Sơ đồ 1 Sơ đồ khát quát quan niệm chất lượng đào tạo 13Sơ đồ 2 Chu trình quản lý liên kết giữa trường nghề với cssx 20 Sơ đồ 3 Tố chức trường DN nằm trong cơ sở sản xuất 27 Sơ đồ 4 Tổ ch
Trang 1Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giámhiệu Trường Đại học Vinh, Khoa Sau đại học, Khoa Giáo dục cùng các Giáo sư,phó Giáo sư, Tiến sỹ và quý thầy cô là giảng viên của Trường Đại học Vinh đãnhiệt tình giảng dạy, quan tâm và tạo điều kiện giúp dữ tác giả trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu Cảm ơn Lãnh đạo Sở Lao động - TBXH, PhòngQuản lý đào tạo nghề, Ban Giám hiệu các trường Cao đắng nghề và trung cấpnghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu và đópgóp nhiều ý kiến cho việc nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hà VănHùng, người thầy trực tiếp giảng dạy và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong quátrình nghiên cứu đế hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận vănkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp, trao đổi của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp đẻ luận văn đượchoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Nguyên Thị Mỹ Luơng
Trang 21 CĐ Cao đẳng
3 CNKT Công nhân kỹ thuật
4 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
23 TBXH Thương binh, Xã hội
25 XKLĐ Xuất khẩu lao động
Trang 3Sơ đồ 1 Sơ đồ khát quát quan niệm chất lượng đào tạo 13
Sơ đồ 2 Chu trình quản lý liên kết giữa trường nghề với cssx 20
Sơ đồ 3 Tố chức trường DN nằm trong cơ sở sản xuất 27
Sơ đồ 4 Tổ chức cơ sở sản xuất nằm trong Trường dạy nghề 28
Sơ đồ 5 Tổ chức liên kết Trường DN và các cssx độc lập 30Bảng 1
Mạng lưới trường CĐN, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề
và các cơ sở khác có dạy nghề tính đến năm 2012
Thực trạng về HĐ quản lý của các trường nghề ở tỉnh Nghệ
An nhằm tăng cường sự liên kết với cssx trong ĐTN
65
Bảng 9 Kết quả khảo sát tính cấp thiết các giải pháp được đề xuất 88Bảng 10 Kết quả khảo sát tính khả thi các giải pháp được đề xuất 89
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đế nâng cao sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp, một trong những giải pháp có tính chất quyết định là nâng caochất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được hiểu lànâng cao thể lực, trí lực, phẩm chất tâm lý, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật
và chấp hành luật pháp cho đội ngũ lao động theo yêu cầu của thị trường
Đào tạo nghề là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục có nhiệm vụđào tạo nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệnđại hoá đất nước Vì vậy Đảng ta đã xác định "Phát triển, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu
tố quyết định phát triển nhanh, bền vững đất nước”, “Đấy mạnh đào tạo nghềđáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước” “Con người - yếu tố cơ bản đểphát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “Liên kết đào tạo vớinghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục" [8]
Trong những năm qua, đào tạo nghề của tỉnh Nghệ Au đã nỗ lực từng bướcnâng cao chất lượng, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển qui mô đáp ứngnhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật của Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung.Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đào tạo nghề của cả nước nói chung
và Nghệ An nói riêng đang bộc lộ những hạn chế nhất định: cơ cấu ngành nghềchưa hợp lý, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong bốicảnh hội nhập; tình trạng bất cập giữa đào tạo và sử dụng gây thất nghiệp giatăng, gây lãng phí cho xã hội Bên cạnh đó, hiện nay có rất nhiều trường dạynghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngànhnghê phong phú Nhưng chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưacao Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đápứng được yêu cầu công việc Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình
Trang 5trạng này là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với cơ sở sản xuất trong đào tạonghề Cung đào tạo do các trường dạy nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năngcủa mình mà không tính tới nhu cầu nhân lực từ các cơ sở sản xuất Điều nàydẫn đến sự mất cân đối cung - cầu đào tạo cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt làchất lượng, gây ra những lãng phí lớn trong đào tạo.
Vì vậy, đế đào tạo được đội ngũ lao động kỹ thuật có chất lượng phù hợpvới yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanhchóng hiện nay thì việc liên kết đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở sản xuấtđang được các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm
Là một cán bộ đang công tác tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hộitỉnh Nghệ An, với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhânlực có kỹ năng nghề nghiệp phục vụ cho các ngành kinh tế trong tỉnh, đưa Nghệ
An thoát khỏi tình trạng nghèo và cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm
2020, tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết giũa truờng dạy nghề vói cơ sở sản xuất nham nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở tỉnh Nghê An” làm luận văn tốt nghiệp cao học cho mình.
2 Mục đích nghiên cúu:
Đe xuất một số giải pháp quản lý hoạt động hên kết giữa trường dạy nghềvới cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạocông nhân kỹ thuật ở Nghệ An, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Khách the và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách the nghiên cứu: Chất lượng đào tạo nghề, hoạt động liên kết
đào tạo công nhân kỹ thuật giữa trường dạy nghề và cơ sở sản xuất, quản lý hoạtđộng liên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất ở Nghệ An
3.2 Đôi tương nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kêt
giữa trường dạy nghề và cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 64 Giả thiết khoa học:
Nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý hoạt động hên kết giữa trườngdạy nghề với cơ sở sản xuất có tính khoa học và khả thi thì sẽ nâng cao đượcchất lượng đào tạo nghề nói chung và đào tạo công nhân kỹ thuật nói riêng ởNghệ An
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của những vấn đề cơ bản về quản lý hoạtđộng liên kết đào tạo
5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng về đào tạo nghề, đào tạo công nhân kỹthuật, chất lượng đào tạo nghề, hoạt động liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề
và cơ sở sản xuất ở Nghệ An thời gian qua
5.3 Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi để quản lý hoạt động liênkết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạonghề cho tỉnh Nghệ An thời gian tới
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tống hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến
đề tài nghiên cứu từ các nguồn thông tin như: các niên giám thống kê của Cụcthống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ke hoạch và Đầu tư, Quyhoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và số liệu các ngànhLao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, CụcThống kê, Ke hoạch và Đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo và trênmạng Internet,
Trang 77.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phương pháp thống kê, so sánh: Để đánh giá thực trạng đào tạo nghề,đào tạo công nhân kỹ thuật và quản lý hoạt động hên kết giữa trường dạy nghề
với cơ sở sản xuất
7.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến cán
bộ quản lý, Ban Giám hiệu ở các trường dạy nghề, lãnh đạo một số doanhnghiệp sản xuất về hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất
7.2.3 Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyên, trao đổi trực tiếp vớimột số giáo viên, cán bộ quản lý có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản
lý nhằm thu thập thêm thông tin cho nhiệm vụ nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến của chuyên gia vềcông tác quản lý đào tạo nghề nói chung và quản lý hoạt động liên kết giữatrường DN với cssx nói riêng
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu thu được.
8 Đóng góp của đề tài:
8.1 về lý luận: Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận những
vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo nghề và hoạt động liên kết giữa trường dạynghề với cơ sở sản xuất
8.2 về thực tiễn: Đưa ra một hệ thống các giải pháp mang tính khả thi để
quản lý hoạt động hên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất nhằm nângcao chất lượng đào tạo nghề cho tỉnh Nghệ An thời gian tới
9 Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo,
luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động liên kết giữa trường
dạy nghề với cơ sở sản xuất
Chương 2: Thực trạng về quản lý đào tạo nghề và hoạt động liên kết giữa
trường dạy nghê với cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy
nghề với cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Trang 8CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KÉT GIỮA
TRƯỜNG DẠY NGHÈ VỚI cơ SỞ SẢN XUẤT
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1 Liên kết đào tạo nghề trên thế giói.
