Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hànhchương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW về nông nghiệp,nông dân, nông thôn đã đặt ra nhiệm vụ: tập trung
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đào tạo nghề cho người lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn (nơi tậptrung lớn nguồn lao động chưa qua đào tạo) có vai trò hết sức quan trọng đối vớiviệc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiên đại hoá nông nghiệp nông thôn
Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5/8/2008 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; một trong những nhiệm vụ
và giải pháp quan trọng của Nghị quyết là: “Hình thành Chương trình mục tiêuquốc gia về ĐTN, phát triên nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng
1 triệu lao động nông thôn Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác ĐTN Đếnnăm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng dưới 30% lao động xă hội; tỷ lệ laođộng nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%” [2]
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hànhchương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW về nông nghiệp,nông dân, nông thôn đã đặt ra nhiệm vụ: tập trung xây dựng kế hoạch và giảipháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ởcác cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận nôngdân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng đêthực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng caokiến thức cho CBQL, cán bộ cơ sở [3]
Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số và nguồn lao động lớn Trong đó, nôngthôn Nghệ An có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng (chiếm 70% tổng lựclượng lao động), là nơi cung cấp nhân lực cho các khu đô thị và KCN Tuynhiên, nguồn lao động này chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nôngnghiệp, chưa qua đào tạo; ít có cơ hội để phát huy khả năng cống hiến của mình
Trang 2cho sự phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Bởi vậy, phát triển nguồn nhân lực, trong đó dạy nghề cho lao động nông thôn lànhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh.Công tác ĐTN cho lao động nông thôn tỉnh Nghệ An thời gian qua tuy đã cóbước chuyển biến, nhưng vẫn còn một số hạn chế, bất cập: cơ cấu ngành nghềchưa hợp lý, việc tổ chức dạy nghề chưa gắn với quy hoạch sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, chưa gắn với chính sách đầu tư
hạ tầng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nôngthôn ở một số CSDN còn chạy theo số lượng mà chưa coi trọng chất lượng, chưađạt tỷ lệ lao động nông thôn sau học nghề có việc làm mới hoặc làm công việc
cũ với hiệu quả cao hơn, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và xãhội
Là một cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về dạy nghề tại Sở Laođộng - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, với mong muốn góp phần tìm ragiải pháp quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp nông thôncủa tỉnh, đưa Nghệ An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, tác giả
đã lựa chọn đề tài: “Một so giải pháp quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu.
Đe xuất một số giải pháp quản lý có hiệu quả nhằm quản lý chất lượngĐTN cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, góp phần phát triểnĐTN của tỉnh Nghệ An
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cúu
- Khách thế nghiên cứu: ĐTN cho lao động nông thôn
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý chất lượng ĐTN cho laođộng nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 3- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở đối tượng là lao động nông thôntham gia học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng)trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến
đề tài nghiên cứu từ các nguồn thông tin như: các niên giám thống kê của Cụcthống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ke hoạch và Đầu tư, Quyhoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và số liệu các ngànhLao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, CụcThống kê, Ke hoạch và Đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo và trênmạng Internet,
5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp thống kê, so sánh: Đê đánh giá thực trạng đào tạo nghề cholao động nông thôn và quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến cán bộquản lý, Ban Giám hiệu ở các cơ sở dạy nghề, về các giải pháp quản lý chấtlượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 4- Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một
số giáo viên, cán bộ quản lý có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lýnhằm thu thập thêm thông tin cho nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu thu được
6 Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện đồng bộ, sáng tạo các giải pháp như luận văn đã trình bày
sẽ nâng cao chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng và lĩnh vực ĐTNcủa tỉnh nói chung
7 Đóng góp của luận văn
- về lý luận: Góp phần cụ thể hoá một số vấn đề về khoa học giáo dục nóichung và vấn đề quản lý chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng
- về thực tiễn: Góp phần đánh giá thực trạng ĐTN cho lao động nôngthôn và đưa ra một hệ thống các giải pháp quản lý tương đối đồng bộ và khả thinhằm nâng cao chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh NghệAn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụlục, luận văn được bố cục thành 3 chương:
- Chương 1: Cở sở lí luận của vấn đề quản lý chất lượng đào tạo nghề cholao động nông thôn
- Chương 2: Thực trạng ĐTN cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnhNghệ An
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý chất lượng ĐTN cho lao động nôngthôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 5Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÈ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DÀO TẠO
NGHÈ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 ơ nước ngoài
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác ĐTN nên học sinhđược định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông Ở Nhật, Mỹ,Đức, Nga, Na- Uy người ta xây dựng nên các bộ công cụ đê kiểm tra giúp phânhóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệpđúng đắn từ sớm Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy
mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bảnthân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội
Na-Uy được xem là quốc gia sở hữa nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trênthế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề Chính vìvậy, trong nhiều năm qua chất lượng ĐTN tại quốc gia này hên tục tăng cao,đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển Nhận thức được tầm qua trọngcủa công tác ĐTN cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế,
từ những năm 1994 cho đến nay, Chính phủ Na Uy liên tục có những cải cách vềgiáo dục - đào tạo, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả phát triển KT-XH củaquốc gia này Các tổ chức ĐTN Na - Uy đã thiết lập và cây dựng nhiều mô hìnhlinh hoạt, uyển chuyển như: “mô hình 1+3” (1 năm học tại trường và 3 năm họcnghề), “mô hình 0+4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả caotrong công tác đào tạo tại quốc gia này Sự kết họp hài hòa và khoa học này đãtạo cơ hội cho những người thợ có điều kiện học lên bậc cao hơn đê nâng caotay nghề Theo đánh giá của tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống ĐTN của Na Uy khátoàn diện và ít khiếm khuyết khi kết họp quá trình ĐTN với chương trình giáodục phổ thông Sự kết hợp này đã tạo điều kiện để những người thợ có thế học
Trang 6lên cao hơn khi họ muốn để có một tương lai sự nghiệp vững vàng hơn [21].
