Ngày 8 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Trần Đức Lương đã kí lệnh số 06-L/CTN, công bố pháp lệnh về người tàn tật.Trong đó, điều 15, 16, 17 của chương II
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm on Ban Giám hiện và quỳ Thầy Cô Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Giảo dục (Trường Đại học Vinh), Phòng Tô chức — Cản bộ (Trường Đại học Sài Gòn) đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyên Văn Tứ, ngiròi thầy
đã dành nhiều thời gian hướng dẫn khoa học, chỉ bảo, giúp đỡ đế tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sơ Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh, Ban Giảm hiệu và quỷ thầy cô giáo các trường tiêu học trên địa bàn Thành pho Hồ Chí Minh cũng như các to chức đoàn thế xã hội, các bậc phụ huynh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin cảm tạ Sư Ong Thích Như Niệm đã động viên, cô vũ bản thân học tập, nghiên cứu đê nâng cao tr ình độ, dăng phụng sự cuộc song hòa bình, an lạc Ị
Mặc dù đã có nhiều co gang, nhưng do bản thân còn những hạn chế nhất định trong birớc dầu nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đirợc những ỷ kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý
đê luận vãn được hoàn thiện hơn.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHƯYÉT TẬT
Trang 3lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
1.3.3 Quản lý việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên và những 31
người làm công tác giáo dục TKT ở bậc tiểu học
1.3.4 Quản lý việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc 34
GDHN TKT ở bậc tiểu học
1.3.5 Quản lý việc nâng cao nhận thức của xã hội và vai trò của các 35
yếu tố ảnh hưởng đến GDHN TKT ở bậc tiểu học
1.3.6 Những thuận lợi và khó khăn của công tác quản lý GDHN TKT 37
ở bậc tiếu học hiện nay
Chương 2 THựC TRẠNG CỎNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÒA NHẬP TRẺ KHƯYÉT TẬT Ở BẬC TIẺƯ HỌC TẠI TP.
2.1 về hệ thống các cơ sở giáo dục người khuyết tật ở TP Hồ 40
Chí Minh
2.1.2 Qúa trình hình thành các trường khuyết tật ở TP Hồ Chí Minh 41
2.2 Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc 49
tiểu học TP Hồ Chí Minh
2.2.1 Thực trạng số lượng và mạng lưới các cơ sở giáo dục hòa nhập 49
trẻ khuyệt tật ở bậc tiểu học tại TP Hồ Chí Minh hiện nay
2.2.2 Thực trạng tố chức bộ máy chỉ đạo và đội ngũ cán bộ, giáo viên 55
tham gia giáo dục hòa nhập
phương pháp, trang thiết bị, hình thức tổ chức giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
Trang 4632.3.1 Thực trạng quản lý việc quán triệt chủ trương, chính sách của
chính quyền địa phương và ngành giáo dục - đào tạo về GDHN
TKT bậc tiểu học
2.3.2 Thực trạng việc tổ chức bộ máy quản lý GDHN TKT ở bậc 66
tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.3 Thực trạng quản lý việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của 67
toàn thể cộng đồng và sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể xã
hội về công tác GDHN TKT bậc tiểu học tại TP Hồ Chí Minh
2.3.4 Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch, tố chức chỉ đạo 68
thực hiện và giám sát công tác giáo dục hòa nhập ở bậc tiểu học
2.3.5 Thực trạng quản lý việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị 69
cho việc GDHN TKT ở bậc tiểu học
2.4 Đánh giá chung về thực trạng GDHN TKT ở bậc tiểu học 70
TP Hồ Chí Minh
Chương 3 MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA 74
NHẬP TRẺ KHƯYÉT TẬT Ở BẬC TIỂU HỌC TẠI THÀNH
PHỐ HÒ CHÍ MINH
3.2 Một số giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 77
ở bậc tiểu học tại TP Hồ Chí Minh
3.2.1 Hoàn thiện chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương 77
và ngành giáo dục - đào tạo
3.2.2 Tố chức tuyên truyền, quán triệt nhằm nâng cao nhận thức về 80
công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại địa phương
3.2.3 Tăng cường nâng cao chất lượng công tác ké hoạch, tố chức chỉ 83
đạo và giám sát công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
3.2.4 Hoàn thiện nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, đầu 86
tư cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ quá trình dạy
- học , giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên và đội ngũ 91
Trang 5cán bộ quản lý làm công tác giáo dục trẻ khuyết tật
3.2.6 Huy động và quản lý các nguồn lực tham gia công tác giáo dục
trẻ khuyết tật
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp
3.4 Thăm dò tính khả thi của các giải pháp quản lý giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật ỏ’ bậc tiểu học tại TP Hồ Chí Minh
101103
Trang 6ỉ lết tắt Từ ngữ đầy đủ
Trang 71 Lý do chọn đề tài
Vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật đã và đang trở thành sự quan tâmcủa nhiều quốc gia trên thế giới Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XV đã cónhiều quốc gia với những quan điếm khác nhau đã vận dụng các phương pháp giáodục trẻ khuyết tật bằng nhiều mô hình phù họp như mô hình chuyên biệt, mô hìnhgiáo dục hội nhập nhằm tạo điều kiện tốt nhất để trẻ khuyết tật có điều kiện ralớp tiếp nhận tri thức của nhân loại
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm đặc
biệt đến nền giáo dục quốc dân, bởi lẽ rất đơn giản “Trẻ em hôm nay là the giới
của ngày mai'” Hiện nay trên thế giới có khoảng 150 triệu trẻ em tàn tật, ít nhất cứ
10 trẻ thí có một em bị khuyết tật nghicm trọng (bị tật bẩm sinh hoặc sau khi rađời) Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục trẻ em có nhu cầuđặc biệt được hội nghị thế giới về giáo dục trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt (tổchức tại Salamanca, Tây Ban Nha thông qua năm 1994) đã kêu gọi cộng đồng thếgiới, các tố chức quốc té và chính phủ các nước cần quan tâm hơn nữa đối với côngtác giáo dục cho những người khuyết tật, nhất là trẻ em khuyết tật và có nhu cầuđặc biệt Công ước Quốc tế về “Quyền trẻ em”, điều 23 quy định: “Trẻ em tàn tật
có quyền chăm sóc, giáo dục và đào tạo đặc biệt để giúp các em có cuộc sống trọnvẹn, đầy đủ trong phẩm giá nhằm đạt được một mức độ tự lập và hòa nhập vào xãhội ở mức lớn nhất có thế được”
Ngày 8 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Trần Đức Lương đã kí lệnh số 06-L/CTN, công bố pháp lệnh về người tàn tật.Trong đó, điều 15, 16, 17 (của chương III - Học văn hóa đối với người tàn tật) đã
ghi rõ: “Việc học tập của trẻ em tàn tật được tô chức thực hiện bằng các hình thức
học hòa nhập trong các trường chuyên biệt dành cho người tàn tật, cơ sở nuôi dưỡng người tàn tật và tại gia đình Học sinh tàn tật có năng khiếu được ưu tiên tiếp nhận vào học tại các trường năng khiếu tương ừng Học sinh là ngirời tàn tật trong các cơ sở giảo dục, nuôi dưỡng nội trú dược hưởng các chế độ, chính sách
Trang 8theo quy định của Chính Phủ Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi đê tô chức, cả nhân mở trường, ỉởp dành riêng cho ngirời tàn tật ”
Theo số liệu thống kê năm 1997 của Uỷ Ban bảo vệ Chăm sóc Trẻ em ViệtNam (ƯBBVCSTEVN), ở nước ta hiện có 1,5 triệu trẻ cm bị khuyết tật RiêngThành phố Hồ Chí Minh hiện nay có khoảng 6.000 trẻ khuyết tật các loại; chiếm tỉ
lệ gần 10% số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của thành phố Công tác giáo dụctrẻ khuyết tật ở Việt Nam đã trải qua các giai đoạn phát triển với nhiều mô hìnhgiáo dục khác nhau trên cơ sở vận dụng những tiến bộ về GDTKTcủa các nướctiên tiến trên thế giới Ngày nay với sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Nhà nước,công tác GDTKT đã được triến khai đều khắp trên các tỉnh thành trong cả nước,với nhiều mô hình giáo dục khác nhau trong đó điển hình là mô hình giáo dục hòanhập trẻ khuyết tật đang phát triển với quy mô lớn ở nhiều địa phương đã đem lạinhững kết quả to lớn trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật
Mặc dù được phát triển với quy mô lớn và nhiều loại hình như vậy nhưng chođến nay tỷ lệ trẻ khuyết tật ra lớp vẫn còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu học tậpcủa trẻ khuyết tật ở nhiều địa phương trong cả nước
Số liệu của UBBVCSTE, Thành Phố Hồ Chí Minh cho biết, hiện có 17 trên
24 quận, huyện có trường dành cho trẻ khuyết tật Với 31 trường, điểm dạy trẻ emkhuyết tật và một trung tâm nghiên cứu, giáo dục trẻ em khuyết tật đã góp phầnnuôi dạy 2.189 trẻ khuyết tật.Với 566 thầy, cô giáo, cán bộ, công nhân viên đã vàđang góp phần phục hồi chức năng cho các cháu khuyết tật tại các trường; chắpcánh cho các em tự khẳng định mình “tàn nhưng không phế” Tuy nhiên, mới có1/3 số trẻ khuyết tật được đến trường Bằng một phép tính đơn giản, có thể biết cònlại trên 3.800 trẻ khuyết tật chưa được đến trường