Mối quan hệ giữa trường nghề với cssx trong đào tạo nghề từ lâu đãđược nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượngđào tạo nghề cho người lao động
Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Phápxuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp.Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phứctạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sáchkhắng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào laođộng sản xuất, có nghề nghiệp phù họp với năng lực của mình và phù hợp vớiyêu cầu của xã hội [4]
Đối với giáo dục phổ thông, c Mác đã chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản: "Một
là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể chất; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúphọc sinh nắm được những nguyên lý cơ bản của tất cả các quy trình sản xuất,đồng thời biết sử dụng công cụ sản xuất đơn giản nhất" [13]
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên họcsinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông, ơ Nhật,
Mỹ, Đức, người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa nănglực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từsớm Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ýđịnh hướng cho học sinh về nghê nghiệp phù họp vói năng lực bản thân, đồngthời trang bị cho học sinh kỹ’ năng làm việc đê thích ứng với xã hội
"Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 9phụ thuộc rất nhiều vào sự kết họp đúng đắn giữa dạy trong trường với thựctập sản xuất ở xí nghiệp Neu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao độngsản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được”
[9]
Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với
700 năm lịch sử đã bước vào con đường "Công ty đại học" Ngày nay, xu thếcác trường đại học liên kết với các xí nghiệp ngày càng nhiều ở Mỹ và một sốnước Châu âu, Công ty đại học đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu,tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp Các công ty đại họcnày có một số đặc diêm sau:
1 Dùng phương thức thị trường đế thu hút sinh viên, mời các học giả nổitiếng đến giảng dạy
2 Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất,
về quản lý kinh doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đókhông ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường, nâng cao địa vị của trường
3 Mối quan hệ giữa nhà trường với cssx ngày càng mật thiết, trườnghọc và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiệndịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cường hợp tác giữa các bên
Do những ưu điểm như vậy mà các "Công ty đại học" mọc lên như nấm,
từ nước Mỹ đến Châu âu, rồi đến toàn thế giới "Công ty đại học" với nhữnghình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trường học, báo trước sựphát triển quan trọng của sự phát triển giáo dục [12]
Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷXXI của UNESCO khi phân tích "những trụ cột của giáo dục" đã viết: "Họctri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại" Theo ông,vân đề học nghề của học sinh là không thế thiêu được trong những trụ cột củagiáo dục, đồng thời đã tổ chức các hội thảo, nghiên cứu về vấn đề "gắn đàotạo với sử dụng" trong đào tạo nghề [10] Ở Nhật và Mỹ, nhiều trường nghề
Trang 10được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực cho chínhcông ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng Mô hình này có
ưu điêm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và cóviệc làm ngay sau khi tốt nghiệp
"Ba trong một" là quan điêm được quán triệt trong đào tạo nghề ở TrungQuốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phảigắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vàoviệc nâng cao chất lượng đào tạo nghề [9]
Nhằm đáp ímg nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự doASEAN năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Inđônêxia từnăm 1993 đã được nghiên cứu và phát triển mạnh Trong đó, kết họp đào tạonghề giữa nhà trường với doanh nghiệp được quan tâm đặc biệt [9]
Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thốnghợp tác đào tạo nghề" (Cosperative training System) để giải quyết tình trạngbất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhânlực kỹ thuật trong tương lai [18]
Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệmquản lý đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễnđào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồnnhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và hợp tác
1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫnthì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luậnsuông" [11] Tư tưởng này đã được cụ thể hóa trong nguyên lý giáo dục ởViệt Nam trong suốt lịch sử giáo dục của nước nhà Tại Đại hội Văn hóa toànquốc tháng 7 năm 1948, Tống bí thư Trường Chinh đã khẳng định: "Biêt và làm
đi đôi; lý luận và hành động phối hợp"
Trang 11Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện đế cho nhà trườnghợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sáchthông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi Điều này được cụ thểhóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường
CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trungcấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm2007, Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đếnhiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hên kết giữa nhà trường với cssx
trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu
về vấn đề này Năm 1993, tác giả Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoànthiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" Đe tài tập trung nghiên cứu các trường, lớpdạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóachất Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý luận
và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sởsản xuất" [27] Năm 2004, Trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có
đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sửdụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" [22]
Đe tài đã nêu lên "kinh nghiệm trên thế giới về gắn đào tạo với sử dụng lao độngcủa hệ thống dạy nghề", điển hình là hệ đào tạo kép của Đức và hình thức đàotạo luân phiên ở Pháp, đưa ra một số mô hình tổ chức đào tạo nghề cơ bản, vàđưa ra một số giải pháp để gắn đào tạo và sử dụng (trong đó có một số ý tưởngkết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp) Tuy nhiên, do hướng nghiêncứu của đề tài không tập trung vào kết hợp đầo tạo nghề nên chưa đề cập tới các
cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề mà tập trung giải quyết các mối quan
hệ giữa nhà trường và doanh nghịêp Trong đó, có cả quan hệ vê "liên kết đàotạo", chưa nghiên cứu sâu, cụ thể vấn đề kết họp đào tạo nghề và các giải pháp
để kết hợp đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Năm 2005 Hoàng Ngọc Trí với luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô HàNội" có đề cập đến mối quan hệ giữa các trường nghề và đơn vị sản xuất Năm
2006, Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cườngquản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội" có đi sâu phântích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tốtác động đến quản lý quá trình đào tạo nghề Trong luận án tiến sỹ của tác giảTrần Khắc Hoàn đã phân tích và đưa ra vấn đề "Tăng cường mối quan hệ giữanhà trường và các đơn vị sản xuất" là một trong những giải pháp nâng cao chấtlượng đào tạo Song, do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tíchcác cơ sở khoa học, chỉ đề cập tới cách thức tiến hành tăng cường quan hệ củanhà trường với các đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phươngthức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt Nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ
để thực hiện kết họp đào tạo nghề tại trường và cssx (do nhiệm vụ đề tài là tậptrung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng ởthủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đàotạo nghề)
Một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứugiáo dục như tác giả Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Viết Sự, Vũ Văn Tảo,Nguyễn Tiến Đạt, Trần Khánh Đức, Phan Văn Kha và các nhà quản lý giáo dụckhác
Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cóliên quan đến vấn đề liên kết giữa trường nghề với cssx trong đào tạo nhằm nângcao chất lượng đào tạo nghề Tuy nhiên, vai trò của quản lý đối với hoạt động liênkết giữa trường nghề với cssx trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn là khoảngtrông, ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, tác giả tiêp tục đi sâu nghiên cứu
đề tài “Giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN với cssx
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An”
Trang 131.2 Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1 Đào tạo nghề và chất lượng đào tao nghề.
1.2.1.1 Đào tạo nghề.