Nga không chỉ là quốc gia có diện tích đất nông nghiệp cũng lớn nhất thế giới Để
có được những người nông dân tương lai gắn bó với nghề trên đồng ruộng,Chính phủ Nga đã chú ý phát triển nhiều hình thức ĐTN khác nhau Trước hết,chú trọng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghề nông cho học sinh trung họcnăm cuối phố thông, gọi là hình thức đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp, tại cáctrường CĐ chuyên nghiệp Học sinh có nhu cầu học nghề phải làm đơn nhập họctheo Quy chế đào tạo chung của nhà nước Những người được tuyển thường làhọc sinh đã tốt nghiệp phổ thông Sau khi được tuyển vào học, các em sẽ đượchọc nghề từ 1 đến 3 năm tùy thuộc vào trình độ học vấn phổ thông của mình Cóhai hình thức đào tạo: chính quy (ban ngày) và không chính quy (ban đêm) ỞNga, trong hệ thống đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp cho nông dân có 280 ngànhnghề khác nhau, từ kỹ năng nuôi trồng sản phâm nông nghiệp, tới thương mại,dịch vụ, kỹ’ thuật, giao thông trong nông nghiệp v.v [3]
Trung Quốc là đất nước đông dân nhưng là nước có nền kinh tế ổn định
và tăng trưởng Tuy nhiên, sự phát triển của Trung Quốc là không đồng đều Ởcác khu vực đô thị, các trung tâm công nghiệp dịch vụ lớn có tốc độ tăng trưởngcao Còn ở nông thôn Trung Quốc, những nguồn lực tự nhiên, nhất là đất nôngnghiệp tương đối khan hiếm; dân số đông nhưng chất lượng thấp, kinh tế chậmphát triển Do đó, phát triển nguồn lao động nông thôn là giải pháp có tính quyếtđịnh đê giải quyết vấn đề “tam nông” tại Trung Quốc Giáo dục và dạy nghề ởTrung Quốc hiện chia làm 3 cấp cấp đầu tiên được thực hiện chủ yếu trong cáctrường dạy nghề và nhằm đào tạo công nhân, nông dân và nhân công cho cácngành nghề với kiến thức nghề nghiệp cơ bản và những ký năng nhất định Đêđáp ứng nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế địa phương, các trường dạynghề cấp một này chỉ mở ở các vùng nông thôn, nơi kinh tế chưa phát triển.Trường dạy nghề cấp hai không chỉ cung cấp cho xã hội những công nhân lành
Trang 7nghề mà họ còn được đào tạo thêm kiến thức về văn hóa để có thê thích nghi vớicác khu chế xuất, KCN Với việc học nghề kéo dài 2-3 năm, giáo dục hướngnghiệp cấp ba ở Trung Quốc chủ yếu tuyển sinh những học viên đã từng tốtnghiệp các trường dạy nghề cấp 2 nhằm đào tạo những công nhân có trình độ kỹthuật cao Đế đáp ứng nhu cầu của các nhóm người khác nhau trong việc tìmviệc làm và chuẩn bị kỹ năng đế làm những nghề nghiệp khác nhau, Chính phủTrung Quốc đã thực hiện nhiều chương trình ĐTN Ngoài ra, Trung Quốc cũngđưa ra các khóa học hướng nghiệp sớm cho những tú tài đã trượt ĐH nhằm giúpcác em nắm được ký năng nghề hoặc lấy được chứng chỉ nghề trước khi bắt đầutìm việc [13].
ơ Hàn Quốc, chiến lược về phát triển nguồn lao động, trong đó có dạynghề cho người lao động được đặc biệt chú trọng Để có nguồn nhân lực đápứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ phải chủ động xâydựng và công bố các định hướng phát triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn vàngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ sở đó hình thành kếhoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng ngành vàlĩnh vực kinh tế trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, đặc biệt trong điềukiện nền kinh tế đang trong quá trình đây mạnh chuyên dịch cơ cấu kinh tếngành, lĩnh vực đế thực hiện CNH-HĐH Trong quá trình này, Chính phủ phảithường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế đế điều chỉnh kịp thờicông tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành vàđào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lựcchuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mói Chính phủ phải chủ động đầu
tư vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia với những nghề mới, baogồm các hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra người lao động có trình độ chuyênmôn về lý thuyết và có tay nghề thực tiễn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất các yêucầu của nền kinh tế [6]
Trang 8Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệmquản lý ĐTN của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn ĐTN ởViệt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sứcđương đầu với cạnh tranh và hợp tác.
1.1.2 Ở trong nước
ĐTN cho lao động nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước nhằm tạo mọi điều kiện cần thiết đê người dân được học nghề và có việclàm phù hợp tạo thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo; nâng cao chất lượngcuộc sống của lao động nông thôn Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ lao độngnông thôn học nghề đã được ban hành đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phầnnâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn Điều này được cụ thể hóa trong “Chiến lượcphát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020”, “Đề án ĐTN cho lao động nông thônđến năm 2020”, “Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm”, “Đề án hỗtrợ phụ nữ học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2011-2015”
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước cũng đã đềcập đến các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhânlực nông nghiệp nông thôn nói riêng
Năm 2000, tác giả Phạm Đức Thành và tác giả Lê Doãn Khải đã xuất bảncuốn: “Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH ở vùngBắc Bộ nước ta” Công trình khoa học trên đã đưa ra các quan điếm và giảipháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướngCNH-HĐH trong nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ đến năm
2010 Tuy nhiên, công trình chỉ tập trung vào các vấn đề của chuyển dịch cơ cấulao động trong điều kiện tác động của CNH-HĐH mà không đề cập đến ĐTNvới tư cách là đối tượng nghiên cứu chính [11]
Trang 9Năm 2000, ĐH kinh tế Quốc dân xuất bản cuốn “Thực trạng và giải phápphát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam”, nhà xuất bảnChính trị Quốc gia Tuy cuốn sách đã đặt ra những vấn đề cho việc nâng caotrình độ cho chủ trang trại, đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo cho chủtrang trại; nhưng vấn đề đào tạo cho chủ trang trại chỉ thể hiện một bộ phận rấtnhỏ của nguồn lao động nông thôn [7].
Năm 2004, tác giả Đỗ Minh Cương và tác giả Mạc Văn Tiến đã xuất bảncuốn “Phát trién lao động kỹ thuật ở Việt Nam: lý luận và thực tiễn” Tác giả đãphân tích, đánh giá thực trạng phát triển lao động kỹ’ thuật ở Việt Nam đến năm
2010 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu không đi sâu vào các vấn đề trực diệncủa ĐTN cho lao động nông thôn [14]
Năm 2005, đề tài về “Nghiên cứu thực trạng việc làm, thu nhập và đời sốngcủa người dân bị thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị và cho nhu cầucộng đồng, lợi ích quốc gia” do Chính phủ giao cho ĐH Kinh tế quốc dân đượctriển khai [12] Kết quả của đề tài đã được biên tập và xuất bản thành sách.Trong đó, thực trạng đào tạo cho những người bị thu hồi đất đã được phân tích,
đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả Nguyễn Xuân Bảo, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, có nhữngnghiên cứu về ĐTN và đưa ra những kết quả, những hạn chế của ĐTN [10].Người viết đã chỉ ra các nguyên nhân với sự nhấn mạnh về: Hệ thống đào tạogiáo viên nghề chưa đạt yêu cầu, năng lực chuyên môn, kỹ năng giảng dạy thựchành còn yếu; kiến thức và kỹ năng sư phạm còn hạn chế; chương trình ĐTNcòn lạc hậu
Năm 2011, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản cuốn “Mô hìnhdạy nghề và GQVL cho lao động ở khu vực chuyển đối mục đích sử dụng đất”[29] Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề chủ yếu của đô thị hóa và những hệ
Trang 10lụy đối với nông thôn Việt Nam; nhu cầu học nghề của người lao động và những
mô hình dạy nghề GQVL cho các nhóm lao động nông thôn khác nhau
Ngoài ra, trên các tạp chí, các bài báo, trang Web và trang thông tin vềĐTN nói chung, ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng đã được đăng tải Mỗibài viết đều thể hiện một cách nhìn, cách đánh giá về các vấn đề quan trọng nhưthực trạng, kết quả ĐTN, những hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất nhữnggiải pháp cần khắc phục
Trên đây là sự khái lược kinh nghiệp của một số nước và một số công trìnhnghiên cứu trong nước có liên quan đến vấn đề ĐTN cho lao động nông thôn.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đều đề cập các vấn đề ở tầm vĩ mô, chưa
đi sâu vào nghiên cứu quản lý chất lượng đào tạo nghề Xuất phát từ điều kiệnKT-XH của địa phương, để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nôngnghiệp, nông thôn, tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài “Một so giải pháp quản lý
chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An "
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Có nhiều khái niệm về quản lý, trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ chọn
và làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý)
- Quản lý thê hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phươngtiện tài chính để kết họp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu địnhtrước
- Chủ thể muốn kết hợp đế các hoạt động của đối tượng theo một địnhhướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuânthủ
Trang 11- Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành côngviệc qua những nỗ lực của người khác.
- Quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cánhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm
Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn Quản lý là quá trình đạtđến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kếhoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra công việc của các thành viênthuộc một hệ thống, đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp đê đạt đượcmục đích đã định
Theo khái niệm này, bản chất quá trình quản lý gồm các thành tố: Lập kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau
Sơ đồ về bản chất của quá trình quản lý có thể biếu diễn như sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ khái quát quá trình quản lý.
- Lập kế hoạch: Là ra quy định, nó bao gồm việc lựa chọn một đường lốihoạt động mà cơ sở, đơn vị, bộ phận đó sẽ tuân theo Ke hoạch là văn bảntrong đó xác định những mục tiêu và những quy định thể thức đế đạt được mục
tiêu đó
Trang 12Lập kế hoạch là quá trình xác định thiết lập các mục tiêu hệ thống cáchoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kế hoạch là nềntảng của quản lý.
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bố công việc, quyền hành và cácnguồn lực khác nhau cho các thành viên đê có thể đạt được các mục tiêu của tổchức một cách hiệu quả Với các mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chứckhác nhau Người quản lý cần lựa chọn các cấu trúc tổ chức phù hợp với mụctiêu nguồn lực hiện có
- Lãnh đạo là điều hành, điều khiển đối tượng hoạt động và giúp đỡ cáccán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công
- Kiêm tra: Là hoạt động của người quản lý đế kiếm tra các hoạt động củađơn vị về thực hiện mục tiêu đặt ra Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra là:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
I Điều chỉnh hoạt động khi có sự chênh lệch
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất Trong đó, mỗichức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc vàochức năng khác Quá trình ra các quyết định quản lý là qua trình thực hiện cácchức năng theo một trình tự nhất định Nhà quản lý không được bỏ qua hay coinhẹ bất kỳ một chức năng nào
Xem xét nội hàm của khái niệm quản lý, có thê thấy rõ quản lý là mộthoạt động xã hội, trong đó có sự tác động của chủ thế quản lý (người quản lý,
tổ chức quản lý), có sự chịu tác động và thực hiện của khách thể quản lý(người bị quản lý, đối tượng bị quản lý) để đạt được mục tiêu của tổ chức
Như vậy, theo chúng tôi, quản lý là “sự tác động có ý thức của chủ thểquản lý đế chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt
Trang 13động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phùhợp với quy luật khách quan”.
1.2.2 Chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất cúa tất cả các cơ sở đào tạo,việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụquan trọng nhất của bất cứ cơ sở đào tạo nào Mặc dù có tầm quan trọng nhưvậy, nhưng chất lượng vẫn là khái niệm khó định nghĩa, khó đo lường Bởi đây
là một khái niệm tương đối trừu tượng, cùng với sự phát triển của xã hội, kháiniệm chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể
Trước đây, người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêuchuẩn chất lượng được coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài Ngàynay, khái niệm chất lượng không được gắn với một tiêu chuẩn cố định nào đó,
mà “chất lượng là một hành trình, không phải là một diêm dừng cuối cùng mà
ta đi tới” Đây là quan niệm “động” về chất lượng, trong đó chất lượng đượcxác định bởi người sử dụng sản phẩm - dịch vụ hay trong nền kinh tế thịtrường còn gợi là khách hàng Khách hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sảnphẩm - dịch vụ có nghĩa là sản phẩm - dịch vụ đó có chất lượng
Bên cạnh sự thay đối về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhaucũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng Có một số khái niệmtiêu biếu về chất lượng như: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị nhữngthuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sựvật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.Chất lượng biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết cácthuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thê bao quáttoàn bộ sự vật và không tách rời khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn là bản thân nóthì không thê mất đi chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sựthay đổi của sự vật về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn vói
Trang 14tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi
sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” - theo Từ điểntiếng Việt, năm 1999 [22]
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứngđược các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” - theoISO 9000-2000 [28]
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đốitượng cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử - cụ thể của đối tượng
đó
1.2.3 Đào tạo nghề
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số76/2006/QH11 Trong đó viết: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề đê
có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thanh khóa học"[16]
Như vậy, đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ vớinhau, đó là:
- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lýthuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sựkhéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thựchành của người lao động đế đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [14]
ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người laođộng để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn Đào tạo nghề bao gồm: Đàotạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa ) vàphổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông thôn)
Trang 15Qua đó, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc GQVLcho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng đó là yếu tố cơbản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Hiện nay,dạy nghề có sự tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ởchỗ: nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương lai lại phải vừachuyên sâu về kiến thức, vừa thành thục về kỹ năng, tay nghề Đây là điểmkhác biệt lớn trong dạy nghề so với học văn hóa.
Trong Luật dạy nghề số: 76/2006/QH11 cũng xác định: "Mục tiêu củadạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có nănglực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâmnghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điềukiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạoviệc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" [16]
Như vậy, nội dung của ĐTN bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyếtcho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tácphong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp
họ có thể làm một nghề nhất định
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề là: học đi đôi với hành; lấythực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lươngtâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp củangười học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện
Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, TCN,CĐN Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên
1.2.4 Chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn
đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục
Trang 16-đào tạo cũng như các cơ sở -đào tạo trực tiếp Có nhiều cách hiểu khác nhau vềchất lượng ĐTN với những khía cạnh khác nhau.
Quan điếm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng ĐTN phụ thuộcđầu vào của hệ thống đào tạo Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáoviên giỏi, CBQL giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi, thì chất lượngĐTN được nâng cao Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng ĐTN được đánhgiá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng mức độ hoàn thànhcủa học viên tốt nghiệp Một số quan điếm khác lại khắng định chất lượng ĐTNđược quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt là hệ thốngthông tin và hệ thống các quyết định tối ưu Chất lượng đào tạo là kết quả cuốicùng đạt được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành quá trình đàotạo Chất lượng đào tạo nghề là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo nghề
Có thể khái quát quan niệm này như sơ đồ sau:
Trang 17- pp, PT: Phương pháp đào tạo, phương tiện phục vụ đào tạo.