Vì vậy, đổ huy động trẻ khuyết tật ra lớp và có giải pháp phù họp nhằm nângcao hiệu quả giáo dục trong những năm tới, đáp ứng được nhu cầu nguyện vọngcủa phụ huynh và phù hợp với thực tiễn về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tạiđịa phương là một vấn đề vô cùng bức thiết và hết sức khó khăn
Trong những năm qua ngành giáo dục và đào tạo đã tổ chức giáo dục trẻ emkhuyết tật theo nhiều hình thức khác nhau và đã bước đầu huy động được một sốtrẻ khuyết tật ra lớp, đã được sự đồng tình ủng hộ của toàn xã hội Tuy nhiên,
Trang 9những khó khăn trong quá trình tố chức giáo dục trẻ khuyết tật tại Thành Phố HồChí Minh vẫn đang còn là thử thách về nhiều phương diện: nhận thức đối VỚI giáodục trẻ khuyết tật; nội dung chương trình giáo dục trẻ khuyết tật; phương pháp giáodục đối với trẻ khuyết tật; đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục trẻkhuyết tật; kinh phí tố chức các hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật;
Đây là những vấn đề mà các cấp lãnh đạo chính quyền và ngành giáo dục vàđào tạo TP Hồ Chí Minh đang quan tâm Xác định được tầm quan trọng của côngtác giáo dục trẻ khuyết tật trong giai đoạn hiện nay của đất nước nói chung và TP
Hồ Chí Minh nói riêng, sau khi nghiên cứu lí luận về công tác giáo dục trẻ khuyếttật và thực tiễn công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại một số địa phương trong cảnước, trên cơ sở tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tại TP Hồ Chí Minh, bản thân
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một so giải pháp quản lí giảo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật ơ bậc tiếu học tại TP Hồ Chí Minh ” nhằm góp phần nhỏ bé vào việc
giải quyết những vấn đề nói trên
2 Mục đích nghiên cún
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục và thực trạng công tác giáodục và quản lý giáo dục trẻ khuyết tật, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý giáodục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh, nhằm nângcao chất lượng và hiệu quả giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cún
Khách thế nghiên cửu: Công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật bậc tiểu học
tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật bậc tiểu học Thành phố Hồ Chí Minhtrong những năm qua vẫn còn một số vấn đề bất cập trong việc tố chức thực hiện
và quản lý, số trẻ khuyết tật được đén lớp còn quá ít, hiệu quả đạt được chưa cao
Vì thế, nếu đề xuất được các giải pháp quản lý giáo dục phù hợp sẽ huy độngđược số trẻ khuyết tật đến lớp, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục hòa nhập
ở bậc tiểu học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của xã hội
Trang 105 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công tác quản lý giáo dục nói chung
và quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói riêng
Khảo sát thực trạng công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật ở bậc tiểu họctại Thành Phố Hồ Chí Minh
Đe xuất các giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu họctại Thành Phố Hồ Chí Minh
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đe tài chỉ giới hạn nghiên cứu công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ởbậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian hiện nay số liệu thu thập,khảo sát, điều tra được thực hiện tại một số quận như đã trình bày trong luận văn
6 Phương pháp nghiên cún
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu ỉý luận
+ Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: nhằm nghiên cứu các văn kiện, tàiliệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các ban ngànhliên quan về lý luận giáo dục và việc quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ởbậc tiểu học
+ Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập: nhằm phân tích, tổnghợp các tài liệu trong và ngoài nước về lý luận giáo dục, quản lý giáo dục hòa nhậptrẻ khuyết tật ở bậc tiểu học ở Việt Nam và trên thế giới
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiên
+ Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu, quan sát thực tế quản lý giáo dụchòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
+ Phương pháp điều tra: để điều tra, phỏng vấn, tư vấn, thăm dò để điều tra,thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia: nhằm lấy ýkiến tư vấn của các nhà quản lý, các chuyên gia giáo dục, các cán bộ và giáo viên
Trang 11trong và ngoài ngành giáo dục, về việc quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ởbậc tiểu học.
6.3 Phương pháp thong kê: nhằm thống kê, đo đạc, xử lý các kết quả, số
liệu liên quan đến thực trạng và tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở
bậc tiêu học tại Thành Pho Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một so giải pháp quản lý giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc
tiêu học tại Thành Phổ Hồ Chí Minh.
Trang 12Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYÉT TẬT
mà còn tăng lên Như vậy, có một bộ phận trẻ khuyết tật tồn tại trong xã hội là điềukhó tránh khỏi Điều mà chính phủ các nước trên thế giới, các tồ chức xã hội, y tế,giáo dục phải quan tâm là làm thế nào để tạo nên cuộc sống bình đẳng, đảm bảonhững quyền cơ bản của con người đối với bộ phận trẻ khuyết tật này Thực hiệnđiều cơ bản đó đòi hỏi phải có một quá trình giải quyết về nhận thức và sự tiến bộ
về chính trị - kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Cách đây gần 400 năm nhiều nước đã chú trọng đcn công tác giáo dục trẻkhuyết tật: Mở trưÒTLg dạy trẻ khiếm thị ở Italia năm 1662, ở Paris năm 1788, ởAnh năm 1791, ở Đức năm 1806 và ở Hà lan năm 1808 , mở trường dạy trẻkhiếm thính ở Pháp năm 1760 và ở Đức vào thế kỷ XIX Giáo dục trẻ khuyết tậthoàn toàn theo mô hình giáo dục chuyên biệt với quan điểm giáo dục chuyên biệtgiúp trẻ có đầy đủ điều kiện, phương tiện học tập hiện đại phù hợp với từng loại tật
và phương pháp chuyên sâu sẽ giúp trẻ có cơ hội tốt hơn
Ở nhiều nước khác, giáo dục trẻ khuyết tật theo mô hình hòa nhập nhằm khắcphục những khiếm khuyết của mô hình giáo dục chuyên biệt về khả năng hòa nhậpcộng đồng như: Anh, Nhật Bản, Ân Độ, Philipin
Trang 13Chủ trương giáo dục hòa nhập trên thế giới được khởi đầu từ Tuyên bố về conngười năm 1948, Hội nghị Thượng đỉnh về trẻ em ở Newyork năm 1990 thốngnhất chương trình mục tiêu đến năm 2000 “Giáo dục cho tất cả mọi người” trong
đó có trẻ khuyết tật
Hội nghị thế giới về giáo dục cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt ở Salamanca Tây Ban Nha năm 1994 đã nêu rõ: “Mọi trẻ em đều có quyền cơ bản được họchành và phải tạo cơ hội đé đạt được và duy trì trình độ học ở mức có thể chấp nhận[30] “Tất cả mọi trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt phải đen trường học chínhquy và những trường này có trách nhiệm phải trang bị kiến thức cho các em thôngqua phương pháp sư phạm lấy trẻ em làm trung tâm ” [30] Hội nghị đã cungcấp cơ hội cho những người tham gia hội nghị xem xét làm thế nào để bảo vệ tốtnhất Quyền của trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chương trình “ Giáo dục cho tất cảmọi người” Tuyên bố này được nhìn nhận như là nền tảng của giáo dục hòa nhậphiện đại
-Vào những năm 70 đen nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, quan điểm mới vềtrường lớp xuất hiện ở châu Âu có tên là “sáng kiến giáo dục phổ thông” đã manglại một chiến dịch quyền học tập cho học sinh khuyết tật và đòi hỏi giáo dục phải
có trách nhiệm hơn trong việc tạo ra những hoạt động phù hợp hơn theo khả năngcủa người học , từ đây bắt đầu xuất hiện xu hướng giáo dục hòa nhập Hòa nhập làmột phong trào đổi mới trong giáo dục chuyên biệt, xu hướng này đòi hỏi nhiều sựthay đối trong nhà trường Các vấn đề trong giáo dục như: nội dung, phương pháp,thể chế, hệ thống ngân sách, tái xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡnggiáo viên, cải tồ chương trình đang dần thay đối Các quốc gia đều xây dựng vàphát triển chính sách của Nhà nước quy định về nội dung, phương án cụ thé nhằmtạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục hòa nhập Việc áp dụng quy định đó là rấtphức tạp và phải tiến hành theo nhiều bước Một số nước đang nỗ lực và bắt đầuchấp nhận giáo dục hòa nhập theo các phương thức khác nhau và cũng thu đượcnhững kết quả khác nhau
Khi phân tích định hướng trong giáo dục đặc biệt của mỗi nước người ta chia
nó ra làm 3 nhóm:
Trang 14Nhỏm thứ nhất là giáo dục hòa nhập, hình thức này nhấn mạnh đến xu hướng
không tách biệt và chỉ còn duy nhất một hình thức giáo dục chính quy bình thườngnhư của Italia và Thụy Điến Hình thức giáo dục này lựa chọn các chủ trươngchính sách không đi theo hướng của giáo dục chuyên biệt mà tiếp cận giáo dục hòanhập thông qua hệ thống pháp luật
Nhóm thứ hai là hệ thống cặp đôi như đang được thực hiện tại Hà Lan và Bỉ.