Đào tạo nghề: là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹxảo và thái độ nghề nghiệp cho người học ĐTN nhằm hướng vào hoạt độngnghề nghiệp và hoạt động xã hội Mục tiêu ĐTN là trạng thái phát triển nhâncách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh - tế xã hội và được hiểu làchất lượng cần đạt tới đối vói người học sau quá trình đào tạo [14]
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là:
Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành đê các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéoléo, thành thục nhất định về nghề nghiệp [14]
Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hànhcủa người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [14]
ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động
để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn Đào tạo nghề bao gồm: Đào tạocông nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa ) và phố cậpnghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông thôn)
Đào tạo công nhân kỹ thuật (CNKT) là một quá trình sư phạm có mụcđích, có nội dung và phương pháp, nhằm trang bị cho người học những kiếnthức, kỹ năng và thái độ cần thiết của người CNKT đê họ có cơ hội tìm đượcviệc làm và có năng lực hành nghề ở những vị trí lao động theo yêu cầu của sảnxuất Ket thúc khoá đào tạo, người học được cấp bằng hoặc chứng chỉ đê có thểhành nghề
Với sự phát triển phong phú và đa dạng của ĐTN cũng như nhu cầu rất đadạng của người học và của thị trường lao động, ngày nay đang tồn tại 3 loại hìnhđào tạo CNKT là đào tạo chính quy (íormal training), đào tạo không chính quy
Trang 14(non-formal training) và đào tạo phi chính quy (informal training) Các loại hìnhđào tạo này được nhìn nhận như sau:
Đào tạo chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện vói chương trìnhđào tạo được quy định, khi người học tốt nghiệp một khoá đào tạo theo mộtchương trình nào đó có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo có trình độcao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân
Đào tạo không chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với cácchương trình đào tạo thiết kế theo nhu cầu của người học hoặc người sử dụnglao động mà khi học xong chương trình này người học có thể không được thừanhận đế tiếp tục học trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân
Đào tạo phi chính quy là hình thức đào tạo nhằm hình thành một số nănglực cho người lao động, không theo một chương trình được quy định nào
Với đặc diêm của đào tạo CNKT, thực hành là chủ yếu, quá trình đào tạo
có thể được thực hiện tại trường, tại cơ sở sản xuất hoặc liên kết giữa trường và
cơ sở sản xuất Tùy thuộc vào trình độ cần đào tạo, trình độ tuyển sinh cũng nhưthời gian đào tạo CNKT có khác nhau [14]
1.2.1.2 Chất lượng đào tạo nghề.
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, cùng với sự phát triểncủa xã hội, khái niệm chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể Trước đây,người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêu chuẩn chất lượng đượccoi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài Ngày nay, khái niệm chất lượngkhông được gắn với một tiêu chuân cố định nào đó, mà “chất lượng là một hànhtrình, không phải là một diêm dừng cuối cùng mà ta đi tới” Đây là quan niệm
“động” về chất lượng, trong đó chất lượng được xác định bởi người sử dụng sảnphẩm - dịch vụ hay trong nền kinh tế thị trường còn gọi là khách hàng Kháchhàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sản phấm - dịch vụ có nghĩa là sản phấm -dịch vụ đó có chất lượng
Trang 15Bên cạnh sự thay đổi về thòi gian thì từ những cách tiếp cận khác nhaucũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng Có một số khái niệmtiêu biểu về chất lượng như: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị nhữngthuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối cúa sựvật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.Chất lượng biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộctính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tống thể bao quát toàn bộ
sự vật và không tách rời khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì khôngthể mất đi chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sựvật về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính qui định về sốlượng của nó và không thê tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi sự vật bao giờcũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” [23]
“Chất lượng là mức độ mà một tập họp các đặc trưng vốn có đáp ứngđược các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” [24]
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đốitượng cụ thê thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử - cụ thể của đối tượng đó
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn
đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo trực tiếp Có nhiều cách hiểu khác nhau vềchất lượng đào tạo nghề với nhúng khía cạnh khác nhau
-Quan diêm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng ĐTN phụ thuộcđầu vào của hệ thống đào tạo Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáoviên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi, thì chấtlượng đào tạo nghề được nâng cao Cũng có quan diêm cho rằng chất lượngĐTN được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằngmức độ hoàn thành của học viên tốt nghiệp Một sô quan điếm khác lại khắngđịnh chất lượng ĐTN được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong,đặc biệt là hệ thống thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu
Trang 16Chất lượng đào tạo là kết quả cuối cùng đạt được bởi sự tác động tích cựccủa các yếu tố cấu thành quả quá trình đào tạo Có thể khái quát quan niệm nàynhư sơ đồ sau:
- MT: Mục tiêu đào tạo
- pp, PT: Phương pháp đào tạo, phương tiện phục vụ đào tạo
- GV: Giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo
- HV: Học viên
- ND: Nội dung đào tạo
- csvc, TC: Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo
- Q: Chất lượng đào tạo
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ đánhgiá băng cách khách hàng xếp hạng tâm quan trọng của các đặc trưng phấm chấtđối nghịch với tính nhất quán và giá trị bang tiền” Đào tạo nghề sẽ đảm bảo,nâng cao chất lượng nếu thực hiện các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu của khách
Trang 17hàng; tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ chức củamình; có tầm nhìn dài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả; có đốimới; hữu hiệu; tổ chức tiếp thị tốt với thị trường.
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm vềchất lượng ĐTN nêu trên, có thể hiểu chất lượng ĐTN với những điểm cơ bảnnhư sau: “Chất lượng ĐTN là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấuthành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trườngnhất định”
1.2.2 Phân loại và các hình thức đào tạo nghề.
1.2.2.1 Phân loại đào tạo nghề.
Có rất nhiều cách phân loại ĐTN, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thểphân loại ĐTN thành các loại hình khác nhau Trong phạm vi bài này chỉ xét haitiêu thức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian ĐTN:
I Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một nămchủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề
Loại hình này có ưu điếm là có thế tập hợp được đông đảo lực lượng laođộng ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn cóthể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quanđoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên
+ Đào tạo dài hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trởlên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.ĐTN dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn
- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
I Đào tạo mới: Là loại hình ĐTN áp dụng cho những người chưa có nghề,
đế đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề
+ Đào tạo lại: Là quá trình ĐTN áp dụng với những người đã có nghềsong nghề hoặc chuyên môn của họ không còn phù hợp nữa
Trang 18+ Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinhnghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việcphức tạp hơn.
Việc đào tạo công nhân kỹ' thuật thường chia làm hai giai đoạn: Giai đoạnhọc tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản làgiai đoạn ĐTN theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảngdạy và tương đối ốn định Còn trong giai đoạn học tập chuyên môn, người họcđược trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những kỹ năng, kỹ' xảo
để nắm vững nghề đã chọn Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Họcsinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đếnthực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễdàng: đào tạo tương đối toàn diện
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thê chủ động,độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phứctạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộcủa khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọngtrong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng
Trang 19có nhược điểm là: thời gian đào tạo tương đối dài đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảmbảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý.
- ĐTN tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
ĐTN tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽđược dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thựchiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động cótrình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong qúa trìnhsản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức.Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việcthường chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừahướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ
đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn ba, giao việchoàn toàn cho học viên khi họ đã có thê tiến hành làm việc một cách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: có khả năng đàotạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn;không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý,thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo; trong quá trình học tập, ngườihọc còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thẻnắm chắc kỹ năng lao động Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là:Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không
có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy
lý thuyết gặp nhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên khôngchỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thế bắt chước cả những thóiquen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợpvới những công việc đòi hỏi trình độ không cao
- Tô chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết vàthực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
Trang 20phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các
kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu ápdụng đế đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiếu biết rộng về lýthuyết và độ thành thục cao
Ưu diêm nổi bật của các lóp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tươngđối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở cácphân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề: Bộ máy đào tạo gọn, chi phíđào tạo không lỏn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở nhữngdoanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành cótính chất giống nhau
- Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức ĐTN kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khá rộngrãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây vàcòn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu “ĐTN kết hợp tại trường và doanhnghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học có hai chỗ học, sự tíchhợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chung của hệ thống”
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chứcdưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnhthổ và khu vực
1.2.3 Hoat động liên kết giũa trường DN vói cssx và các múc độ liên kết 1.2.3.1 Hoạt động liên kết giữa trường DN vói cssx.