- GV: Giáo viên và CBQL đào tạo
- HV: Học viên
- ND: Nội dung đào tạo
- csvc, TC: Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo
- Q: Chất lượng đào tạo
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm: Chất lượng sẽ đánh giábằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phấm chất đốinghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền ĐTN sẽ đảm bảo, nâng cao chấtlượng nếu thực hiện các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu của khách hàng; tập trungvào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ chức của mình; có tầm nhìndài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả; có đổi mói; hữu hiệu; tổ chứctiếp thị tốt với thị trường
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm vềchất lượng ĐTN nêu trên, có thể hiểu chất lượng ĐTN với những điếm cơ bảnnhư sau: Chất lượng ĐTN là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấuthành hệ thống ĐTN và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định
Mức độ tác động tích cực của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTNkhông giống nhau Vì vậy, đế nâng cao chất lượng ĐTN cần phải tìm biện phápquản lý tốt trong quá trình đào tạo
Đẻ đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác ĐTN, có nhiều việc phảilàm, song việc trước hết cần nâng cao nhận thức về công tác ĐTN, đồng thời đổimới mạnh mẽ công tác quản lý ĐTN và phương pháp thực hiện Đây là nhữngkhâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác ĐTN
Tóm lại, mặc dù khó có thể đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong giáodục nghề nghiệp, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra cách tiếp cận phổbiến nhất Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm
Trang 18mang tính tương đối, động, đa chiều, và với những người ở các cương vị khácnhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó Chẳng hạn: đối với giáoviện dạy nghề và học sinh thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quátrình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề phục vụ cho công tác dạy vàhọc Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họlại ở đầu ra, tức là ở kiến thức, kỹ năng tay nghề, thái độ nghề nghiệp và nănglực làm việc của người học sau học nghề Do vậy, không thể nói tới chất lượngnhư một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục tiêuhay ý nghĩa của nó, và ở khía cạnh này, một trường ĐTN có thể có chất lượngcao ở lĩnh vực này nhưng ở lĩnh vực khác lại có chất lượng thấp.
Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạccác tiêu chí với những chỉ số được lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảochất lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo dục nghềnghiệp vói xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới nhằm đưagiáo dục nghề nghiệp Việt Nam hòa nhập với giáo dục nghề nghiệp thế giới
1.2.5 Quản lý chất lượng đào tạo nghề
Quản lý chất lượng ĐTN thực chất là quản lý các yếu tố sau theo một trình
tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù họp với điều kiện thực tế của đơn vị, đemlại hiệu quả trơng công tác đào tạo Các yếu tố đó là:
- Mục tiêu đào tạo nghề
- Phương pháp đào tạo nghề, phương tiện phục vụ đào tạo nghề
- Giáo viên và CBQL đào tạo nghề
- Học viên
- Nội dung đào tạo nghề
- Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo nghề
- Chất lượng đào tạo nghề
Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau
Trang 19Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý chất lượng ĐTN cần tiến hànhcác bước theo quy trình như quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tố chức, chỉ đạo,kiểm tra, đánh giá.
Trong quá trình quản lý chất lượng đào tạo nghề, các yếu tố trên luôn luônvận động và tác động qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lý.Nhà quản lý phải thướng xuyên theo dõi, đánh giá, xử lý các sai lệch để kịp thờiđiều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục - đào tạo phát triển liên tục
1.2.6 Lao động nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn, trong đó hoạt động nông nghiệpđóng vai trò chủ yếu và quan trọng
Lao động nông thôn là lực lượng lao động sinh sống và làm việc ở khuvực nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 16đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động
Sự khác nhau giữa khái niệm ĐTN nói chung và ĐTN cho lao động nôngthôn nói riêng chính là ở đối tượng của ĐTN - những người lao động nôngthôn và những điều kiện gắn với quá trình đào tạo đó
Từ khái niệm về ĐTN, ta có thể đưa ra khái niệm ĐTN cho lao độngnông thôn như sau:
- ĐTN cho lao động nông thôn là hoạt động kết hợp giữa dạy nghề vàhọc nghề nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cholao động nông thôn đẻ họ có được một trình độ, kỹ năng kỹ xảo đối với nghềnghiệp, có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóahọc
Xét về đối tượng đào tạo, ĐTN cho lao động nông thôn có các đặc diêmchủ yếu sau:
- Đối tượng ĐTN cho lao động nông thôn có số lượng lớn Do nguồn laođộng nông thôn không chỉ lớn về số lượng, mà còn thể hiện ở chất lượng của
Trang 20nguồn lao động nông thôn thấp nên yêu cầu đào tạo cao Năm 2007, lực lượnglao động nông thôn của cả nước là 34,8 triệu người, chiếm 74,5% tổng lựclượng lao động, trong đó lao động trong độ tuổi lao động là 32,73 triệu người,
và tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo người là 81,32% [24]
- Đối tượng ĐTN cho lao động nông thôn rất đa dạng Thê hiện ở độtuổi, trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh vàhoàn cảnh sống Bởi vậy, hoạt động ĐTN cho lao động nông thôn cần được tổchức linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của đối tượng tham gia học nghề
- Lao động nông thôn mang tính thời vụ (đặc biệt là bộ phận lao độngsản xuất trực tiếp) Vì vậy, đòi hỏi việc tố chức ĐTN, tập huấn kiến thức liênquan về cây trồng vật nuôi cũng phải được sắp xếp phù hợp và kịp thời vụ đêđạt hiệu quả Đặc điểm này dẫn đến một bộ phận lớn người lao động nôngnghiệp, nông thôn sẽ có thời gian rảnh rỗi, nông nhàn sau mùa vụ Đe tăng thunhập, đảm bảo cuộc sống cho lao động nông thôn, công tác ĐTN không chỉ tậptrung vào việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng các nghề thuộc lĩnh vực nông,lâm, ngư nghiệp, mà còn dạy nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thủ côngnghiệp, thương mại, dịch vụ nhằm giúp người lao động có thể kiếm thêmviệc làm và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực lao động
Do có những đặc điểm trên, nên các điều kiện đảm bảo để tổ chức dạynghề cho lao động nông thôn (cơ sở đào tạo, GVDN, chương trình đào tạo,hình thức đào tạo ) cũng cần có sự thích ứng Xã hội hóa các nguồn lực và đadạng hóa các hình thức ĐTN là giải pháp quan trọng đế nâng cao năng lực của
tổ chức ĐTN cho lao động nông thôn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và ĐTN cho lao động nông thônnói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan vàchủ quan Có thể phân các yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
Trang 21ĐTN nói chung và ĐTN cho lao động nông thôn chịu ảnh hưởng trướctiên là của các nhân tố bên trong của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thốngCSDN; cơ sở vật chất, tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên, học viên họcnghề; chương trình, giáo trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm;kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ , những yếu tố này được coi lànhững yếu tố đảm bảo chất lượng của ĐTN:
1.3.1 Cơ sở vật chất, tài chính
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tậpsản xuất, thư viện - học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng ĐTN.Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trình ĐTN, nógiúp cho học viên có điều kiện thực hành đế hoàn thiện kỹ năng Điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát với côngnghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng có thể thích ứng, vậndụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết
bị cho ĐTN đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của máy móc, công nghệsản xuất
Tài chính cho ĐTN cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chấtlượng đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng ĐTN thông qua khả năngtrang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo,bồi dưỡng CBQL, giáo viên, Tài chính đầu tư cho ĐTN càng dồi dào thỉcàng có điều kiện bảo đảm chất lượng ĐTN
1.3.2 Đội ngũ giáo viên và CBQL
GVDN là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng nhưcác kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở trangthiết bị dạy học hiện có Vỉ vậy, năng lực GVDN tác động trực tiếp đến chấtlượng ĐTN
Trang 22GVDN phải có đủ cả về số lượng và chất lượng, có đủ về số lượng thì mới
có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ giáo viên có chất lượngthì mới có thế giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề một cáchhiệu quả