Trong hệ thống này trẻ khuyết tật được giáo dục chuyên biệt trong những trường
có quy mô lớn mà trong đó có cả những lớp hội nhập Hiện nay giáo dục chuyênbiệt và giáo dục chính quy bình thường tồn tại song song là xu hướng mà các quốcgia có hệ thống chính sách trường lớp cặp đôi đang tiến tới Trong hệ thống phápluật có cả những quy định về hệ thống quan điểm để thực hiện loại hình này
Nhỏm thứ ba là hệ thống đa dạng được thực hiện ở các nước như: Đan Mạch,
Mỹ, Anh Hệ thống đa dạng này đáp ứng được nhu cầu của ngành giáo dục đặc biệt
và thường xuyên đưa ra những cải cách mới cho ngành Như vậy giáo dục đặc biệt
ở các nước đều không giống nhau, vì nó phụ thuộc vào nền tảng văn hóa, điều kiệnchính trị xã hội, hoàn cảnh lịch sử và giáo dục của mỗi nước, nhưng nó giống nhau
ở một điém là giáo dục hòa nhập cố gắng đưa trẻ khuyết tật càng hòa nhập vào xãhội càng tốt
1.1.2 Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu về giáo dục trẻ khuyết tật ở
Việt Nam
Trên cơ sở tiếp nhận những tiến bộ về công tác giáo dục trẻ khuyết tật của cácnước trên thế giới, giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam đã từng bước phát triển phùhợp với từng giai đoạn lịch sử của đất nước
Giai đoạn trước năm 1975: Dưới thời Pháp thuộc, 95% dân số nước ta mù
chữ Trong điều kiện đó không thé nói đen một hệ thống giáo dục trẻ khuyết tậtnhưng đơn lẻ cũng có một vài cơ sở nhân đạo nhận chăm sóc giáo dục một số ít ỏitrẻ khuyết tật
Năm 1866 một trại dạy trẻ khiếm thính đầu tiên ra đời ở Thuận An (Sông Bé)
do một linh mục người Pháp Azemar thành lập với số lượng ban đầu là nuôi dạy 05học sinh điếc câm Mục đích chủ yếu là chăm sóc nuôi dưỡng về tinh thần và vậtchất, sau đó ông bắt đầu nghĩ đến việc phải dạy cho trẻ điếc câm Ông gửi một học
Trang 15sinh câm là Nguyễn Văn Trường sang Pháp học tại Roder Sau 5 năm, Nguyễn VănTrường trở về dạy theo phương pháp kí hiệu cử chỉ điệu bộ, đến năm 1902 thìtrường đã có đến 20 học sinh Từ năm 1903 trường được đặt dưới sự quản lý của
nữ tu dòng thánh PhaoLo Nhiệm vụ chủ yếu của trường cũng chỉ chăm sóc nuôidưỡng trẻ như ở gia đình Đến năm 1934 nữ tu người Pháp Simon PhiLíp vàMonica được cử sang Pháp học ở Nogentel - Rotrou Đen năm 1937 họ trở vềnước và bắt đầu tổ chức hoạt động sư phạm của nhà trường Cho học sinh học vănhóa và học nghề, trong giai đoạn này số lượng đã lên đén 20 học sinh Mãi đếnnăm 1972 trường đã đổi tên thành Viện điếc câm Lái Thiêu với ban điều hành mới.Viện đã có những định hướng mới trong công tác phục hồi chức năng nghe, nói,giao tiếp, dạy văn hóa đồng thời tiến hành hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ với sốlượng học sinh lên đến 600 em
ơ Hà Nội sau năm 1954 tại phố Hàng Lượt cũng có một cơ sở dạy cho một số
ít trẻ điếc Vào cuối năm 60 đầu thập niên 70 Viện Tai - Mũi - Họng trung ươngBạch Mai đã mở các lớp thí điém dạy trẻ điếc, do Giáo sư Bác sĩ Trần Hữu Tướcchủ trì
Vào năm 1970, Bộ Giáo dục cũng đã cử các giáo viên đi đào tạo dài hạn ởnước ngoài Đây cũng là những cán bộ nòng cốt đầu tiên của ngành tật học nước tanhằm giúp cho các địa phương mở rộng các trường dạy trẻ khuyết tật trong cảnước sau này
Đối với trẻ khiếm thị ở nước ta cũng đã có trường chuyên biệt giảng dạy từđầu thế kỷ XX Vào năm 1903 ông Nguyễn Văn Chí (người mù ở Pháp về) làngười đã có công thay chữ Braille từ Pháp di nhập vào nước ta Ống thành lậptrường mù đặt trong bệnh viện Chợ Ray - Sài gòn Sau đó trường bị đóng cửa bởinhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Trải qua nhiều giai đoạn phát triểnđến năm 1973 trường được chuyển về 184 đường Nguyễn Chí Thanh và hoạt độngdưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bên cạnh đó, ở Sài Gòn năm 1963 còn mở một trường dạy trẻ khiếm thị đó làtrường La San Hiền Vương đặt tại 252 Hiền Vương nay là trường Võ Thị Sáu
Ở Hà Nội, năm 1936 có một cơ sở dạy người khiếm thị đặt tại 55 phố QuangTrung Năm 1954 trường dạy chữ nối Braille cho thương binh hỏng mắt tại 139
Trang 16đường Nguyễn Thái Học - Hà Nội Đến năm 1960 tại Hà Nội có một cơ sở dạy bổtúc văn hóa cho thanh niên mù đặt tại Ba Đình - Hà Nội.
Từ năm 1975 đến nay: Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước hoàn toàn
thống nhất, giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam thục sự được Nhà nước quan tâmkhông chỉ như một vấn đề nhân đạo mà đó là một nhiệm vụ Mong muốn xây dựngmột ngành học được thế hiện bằng việc tiếp tục gởi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài
về tật học, mặt khác tiếp tục mở rộng các cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật vốn tồn tại
từ trước Sự thể nghiệm ba mô hình giáo dục trẻ khuyết tật lần lượt được diễn ra.Đặc biệt với sự thế nghiệm mô hình giáo dục hòa nhập khởi đầu năm 1990 đã tạomột bước ngoặt quan trọng trong thực tiễn giáo dục trẻ khuyết tật Từ đó tỷ lệ trẻkhuyết tật được đi học hằng năm không ngừng tăng lên
Có thể nói kể từ sau năm 1975 đến năm 1990 là cả một quá trình trăn trở, tìmtòi giải pháp cho giáo dục trẻ khuyết tật ở nước ta Bước đầu là việc xây dựng và
mở rộng quy mô hệ thống các trường chuyên biệt, nhưng trẻ khuyết tật được giáodục tại các cơ sở này cũng chịu nhiều thiệt thòi do hạn chế của môi trường chuyênbiệt mang đến Những thử nghiệm về giáo dục hội nhập bắt đầu từ trước năm 1990cũng không mang lại hiệu quả thiết thực xét từ lợi ích của bản thân trẻ khuyết tậtcũng như về công tác chuyên môn
Từ năm 1990 tiếp thu tư tưởng về giáo dục hòa nhập, Viện khoa học giáo dụcViệt Nam nghiên cứu và triển khai thử nghiệm, cùng với sự hỗ trợ một phần tàichính từ các tổ chức quốc tế đã thu hút một số lượng lớn trẻ khuyết tật đi học hòanhập tại các trường mẫu giáo và tiểu học
Có thể khẳng định rằng: cùng với việc triển khai các chương trình giáo dụchòa nhập cộng đồng, nhiều tỉnh thành đã có định hướng rõ ràng, tố chức nhiều loạihình giáo dục trẻ khuyết tật phù hợp và có hiệu quả Trẻ khuyết tật đi học ngàycàng nhiều, chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao Nếu như trong 25 năm thựchiện giáo dục chuyên biệt, đến nay các trường chuyên biệt cũng chỉ thu hút đượchơn 7 nghìn trẻ khuyết tật đi học thì chỉ sau 10 năm tiến hành giáo dục hòa nhập đãthu hút được hơn 70 nghìn trẻ đến trường (theo số liệu thống kê trung tâm tật họctrường ĐHSP Hà Nội), đây là con số đáng so sánh trong quá trình tìm hướng đi vàgiải pháp đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật hiện nay
Trang 17Định hướng chiến lược để giải quyết vần đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam có thểđược khẳng định là giáo dục hòa nhập Đây là xu thế chung của thế giới, đồng thời
là mô hình giáo dục tiến bộ đế trẻ khuyết tật được bình đẳng, hòa nhập cộng đồngmột cách tốt nhất, là động lực đế trẻ khuyết tật vươn lên phát triển tối đa tiềm năngcủa mình Điều đó đã được thé nghiệm khắng định trong điều kiện Việt Nam Hiệuquả giáo dục hòa nhập xét về cả số lượng cũng như chất lượng giáo dục đã chothấy đây thực sự là một giải pháp cho vấn đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam
Vì vậy, nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chungcũng như quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiếu học TP Hồ Chí Minhđang còn có nhiều vấn đề vẫn phải tiếp tục triển khai Thành phố Hồ Chí Minh làmột trung tâm chính trị, văn hóa - kinh tế lớn của cả nước Sự phát triển nhanh vềkinh tế cần phải được gắn liền với những điều kiện về xã hội, về an sinh, về việcgiải quyết những vấn đề liên quan đcn cuộc sống của con người Sự hoan hỉ củacuộc sống trong xã hội hôm nay phải có sự công bằng hợp lý, chính đáng cho tất cảmọi người, trong đó có người khuyết tật và trẻ em khuyết tật Cho nên, sự pháttriển kinh tế - xã hội một cách nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh phụthuộc vào việc giải quyết những vấn đề xã hội, an sinh hiện nay vấn đề đó chưađược nghiên cứu nhiều và chưa được nhìn nhận ở tất cả các phương diện, góc độkhác nhau, từ quan điểm của nhà nước, của các mạnh thường quân, của các tố chứctôn giáo Hơn nữa, nhìn nhận vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật phải được nhìn nhận
từ góc độ quản lý giáo dục
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM cơ BẢN
1.2.1 Quản lý
Ngay từ khi con người hình thành các nhóm đế thực hiện những mục tiêu mà
họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì quản lý đã là một yếu tố cầnthiết đế đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, xã hội càng phát triển thì trình độ
tồ chức, điều hành cũng được phát triển theo và ngày càng tinh vi hơn như mọi tấtyếu lịch sử khách quan Quản lý không những đã trở thành một khoa học mà còn làmột nghệ thuật Vậy quản lý là gì?
Quan diêm của các tác giả mrớc ngoài về quản lý.
Trang 18Theo Afanaxev A.G: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, saocho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hộitập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xãhội lẫn cá nhân”[l].
Aunapu, F.F cho rằng : “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ thuậttác động vào hộ thống mà chủ yếu là những con người trong hệ thống đó nhằm đạtđược những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh té - xã hội là C0’ bản” [2]
Nói đen hoạt động quản lý người ta không thế không nhắc đến ý tưởng sâusắc của C.Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiến mình, còn dàn nhạc thì cần
có nhạc trưởng” Như vậy C.Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt độnglao động đế điều khiển lao động Nó là một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọngtrong quá trình phát triển của xã hội loài người Như vậy hoạt động quản lý nảysinh, bắt nguồn và phát triển từ lao động của con người Xã hội càng phát triển, cácloại hình lao động càng phong phú phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai tròquan trọng và trở thành một ngành khoa học [Đặng Quốc Bảo, Khái niệm về quản
lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục, 1997]
Nhà lý luận quản lý kinh té nước Pháp A Fayl, khi áp dụng lý thuyết vàothực tiễn quản lý một xí nghiệp hoàn chỉnh cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tớiđích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) củanó.[Harold Koontz, Cyrit Odonnell, Heinz Wethirith, Những vấn đề cốt yếu củaquản lý, NXB KHKT Hà Nội năm 1993]
Quan điếm của tác giả trong nước về quản ìý.