Liên kết là sự kết hợp giữa hai hay nhiều pháp nhân kinh tế, để tạo ra mộtpháp nhân mới có đủ sức mạnh tổng hợp về khả năng tài chính [2]
Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên đế tổ chức thực hiện các chươngtrình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học [2].Liên kết đào tạo nghê là sự hợp tác, phôi hợp giữa các trường dạy nghê vàcác cơ sở sản xuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trìnhđào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng
Trang 21thời mang lại lợi ích cho mỗi bên Do vậy, quan hệ giữa trường dạy nghề và các
cơ sở sản xuất là quan hệ cung - cầu, quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực
Hoạt động liên kết giữa nhà trường và cssx trong đào tạo nghề đang đượchiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau Trongphạm vi luận văn này, khái niệm “liên kết” được hiểu là mối quan hệ tương tácgiữa nhà trường và cssx, họp thành một hệ thống ĐTN thống nhất và phù họp,trong đó chức năng của hệ thống được tích hợp từ hai bộ phận tạo thành là nhàtrường và cssx nhằm nâng cao chất lượng ĐTN [2]
1.2.3.2 Các mức độ liên kết.
Trong thực tế, liên kết đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất cónhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc và yêu cầu vào khả năng của mỗi bên Cácmức độ có thể kể đến là:
- Liên kết toàn diện là sự tham gia của các cơ sở sản xuất với các trườngdạy nghề trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo Với mức độ liênkết này, các cơ sở sản xuất tham gia đầu tư trang thiết bị cho các trường dạynghề hoặc tổ chức các phân xưởng đào tạo đê trường dạy nghề và cơ sở sản xuấtcùng sử dụng, cử kỹ sư và công nhân cùng tham gia giảng dạy; tham gia với cáctrường dạy nghề từ khâu hướng nghiệp chọn nghề phù hợp để học, xây dựngmục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo và đánh giá kết quảhọc tập của học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh v.v
- Liên kết có giới hạn là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnhvực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo Mức độ liên kết này phù hợpvới những trường hợp cả hai bên đối tác chưa có nhu cầu hoặc chưa có điều kiện
đế hợp tác toàn diện Ví dụ cơ sở sản xuất hàng năm nhận học sinh của cáctrường dạy nghề vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp
- Liên kêt rời rạc là sự liên kết chỉ thực hiện trong một sô lĩnh vực và sựhợp tác này cũng có thể không thực hiện được thường xuyên mà chỉ thực hiệnkhi có điều kiện
Trang 22Như vậy, sự liên kết giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất rất đa dạng, cóthể thực hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu vàđiều kiện của mỗi bên, không thê áp đặt một cách đồng loạt mặc dầu sự hợp tác
sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên
1.2.4 Quản lý và quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề vói cơ sở sản xuất.
1.2.4.1 Quản lý.
Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọngnhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhậnthức đúng được quy luật, vận động theo đúng quy luật và sẽ đạt được nhữngthành công to lón Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngườimuốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của cá nhân, của một tố chức,
từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phảithừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó [19]
Thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất:
- Theo góc độ chính trị - xã hội: Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với laođộng Sự phát triển bao gồm 3 yếu tố: Tri thức - Sức lao động - Quản lý
- Theo góc độ hành động: Quản lý là quá trình điều khiên - chủ thể quản lýđiều khiển người dưới quyền và các đối tượng khác để đạt tới đích đặt ra
Quản lý là sự tác động có tố chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Quản lý là quá trình tác động có ý thức vào một bộ máy bằng cách vạch ramục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động vào bộ máy đê bộ máyđạt tói mục tiêu đã xác định
Tựu trung lại, quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng vàkiếm soát quá trình tiến tói mục tiêu Bao gồm:
+ Quản lý là hoạt động phối hợp nhiều người, nhiều yếu tố;
I Định hướng các hoạt động đó theo một mục tiêu nhất định;
Trang 23+ Kiểm soát được tiến trình của hoạt động trong quá trình tiến tói mục tiêu.
1.2.42 Quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề vói cơ sở sản xuất.
Quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trường với cssx là toàn bộ quátrình xác định nhu cầu, đề ra mục tiêu, nội dung, trách nhiệm, và được tácđộng bởi các biện pháp phù hợp Là quá trình cải tiến liên tục mọi khâu trongchu trình hên kết theo sơ đồ dưới đây Mỗi khâu đều cần được nghiên cứu kỹlưỡng và tác động hợp lý, việc thực hiện tốt khâu này sẽ là tiền đề để thực hiệncác khâu tiếp theo, ngược lại, thực hiện tốt các khâu tiếp theo sẽ là cơ sở đêđánh giá mức độ và chất lượng của các khâu tiền đề Giữa các khâu có mốiquan hệ ràng buộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, cần phải có thông tin chínhxác về trực trạng của các khâu đê có các biện pháp điều chỉnh, điều khiển hợp lý
để tăng cường liên kết giữa hai bên nhà trường với cssx Sẽ đạt được hiệu quảcao nếu nhà lãnh đạo của cả trường nghề và cssx đều ý thức tốt việc quản lýmối quan hệ liên kết cần theo các chu trình bằng các cách thức hợp lý Nghĩa
là họ phải thực hiện đúng chức năng của người lãnh đạo, của nhà quản lý [19]
Sơ đồ 2: Chu trình quản ìỷ liên kết giữa truòng nghề vói cssx
Trang 241.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lý hoạt động hên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất.
1.2.5.1 Giải pháp.
Giải pháp là: “phương pháp giải quyết một vấn đề” [23] Nói đến giảipháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một quátrình, một trạng thái hoặc hệ thống, nhằm đạt được mục đích Giải pháp thíchhợp sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao hơn
1.2.5.2 Giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất.
Quan việc tìm hiểu khái niệm "quản lý" nhận thấy, quá trình quản lý luôntồn tại bốn thành tố cấu trúc, đó là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, kháchthể quản lý và mục tiêu quản lý Dưới sự tác động tự giác của chủ thể quản lý,các thành tố này luôn có sự tác động qua lại với nhau và nhờ đó chủ thế quản
lý thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Để đạt được mục tiêu quản lý bao giờ chủ thể quản lý cũng phải sử dụng cáccông cụ, phương tiện, phương pháp, biện pháp đế tác động lên đối tượng quản
lý Vậy giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN với cssx đượchiểu như thế nào?
Theo tác giả, Giải pháp quản lý hoạt động hên kết giữa trường dạy nghềvới cơ sở sản xuất là những điều kiện, cách thức tác động lên mối quan hệ họptác giữa trường dạy nghề với cssx trong đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng đến quátrình hợp tác đó để đạt được mục tiêu là tìm ra những giải pháp tốt nhất, khả thinhất nhằm quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN với cssx trong đào tạo nhằmnâng cao chất lượng đào tạo nghề
1.3 Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất.
1.3.1 Các nội dung liên kết giữa trường DN và cssx trong lĩnh vực DTN.
1.3.1.1 Liên kết về tổ chúc đào tạo.
Nội dung liên kết phố biến giữa các trường dạy nghề và cơ sở sản suấthiện nay là liên kết trong việc tố chức đào tạo, tức là việc đào tạo (dạy nghề) cho
Trang 25học viên sẽ được thực hiện bởi cả hai chủ thể là nhà trường và cssx Nội dung,thời gian đào tạo mà mỗi chủ thể phải thực hiện tuỳ thuộc vào sự thoả thuận,phân công ban đầu Chương trình đào tạo của từng nghề, nguồn lực về tài chính,nhân sự, cơ sở vật chất của từng chủ thể là căn cứ đê phân chia công việc mànhà trường hay cssx phải thực hiện trong toàn khoá đào tạo Thông thường,việc đào tạo lý thuyết sẽ do nhà trường thực hiện còn phía cssx sẽ đảm nhậnviệc dạy thực hành Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi bên trong quátrình liên kết, việc tố chức đào tạo sẽ có những biếu hiện cụ thể khác nhau haynói cách khác là hình thức đào tạo sẽ khác nhau.
1.3.1.2 Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất.