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN đó là độingũ CBQL dạy nghề Trong giai đoạn trước đây, vai trò của các CBQL trongcác cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay,nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghềđòi hỏi đội ngũ CBQL phải là những người thực sự có trình độ Chất lượngCBQL cũng có ảnh hưởng rất lớn đến ĐTN, thê hiện qua khả năng tổ chức,quản lý, điều phối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội họp tác, hên kết đàotạo
1.3.3 Người tham gia học nghề
Người tham gia học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyếtđịnh đối với công tác ĐTN, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác ĐTN Trình
độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượngĐTN Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của người học càng cao thìkhả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chấtlượng ĐTN càng cao và ngược lại
1.3.4 Mục tiêu đào tạo
Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mụctiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễncủa thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hợp tác đàotạo Các mục tiêu đào tạo càng sát thực, càng khả thi thì chất lượng ĐTN càngđược nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo nghề cần phải có sự khảosát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với tìmg yếu tố
Trang 231.3.5 Chương trình, giáo trình đào tạo
Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nướccác cấp, các ngành đối với hoạt động của các cơ sở ĐTN Chương trình đào tạophù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quantrọng, quyết định chất lượng đào tạo Không có chương trình đào tạo sẽ không
có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạo của các đối tượng tham gia đàotạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát không theo một tiêu chuấn thống nhất
Trong lĩnh vực dạy nghề, chương trình đào tạo gắn với nghề đào tạo.Không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều cóchương trình riêng Do vậy, một CSDN có thể có nhiều chương trình đào tạonếu như cơ sở đó đào tạo nhiều nghề Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu, đánhgiá thực trạng về chương trình ĐTN xét ở mức độ có hay không có, không thểchỉ căn cứ vào cơ sở ĐTN mà phải căn cứ vào các nghề mà cơ sở đó đào tạo
Chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tươngứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượngnội dung cũng như thời gian học
Giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụthể trong đào tạo Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên đượccập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo mới sát thực tế và hiệu quả ĐTN mới
Trang 24KT-XH của địa phương, điều kiện tự nhiên, cơ chế chính sách thể chế chínhtrị, kinh tế - xã hội, qui mô - cơ cấu lao động, nhận thức xã hội về ĐTN.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN có thế khái quát như sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Các yếu tổ tác động đến chất lượng đào tạo
1.4 Phân loại và các hình thức đào tạo nghề
1.4.1 Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại ĐTN, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể phânloại ĐTN thành các loại hình khác nhau Trong phạm vi bài này chỉ xét hai tiêuthức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian ĐTN:
+ Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một nămchủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng laođộng ỏ mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn cóthể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quanđoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên
Trang 25+ Đào tạo dài hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trởlên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.ĐTN dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn.
- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
+ Đào tạo mới: Là loại hình ĐTN áp dụng cho những người chưa có nghề,
để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề
+ Đào tạo lại: Là quá trình ĐTN áp dụng với những người đã có nghềsong nghề hoặc chuyên môn của họ không còn phù hợp nữa
I Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinhnghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phứctạp hơn
1.4.2 Các hình thức đào tạo nghề
Với đối tượng ĐTN đa dạng, có những điếm đặc thù, nên hình thức ĐTNcho lao động nông thôn cũng đa dạng Từ thực tiễn ĐTN cho lao động nôngthôn hiện nay, về cơ bản thường áp dụng một số hình thức chính sau đây:
- ĐTN chính quy:
Theo quy định của Luật dạy nghề, ĐTN chính quy được thực hiện với cácchương trình sơ cấp nghề, TCN và CĐN tại các CSDN theo các khóa học tậptrung và liên tục Có thể hiểu ĐTN chính quy là loại hình đào tạo tập trung tạicác TTDN, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đàotạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giai đoạnhọc tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản làgiai đoạn ĐTN theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảngdạy và tương đối ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyên môn, người họcđược trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo
để nắm vững nghề đã chọn Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học
Trang 26sinh được học một cách có hệ thống từ đưn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đếnthực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễdàng; đào tạo tương đối toàn diện.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủđộng, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tươngđối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất
và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai tròquan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật Tuy nhiên, đào tạochính quy cũng có nhược điểm là: thời gian đào tạo tương đối dài đòi hỏi phảiđầu tư lớn đê đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các CBQL
- ĐTN tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
ĐTN tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽđược dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tếthực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động
có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong qúatrình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự
tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việcthường chia làm ba giai đoạn Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừahướng dẫn cho học viên Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ
đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc Giai đoạn ba, giao việchoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: có khả năng đàotạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn;không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý,thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo; trong quá trình học tập, ngườihọc còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thể
Trang 27nắm chắc kỹ năng lao động Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là:Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; người dạy không
có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy
lý thuyết gặp nhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế; học viên khôngchỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thóiquen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợpvới những công việc đòi hỏi trình độ không cao
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết vàthực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuậtphụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các
kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu ápdụng đê đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiêu biết rộng về lýthuyết và độ thành thục cao
Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tươngđối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở cácphân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề: bộ máy đào tạo gọn, chi phíđào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở nhữngdoanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành cótính chất giống nhau
- ĐTN kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức ĐTN kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khárộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những nămgần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu “ĐTN kết hợp tạitrường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học cóhai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chungcủa hệ thống”
Trang 28ĐTN kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới nhiềuhình thức khác nhau tùy theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnh thổ vàkhu vực.
1.5 Một số vấn đề về quản lý chất lượng DTN cho lao động nông thôn 1.5.1 .Đinh hướng và mục tiêu DTN cho lao động nông thôn hiện na} 7 của tỉnh Nghệ An.