“Quản lý” là một từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý” “Quản”
là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ốn định “Lý” là sự sửa sang,sắp xcp, làm cho nó phát triển Như vậy “quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang,làm cho sự vật ổn định và phát triển
ơ Việt Nam, theo Từ điên Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuấtbản Giáo dục xuất bản năm 1994: Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầunhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định.[29]
Trang 19Giáo trình “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện hành chính quốcgia nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển cácquá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợpvới quy luật, đạt mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý [ 12].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kếhoạch của chủ thố quản lý đen những người lao động nói chung là khách thể quản
lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [19] Tác giả Nguyễn Bá Dươngcho rằng: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể
và đối tượng quản lý qua con đường tồ chức, là sự tác động điều khiến tâm lý vàhành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành nhữngmục tiêu nhất định của tập thể xã hội” [17] Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sựtác động có ý thức của chủ the quản lý đc chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quátrình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với
ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [26]
Từ các khái niệm và cách hiểu về quản lý, chúng ta có thể rút ra:
- Quản lý được tiến hành trong một tố chức hay một nhóm xã hội Nghĩa làhoạt động quản lý chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người - còn đối vớimột cá nhân là sự điều khiển hoạt động của chính mình
- Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khácthực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm
- Hệ thống quản lý được hiểu như sự phù hợp có tổ chức và thống nhất
Có thể nói hệ thống quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể
và khách thể quản lý Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý
nó vừa là một khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượngnghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thíchcác mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả Quản lý là mộtnghệ thuật bởi lẽ nó là một hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linhhoạt những kinh nghiệm quan sát được, những tri thức đã đúc két được Ngườiquản lý áp dụng những kỹ năng tổ chức con người và công việc
Tuy có nhiều cách hiếu, cách diễn đạt khác nhau song có thể khái quát rằng:Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp quy luật khách quan của
Trang 20chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất nhữngtiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong mộtmôi trường luôn biến động Do quản lý là thiết yếu trong mọi hoạt động của mọicấp, mọi ngành, mọi đơn vị: cơ quan, xí nghiệp, trường học nên Đảng ta đã nêu
rõ “Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước là cấp bách, là điều kiện tất yếu bảođảm huy động lực lượng to lớn của quần chúng nhân dân đé hoàn thành mọi nhiệm
vụ chính trị do Đảng đề ra, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân”[28]
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm
Xét về góc độ lịch sử thì khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản
lý kinh tế Do đó trong các nước tư bản, người ta thường vận dụng lý luận quản lý
xí nghiệp vào quản lý giáo dục và coi quản lý giáo dục như quản lý một loại xínghiệp đặc biệt Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phốihợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theoyêu cầu phát triển xã hội
Giáo dục ngày nay là một bộ phận của kinh tế xã hội Do vậy quản lý giáo dục
là quản lý một quá trình kinh té xã hội đặc biệt nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sựphân hóa xã hội và xã hội hóa đế tái sản xuất sức lao động, phục vụ nhu cầu pháttriển kinh tế xã hội
Một số tác giả đã đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục như sau:
Học giả nổi tiếng Kônđacốp M.I: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biệnpháp tố chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo vận hànhbình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đe tiếp tục phát triển và mởrộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng [14]
Khuđôminxky.p.v cho rằng “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kếhoạch, có mục đích của chủ thế quản lý ở các cấp khác nhau đế tất cả các khâu của
hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ,đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” [13]
Trang 21Đặng Quốc Bảo trong bài giảng những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục cónêu: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượngnhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triến của xã hội”.
Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dụckhông chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên quản lý giáo dụcđược hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [8]
Phạm Viết Vượng cho rằng: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổchức quá trình giáo dục có hiệu quả đế đào tạo lớp thanh niên thông minh, sángtạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.[24] Tác giả Đỗ Ngọc Đạt trong giáo trình “Tổ chức nghiên cứu trong quản lýgiáo dục” đã xác định : “Quản lý giáo dục là sự tác động có tố chức, có hướng đíchcủa chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhấttiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luậtđịnh và thông lệ hiện hành [10]
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song các định nghĩa trên nêu lên bản chấtcủa quản lý giáo dục là hệ thống tác động có chủ định của chủ thế quản lý giáo dụcđến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm khai thác và vận dụng tốt nhấtnhững tiềm năng và cơ hội đế đạt được mục tiêu giáo dục, nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục
1.2.2.2 Chức năng của quản lý giảo dục
Chức năng quản lý là hình thái biếu hiện sự tác động có mục đích của chủ thểquản lý đến đối tượng quản lý Trong quản lý, chức năng quản lý là một phạm trùquan trọng, mang tính khách quan, có tính độc lập tương đối Chức năng quản lýnảy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạtđộng quản lý tống thế, được tách riêng, có tính chuyên môn hóa
Hiện nay có nhiều tác giả có quan niệm khác nhau về số lượng chức năng.Tuy nhiên hầu hết đề cập đến bốn chức năng chủ yếu đó là: Chức năng kế hoạchhóa, chức năng tố chức , chức năng điều khiển và chức năng kiểm tra
a) Chức năng kế hoạch hóa trong quản ìý giảo dục.
Một tập thế lao động, trong đó có nhiều người hên kết với nhau hoạt độngthực hiện nhiệm vụ của tập thể mình và của bản thân mình Nhiệm vụ cốt yếu của
Trang 22người quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phươngpháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tố chức Đấy là chứcnăng kế hoạch hóa của nhà quản lý Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mụctiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiệncần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý.
b) Chức năng tó chức trong quản lý giảo dục.
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quảmục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò,nhiệm vụ và vị trí công tác Cho nên có thế nói việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ
là chức năng tổ chức trong quản lý
Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao chophù hợp với mục tiêu của tổ chức Song, không phải chỉ có vậy, mà việc thực hiệnchức năng tố chức trong quản lý còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đếnquyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệtchú ý đến việc bố trí cán bộ - người vận hành các bộ phận của tổ chức
c) Chức năng điều khiên trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý Sau khi hoạch định
kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cho hệ thốnghoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình sử dụng quyền lựcquản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm pháthuy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt được mục tiêu chung của hệ thống.Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyết định và tồchức thực hiện quyết định
d) Chức năng kiêm tra trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý, vì tầm quan trọng và vai tròcủa nó nên có thế khẳng định rằng chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và
là chức năng của mọi cấp quản lý, kế cả đối với nhà quản lý ở cơ sở giáo dục trongtrường học Kiếm tra chỉ một hoạt động nhằm thẳm định, xác định một hành vi của
cá nhân hay một tố chức trong quá trình thực hiện quyết định Ngoài ra còn có thểhiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trìnhhoạt động của đối tượng quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn
Trang 23Cũng như các ngành khác trong toàn xã hội, trong giáo dục việc kiểm tra thựctrạng việc chấp hành quyết định quản lý kết hợp với kiểm tra có tính chất phòngngừa là hợp lí và rất cần thiết Hiện nay trong ngành giáo dục có nhiều loại kiểmtra, song kiểm tra chuyên môn là chủ yếu và quan trọng nhất.
1.2.2.3 Các phươngpháp quản lý trong quản lý giáo dục
Phương pháp quản lý giáo dục được hiểu là tống thể những cách thức tác độngbằng những phương tiện khác nhau của chủ thé quản lý đến hệ thống bị quản lýnhằm đạt được mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý giáo dục phải phù hợp vớimục đích quản lý giáo dục Có thế nói mục đích giáo dục quyết định việc lựa chọnphương pháp quản lý Phương pháp quản lý phù hợp với nguyên tắc quản lý Sửdụng phương pháp quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.Trong quản lý giáodục, cách phân loại phương pháp quản lý giáo dục dựa vào nội dung và được chialàm ba loại chủ yếu đó là: phương pháp kinh tế - phương pháp hành chính -phương pháp giáo dục
a) Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Phương pháp kinh té phải thông qua việclựa chọn và sử dụng các công cụ đòn bẩy kinh tế như giá cả, lãi suất, tiền lương,tiền thưởng, lợi nhuận để tác động đến điều kiện hoạt động của con người Thôngqua các chính sách và đòn bẩy kinh tế, người ta tự tính toán thiệt hơn đế tự quyếtđịnh hành động của mình, không có sự can thiệp trực tiếp của tố chức
Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con ngườihành động Lợi ích đó thế hiện qua thu nhập của mỗi người, lấy lại từ thành quảchung, phù hợp với mức độ đóng góp của mỗi người Néu người quản lý quá coitrọng lợi ích chung, coi nhẹ lợi ích cá nhân của mỗi người sẽ làm triệt tiêu động lựccủa họ Ngoài tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi cũng là lợi ích bổ sung cho thunhập của con người Phúc lợi không liên quan đến công việc, nhưng nó có ý nghĩacủng cố thêm mục tiêu của tố chức, giúp thu hút và động viên các thành viên làmviệc tốt hơn cho tổ chức
Trang 24Nhu cầu vật chất là điều kiện cơ bản về cuộc sống của mọi người, do đó conngười khi thực hiện công việc nào đó đều quan tâm đến lợi ích vật chất và thunhập Vì vậy, người quản lý phải hết sức coi trọng vận dụng phương pháp kinh tế.