Liên kết về tài chính là phía cssx sẽ hỗ trợ trực tiếp (hoặc gián tiếp) chonhà trường một phần (hoặc toàn bộ) kinh phí đào tạo nghề cho học viên
Trên thế giới hiện nay, việc cssx đóng góp kinh phí cho đào tạo nghề rấtphổ biến, thậm chí là bắt buộc ở một số nước nếu cssx muốn sử dụng lao động
đã qua đào tạo nghề Mức độ liên kết về tài chính giữa nhà trường và cssx
trong đào tạo nghề tuỳ thuộc quy định của từng quốc gia và khả năng tài chínhcũng như nhu cầu về nhân lực của doanh nghiệp Trên thực tế có nhiều kiểu liênkết tài chính, tiêu biểu là các kiểu liên kết như sau:
- cssx tới các trường để tuyển lao động, sau khi tuyển dụng xong họ trảlại tiền đào tạo cho Nhà nước Căn cứ vào số lượng lao động mà cssx tuyểndụng, Nhà nước lại chuyển số tiền mà cssx đã nộp vào cho nhà trường (môhình liên kết tại Hàn Quốc)
- Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, cssx đặt hàng với nhàtrường và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường Người lao động saukhi được đào tạo sẽ làm việc cho cssx (việc tuyển sinh có thể do nhà trườngthực hiện hoặc do cssx tuyển người và gửi đến trường để học
- Hàng năm, cssx cấp một lượng học bống nhất định cho các học viêncủa trường Nhà trường sẽ có những ưu tiên trong việc giới thiệu học viên saukhi tốt nghiệp tới làm việc tại cssx.
Trang 26- cssx khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộp cho trường nghềhoặc cho Nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của
cssx Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ cssx tham gia đào tạonghề (mô hình đào tạo kết họp điển hình tại Pháp)
- Trường hợp các học viên đến thực tập tại cssx và làm ra sản phẩm,doanh nghiệp sẽ trích một phần doanh thu đó trả cho nhà trường để đầu tư trở lạicho đào tạo
- cssx đầu tư thiết bị, phương tiện thực hành cho nhà trường đối vớinhững nghề mà cssx có nhu cầu sử dụng lao động
- cssx cho nhà trường tận dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng của chính
cssx đế tổ chức đào tạo thực hành (bao gồm cả thực hành cơ bản và thực tậpsản xuất)
- Các trường đào tạo nghề sẽ cung cấp toàn bộ đội ngũ giáo viên giảngdạy lý thuyết và chịu trách nhiệm tố chức đào tạo các nội dung lý thuyết củakhoá học Các cssx sẽ tổ chức đào tạo phần thực hành với đội ngũ giáo viêndạy thực hành là các cán bộ kỹ thuật của cssx.
- Nhà trường tổ chức đào tạo cả lý thuyết và thực hành cơ bản Cuối khoáhọc, khi học viên bước vào giai đoạn thực tập sản xuất (thực tập tốt nghiệp),
cssx sẽ cử những công nhân lành nghề hoặc kỹ sư hướng dẫn trực tiếp tại cácphân xưởng sản xuất của cssx.
- cssx mời giáo viên tại các trường DN tới giảng dạy trực tiếp tại các lớphọc do cssx tự tố chức Hình thức này thường áp dụng cho các lớp học ngắn
Trang 27hạn nhằm đào tạo lại hoặc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho người lao
động của cssx.
- Nhà trường mời các cán bộ của cssx tham dự các buổi thảo luận, traođổi trực tiếp với học viên về những công nghệ sản xuất mới của cssx để giúphọc viên cập nhật kiến thức mới và tích luỹ kinh nghiêm
Cùng với đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý của nhà trường cũng phảiliên kết chặt chẽ với cán bộ quản lý của các cssx trong quá trình đào tạo kếthợp nhằm tổ chức và quản lý việc đào tạo có hiệu quả hơn
1.3.1.4 Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo.
Thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý,điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất vàthị trường lao động Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêu cầuthực tiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho chất lượng đào tạo nghề được đánhgiá là cao hơn Muốn như vậy, trường DN cần phối hợp chặt chẽ với cssx
trong việc xây dựng chương trình đào tạo Mỗi chương trình đào tạo phải đượcxây dựng với sự tham gia của các chuyên gia về phát triên tài liệu, cán bộ cónghiệp vụ chuyên môn, giáo viên có trình độ - kinh nghiêm giảng dạy và cácchuyên gia thực tiễn của các cssx Hình thức liên kết xây dựng chương trìnhtiêu biểu là: Căn cứ theo chương trình khung thống nhất của Nhà nước, trường
DN phối hợp với khối cơ quan quản lý Nhà nước về đào tạo nghề xây dựngChương trình đào tạo lý thuyết; phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệp, phòngcông nghiệp và doanh nghiệp xây dựng chương trình đào tạo thực hành có địnhhướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các cssx.
Liên kết xây dựng chương trình đào tạo giữa trường DN, cssx và cơquan quản lý của Nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đảmbảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần chứ không phải đào tạo những cái
mà mình có”
Trang 281.3.1.5 Liên kết về thông tin.
Liên kết về thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa trường
DN và cssx Các thông tin về nhu cầu thực tế của các cssx về số lượng, chấtlượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong những căn cứ đế cáctrường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dung đào tạo Đồng thời, các trường
DN cũng dựa vào các thông tin phản hồi của cssx khi sử dụng lao động đượcđào tạo bởi nhà trường đẻ có những điều chỉnh phù hợp chương trình đào tạo
Liên kết về mặt thông tin giữa trường DN và cssx trong ĐTN có thểđược thực hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Tiêu biểu như sau:
- cssx báo cáo định kỳ về nhu cầu sử dụng lao động tới cơ quan quản lýnhà nước có thâm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp hay phòng công nghiệp Cáctrường DN có thể thu thập thông tin từ các tổ chức này để tổng họp và xác địnhqui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, xu hướng đối mới ngành nghề, công nghệsản xuất đê có những điều chỉnh và đầu tư kịp thời về nội dung, chương trìnhđào tạo cũng như phương tiện, thiết bị giảng dạy và giáo viên
- Hằng năm, các trường DN tiến hành điều tra, khảo sát trực tiếp về nhucầu sử dụng lao động của các cssx, thu thập thông tin phản hồi từ phía cssx
khi sử dụng lao động được đào tạo
- Tổ chức các buổi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hoặc tổ chức hội thảo,phố biến về các công nghệ sản xuất mới giữa các trường DN và cssx.
1.3.2 Các hình thúc liên kết giữa trường DN với cssx.
Mối quan hệ về mặt tổ chức giữa trường nghề và cssx chi phối rất nhiềutới mức độ, hình thức cũng như hiệu quả liên kết giữa hai đối tượng này tronglĩnh vực đào tạo nghề Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay đang tồn tạinhiều hình thức hên kết giữa trường nghề và cssx song có thể gộp lại thành banhóm quan hệ chủ yếu như sau:
I.3.2.I Truửng DN nằm trong cssx.