1.5.1.1 Định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- ĐTN cho lao động nông thôn cần xuất phát từ yêu cầu CNH-HĐH nôngnghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới
HĐH là xu hướng tất yếu của phát triển kinh tế Đây nhanh HĐH nông nghiệp nông thôn nhằm tạo ra động lực mới để đưa kinh tế nôngthôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa X ngày 05-8-2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêurõ: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệpCNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng đêphát triển KT-XH bền vững, giữ vững ốn định chính trị, đảm bảo an ninh quốcphòng” Trong các điều kiện đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH, nguồn lao động cóvai trò quan trọng Đây không chỉ là nguồn lực cho thực hiện CNH-HĐH màcòn là nguồn lực chi phối đến việc sử dụng có kết quả và hiệu quả các nguồn lựckhác Yêu cầu đối với nguồn lao động trong quá trình CNH-HĐH không chỉ về
CNH-số lượng, mà quan trọng hơn cả là chất lượng nguồn lao động
- Huy động các nguồn lực của trung ương, địa phương, các tập thê cá nhântrong ĐTN cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh
Như đã nói ở trên, nguồn lao động nông thôn có số lượng lớn, chiếm trên70% tổng lực lượng lao động Nhưng chất lượng nguồn lao động nông thônthấp, chủ yếu chưa qua ĐTN Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho
Trang 29thu nhập của người lao động không thế tăng nhanh; gây ra tình trạng chênh lệchgiàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa thêm, làm chậm tiến trìnhxây dựng nông thôn mói Các chính sách về xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hộituy đã có ý nghĩa tích cực, nhưng chưa đảm bảo sự phát triển bền vững bằngviệc nâng cao chất lượng lao động cho lao động nông thôn Nói cách khác, laođộng nông thôn cần có nghề để tạo việc làm và phải được ĐTN.
Để tạo điều kiện cho tất cả lao động nông thôn được tham gia học nghề,sống được với nghề đã học thì đòi hỏi phải có một nguồn lực rất lớn đế đầu tư
cơ sở vật chất, về đội ngũ cán bộ, GVDN về chương trình, giáo trình đào tạo vànguồn lực hỗ trợ cho người học nghề, cần huy động, lồng ghcp ccác nguồn lực
và khuyến khích các dự án, các nguồn xã hội hóa cho đầu tư phát triển dạynghề đổ tăng cường các điều kiện bảo đảm và quản lý chất lượng dạy nghề.Trong đó, phát huy vai trò hỗ trợ của Nhà nước để tạo nguồn lực quan trọngcho ĐTN cho lao động nông thôn
- Đa dạng hóa các hình thức ĐTN cho lao động nông thôn
Lao động nông thôn với đối tượng đa dạng về ngành nghề (các nghề thuộclĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), về chất lượng (trình độ văn hóa,chuyên môn) và về điều kiện tham gia ĐTN (hạn chế về nguồn vốn, về thòi giantham gia học nghề ) Vì vậy, ĐTN cần phải phù họp với đặc thù của từng đốitượng Việc đa dạng hóa các hình thức đào tạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi đế tất
cả người lao động nông thôn đều có thể tham gia vào quá trình ĐTN
Trên thực tế, ĐTN cho lao động nông thôn tỉnh Nghệ An thời gian qua đãvận dụng linh hoạt các hình thức đào tạo, từ đào tạo chính quy tại CSDN, đào tạolưu động tại các xã, thôn, bản, đào tạo tại các doanh nghiệp Tuy nhiên, công tác
tổ chức triển khai dạy nghề vẫn chưa phát huy hết lợi thế của các hình thức ĐTN
Đa dạng hóa các hình thức đào tạo và sử dụng có hiệu quả hệ thống ĐTN là yêucầu cần phải được nhận thức đầy đủ và có các biện pháp đế phát huy hiệu quả
Trang 30- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải gắn với việc làm
ĐTN nói chung, ĐTN cho lao động nông thôn giữ vai trò rất quan trọng,đáp ứng yêu cầu của CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Hiệu quả của ĐTNthể hiện ở lao động có việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, ổnđịnh cuộc sống sau khi học nghề Bởi vậy, công tác ĐTN phải gắn với việclàm, tránh hiện tượng dạy nghề theo số lượng, học nghề theo phong trào ĐTNphải gắn với các vùng chuyên canh, vùng xây dựng nông thôn mới, gắn vớidoanh nghiệp ĐTN phải gắn với thị trường lao động Đẩy mạnh hoạt động hỗtrợ về vốn, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và giới thiệu việc làmcho lao động nông thôn sau khi học nghề; phấn đấu lao động sau học nghề
có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ có hiệu quả cao hơn đạt ít nhất70% trong giai đoạn 2011 - 2015, 80% trong giai đoạn 2016 - 2020 Không
tổ chức dạy nghề khi chưa dự báo được nơi làm việc và mức thu nhập củalao động sau khi học nghề
1.5.2 Mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Trang bị cho lao động nông thôn năng lực thực hành một nghề đơn giảnhoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâmnghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong làm việc, sức khỏe, tạo điều kiện chongười học nghề sau tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc, tăng thunhập, ổn định cuộc sống
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải đáp ứng được yêu cầu về chấtlượng, chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có của cơ sở sang đào tạotheo nhu cầu của người học và cúa thị trường lao động Đối với lao động nôngthôn tiếp tục sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp: học nghề đê phục vụ sản xuất,tăng năng suất sản xuất cây trồng, vật nuôi Đối với lao động nông thôn họcnghề để chuyên nghề: học nghề phải đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệptrong tuyển dụng lao động
Trang 31- Nâng cao tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề: năm 2015 tỷ lệ laođộng qua ĐTN đạt 45%; năm 2020 tỷ lệ lao động qua ĐTN đạt 60% Chú trọngđào tạo nghề lĩnh vực phi nông nghiệp cho lao động nông thôn góp phần chuyểndịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế theo hướng tăng công nghiệp - dịch vụphục vụ sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
- Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau đào tạo nghề đạt trên 70%
1.5.2 Dội ngũ giáo viên và CBQL
- Quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn đáp ứng cả
về số lượng và chất lượng:
I về số lượng: Huy động đội ngũ giáo viên dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề(trường CĐN, TCN, TTDN) và cơ sở có dạy nghề (trường CĐ, TCCN có dạynghề); người dạy nghề là cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề caotại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và các trung tâm khuyến nông,lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi, nghệ nhân tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn
+ về chất lượng: giáo viên, người dạy nghề cho lao động nông thôn phải cótrình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm thực tế về nghề; đã được bồi dưỡngnghiệp vụ sư phạm, kỹ năng dạy nghề cho lao động nông thôn
- Đội ngũ cán bộ quản lý: bao gồm cán bộ quản lý ở các trường CĐN,TCN, TTDN và cán bộ quản lý dạy nghề ở cấp huyện
1.5.3 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, tài chính
- Các cơ sở dạy nghề và có dạy nghề tham gia dạy nghề cho lao động nôngthôn phải có đủ cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy nghề phù hợp với nghề
sẽ tổ chức đào tạo và số lượng người học;
- Quản lý, huy động nguồn lực tài chính đầu tư cho các cơ sở dạy nghề đểđầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy nghề đảm
Trang 32bảo các điều kiện dạy nghề, đáp ứng yêu cầu về chất lượng lao động củadoanh nghiệp.