So với các phương pháp quản lý khác, phương pháp kinh tế có ưu điểm là đặtmỗi người vào điều kiện tự mình quyết định làm việc như thế nào là có lợi nhấtcho mình và cho tổ chức
Tuy vậy, phương pháp kinh té cũng có những hạn chế vốn có của nó Neu lạmdụng phương pháp kinh tế sẽ dẫn người ta tới chỗ chỉ nghĩ tới lợi ích vật chất, thậmchí lệ thuộc vào vật chất, tiền của mà quên tinh thần, đạo lý, có thế dẫn tới nhữnghành vi phạm pháp
b) Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp củachủ thế quản lý đến đối tượng bị quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyềnlực nhà nước
Các mối quan hệ tổ chức và quyền uy xuất hiện ở tất cả tố chức giáo dục vàcác cơ sở giáo dục Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự cưỡng bức đơnphương của chủ thể quản lý Quan hệ ở đây là quan hệ giữa quyền uy và phục tùng,giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức, cấp trên ra lệnh buộc cấp dướiphải chấp hành
Phương pháp hành chính được sử dụng nhằm mục đích tố chức và điều hành.Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy quy định về tổ chức và hoạt độngcủa các tổ chức giáo dục, quy định quan hệ hoạt động trong nội bộ cũng như cácđối tượng quản lý với các chủ the khác hoặc chủ thể quản lý thông qua các hìnhthức như chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm
vụ theo phương hướng nhất định nhằm đảm bảo sự đúng hướng, sự phối hợp nhịpnhàng giữa cá bộ phận
c) Phương pháp giảo dục
Phương pháp giáo dục là tống thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức
và nhân cách của con người Mục đích của phương pháp này là thông qua nhữngmối quan hệ lên nhân cách tác động lên con người nhằm cung cấp, trang bị thêmhiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, nâng cao khả năng, trình độ thực
Trang 25hiện nhiệm vụ của họ, đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ýthức tự giác, tự chủ, lòng kiên trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí lànhmạnh trong tồ chức khi thực hiện nhiệm vụ.
Trong quản lý giáo dục, phương pháp này được sử dụng nhiều, một phần dođặc điém của môi trường hoạt động giáo dục Phần khác do tính hiệu quả cao của
nó Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiếu rõđúng - sai, phải - trái, tốt — xấu, lợi — hại, thiện - ác để từ đó nâng cao tính tựgiác làm việc gắn bó với tổ chức
1.2.3 Trẻ khuyết tật
1.2.3.1 Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo “Luật người khuyết tật”, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết mộthoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng trong một thời gian dài biểuhiện dưới dạng tật, chịu ảnh hưởng của những rào cản làm cản trở sự tham gia bìnhđẳng vào cuộc sống xã hội
Theo Tố chức Y té thế giới (WHO), khái niệm khuyết tật dựa vào những đặcđiểm sức khỏe, những hạn che trong hoạt động của cá thể và môi trường sống của
họ Từ đó, nhận diện khuyết tật dựa vào 3 yếu tố cơ bản: a) Những thiếu hụt về cấutrúc cơ thế và sự suy giảm các chức năng; b) Những hạn chế trong hoạt động của
cơ thế do khuyết tật gây ra; c) Những khó khăn, trở ngại do môi trường sống đưalại làm cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động của cộngđồng, xã hội
Theo ý kiến của các nhà khoa học hiện nay, khái niệm trẻ khuyết tật được hiểu
là những trẻ bị khiếm khuyết về cấu trúc hoặc các chức năng cơ thế hoạt độngkhông bình thường dẫn đen những khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tậpthể, xã hội và không thể học tập theo chương trình giáo dục phổ thông nếu không
có sự hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học và nhữngtrang thiết bị đặc biệt
Như vậy, trẻ khuyết tật có sự khiếm khuyết về giác quan (thể chất) hoặc chứcnăng (tinh thần) biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạtđộng khiến trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi
Trang 261.2.3.2 Phân loại trẻ khuyết tật
a) Trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở những mức độ khác nhaudẫn tới khó khăn về nghe về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đcn quá trình nhậnthức và các chức năng tâm lý Tùy theo mức độ suy giảm thính lực, trẻ khiếm thínhđược chia làm 4 mức khác nhau:
Mức 1: Điếc nhẹ: Từ 20 — 40 DB (đề-xi-ben) Trẻ còn nghe được âm thanh lời
nói bình thường trong môi trường yên tĩnh và nhìn được hình miệng của ngườinói.Trong lớp học có âm thanh nền lớn, trẻ sẽ gặp khó khăn như nghe không đầyđủ
Mức 2\ Điếc vừa: Từ 40 - 70 dB ( đề-xi-ben) Trẻ nghe được tiếng nói to khi
nhìn được hình miệng, trong môi trường yên tĩnh, nếu có máy trợ thính phù hợp thìtrẻ có thể nghe được bình thường
Mức 3: Điếc nặng: Từ 70 - 90 dB (đề-xi-ben) Trẻ có thể nghe được một số
âm thanh tiếng nói nếu được sử dụng máy trợ thính phù hợp Nếu không ngheđược trang bị máy trợ thính phù hợp trẻ khó có thế giao tiếp bằng lời
Mức 4: Điếc sâu, điếc đặc: Từ 90 dB (đề-xi-ben) trở lên Trẻ có thế nghe được
một số âm thanh tiếng nói néu được trang bị máy trợ thính phù hợp, được luyện tập
từ nhỏ.Tiếng nói của trẻ không hoàn chỉnh hoặc không có, trẻ chủ yéu giao tiếpbằng cử chỉ điệu bộ
+ Trẻ nhìn kém: Là những trẻ khi đã có phương tiện hỗ trợ tối đa, thị lực đạt0,04 Vis < thị lực < 0,3 Vis
Trang 27c) Trẻ chậm phát trỉên trí tuệ
Trẻ chậm phát triến trí tuệ là những trẻ có chỉ số thông minh thấp hơn mứctrung bình: IQ dưới 70 và có hạn chế ở ít nhất hai trong số các lĩnh vực hànhvithích ứng Chậm phát triếm trí tuệ có nghĩa là bị khiếm khuyết về nhận thức,khiếm khuyết về kỹ năng thích ứng xã hội và có khó khăn về học
Chậm phát triển trí tuệ được chia làm nhiều mức độ: Nhẹ, trung bình, nặng,nghiêm trọng
d) Trẻ cỏ tật vận động
Trẻ có tật vận động là những trẻ bị khiếm khuyết một phần về chức năng củacác cơ quan vận động trong cơ thể làm cho trẻ có khó khăn về vận động
1.2.4 Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
1.2.4.1 Giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Hòa nhập là một khái niệm được sử dụng từ lâu trong khoa học và trong đờisống xã hội
Hòa nhập được nhìn nhận trên lý thuyết của xã hội học và giáo dục học, khắngđịnh rằng tất cả mọi người đều là những thành viên quan trọng của xã hội, khôngphân biệt sự khác nhau hoặc sự đa dạng của họ Trong giáo dục, điều này có nghĩa
là tất cả trẻ em khuyết tật, bất kể khuyết tật gì, bất kể năng lực như thế nào, bất kểthành phần kinh tế - xã hội, tôn giáo, dân tộc, giới tính, có khác nhau đến đâuvẫn có thể cùng nhau học tập trong một môi trường giáo dục, môi trường nhàtrường
Giáo dục hòa nhập trong một trường học cụ thế được hiếu là hình thức giáodục trẻ khuyết tật trong một môi trường, trong một lớp cùng chung với trẻ em bìnhthường khác Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đối với xã hội có nghĩa là hình thứcgiáo dục phù hợp với từng loại đối tượng trẻ khuyết tật, có sự điều chỉnh vềchương trình, đồ dùng dạy học, các công cụ hỗ trợ, các kỹ năng đặc thù, để trẻkhuyết tật có thể hòa nhập tối đa với xã hội về nhiều phương diện
Chính vì vậy, việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cũng có nhiều mô hìnhkhác nhau
Trang 281.2.4.2 Một sổ mô hình giảo dục hòa nhập tre khuyết tật
a) Mô hình giáo dục chuyên biệt
Trong quá trình nghiên cứu đối tượng trẻ khuyết tật người ta nghĩ đến mộtcách dạy cho trẻ đôi ba chữ và dần dần đã có những thử nghiệm dạy một số kiếnthức văn hóa cho trẻ khuyết tật Loại hình lớp giáo dục chuyên biệt ra đòi
Giáo dục chuyên biệt hay còn gọi là giáo dục tách biệt cho trẻ khuyết tật là
kiểu giáo dục tách riêng từng loại trẻ khuyết tật khác nhau với những nguyên lý,nguyên tắc giáo dục riêng, với các nội dung, chương trình sách giáo khoa vàphương pháp giáo dục riêng Ví dụ như: Trường dành cho trẻ khiếm thính, trườngdành cho trẻ khiếm thị, trường dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ
Pon ce de Leon (1520 - 1584) là một tu sĩ ở Tây Ban Nha Ông đã mở mộttrường nhỏ dành cho những trẻ điếc (có khoảng 15 học sinh) tại một tu viện ởValladid, người ta đưa ra các vật dụng và viết tên của chúng rồi dạy học sinh bắtđầu làm quen với từ theo kiểu này Người ta cũng dạy câu, dạy học sinh phát âm rõràng từng câu một Với kết quả ban đầu, sự thành công đầu tiên của trường chuyênbiệt được ghi nhận lại trong lịch sử, xóa đi mọi nghi ngờ về dạy chữ cho ngườikhuyết tật Nó đã mở đường cho lĩnh vực giáo dục người khuyết tật phát triển.Vìvậy, cũng có thể nói rằng trường học của Ponce de Leon đã đặt nền móng cho môhình giáo dục chuyên biệt đầu tiên trên thế giới
ơ Ý, năm 1662 tại Palécmô đã có trường dạy học dành cho 30 học sinh khiếmthị và vào thế kỷ XIX Guilotarra (1832- 1899) đã mở trường cho trẻ khiếm thính.ơ
Hà Lan, JohnAman (1669- 1724) đã dạy trẻ điếc bằng phương pháp nói kết hợpvới phương pháp cấu hình và mở trường dạy cho trẻ mù từ năm 1808 Như vậy, bắtđầu từ thế kỷ XVI, ở Tây Ban Nha đã có trường lớp chuyên biệt dạy trỏ khuyết tật
nó đã phát triển mạnh mẽ vào các thế kỷ sau ở nhiều nước trên thế giới, sang thế
kỷ XX nhiều nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ các trường chuyên biệt dạytrẻ khuyết tật theo nhiều phương pháp khác nhau
Quan diêm cơ bản của giáo dục chuyên biệt: Là quan diêm coi những trẻ
khuyết tật là loại trẻ thấp kém và đầu tiên người ta nghĩ đến là tách những trẻkhuyết tật với trẻ bình thường, sau đó đo khám phân loại và gắn mác Đây là
Trang 29những trẻ điếc câm, kia là những trẻ mù lòa Khi đã làm xong việc gắn mác, trẻkhuyết tật được tổ chức vào các lớp dựa trên sự phân loại lớp của trẻ điếc nhiều,lớp của trẻ điếc ít
Trong quá trình giáo dục mỗi loại trẻ khuyết tật Ngoài những nội dung,phương pháp chung như giáo dục trẻ bình thường, cần phải có những nội dung,phương pháp thích hợp để tiến hành giáo dục cho mỗi loại trẻ khuyết tật