Trường nghề nằm trong cssx tức là nhà trường được coi như một phânxưởng đào tạo của cssx, chịu sự quản lý trực tiếp của cssx và do cssx đầu
Trang 29tư, cấp kinh phí cho các hoạt động đào tạo kết họp với sản xuất Kiểu tổ chứcnày chỉ có ở một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn được cơ quan quản lý nhà nước
về đào tạo cho phép mở các trường ĐTN trực thuộc doanh nghiệp của họ
Với kiểu tổ chức này, quá trình ĐTN mang một số đặc điếm như sau:
- Giáo viên hầu hết là kỹ sư và công nhân giỏi của cssx, được cssx cử ralàm chuyên trách về đào tạo
- Tuyến sinh chủ yếu là theo yêu cầu phát triển nhân lực của cssx do vậy,đại bộ phận học sinh tốt nghiệp các khoá đào tạo đều được cssx bố trí sử dụng.Tuy nhiên, cũng có những cssx có điều kiện mở những klioá đào tạo theo đơnđặt hàng của các cssx khác chưa đủ điều kiện đẻ mở cơ sở đào tạo
- Các khoá đào tạo do cssx tổ chức có thể được tiến hành theo các chươngtrình của quốc gia do Cơ quan nhà nước ban hành nhưng cũng có thể tổ chức cáckhoá đào tạo và bồi dưỡng theo yêu cầu riêng biệt của cssx Những khoá đàotạo theo chương trình và trình độ đào tạo quốc gia được đăng ký với cơ quanNhà nước có thâm quyền và sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng tốtnghiệp theo hệ thống văn bằng quốc gia Những khoá đào tạo theo yêu cầu của
cssx theo chương trình riêng thì học sinh sau khi tốt nghiệp được cấp giấychứng nhận của cơ sở đào tạo Bằng tốt nghiệp được công nhận trong phạm viquốc gia còn giấy chứng nhận được công nhận trong phạm vi cssx [14]
Tố chức liên kết này có ưu điểm là thực hiện triệt để được nguyên lý học điđôi với hành, đào tạo gắn với sử dụng và quy luật cung cầu của cơ chế thị trườngtrong đào tạo Bên cạnh đó, nâng cao được chất lượng đào tạo do học sinh đượchọc thực hành trong điều kiện sản xuất thực tế với đầy đủ các phương tiện sảnxuất hiện đại của sản xuất, điều mà các cơ sở Dạy nghề độc lập thường không cóđược Ngoài ra, học sinh được học với các kỹ sư và công nhân giỏi, những ngườiluôn tiếp cận được với các công nghệ sản xuất hiện đại của sản xuất, điều mà giáoviên các cơ sở đào tạo nghê thường không có được
Trang 30Loại hình liên kết đào tạo với sản xuất này cũng nâng cao được hiệu quả đàotạo do hầu hết học sinh tốt nghiệp các khoá đào tạo đều được sử dụng và phát huytốt hiệu quả trong lao động sản xuất, làm ra của cải vật chất cho xã hội.
Nhược điểm của loại hình liên kết này là: giáo viên của các cssx thườnggiỏi về chuyên môn nhưng lại chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng về sư phạm dovậy thường chỉ quan tâm đến rèn luyện kỹ năng nghề mà ít quan tâm đến rènluyện năng lực sáng tạo cho người học và sẽ có ảnh hưởng đến chất lượng đàotạo Bên cạnh đó, nội dung và kế hoạch đào tạo thường hướng nhiều tới côngviệc và kế hoạch của cssx nên có khi ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo và tớiviệc hình thành nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ
Ngoài ra, đế tổ chức hên kết đào tạo theo mô hình này cũng cần phải có điềukiện nhất định mà ít cssx có thể đáp ímg Trước hết, cssx phải đủ mạnh, có tiềmnăng và nhu cầu phát triển nhân lực trong tương lai thì mới đủ sức và có nhu cầu
mở trường Dạy nghề thuộc cssx.
Tổ chức liên kết này được thế hiện như ở sơ đồ 3
Sơ đồ 3: Tô chức trường DN nằm trong cơ sở sản xuất
Trang 311.3.2.2. cssx nằm trong trường DN.
Đế phát huy ưu điểm của việc học tập kết hợp với lao động sản xuất, cáctrường DN được phép thành lập các cơ sở sản xuất trong trường Đơn vị sảnxuất này chịu sự quản lý trực tiếp của trường và do nhà trường điều hành mọihoạt động đào tạo và sản xuất của đơn vị sản xuất này Với hình thức này,Trường là chủ thể của việc liên kết giữa đào tạo và sản xuất Đơn vị sản xuất này
do nhà trường đầu tư, xây dựng và được coi như xưởng thực hành của trường,chỉ khác là phân xưởng này đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ, vừa đào tạovừa sản xuất ra các sản phẩm đưa ra thị trường tiêu thụ và như một xí nghiệp
Như vậy, đơn vị sản xuất này cần xây dựng hai kế hoạch là kế hoạch đàotạo và kế hoạch sản xuất đồng thời phải biết phối hợp chặt chẽ hai kế hoạch nàyvới nhau để cùng thực hiện tốt hai nhiệm vụ là đào tạo và sản xuất Chính nhờviệc thực hiện hai nhiệm vụ này nên đơn vị sản xuất này thực hiện triệt đê đượcnguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lao động kết hợp với sản xuất mà cácxưởng thực hành ở các trường Dạy nghề thường không thực hiện được, và cũngnhờ vậy mà nâng cao được chất lượng đào tạo Loại hình tổ chức liên kết nàyđược mô tả như ở sơ đồ 4
Sơ đồ 4: Tổ chức cơ sở sản xuất nằm trong Trường dạy nghề
Trang 32Tuy nhiên, loại hình liên kết này cũng có những hạn chế của nó Trước hết
là do trường Dạy nghề thường không có đủ kinh nghiệm trong sản xuất và ít cóđiều kiện đê đầu tư được các trang thiết bị hiện đại như các xí nghiệp Mặt khác,giáo viên các trường Dạy nghề thường bị lạc hậu so với các công nghệ thườngxuyên được đối mới trong sản xuất; học sinh học nghề trong quá trình học tập cũngchưa có đủ những kỹ năng cần thiết đế sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng
có thể cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, do phải thực hiện mục tiêu và kếhoạch đào tạo của các khoá học nên các mặt hàng sản xuất thiếu ổn định, làm ảnhhưởng đến khách hàng và thưong hiệu trên thị trường [18]
I.3.2.3 Truờng DN và cssx là nhũng đon vị độc lập.
Với loại hình tổ chức này, các trường DN và các cssx là những đơn vịhoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào nhau, có mục tiêu và chức năng riêngcủa mình Việc liên kết đào tạo ở đây được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, haibên cùng có lợi
Loại hình tổ chức này rất linh hoạt, mỗi trường nghề có thể thiết lập mốiliên kết với một hoặc một số cơ sở sản xuất là đối tác của mình trong dịch vụđào tạo Moi liên kết giữa trường DN với các cơ sở sản xuất khác nhau cũng cóthể khác nhau Một trường DN có thế thiết lập mối liên kết toàn diện với một số
cơ sở sản xuất nhưng cũng có thể chỉ thiết lập mối hên kết có giới hạn hoặc hênkết rời rạc với một số cơ sở sản xuất khác tuỳ thuộc vào khả năng và nhu cầucủa mỗi bên, miễn là sự liên kết mang lại hiệu quả cao trong những điều kiệncho phép Loại hình tổ chức hên kết này được thế hiện như ở sơ đồ 5
Trang 33Sơ đồ 5: Tô chức liên kết Trường DN và các cơ sở sản xuất độc lập.
Loại hình tổ chức này có ưu điếm là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên,thậm chí là của từng xí nghiệp khác nhau đế góp phần năng cao chất lượng vàhiệu quả đào tạo nhằm phục vụ cho lợi ích của đôi bên mà không làm ảnh hưởngđến nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động của mỗi bên Chính nhờ sự mềm dẻo, linhhoạt này mà mối liên kết có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao Đây cũng làmối quan hệ giữa nhà trường và các khách hàng của mình đế nắm bắt được yêucầu của từng loại khách hàng khác nhau đế đáp ứng nhu cầu về nhân lực của họtrong cơ chế thị trường
Tuy nhiên với loại hình tổ chức liên kết này các trường dạy nghề cũng cónhững khó khăn trong việc thực hiện Trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ gặpkhó khăn trong việc quản lý cũng như tổ chức thực hiện liên kết đào tạo Mặtkhác, do trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất có thể khác nhau với cácchuẩn chất lượng khác nhau làm cho các trường dạy nghề khó khăn trong việcxác định chuấn đào tạo và do vậy, trình độ học sinh tốt nghiệp cũng sẽ khôngđồng đều [18]
Trang 341.3.3 Nguyên tắc liên kết giữa trường DN với cssx.
