Trang 4lần vay, với lãi suất hàng tháng trung bình là 1,2% trong thời hạn cao nhất là 60 tháng
và thấp nhất là 4 tháng (tùy vào số tiền vay nhiều hay ít mà thời hạn trả là lâu hay mau) Ngoài vay ở các ngân hàng thì nông hộ còn vay vốn ở những người quen trong gia đình, họ hàng, làng xóm (chiếm 5%) với số tiền không nhiều và cũng tùy vào số tiền vay mà thời hạn trả có thể lâu hay mau
- Về điều kiện vay: Khi nông hộ vay ở các Ngân hàng thì họ phải thế chấp bằng khoán đất của mình (ngân hàng cho vay theo diện tích đất bình quân cho vay 300.000 đồng/công) Vay của người quen thì nhiều khi không cần thế chấp bằng khoán đất và họ vay được đúng số tiền mà họ cần vay
3 Nguồn lực đất đai canh tác
Bảng: Diện tích đất trồng lúa của nông hộ
Diện tích đất Số hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Tổng diện tích trồng lúa của các hộ tương đối nhiều, định hướng tương lai của
họ cũng tiếp tục duy trì ngành nghề này và có phần phát triển mở rộng thêm qui mô sản xuất (7 hộ là có diện tích đất tăng trong 5 năm gần đây), điều đó cho thấy rằng trồng lúa là một ngành nghề truyền thống lâu dài của họ và họ không có ý định chuyển sang làm nghề khác
4 Kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
4.1 Năm kinh nghiệm
Bảng: Kinh nghiệm sản xuất trong nông nghiệp
Năm kinh nghiệm Số hộ Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trang 5Nhìn chung các hộ đều có kinh nghiệm sản xuất trên 10 năm chiếm rất cao (90%), điều này thể hiện rằng các nông hộ ở đây sống chủ yếu dựa vào nghề nông (trồng lúa) là chủ yếu hầu như họ biết làm ruộng từ 15 tuổi nên đã tích lũy rất nhiều năm kinh nghiệm
4.2 Tham gia tập huấn kỹ thuật
Bảng: Tổng hợp các hộ tham gia tập huấn kỹ thuật
Số hộ Phần trăm (%)
Các hộ không tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật là vì điều kiện đi lại còn khó khăn và cũng một phần vì họ không có thời gian để đi dự các buổi tập huấn kỹ thuật này vì nơi tổ chức xa chỗ ở của họ
Do kinh phí không có đủ cho việc tổ chức các buổi tập huấn tại những nơi thuộc vùng xa, vùng sâu nên không thể tránh khỏi tình trạng có một số hộ không tham gia các buổi tập huấn
4.3 Áp dụng mô hình sản xuất
Trong 40 hộ thì có 10 hộ là không áp dụng các mô hình sản xuất mới trong việc sản xuất lúa (25%) Còn lại 30 hộ là có áp dụng các mô hình mới trong việc sản xuất lúa (75%) Tùy vào điều kiện tự nhiên của từng hộ mà các hộ chọn các mô hình khác nhau để áp dụng ngay tại đồng ruộng của mình
Bảng: Tổng hợp các mô hình kỹ thuật mới được các hộ áp dụng
Số hộ
Mô hình 3 giảm – 3 tăng 16
(Nguồn: Tổng hợp 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trong các mô hình trên thì các nông hộ thường áp dụng nhiều nhất là mô hình giống mới (27 hộ tương ứng 67,5%), để áp dụng được mô hình này các hộ không cần đầu tư nhiều chỉ cần lựa chọn các loại giống mới trồng có năng suất cao để mua về trồng là được Ngoài ra, còn có các mô hình được áp dụng rộng rãi như mô hình IPM (có 18 hộ tương ứng 45%), mô hình 3 giảm – 3 tăng (có 16 hộ tương ứng 40%) và các