Cũng cần phải thừa nhận rằng mô hình giáo dục chuyên biệt nảy sinh và pháttriển trong giai đoạn lịch sử tương ứng với nền văn minh nhân loại Khi mà nềnvăn hóa chung có sự tiến bộ hơn trước đó người ta đã nghĩ đến một mô hình, mộtcách dạy học cho trẻ khuyết tật Mặc dù cho đến nay trình độ phát triển ta thấy môhình chuyên biệt có nhiều khiếm khuyết
Trong các năm học ở trường phố thông đặc biệt dành cho trẻ khuyết tật, các
em được phục hồi chức năng, học văn hóa, giáo dục lao động, hướng nghiệp dạynghề, khi ra trường các em có trình độ học vấn tương đương với lớp 5 trường tiểuhọc, được học một nghề CO’ bản có thé hành nghề nuôi sống bản thân, không nhữngthe các em còn được phục hồi tốt các chức năng bị phá hủy, được nâng cao thể chấtđạo đức và các hoạt động tập thể, văn nghệ, thế thao, Một số trẻ khuyết tật cóthể học lên cấp 2
Nhà trường phố thông đặc biệt dành cho các cháu tật nặng có nội dung,chương trình, phương pháp đặc biệt được thực hiện theo quy trình chặt chẽ từ lớpdưới lên lớp trên, ở đây cũng có những phương tiện dạy học mang tính đặc thù phùhợp với từng loại tật Giáo viên của các trường chuyên biệt được đào tạo chuyênmôn chuyên sâu theo từng chuyên ngành dạy cho trẻ có tật Những giáo viên này
có tri thức tương đối đầy đủ về sư phạm và tật học, có đủ năng lực để tiến hành tốtquá trình giáo dục trẻ khuyết tật
Như vậy, mô hình giáo dục chuyên biệt là phương pháp chuyên giáo dục chonhững trẻ bị tật nặng với chương trình, phương pháp, phương tiện, nội dung dạyhọc, cách tố chức giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với những trẻkhuyết tật khác nhau
Trang 30b) Mô hình giáo dục hội nhập
Trong quá trình nghiên cứu các nhà tật học đã tìm ra những giải pháp đạt hiệuquả cao hơn trong giáo dục khuyết tật và đã đưa ra mô hình giáo dục hội nhập trên
cơ sở phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình chuyên biệt, khắc phục nhữngnhược điểm của nó
Đây là mô hình giáo dục mà trẻ khuyết tật được lựa chọn trường lớp phổthông Trẻ khuyết tật có thể được vào lớp học phổ thông với trẻ bình thường(thường là những trẻ khuyết tật nhẹ) và cũng có thể vào học với nhau trong một lớpriêng được đặt trong trường phổ thông
Tư tưởng của giảo dục hội nhập: Giáo dục hội nhập có thể coi như là cái
ngưỡng của giáo dục chuyên biệt và giáo dục hội nhập Trong tổ chức giáo dục, cónhững học sinh khuyết tật học hòa nhập hoàn toàn trong lớp bình thường, nhưngvẫn có những lớp được tồ chức dạy riêng, tách biệt
Dạy học ở đây chưa có quan niệm đồng nhất về mọi trẻ khuyết tật đều là trẻ
em và phải dạy học theo nhu cầu, năng lực của từng em ơ đây vẫn còn sự phânbiệt: Trẻ khuyết tật này học hòa nhập được, trẻ khuyết tật kia thì không Người tacòn boăn khoăn, lo lắng sự bình thường hóa trong quá trình giáo dục trẻ khuyết tật.Dạy như thế nào đế trẻ khuyết tật càng đến trường bình thường thì càng tốt chứkhông phải dạy để phát triển hết tiềm năng của từng em Vì thế, trong dạy học vẫnlấy các môn học làm trung tâm, chương trình làm thước đo
Mô hình giáo dục hội nhập có những bước tiến rõ nét hơn mô hình giáo dụcchuyên biệt song mô hình giáo dục hội nhập vẫn còn những tồn tại vốn có của nó:
- Thực hiện giáo dục theo kiếu nữa vời, tất cả học sinh khuyết tật chưa đượchưởng nền giáo dục, chương trình giáo dục bình đẳng
- Còn có một phần tách biệt, đó là những học sinh trong các lớp riêng củatrường phổ thông
- Còn lấy môn học làm trung tâm chứ không phải học sinh làm trung tâm
- Môi trường giáo dục chưa được thay đối vẫn là môi trường giáo dục cũ vàngười ta có thể thay đổi đi một chút ít ở chỗ này, chỗ kia
- Học sinh chưa được hưởng chương trình, phương pháp giáo dục đã được đốimới, phù hợp cho mọi đối tượng
Trang 31- Còn phân biệt rõ giữa các loại giáo viên: Giáo viên chuyên biệt, chuyên sâutrong từng lĩnh vực với giáo viên chủ nhiệm lớp Các loại giáo viên này chưa có sựhợp tác chặt chẽ với nhau vì mục đích, mục tiêu giáo dục còn khác nhau.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật nó đã trực tiếpcan thiệp và hỗ trợ vào toàn bộ đời sống con người Đặc biệt đối với trẻ khuyết tậthiện nay đã có nhiều dịch vụ hỗ trợ giúp trẻ sớm khắc phục những khiếm khuyếttạo điều kiện cho trẻ hòa nhập tốt với cộng đồng
c) Mô hình giảo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập là mô hình giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học vớitrẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống Giáo dục hòanhập dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận trẻ khuyết tật Nguyên nhângây ra khuyết tật không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn làkhiếm khuyết về phía xã hội
Như vậy, giáo dục hòa nhập được xuất hiện trên cơ sở sự đánh giá đúng trẻkhuyết tật, trẻ khuyết tật được nhìn nhận như mọi trẻ em khác Các quá trình pháttriển tâm lý diễn ra bình thường Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhấtđịnh, chính từ sự đánh giá đó mà trẻ khuyết tật được coi là những chủ thế giáo dụchơn là đối tượng, Từ đó người ta tập trung quan tâm , tìm kiếm những cái mà trẻkhuyết tật có thế làm được, các em sẽ làm tốt khi các việc đó phù hợp với nhu cầu
và năng lực của các em Trong giai đoạn giáo dục này gia đình, cộng đồng, xã hộicần tạo ra sự hợp tác và hòa nhập với các em trong mọi hoạt động ở mọi môitrường Vì thế các em phải được học ngay ở trường học gần nhất, nơi các em sinh
ra và lớn lên Các em luôn luôn được sưởi ấm bằng tình thương yêu của cha, mẹ,anh, chị của các cm và được cả cộng đồng đùm bọc giúp đỡ Khiếm khuyết của cơthể không còn là của riêng, khó khăn riêng của các em, mà cái đó được coi như làmột mối quan tâm chung, được chia sẻ với các thành viên trong gia đình và củanhững người xung quanh với các em
Trong giáo dục hòa nhập, trẻ khuyết tật được học ở môi trường bình thường,học ở trường gần nhà nhất Điều này tạo cho các em không có sự tách biệt với bố,
mẹ, anh chị trong gia đình Các em luôn gần gũi với bạn bè, người thân, ngườiquen ở làng xã sống trong môi trường như vậy ở các cm luôn có niềm tin sự an
Trang 32toàn, những xúc động, vui, buồn trong tình cảm diễn ra một cách bình thường, cácquá trình tâm lý ốn định, phát triển cân đối, hài hòa như những trẻ em khác, không
có sự hụt hẫng đáng tiếc Trong điều kiện đó các em yên tâm phấn đấu học tập vàphát triển
Các em được học cùng chung một chương trình với các bạn bình thường khác,chương trình và phương pháp ở đây sẽ được điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp vớinhu cầu năng lực của các em Dạy học như vậy sẽ đem đến hiệu quả cao, các em sẽphát triến hết khả năng của mình Trong giáo dục hòa nhập sẽ được coi trọng cânđối giữa kiến thức và kỹ năng xã hội Môi trường giáo dục thay đối, các em được
tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau làm cho các em phát triển và thích ứng tốt hơn vớimôi trường xã hội
Giáo dục hòa nhập sẽ tạo ra cơ hội, môi trường để nhiều lực lượng tham giagiáo dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung Đây cũng là môi trường
mà mọi người trong cộng đồng có điều kiện tiếp cận với trẻ khuyết tật nhiều hơn,thấy rõ hơn những nhu cầu, tiềm năng của các em, những mặt mạnh, mặt yếu củacác em, từ đó thấy rằng cần phải làm những gì để hỗ trợ giúp đỡ các em nhiều hơn.Càng có nhiều người hiểu các em, giúp đỡ các em, chắc chắn các em sẽ có sựtrưởng thành vượt bật
Mô hình giáo dục hòa nhập là mô hình hoàn thiện nhất trong các mô hình giáodục trẻ khuyết tật Bởi vì, nó tạo ra môi trường, cơ hội đế trẻ khuyết tật phát triểntốt nhất, giáo dục hòa nhập có cơ sở lý luận vững chắc về đánh giá con người, vềmối tương quan giữa cá nhân với cộng đồng và các giải pháp thích hợp trong tồchức cũng như trong tiến trình giáo dục Dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật được ápdụng những lý luận dạy học hiện đại - lấy người học làm trung tâm Chương trìnhđược điều chỉnh, phương pháp được đổi mới thích hợp cho mọi học sinh học tốttiến bộ
Giáo dục hòa nhập là mô hình giáo dục kinh tế nhất, nhân văn nhất Mô hìnhnày làm cho mọi trẻ em đi học đều vui, đều thấy rõ trách nhiệm của mình Nó cũnglàm cho mọi người gần gũi nhau hơn, có cơ hội hợp tác với nhau vì sự nghiệp giáodục cho trẻ khuyết tật Đây là xu hướng chung của thế giới tiến bộ ngày nay, làm
Trang 33cho mọi người sống thân thiện, hòa bình, hữu nghị và quan tâm tới người khác dù
ở trong điều kiện, hoàn cảnh nào
1.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
1.2.5.2 Giải pháp quản lý giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiêu học
Giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học là nhữngcách thức tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý (hoạt độnggiáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học) nhằm đưa hoạt động sư phạmchuyên biệt này đạt được kết quả tối ưu trong một hoàn cảnh cụ thế
1.3 MỘT SỐ NỘI DƯNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT
VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở TIỂU HỌC
Quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học cũng là một bộ phậncủa quản lý giáo dục, quản lý xã hội Là một trong những quản lý chuyên môn,nghiệp vụ của các cấp quản lý giáo dục, nó bao gồm một loạt các biện pháp tồnghợp đòi hỏi các nhà quản lý phải thực hiện đó là: Quản lý mục tiêu giáo dục hòanhập, đối tượng bồi dưỡng, nội dung chương trình và hình thức bồi dưỡng, tậphuấn đào tạo, quản lý tốt các điều kiện, tố chức thực hiện, bồi dưỡng, tập huấn đàotạo, quản lý việc kiếm tra, xét cấp chứng chỉ các đợt tập huấn và chứng nhận hoànthành chương trình bồi dưỡng tập huấn và quản lý kết quả đó trong việc xét kết quảhoạt động chuyên môn của đơn vị, cá nhân
Quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật là một biểu hiện của quản lý giáodục Do đặc trưng của hình thức quản lý này trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi
Trang 34xin trình bày kết hợp nội dung giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật vào trong nội dungquản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiếu học.