1.3.3.1 Nguyên tac hợp tác và tụ’ nguyện.
Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất phải được thiết lập trênnguyên tắc hợp tác và tự nguyện, không bên nào có thể ép buộc bên nào bởi lẽcác các cơ sở sản xuất hoạt động theo Luật Kinh doanh, họ có toàn quyền và chủđộng trong việc thiết lập mọi mối quan hệ để phát triển kinh doanh trong khuônkhố Pháp luật Do vậy, chỉ khi họ thực sự nhận thức được tầm quan trọng của sựliên kết với các cơ sở đào tạo, thấy được đây là vấn đề sống còn đẻ tồn tại vàphát triển trong cơ chế thị trường [18]
Đối với cơ sở đào tạo, khi hoạt động của cơ sở đào tạo đã được coi là mộthoạt động dịch vụ, cơ sở đào tạo đã được Nhà nước giao quyền chủ động trongviệc thiết lập các mối quan hệ đế phát triển đào tạo, trong đó có việc thiết lậpmối quan hệ với các cơ sở sản xuất trong tuyển sinh, đào tạo theo địa chỉ, xâydựng chương trình đào tạo Do vậy, xây dựng mối quan hệ với những cơ sởsản xuất để thiết lập mối liên kết trên nguyên tắc hợp tác và tự nguyện
1.3.3.2 Nguyên tắc bình đang, hai bên đều có lọi.
Mối liên kết giữa các trường dạy nghề và cơ sở sản xuất phải được thiết lậptrên nguyên tắc bình đăng, hai bên đều có lợi, nếu không đảm bảo được nguyêntắc này thì mối quan hệ sẽ không bền vững
Do vậy, các hoạt động của mối liên kết này cần được thiết kế hợp lý, có sựtrao đổi bàn bạc đê luôn thể hiện được nguyên tắc này
1.3.3.3 Nguyên tac mua hàng phải trả tiền.
Ngày nay, đào tạo đã được coi là một dịch vụ, các trường dạy nghề đượcgiao quyền tự chủ về tài chính, mọi hoạt động dịch vụ, kinh doanh đều có chiphí và cần phải hạch toán để tồn tại và phát triển
Do vậy, các cơ sở sản xuất sử dụng các sản phấm của các trường dạy nghềcũng phải chi trả các chi phí đào tạo Sự chi trả này phụ thuộc vào chất lượng vàthời gian đào tạo của các chương trình đào tạo khác nhau theo quy luật giá trị
Trang 351.3.3.4 Nguyên tắc đào tạo gắn với sử dụng.
Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất phải xuất phát từnguyên tắc đào tạo gắn với sử dụng, gắn cung với cầu Dựa trên nguyên tắc này,các họat động trong mối liên kết phải huớng tới nhu cầu của các cơ sở sản xuất,tới đào tạo nhân lực là chủ yếu Các hoạt động đào tạo nâng cao dân trí khôngnằm trong phạm vi mối liên kết này Để thực hiện nguyên tắc này, cơ sở đào tạophải luôn phấn đấu để đáp ứng yêu cầu của sản xuất về chất cũng như về sốlượng các trình độ CNKT; Ngược lại, các cơ sở sản xuất phải có đơn đặt hàngcho các cơ sở đào tạo và tiếp nhận số học sinh tốt nghiệp hàng năm theo đơn đặthàng Thực hiện nguyên tắc này sẽ tạo nên thế ốn định bền vững và lâu dài củamối liên kết
1.3.3.5 Nguyên tac bảo đảm việc thục hiện nhiệm vụ của mỗi bên.
Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất cần được đặt trongyêu cầu chung của cả đôi bên, không được làm ảnh hưởng đến việc thực hiệnnhiệm vụ của mỗi bên
Cơ sở đào tạo có nhiệm vụ là đào tạo nhân lực theo yêu cầu phát triến kinh
tế - xã hội Nhiệm vụ của cơ sở đào tạo nghề là hàng năm cung ứng cho các cơ
sở sản xuất những CNKT các trình độ có đầy đủ các kiến thức, kỹ năng và thái
độ lao động nghề nghiệp cần thiết theo yêu cầu của sản xuất
Các cơ sở sản xuất có nhiệm vụ là góp phần làm phát triển kinh tế, làm ranhiều của cải vật chất và dịch vụ xã hội với chất lượng cao đẻ đưa nền kinh tếphát triển Do vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ liên kết với cơ sở đào tạonghề không thể làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, mà ngược lại, cần có kếhoạch, tận dụng các cơ hội hợp tác đê phát triển sản xuất
Nói một cách khác, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sởsản xuất trong việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo cũng nhưxây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo và cơ sởsản xuất đế không làm ảnh hướng đến tiến độ công việc của mỗi bên mà ngược
Trang 36lại, cần biết tận dụng sự hợp tác để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việccủa mỗi bên.
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề
với cssx.
1.3.4.1 Cơ chế, chính sách của Nhà nước.
Cơ chế chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ hên kếtgiữa nhà trường với cssx, nó thúc đẩy hoặc kìm hãm mối quan hệ này bằng việctạo ra cơ chế, chính sách đế điều chỉnh Việc liên kết giữa trường dạy nghề và
cssx có tính khả thi hay không, yếu tố quyết định không phải là nhu cầu hay khảnăng của các bên mà sự liên kết đó có được luật pháp cho phép hay chưa Nếucho phép thì nằm ở trong phạm vi nào, do vậy khi thiết lập quan hệ liên kết, cảhai bên cần tính đến những giới hạn cho phép trong khuôn khổ của pháp luật.Mặt khác, trong quá trình liên kết, cả hai bên cần phải thường xuyên có những
đề xuất, kiến nghị phù hợp với thực tiễn của sản xuất đến các cấp quản lý đế cơchế chính sách được nghiên cứu bổ sung hoàn thiện, có lợi cho liên kết
1.3.4.2 Môi trường liên kết.
Xu thế toàn cầu và hội nhập quốc tế có ảnh hưởng tới tất cả mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội ở mỗi quốc gia Xu thế này đang ảnh hưởng tích cực đếnquan hệ liên kết giữa trường nghề và cssx, nó là động lực thúc đẩy nhàtrường và cssx xích lại gần nhau, cùng chung sức đào tạo ra đội ngũ lao động
có chất lượng cao đê đương đầu với cạnh tranh và liên kết, không chỉ ở thịtrường lao động trong nước mà cả thị trường khu vực và quốc tế Đối tác khôngchỉ giới hạn ở cssx, ở trường dạy nghề trong nước mà có thê liên kết cả vớinước ngoài