mô hình KTM khác như: mô hình lúa – màu, mô hình lúa – thủy sản,… cũng được các
hộ áp dụng (có 11 hộ áp dụng tương ứng 27,5%)
Trang 6IV ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT MỚI
1 Tình hình sản xuất chung của các nông hộ
Trong những năm gần đây thì thói quen trồng 3 vụ lúa trong một năm của người dân đã thay đổi họ chỉ trồng có 2 vụ trong một năm
Bảng 23: Số vụ sản xuất trong năm
Số vụ sản xuất trong năm Tần số Phần trăm (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ 40 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Qua thực tế cho thấy, sở dĩ có xu hướng trồng 2 vụ trong một năm là vì:
+ Vụ Thu – Đông (tức vụ 3) các nông hộ làm không có hiệu quả cao, do nguồn nước tưới tiêu không đáp ứng đủ, năng suất thấp
+ Trồng màu hoặc nuôi thủy sản để thay thế vụ lúa thứ 3, như vậy vừa tăng thêm thu nhập cho nông hộ vừa cải thiện độ màu mỡ của đất
3 Đối với hộ áp dụng khoa học kỹ thuật mới
3.1 Áp dụng mô hình giống mới
Mô hình này được người dân ở đây bắt đầu áp dụng từ năm 1999 và cho đến nay thì ngày càng có nhiều hộ áp dụng vì mô hình này là một mô hình dễ áp dụng nhất
Bảng: So sánh các tỷ số tài chính trước và sau khi áp dụng mô hình GM
Giá trị trung bình Chênh lệch sau/trướckhi áp dụng Trước khi
áp dụng
Sau khi áp dụng Tuyệt đối
Tương đối (%) Tổng chi phí Đồng/công 658.705 563.455 -95.250 -14,46 Thu nhập Đồng/công 1.276.123 1.736.781 460.658 36,10 Thu nhập ròng Đồng/công 617.419 1.173.326 555.907 90,04
TNR/ngày Đồng/công/ngày 5.880 12.351 6.471 110,04
(Nguồn: Tổng hợp từ 27 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trang 7Trước khi áp dụng mô hình giống mới thì bình quân 1 vụ kéo dài trung bình
105 ngày, còn sau khi áp dụng thì 1 vụ kéo dài khoảng 95 ngày
Với 1 đồng chi phí người dân bỏ ra cho 1 công thì nông hộ thu về 3,08 đồng thu nhập (tăng 58,76%) và 2,08 đồng thu nhập ròng (tăng 121,28%)
Với 1 đồng thu nhập thì sẽ mang lại cho nông dân 0,68 đồng thu nhập ròng (tăng 41,67%)
Tổng ngày công lao động cho đồng ruộng giảm 6 ngày so với trước khi áp dụng mô hình này (giảm 15%)
Với 1 ngày làm việc của nông dân (ngày công) sẽ mang lại thu nhập là 51.082 đồng/công (tăng 60,12%) và mang lại 34.510 đồng/công thu nhập ròng (tăng 123,58%) Một vụ là 95 ngày, nếu tính cho một ngày thì người dân thu được 12.351 đồng/công thu nhập ròng (tăng 110,04%)
Các tỷ số đều tăng lên đáng kể điều này thể hiện là việc áp dụng mô hình giống mới của các nông hộ đạt hiệu quả cao Do đó, thu nhập ròng của các nông hộ cũng được cải thiện đáng kể (tăng trên 110%)
3.2 Áp dụng mô hình IPM
Mô hình IPM đã và đang được các hộ nông dân áp dụng rộng rãi Mô hình này được người dân ở đây bắt đầu áp dụng từ năm 1991 và cho đến nay thì ngày càng có nhiều hộ áp dụng vì mô hình này là một mô hình tương đối dễ áp dụng