1.3.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu của giáo dục hòa nhập
Để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập, nâng cao nănglực cho cán bộ quản lý các cấp và giáo viên ở các đơn vị cơ sở để phát triển giáodục hòa nhập
1.3.1.1 Y nghĩa của việc xây dimg mục tiêu giảo dục.
Trẻ khuyết tật có những khó khăn và thuận lợi riêng so với trò bình thườngcùng lứa tuổi về một số mặt, vì thế gây cho trẻ không ít khó khăn trong quá trìnhlĩnh hội những tri thức phổ thông Trong thực tế chỉ ra rằng trẻ khuyết tật nặng khó
có thế hoàn thành mục tiêu tiểu học Bởi vậy đối với đối tượng trẻ khuyết tật nặngcần có mục tiêu giáo dục riêng phù hợp với những đặc điểm của trẻ
Việc xác định mục tiêu đúng đắn, phù hợp cho từng trường hợp sẽ giúp chogiáo viên biết phương hướng giúp đỡ trẻ trong quá trình giáo dục và giảng dạy trẻ
ở trên lớp trong suốt quá trình trẻ học ở nhà trường Hơn nữa tránh hiện tượng trẻkhuyết tật bị bỏ rơi trong lớp vì xét cho cùng trẻ khuyết tật nặng khó có the theokịp được trẻ em bình thường về một số mặt Bởi vậy việc xác định mục tiêu giáodục sẽ giúp cho trẻ khuyết tật có cơ hội và tạo điều kiện được đánh giá như trẻ embình thường khác
Mục tiêu giáo dục được xác định chính xác, phù hợp sẽ kéo theo việc hoạchđịnh những nội dung và biện pháp hỗ trợ trẻ phù hợp đảm bảo cho quá trình giáodục đạt được hiệu quả cao nhất Đồng thời giúp cho trẻ có thế phát huy hết khảnăng còn lại của mình để học tập
1.3.1.2 Mục tiêu giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Mục tiêu giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đã được thể hiện trong các văn bảnhiện hành, với việc khẳng định trẻ em nói chung được hưởng hai quyền cơ bản là:
Được tôn trọng nhân cách và học tập Trên cơ sở hai quyền cơ bản đó là, Nhà
nước ta tổ chức giáo dục trẻ khuyết tật vì những mục đích chủ yếu: Tạo cho trẻ emkhuyết tật có được môi trường sống bình thường trong cộng đồng; (xóa bỏ mặccảm hai chiều: xã hội nhìn nhận trẻ khuyết tật và bản thân trẻ tự nhìn nhận), giúptrẻ phát triển nhân cách, từng bước hòa nhập vào xã hội xung quanh Góp phần xây
Trang 35dựng nền giáo dục Việt Nam thực sự là nền giáo dục cho mọi người, mang tínhnhân văn sâu sắc - một nền giáo dục tiến bộ Bảo đảm quyền học tập cho trẻkhuyết tật trong điều kiện cụ thé của đất nước, địa phương, nhà trường hay cơ sởgiáo dục.
Những mục đích đào tạo, giáo dục chính yếu trên có thực hiện kết quả haykhông, hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng và số lượng đội ngũ giáo viên; trướchết là giáo viên các trưÒTLg khuyết tật
1.3.1.3 Nguyên tắc xây dựng mục tiêugiảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Đe đảm bảo tính chính xác của mục tiêu đối với giáo dục trẻ khuyết tật cầnphải tuân theo những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thử nhất: Mục tiêu giáo dục phải dựa vào mục tiêu giáo dục phổ
thông, lấy nó làm chỗ dựa, làm thước đo, làm cơ sở để xây dựng Mục tiêu giáodục trẻ khuyết tật không thể tách biệt khỏi mục tiêu giáo dục trẻ bình thường cùnglứa tuổi Nguycn tắc này chi phối toàn bộ hệ thống mục tiêu cho đến việc xây dựngnhững yêu cầu cho mỗi giai đoạn, cho mỗi nội dung giáo dục Tùy theo từngtrường hợp cụ thể, như đối với những em khuyết tật nhẹ, ít khó khăn trong học tậpthì dựa vào mục tiêu giáo dục phố thông, nhưng với những trường hợp khuyết tậtnặng thì dựa vào mục tiêu giáo dục bậc tiểu học làm cơ sở
Nguyên tắc thứ hai Mục tiêu giáo dục ở đây mang tính cá biệt cao độ - nói
cách khác - mục tiêu giáo dục cho từng học sinh cụ thế Bởi vậy việc xác định mụctiêu phải căn cứ vào đặc điém cá biệt, những thuận lợi và khó khăn của từng họcsinh Mục tiêu được đặt ra sao cho cá nhân học sinh đó đủ khả năng để đạt đượctrong khoảng thời gian nhất định
Nguyên tắc thứ ba: Mục tiêu đặt ra phải căn cứ vào những điều kiện cụ thể
và cần thiết đe đạt được, nghĩa là mục tiêu phải mang tính khả thi Điều kiện ở đâybao gồm môi trường và điều kiện sống của học sinh, điều kiện giáo dục ở nhàtrường, trình độ khả năng của đội ngũ giáo viên và những người tham gia chămsóc, giáo dục trẻ
1.3.1.4 Phương pháp xây dựng mục tiêu giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Để đảm bảo tính chính xác và khả thi của mục tiêu, cần phải tiến hành theo
các bước sau:
Trang 36Bước khảo sát, tìm hiểu đối tượng- Phải có nội dung tìm hiểu cụ thể về mức
độ khiếm khuyết của từng trẻ, những khó khăn và thuận lợi ở trẻ trong quá trìnhgiáo dục hòa nhập với trẻ bình thường
Bước xác định mục tiêu giáo dục: Trên cơ sở tìm ra những khó khăn thuận
lợi của trẻ, phải định ra mục tiêu giáo dục phù hợp cho từng đối tượng, ở từng lớp,từng bậc học
Bước thông qua mục tiêu giáo dục: Mục tiêu giáo dục sau khi xác định phải
thông qua các đối tượng liên quan tham gia vào quá trình giáo dục, phải đảm bảođược thống nhất Đây là cơ sở pháp lý cho việc kiểm tra, đánh giá học sinh, đánhgiá tình hình thực hiện nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục hòa nhập
Bước cụ thê hóa mục tiêu bằng những mục tiêu ngắn hạn và những yêu cầu cho từng nội dung giáo dục Quản lý giáo dục ở các cấp khác nhau đều nhằm mục
đích: tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các cơ sở thực hiện tốt mục tiêu giáodục
Do đó chúng ta xác định rằng: Mục tiêu quản ỉỷ giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật ơ bậc tiểu học được cụ thể hóa từ mục tiêu quản lý giáo dục ở bậc tiểu
học đó là hệ thống các tác động có chủ định của chủ thé quản lý đen toàn bộ hệthống giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất những
cơ hội để đạt được mục tiêu giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học nhằmnâng cao hiệu quả giáo dục
1.3.2 Quản lý việc xây dụng, thực hiện nội dung giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiếu học cũng như quản lý cácngành khác the hiện rõ chức năng của công tác quản lý như: Ke hoạch hóa, tổchức, lãnh đạo, kiếm tra đánh giá Các nội dung cụ thế của công tác quản lý giáodục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiếu học cụ thế là:
- Quản lý về mục tiêu của giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học xác
định rõ được mục tiêu phát triến số lượng, quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh
ở đây là việc làm đầu tiên của nhà quản lý số lượng là yếu tố cần thiết để xác định
sự phát triển của bậc học, trên cơ sở đó xác định các điều kiện thiết yếu khác đểphục vụ cho sự phát triển của bậc học theo yêu cầu chuyên môn
Trang 37- Quản lý, điều chỉnh nội dung chương trình, là yêu cầu hết sức quan trọng
trong quá trình thực hiện giáo dục hòa nhập, vấn đề điều chỉnh nội dung chươngtrình cho phù hợp với từng đối tượng trẻ khuyết tật nhằm tạo điều kiện để trẻkhuyết tật phát huy hết khả năng còn lại thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của mình
- Quản lý việc nâng cao chất lượng: các hoạt động giáo dục theo đúng các
nguyên lý giáo dục nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục hòa nhập
Chất lượng học sinh là mục tiêu, là kết quả của toàn bộ quá trình giáo dục,việc chỉ đạo bậc học quán triệt nguyên lý giáo dục, đẩy mạnh toàn diện và cân đốicác hoạt động nói trên, thực sự nâng cao chất lượng các hoạt động để nâng cao chấtlượng giáo dục cho học sinh theo mục tiêu đào tạo đó là nội dung trọng tâm củaquản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