1.5.4 Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Quản lý các cơ sở tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn trong việcxây dựng và phê duyệt chương trình đào tạo, tài liệu đào tạo phù hợp với đặcđiểm, điều kiện cụ thể theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc quy trình sinhtrưởng của cây trồng, vật nuôi và điều kiện của người học ở từng vùng miền
- Chương trình đào tạo phải xác định rõ thời gian đào tạo và thời gian thựchọc của từng nghề
- Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải đảm bảo tính hệthống, tính khoa học, tính thực tiễn, tính linh hoạt theo nhu cầu của thị trường laođộng, tính liên thông trong đào tạo nghề và thời gian học thực hành là chủ yếu
1.5.5 Chế độ chính sách trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Chính sách đối với các cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong
hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề
- Chính sách đối với lao động nông thôn tham gia học nghề ngắn hạn:được hỗ trợ học nghề ngắn hạn miễn phí, được hỗ trợ tiền ăn và tiền đi lại,được vay vốn đê học nghề, tạo việc làm theo quy định tại Quyết định1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Chính sách đối với giáo viên, giảng viên tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn: hưởng phụ cấp lưu động, giải quyết nhà công vụ, chi trả thù laogiảng dạy theo quy định
Trang 33+ Lao động là người thuộc diện chính sách ưu đãi người có công với cáchmạng;
+ Lao động thuộc hộ nghèo;
I Lao động là người dân tộc thiếu số;
+ Lao động là người tàn tật;
+ Lao động là người bị thu hồi đất canh tác;
+ Lao động thuộc hộ cận nghèo
Ket luận chương 1
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo hướng CNH-HĐH và hội nhậpquốc tế, đặc biệt từ sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, ViệtNam đang trong giai đoạn chuyên mình hết sức mạnh mẽ Đào tạo nghề cho laođộng nói chung và lao động nông thôn nói riêng có vai trò quan trọng trong việcphát huy nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dạy nghề cho lao động nôngthôn, đáp úng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dụng nền nông nghiệptheo hướng hiện đại, bền vững và xây dựng nông thôn mới cần phải thực hiệnmột cách đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy nghề như:mục tiêu đào tạo, chế độ chính sách của Nhà nước, cơ sở vật chất của cácCSDN, chương trình đào tạo, đội ngũ GVDN, thị trường lao động,
Các yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau để cùngđạt đến một mục tiêu đó là nâng cao chất lượng ĐTN đáp ứng cung - cầu củathị trường lao động trong nước và thế giới Tuy nhiên, các mối quan hệ này rấtphức tạp và rất đa dạng Bởi vậy, cần căn cứ vào nhu cầu và điều kiện KT-XHcủa từng địa phương, từng CSDN đế có sự vận dụng phù hợp, hiệu quả, đảm bảochất lượng ĐTN nói chung, ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHÈ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHẸ AN
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình KT-XH tỉnh Nghệ An
2.1.1 Đặc điếm vị trí địa lý
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiênlớn nhất cả nước 16.490km2 và dân số trên 2,9 triệu người Có 21 đơn vị hànhchính cấp huyện gồm: 17 huyện (gồm 7 huyện đồng bằng ven biển và 10 huyệnmiền núi), thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hòa, thị xã Hoàng Maivới 480 xã, phường và thị trấn, trong đó có 217 xã, thị trấn miền núi
Nghệ An giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở phía Tây với 419
km đường biên giới và biên Đông ở phía Đông với chiều dài 82 km Với vị trínằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền My-an-ma - Thái Lan - Lào,nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế Nghệ An có vị trí và hệ thốnggiao thông đồng bộ: Đường bộ, đường hàng không, đường sắt, đường biến Cóvai trò quan trọng trong mối giao lưu KT-XH Bắc - Nam, xây dựng và phát triểnkinh tế biên, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là đối với cácnước Lào, Thái Lan và Trung Quốc
Nghệ An đóng vai trò cửa ngõ giao lưu KT-XH giữa vùng Bắc Trung Bộvới vùng Bắc Bộ và Nam Bộ Trong chiến lược phát triển KT-XH của quốc gia,tỉnh Nghệ An, với trung tâm là thành phố Vinh được xác định là một trung tâmkinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ
2.1.2 Đặc điểm kinh tế tỉnh Nghệ An
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp bìnhquân 5 năm 2006-2010 đạt 5,12%, năm 2011 tăng 4,38%, năm 2012 tăng 4,34%;giá trị thu nhập trên đưn vị diện tích tăng cao; cơ cấu kinh tế nội ngành và cơ
Trang 35cấu lao động nông nghiệp, nông thôn có bưức chuyển dịch theo hướng tích cực.Xây dựng nông thôn mới được quan tâm và đạt được kết quả bước đầu quantrọng Đen nay, toàn tỉnh đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch chung nông thônmới của 429/429 xã Huy động, lồng ghép, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng nôngthôn mới được gần 9.878 tỷ đồng Đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng nôngthôn mới, nhiều đon vị, địa phương đã có cách làm sáng tạo, huy động nội lực đểxây dựng hạ tầng, dồn điền đổi thửa, chuyển đổi sản xuất, xây dựng cánh đồngmẫu lớn, huy động được các doanh nghiệp chung tay đóng góp xây dựng nôngthôn mới [20].
- Đã xác định và tập trung đầu tư phát triẻn các ngành công nghiệp có lợithế như: công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản và đồ uống, công nghiệpchế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp điện, dệt may, Xây dựng Khu kinh tế Đông Nam, các KCN, cụm công nghiệp Nhiều nhà máylớn được xây dựng, nâng cấp: Nhà máy xi măng Tân Kỳ, Nhà máy xi măng AnhSơn, Nhà máy xi măng 19/5 Anh Sơn: xây dựng các công trình thuỷ điện vớitổng công suất trên 724 MW Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăngkhá, bình quân 5 năm đạt trên 15% [20]
- Dịch vụ phát trién nhanh, đa dạng, rộng khắp trên các lĩnh vực, vùng miền,một số ngành có tốc độ phát triển cao Giá trị sản xuất dịch vụ tăng nhanh, vượtmục tiêu đề ra (bình quân 5 năm 2006-2010 tăng 11,3%; năm 2011 tăng 8,71%;năm 2012 tăng 10,71%) Giá trị kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quânhàng năm 33%, năm 2012 đạt 512 triệu USD Các ngành dịch vụ như: Vận tải,bưu chính viễn thông, ngân hàng phát triển nhanh, cơ bản đạt và vượt mục tiêu
đề ra
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 2006-2010 đạt 9,75%,bình quân giai đoạn 2011-2012 tăng trưởng 8,18%; GDP bình quân năm 2012đạt 20,23 triệu đồng/người/năm, tăng 4 lần so với năm 2002 Cơ cấu kinh tế có
Trang 36bước chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng vàdịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2003, cơ cấu kinh tế là nông nghiệp38,18%, công nghiệp-XD 26,03%, dịch vụ 35,79% thì đến năm 2012 nôngnghiệp giảm còn 26,64%, công nghiệp-xây dựng 31,95%, dịch vụ 41,41%.