Bảng: So sánh các tỷ số tài chính trước và sau khi áp dụng mô hình IPM
Giá trị trung bình Chênh lệch sau/trước khi áp dụng Trước khi
áp dụng
Sau khi áp dụng Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tổng chi phí Đồng/công 652.029 543.018 -109.011 -16,72
TN Đồng/công 1.314.739 1.869.843 555.104 42,22 TNR Đồng/công 662.709 1.326.825 664.116 100,21
TNR/NC Đồng/công/NC 15.062 39.024 239.62 159,09 TN/NC Đồng/công/NC 29.880 54.995 25.115 84,05 TNR/ngày Đồng/công/ngày 6.312 13.268 6.956 110,21
(Nguồn: Tổng hợp từ 18 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trước khi áp dụng mô hình IPM thì bình quân 1 vụ kéo dài trung bình 105
Trang 8Với 1 đồng chi phí người dân bỏ ra cho 1 công thì nông hộ thu về 3,44 đồng thu nhập (tăng 70,42%) và 2,44 đồng thu nhập ròng (tăng 139,71%)
Với 1 đồng thu nhập thì sẽ mang lại cho nông dân 0,71 đồng thu nhập ròng (tăng 40,77%)
Tổng ngày công lao động cho đồng ruộng giảm 10 ngày so với trước khi áp dụng mô hình này (giảm 22,73%)
Với 1 ngày làm việc của nông dân (ngày công) sẽ mang lại thu nhập là 54.995 đồng/công (tăng 84,05%) và mang lại 39.024 đồng/công thu nhập ròng (tăng 159,09%) Một vụ là 100 ngày, nếu tính cho một ngày thì người dân thu được 13.268 đồng/công thu nhập ròng (tăng 110,21%)
Các tỷ số đều tăng lên đáng kể điều này thể hiện là việc áp dụng mô hình IPM của các nông hộ đạt hiệu quả cao Do đó, thu nhập ròng của các nông hộ cũng được cải thiện đáng kể (tăng trên 110% so với trước)
3.3 Áp dụng mô hình 3 giảm – 3 tăng
Mô hình 3 giảm – 3 tăng hiện nay được các hộ nông dân áp dụng rộng rãi Có
16 hộ là hiện đang áp dụng mô hình này (chiếm 45%) Mô hình này được người dân ở đây bắt đầu áp dụng rộng rãi từ năm 2000 (mô hình này tương đối mới với các nông hộ)
Bảng: So sánh các tỷ số tài chính trước và sau khi áp dụng mô hình
3 giảm – 3 tăng
Giá trị trung bình Chênh lệch sau/trướckhi áp dụng Trước khi
áp dụng
Sau khi áp dụng Tuyệt đối
Tương đối (%) Tổng chi phí Đồng/công 641.354 533.464 -107.890 -16,82 Thu nhập Đồng/công 1.269.456 1.760.045 490.589 38,65 Thu nhập ròng Đồng/công 628.101 1.226.582 598.481 95,28
TNR/NC Đồng/công/NC 13.654 30.665 17.010 124,58
TNR/ngày Đồng/công/ngày 5.982 12.266 6.284 105,05
(Nguồn: Tổng hợp 16 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trước khi áp dụng mô hình 3 giảm – 3 tăng thì bình quân 1 vụ kéo dài trung
Trang 9Với 1 đồng chi phí người dân bỏ ra cho 1 công thì nông hộ thu về 3,30 đồng thu nhập (tăng 66,69%) và 2,30 đồng thu nhập ròng (tăng 134,78%)
Với 1 đồng thu nhập thì sẽ mang lại cho nông dân 0,70 đồng thu nhập ròng (tăng 40,85%)
Tổng ngày công lao động cho đồng ruộng giảm 6 ngày so với trước khi áp dụng mô hình này (giảm 13,04%)
Với 1 ngày làm việc của nông dân (ngày công) sẽ mang lại thu nhập là 44.001 đồng/công (tăng 59,44%) và mang lại 30.665 đồng/công thu nhập ròng (tăng 124,58%) Một vụ là 100 ngày, nếu tính cho một ngày thì người dân thu được 12.266 đồng/công thu nhập ròng (tăng 105,05%)