1.3.4.3 Các yếu tố bên trong mối quan hệ.
- Nhận thức và năng lực của người quản lý: Mối liên kết giữa trường DNvới cssx phụ thuộc vào mức độ nhận thức và năng lực của người quản lýtrường dạy nghề cũng như người quản lý cssx Có nhận thức sâu sắc về triết lý
Trang 37của mối liên kết thì mới xây dựng được một cách khoa học cơ chế, chiến lược,
kế hoạch hành động thiết thực trong việc liên kết song phương giữa trường DNvới cssx hoặc đa phương giữa nhiều trường DN cới nhiều cssx trên cơ sở đặcthù và thế mạnh của mỗi đối tác tham gia vào mối liên kết
- Thông tin về nhau: Thông tin là mạch máu của mọi hệ thống Nếu xemquản lý là một hệ thống thì nhất thiết không được thiếu thông tin trong quátrình quản lý Trong mối quan hệ hợp tác giữa trường nghề với cssx nếuhai bên không có những thông tin cần thiết về nhu cầu và năng lực của nhau thì
sẽ gây nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình hên kết
- Nhu cầu và năng lực của mỗi bên: Năng lực của tố chức đó là năng lựctài chính, năng lực cơ sở vật chất, trang thiết bị, năng lực con người, vànăng lực quản lý Năng lực thì có thể cải thiện dần theo quá trình song không
có nhu cầu thì sẽ không có hên kết Nhu cầu nhiều khi nó ở dạng tiềm ẩn, chỉkhi nào chủ thể nhận thức được đối tượng có khả năng thỏa mãn được nhu cầuthì lúc đó nhu cầu mới xuất hiện và nó trở thành động lực thúc đẩy chủ thểtích cực hoạt động đê chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu Như vậy,với tư cách là các nhà quản lý, cả lãnh đạo trường nghề và cssx cần phải cónghệ thuật khơi dậy nhu cầu đang ở dạng tiềm ẩn cho tổ chức mình cũng nhưcho đối tác để thúc đẩy liên kết
- Mức độ phù hợp giữa mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo với thựctiễn sản xuất: Sự năng động nhất trong nền kinh tế chính là cssx Nhạy bén vàthích ứng nhanh với nhu cầu và yêu cầu của thị trường là yếu tố sống còn của
cssx, do vậy họ luôn luôn thay đối cách thức hoạt động đế đáp ứng Trong khi
đó mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo thường có xu thế thay đổi chậmhơn nên tạo ra khoảng cách giữa "cái nhà trường có" với "cái doanh nghiệpcần" Cứ ở đâu khoảng cách này được rút ngắn thì ở đó quan hệ liên kết giữatrường nghề với cssx sẽ thuận lợi [18] [27]
Trang 381.3.4.4 Tính chất của lao động sản xuất ở cssx.
Đối với một số lĩnh vực sản xuất đòi hỏi sự lưu động về địa bàn nhưcông trình xây dựng thì việc kết hợp giữa kế hoạch thực tập của nhà trường vàtiến độ công việc của cssx sẽ khó khăn, điều này phải được chú ý khi kýhợp đồng liên kết cần lựa chọn các địa diêm hợp lý đê đảm bảo nội dung, tiến
độ thực tập
Trong tổ chức sản xuất thường được phân chia và chuyên môn hóa thànhcác tổ, đội, do vậy khi liên kết cũng cần phải có những phương án cụ thể: hoặcchia học sinh thực tập về các tổ, đội hoặc nhận trọn gói một khối lượng công việc
đế học sinh thực tập sản xuất và kết hợp làm ra sản phâm cho CSSX;
Nen kinh tế thị trường khiến cho cả cssx và trường nghề luôn phải chịu
áp lực cạnh tranh rất mạnh mẽ, do vậy, không nên quá kỳ vọng có thể hên kết lâudài với một đơn vị nào đó mà cả nhà trường và cssx phải luôn luôn tiếp cận vớithị trường lao động đế kịp thời giải quyết các khó khăn nảy sinh, đồng thời sẵnsàng thiết lập các mối quan hệ hên kết mới
Vấn đề an toàn lao động có liên quan đến tính mạng con người, do vậytrong các hợp đồng hên kết phải phân rõ trách nhiệm cho các bên hên quan:trách nhiệm về giảng dạy, về kiêm tra, giám sát, về thực hiện an toàn chongười và máy móc, trang thiết bị,
Để tăng sức mạnh cạnh tranh, nhiều cssx sẽ đầu tư công nghệ hiệnđại vào trong sản xuất Học sinh cần nắm chắc được nguyên lý vận hành củacác công nghệ sản xuất hiện đại ấy trước khi thực tập Giữa hai bên nhà trường
và cssx cần phải có sự phân định rõ ràng về công tác này
1.3.4.5 Quy mô, chât lượng của các bên tham gia liên kết.
Quy mô, chất lượng đào tạo của trường dạy nghề càng lớn thì càng cónhiều cssx đặt vân đề liên kết Và ngược lại, chính các cssx có quy mô lớn,trình độ công nghệ cao, tiềm lực kinh tế lớn sẽ thu hút và tạo sự bền vững chomối liên kết với trường dạy nghề
Trang 39Liên kết đào tạo giữa trường và cssx sẽ tác động cơ bản, toàn diện tớichất lượng của tất cả các yếu nói trên Cụ thể là:
- Khi có sự liên kết giữa nhà trường và cssx thì mục tiêu, nội dungchương trình được xây dựng sát hơn với yêu cầu thực tiễn của những người sửdụng lao động
- Đa số đội ngũ giáo viên ở các trường dạy nghề được đào tạo cơ bản, đạtchuẩn của Nhà nước đề ra, song kinh nghiêm sản xuất trực tiếp và việc làm thìchưa thành thục bằng những người thợ cả tại các cơ sở sản xuất Khi nhà trường
và cssx kết hợp đào tạo sẽ tận dụng được thế mạnh của cả phía nhà trường và
cssx, đội ngũ giáo viên cho đào tạo nghề được tăng lên cả về qui mô và chấtlượng, đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành, từ đó nâng cao chất lượng đàotạo
- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại các trường DN chủ yếu được chọn ra
từ đội ngũ giáo viên Khi liên kết với các cssx, đội ngũ cán bộ quản lý được bổsung từ phía cssx Điều này rất có lợi cho việc tố chức, quản lý quá trình đàotạo, đặc biệt là các khâu tuyến sinh, thực tập sản xuất, việc làm, tham gia xâydựng chương trình
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo là một trong những yếu tố
cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo nghề Liên kết đào tạo với cssx thì cơ sởvật chất phục vụ đào tạo sẽ tăng lên, thiết bị phục vụ đào tạo được cập nhật, tănglên về số lượng cũng như chất lượng Đồng thời giúp học viên tiếp cận với thực
tế thiết bị hiện đại đang vận hành, dây chuyền sản xuất hiện đại
- Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm các nguồn từ ngân sách, học phí,các nguồn thu và hỗ trợ khác Hiện nay, ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế và ởmức thấp so với quốc tế Khi có sự liên kết về mặt tài chính, cssx sẽ đầu tư vàđóng góp một phân kinh phí cho đào tạo học viên (mà họ sẽ sử dụng) đế pháttriển nguồn nhân lực
Trang 40- Giới thiệu và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp là một dịch vụ quan trọngdành cho học sinh học nghề Neu có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và
cssx sẽ góp phần khắc phục tình trạng thất nghiệp của những học viên họcnghề Học viên được đào tạo sẽ có địa chỉ sự dụng hoặc tối thiểu là được đào tạotheo “cầu” của thị trường lao động Từ đó giúp người học an tâm học tập, nângcao chất lượng đào tạo và giảm lãng phí cho xã hội [18] [27]
Tóm lại, thiết lập sự liên kết giữa trường và cssx trong đào tạo nghề sẽcải thiện các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đàotạo nghề
Kết luận chương 1
Chất lượng đào tạo nghề chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: mục tiêu,nội dung chương trình đào tạo; phương pháp đào tạo; đặc điểm hoạt động học tậpcủa học sinh trường nghề; đội ngũ giáo viên dạy nghề; cơ sở vật chất, phươngtiện thiết bị dạy học; sự liên kết giữa trường nghề với cssx, Trong đó mối quan
hệ liên kết giữa trường nghề với cssx có một vai trò đặc biệt, nhất là trong xu thếhội nhập nền kinh tế quốc tế có sự cạnh tranh khốc liệt về chất lương sản phâm,
kể cả loại sản phẩm đặc biệt đó là nguồn nhân lực đã qua đào tạo
Vấn đề liên kết giữa trường nghề với cssx nhằm nâng cao chất lượng đàotạo đã được một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến, tuynhiên những công trình nghiên cứu này còn ít ỏi, các kết quả nghiên cứu cònhạn chế và thiếu tính hệ thống
Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề là một yêu cầu bức thiết nhằmđáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tê trong giai đoạn hiện nay Nó đòi hỏi các thế hệ người lao động phải đượcđào tạo một cách linh hoạt, đáp ímg được những biến động của thị trường.Nghĩa là chất lượng đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được thể hiện ở kiến