2.2 Dặc điếm nguồn nhân lục tỉnh Nghệ An
2.2.1 Đặc điểm về dân số
Dân số tỉnh Nghệ An năm 2010 là 2.929.107 người, đạt tốc độ tăng dân sốbình quân hàng năm là 0,98%/năm trong cả giai đoạn 2006 -2010, thấp hơnnhiều so với mức tăng bình quân của vùng (1,09%) và cả nước (1,29%) nhò thựchiện tốt công tác dân số và một bộ phận khá lớn thanh niên đi làm việc đi làmviệc ở các vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, phía nam, miền trung và XKLĐ.Nghệ An là địa phương đông dân thứ tư trong cả nước (sau Hà nội, Thành phố
Hồ Chí Minh và Thanh Hóa) Có 6 dân tộc cùng sinh sống hòa thuận với nhau từlâu đời trên đất Nghệ An, trong đó dân tộc Kinh là chủ yếu, chiếm 86,25%, Thái9,59%, Khơ Mú 1,07%, còn lại là các dân tộc khác (Mông, Thổ, ơ Đu)
Tỷ lệ dân số nam và nữ của tỉnh không biến động nhiều trong những nămqua và dân số nữ thường cao hơn dân số nam, tuy nhiên mức chênh lệch khônglớn, năm 2010 dân số nữ của tỉnh chiếm 50,32%, nam chiếm 49,68%
Dân cư phân bố không đều, ở vùng miền núi dân cư thưa thót, trong khi đó ởvừng thành thị, đồng bằng ven biển mật độ dân cư cao Mật độ dân số bình quântrong tỉnh năm 2010 là 178 người/km2, TP Vinh (2.912 người/km2), Diễn Châu(877 người/km2), Thị xã Cửa Lò (1.851 người/km2), Kỳ Sơn (34 người/km2), QuếPhong (33 người/km2), thấp nhất là huyện Tương Dương (25 ngưòi/km2); thuộcloại cao so với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ Chất lượng dân số ngày càng đượcnâng cao, trí lực của dân số đạt cao hơn mức bình quân của vùng, các chỉ số vềthẻ lực như chiều cao, cân nặng có nhiều tiến bộ qua các năm
Trong những năm gần đây tỉnh đã có nhiều giải pháp cụ thể nhằm phát
Trang 37Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
Trang 38(Nguôn: Cục thông kê và Chương trình GQVL tinh Nghệ An giai đoạn 2011-2015)
Dân số tuy tăng chậm, nhưng nguồn cung lực lượng lao động của tỉnh khádồi dào Theo quy luật phát triển tự nhiên của dân số, do mức sinh cao trong
những năm đầu của thập niên 90 nên trong giai đoạn 2006 -2010 hàng năm cótrên 1,7% dân số bước vào độ tuổi lao động Nếu trừ số mất đi, nguồn nhân lựctăng tự nhiên hàng năm trên 23 ngàn người Tuy nhiên, do dân số trong tuổi laođộng đi nhiều hơn đến, nên nguồn nhân lực tăng hàng năm khoảng 14 ngànngười [20]
2.2.2 Cơ cấu dân số
Theo tống điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 thì tỉnh Nghệ An đã bước vào
“thời kỳ dân số vàng” và thời kỳ “Dân số vàng” sẽ kéo dài khoảng 30 năm nữa
do tỷ lệ phụ thuộc chung của tỉnh giảm nhanh trong 10 năm, tỷ lệ phụ thuộcchung giảm từ 77,94% (năm 1999) xuống còn 49,36% (năm 2010) Cơ cấu dân
số vàng đang tạo ra cơ hội rất lỏn đế phát triển KT-XH của tỉnh
- Cơ cấu dân số theo thành thị, nông thôn: Tỉnh Nghệ An có tỷ lệ dân khuvực thành thị năm 2010 là 383.642 lên 13%, dân số khu vực nông thôn năm 2010
là 2.546.466 người xuống còn 87% Trong đó dân số đô thị lớn nhất là thị xã Cửa
Lò (76,32%) và thành phố Vinh (70,98%) Khu vực nông thôn của tỉnh có nềnkinh tế hàng hóa phát triển chậm, năng suất lao động thấp, thu nhập thấp Thunhập thấp ảnh hưởng đến khả năng nâng cao mức sống, phát triển giáo dục, đàotạo của dân cư và người dân nông thôn
- Cơ cấu dân số theo giói tính: Năm 2010, nam chiếm tỷ trọng 49,68%, nữchiếm 50,32% Tuy nhiên, mức chênh lệch về tỷ trọng này đang có xu hướng cânbằng hơn trước
- Cơ cấu dân tộc và xã hội: Nghệ An có 6 dân tộc cùng sinh sống hoàthuận với nhau từ lâu đời trên đất Nghệ An, trong đó dân tộc Kinh là chủ yếu,chiếm 86,25%, Thái 9,59%, Khơ Mú 1,07%, còn lại là các dân tộc khác (Mông,Thổ, ơ đu)
Mặc dù đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, số người trong độ tuổi laođộng tăng cao, nhưng với chất lượng dân số như trên đòi hỏi tỉnh phải có các
Trang 39giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh phát triển kinh tế tạo thêm việc làm, đồng thời
có chính sách hợp lý đế hạn chế chảy máu chất xám, thu hút được người cóchuyên môn cao đến làm việc ở địa phương
- Cơ cấu dân số chia theo nhóm tuổi: đã có sự chuyển biến theo chiềuhướng tích cực Dân số dưới 15 tuổi đã giảm theo mức giảm sinh Tỷ trọng dân
số trong độ tuổi lao động cũng tăng khá nhanh từ 47% năm 2000 lên 67,4% năm
2010 [20].
2.2.3 Lao động và tình hình phân bố lao động
2.2.3.1 Nguồn lao động
Đen cuối năm 2010, tống dân số của tỉnh có 2.929.107 người, trong đó dân
số trong độ tuổi lao động chiếm hơn 67%, bình quân mỗi năm số lao động bổsung vào nguồn từ 3,2 - 3,5 vạn người, số người trong độ tuổi lao động tham giahoạt động trong nền kinh tế có 1.626.828 người, chiếm tỷ lệ hơn 82,4 %
Cơ cấu lao động theo độ tuổi: từ 15-24 chiếm 30%; từ 25-34 chiếm 23,3%;
từ 35-44 chiếm 19%; từ 45 trở lên chiếm 18,7% Có thể nói đây là giai đoạn
“dân số vàng”, đáp ứng tốt nhất yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển KT-XH
Cơ cấu lao động phân bổ thích ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế : ngành nôngnghiệp chiếm 61,19% năm 2010, ngành công nghiệp - xây dựng 19,05% và dịch
vụ chiếm 19,76%
Chất lượng lao động được nâng lên, đến cuối năm 2010, tỷ lệ lao động quađào tạo tham gia hoạt động kinh tế đạt 40%; trong đó số lao động qua ĐTN đạt33% Tuy nhiên, lao động kỹ thuật vẫn còn tập trung vào một số nghề như sửachữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, mộc dân dụng, điện, điện tử, cơ khí sửachữa ; một số nghề như chế biến nông sản, thực phẩm, trồng trợt, chăn nuôi còn ít Mặt khác, lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật giữa khu vực thànhthị và nông thôn có sự khác biệt lớn ơ khu vực thành thị, tỷ lệ có trình độchuyên môn kỹ thuật là 44%, nông thôn là 21%