Các tỷ số đều tăng lên đáng kể điều này thể hiện là việc áp dụng mô hình 3 giảm – 3 tăng của các nông hộ đạt hiệu quả cao Do đó, thu nhập ròng của các nông hộ cũng được cải thiện đáng kể (tăng trên 100%)
3.4 Áp dụng các mô hình kỹ thuật mới khác
Mô hình mới khác bao gồm: mô hình lúa – thủy sản, lúa – màu, sử dụng bảng
so màu lá lúa Các mô hình này được người dân ở đây bắt đầu áp dụng từ năm 2003 (mô hình này tương đối mới với các nông hộ) và cho đến nay thì chưa có nhiều hộ áp dụng vì các mô hình này hiện nay chưa có mở nhiều lớp tập huấn cho bà con
Bảng: So sánh các tỷ số tài chính trước và sau khi áp dụng mô hình
KHKT mới khác
Giá trị trung bình Chênh lệch sau/trướckhi áp dụng Trước khi
áp dụng
Sau khi áp dụng Tuyệt đối
Tương đối (%) Tổng chi phí Đồng/công 615.872 508.111 -107.761 -17,50 Thu nhập Đồng/công 1.204.950 1.948.796 743.846 61,73 Thu nhập ròng Đồng/công 589.078 1.440.685 851.607 144,57
TNR/NC Đồng/công/NC 12.806 40.019 27.213 212,50
TNR/ngày Đồng/công/ngày 5.610 14.407 8.797 156,79
(Nguồn: Tổng hợp 11 mẫu phỏng vấn nông hộ)
Trang 10Trước khi áp dụng mô hình khoa học kỹ thuật mới khác thì bình quân 1 vụ kéo dài trung bình 105 ngày, còn sau khi áp dụng thì 1 vụ kéo dài khoảng 100 ngày
Với 1 đồng chi phí người dân bỏ ra cho 1 công thì nông hộ thu về 3,84 đồng thu nhập (tăng 96,03%) và 2,84 đồng thu nhập ròng (tăng 196,43%)
Với 1 đồng thu nhập thì sẽ mang lại cho nông dân 0,74 đồng thu nhập ròng (tăng 51,22%)
Tổng ngày công lao động cho đồng ruộng giảm 10 ngày so với trước khi áp dụng mô hình này (giảm 21,74%)
Với 1 ngày làm việc của nông dân (ngày công) sẽ mang lại thu nhập là 54.133 đồng/công (tăng 106,66%) và mang lại 40.019 đồng/công thu nhập ròng (tăng 212,50%) Một vụ là 100 ngày, nếu tính cho một ngày thì người dân thu được 14.407 đồng/công thu nhập ròng (tăng 156,79%)
Các tỷ số đều tăng lên đáng kể điều này thể hiện là việc áp dụng mô hình khoa học kỹ thuật mới khác của các nông hộ đạt hiệu quả rất cao Do đó, thu nhập ròng của các nông hộ cũng được cải thiện đáng kể (tăng trên 156%)
5 Nhận xét chung
Qua việc xét các mô hình mới mà người nông dân áp dụng hiện nay thì hầu hết các mô hình có sự tăng lợi nhuận đáng kể, sở dĩ có sự tăng đột biến như trên là do các nguyên nhân sau:
+ Khoảng thời gian trước và sau khi áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất nông nghiệp thì cách nhau khá lâu (trung bình từ 3 – 5 năm) nên tình hình thị trường trước đó không giống như hiện tại
+ Năng suất tăng cao (do áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào trong canh tác) + Giá bán tăng cao hơn nhiều so với những năm trước đây (do sự tác động của thị trường)
+ Các chi phí đầu vào giảm nhiều (do áp dụng KHKT mới vào trong canh tác) + Do các giống mới trồng với một thời gian ngắn hơn nhiều so với giống cũ nên tính trên một ngày công thì thu nhập và thu nhập ròng tăng cao