- Quản lý các điều kiện thiết yếu của giáo dục trẻ khuyết tật phù hợp với bậc
học: Sự nghiệp giáo dục của bậc học chỉ được phát triển mạnh mẽ về số lượng và
nâng cao được chất lượng khi có được các điều kiện thiết yếu đó là:
+ Có đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định trong nhà trường đủ về sốlượng, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn
+ Có cơ sở vật chất và thiết bị là yếu tố vật chất của lực lượng giáo dục ngàycàng đầy đủ, hoàn thiện
+ Có lực lượng toàn xã hội, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức từ thiện trong vàngoài nước kết hợp với nhà trường chăm sóc giáo dục trẻ
Xây dựng các điều kiện thiết yếu trên là một mặt quan trọng của công tácquản lý và là bước đi ban đầu đé làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nângcao
1.3.3 Quản lý việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên và nhũng người làm công tác giáo dục trẻ khuvết tật ỏ’ bậc tiểu học
Theo luật giáo dục Việt Nam, điều tiên quyết đế xây dựng chuyên ngànhgiáo dục khuyết tật, trước hét phải có đội ngũ giáo viên những người làm công tácgiáo dục trẻ khuyết tật Tuy nhiên, tình hình đào tạo cán bộ quản lý và giáo viên
hệ giáo dục khuyết tật hiện nay đang phải đối diện với ba thực tế:
- Chưa có cơ sở đào tạo giáo viên hệ khuyết tật một cách có hệ thống, theochương trình chính quy
Trang 38- số lượng giáo viên hệ khuyết tật hiện có mới chỉ đảm bảo dạy cho 3% tổng
số khuyết tật trong cả nước
- Chất lượng giáo viên còn nhiều hạn chế, nhu cầu đòi hỏi về công tác tổchức bồi dưỡng cho giáo viên rất cao Có thể nói phải bắt đầu từ đầu - từ vạchkhởi điểm bằng 0
Vào những năm cuối the kỷ XX, cả nước mới có Trung tâm Đào tạo và pháttriển giáo dục đặc biệt của Trường Đại học Sư phạm và Đại học Quốc gia Hà Nộiđào tạo một lớp giáo viên dạy trẻ khiếm thính Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tậtcủa Viện khoa học Giáo dục được Bộ Giáo dục - Đào tạo cho phép mở lớp thíđiểm đào tạo giáo viên dạy trẻ khuyết tật ở trình độ cao đẳng sư phạm tại haitrường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc (ở phía bắc) và Tiền Giang (ở Nam Bộ)trong năm học 1999 -2000
Thực tại đó mới chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ (3%) yêu cầu giáo dục khuyếttật Số giáo viên đương chức được đào tạo chủ yếu theo hình thức ngắn hạn, cònthiếu nhiều tri thức và kỹ năng sư phạm tật học Nhiều địa phương muốn mởtrường khuyết tật, nhưng đành bó tay vì không có giáo viên, số giáo viên dạy hòanhập đều hạn chế nhiều về sư phạm tật học
Tháng 5 năm 1995, Trung tâm Giáo dục Trẻ khuyết tật thuộc Viện khoa họcGiáo dục đã công bố số liệu về triến khai chương trình giáo dục hòa nhập trẻkhuyết tật ở 33 tỉnh thành trong cả nước, cùng 66 huyện, 926 xã, 1041 trường tiểuhọc; có 26.102 trẻ khuyết tật được huy động đến 11.086 lớp hòa nhập và 11.031giáo viên phổ thông tham gia Theo thống kê của Viện khoa học Giáo dục (năm1998), cả nước có 66 cơ sở dạy trẻ khuyết tật theo hướng chuyên biệt với 554 giáoviên, trực tiếp dạy 3.677 trẻ khuyết tật các loại Trong số đó có 22 trường của TP
Hồ Chí Minh, chiếm 33% tổng các cơ sở dạy trẻ khuyết tật
Số lượng giáo viên của hệ thống giáo dục khuyết tật TP Hồ Chí Minh mớichỉ đáp ứng được gần 30% yêu cầu giảng dạy trẻ khuyết tật Trước thực tại đócông tác tố chức bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giáo viên các trường khuyết tậtcàng trở nên cấp bách
Năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên các trường khuyết tật bao gồm bayếu tố: Kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm
Trang 39• về kiến thức, bao hàm không chỉ có học hàm, học vị, văn bằng chứng
chỉ, mà cả kiến thức người giáo viên trau dồi, tiếp thu được qua các hình thức:Học ở trường lớp, tự đào tạo, tự bồi dưỡng, tham khảo qua sách báo, và các thôngtin đại chúng( đài, báo, vô tuyến truyền hình), qua các cuộc hội thảo khoa học, báocáo chuyên đề
• về kỹ năng, bao gồm các kỹ năng giảng dạy văn hóa, chăm sóc, phục
hồi chức năng và giáo dục hướng nghiệp cho trẻ khuyết tật
Sự nghiệp giáo dục trẻ khuyết tật hiện nay ở Việt Nam là một mô hình cònrất mới mẻ, ở ngay tầm quốc gia cũng đang trong quá trình thử nghiệm, nhằm từngbước đúc kết thành lý luận để đưa vào vận dụng Thực tế đó đòi hỏi người giáoviên cần có thói quen đúc kết kinh nghiệm, sáng kiến trong giảng dạy và giáo dục
Một đòi hỏi tất yéu nữa là người giáo viên của hệ giáo dục trẻ khuyết tậtphải phấn đấu tự trang bị thêm nhiều hiểu biết về những tư tưởng giáo dục tiến bộ;những phưong pháp giáo dục tiên tiến và thường xuyên bồ sung cho vốn hiểu biếtcủa mình những kiến thức về: giáo dục học, tâm lý học, ngôn ngữ học, sinh lý họclứa tuổi, tật học Đó sẽ là phương tiện, công cụ và là hành trang để người giáoviên hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình trước sự tôn vinh, kính trọng của xãhội
• về kinh nghiệm, là sự đúc rút, tích lũy kinh nghiệm của giáo viên
trong giảng dạy, trong cuộc sống đc làm phong phú thêm hiểu biết, trình độ vànăng lực giảng dạy của giáo viên Ở đây, năng lực không thể tách rời phẩm chất,đạo đức phải có ở từng giáo viên khuyết tật
Khi tổ chức bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giáo viên các trường khuyếttật, cần xác định rõ nhu cầu của người bồi dưỡng Mà theo khái niệm hiện hành “nhu cầu là sự chênh lệch, là khoảng cách giữa trình trạng hiện tại với trình trạngmong muốn” Nói cách khác, nhu cầu được hiểu là khoảng cách giữa trình độ, kiếnthức, kinh nghiệm, thái độ hiện có với trình độ cần phải có, cần đạt được đe thựchiện công việc giảng dạy một cách có hiệu quả nhất
Trang 40Nhu cầu giáo viên cần được bồi dưỡng được thể hiện qua mô hình:
Nhu cầu
->
Bồi dưỡng
Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần có
Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm hiện có
Nhằm tồ chức bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giáo viên khuyết tật đạthiệu quả, cần phải thông qua ba bước cụ thể:
1 Xác định lượng kiến thức, kỹ năng cần có (thông qua hồ sơ, văn bản)vừa quan sát tự đánh giá, nhận xét và sử dụng phiếu hỏi để thăm dò, phỏng vấn
2 Phân tích kiến thức (lượng thông tin), các kỹ năng cần có với kiếnthức, kỹ năng hiện có đế xác định khoảng cách chênh lệch
3 Xem xét, đánh giá đặc điểm nguồn lực (số lượng giáo viên, cán bộquản lý cần bồi dưỡng) đế lập kế hoạch, chương trình bồi dưỡng phù hợp với đốitượng có nhu cầu
1.3.4 Quản lý việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
Việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc giáo dục hòa nhập trẻkhuyết tật ở bậc tiểu học đạt được kết quả khi hội đủ những điều kiện sau đây:
Cung cấp đầy đủ tài liệu, thông tin phục vụ công tác giảng dạy cho giáo
viên
Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy học chogiáo viên: Đủ phòng học, lớp học cho từng đối tượng học sinh khuyết tật; trang bịcác phương tiện kỹ thuật phục vụ cho từng loại hình học sinh khuyết tật
Đầu tư đầy đủ kinh phí cho hoạt động đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bịgiáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học ; gồm các mặt công tác: Huy độngnguồn lực tài chính cho công tác chăm lo đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạyhọc (bao gồm kinh phí hỗ trợ của nhà nước, kinh phí cho chương trình bồi dưỡng;kinh phí đào tạo, bồi dưỡng của Ngành Giáo dục TP Hồ Chí Minh; kinh phí tự túccủa các cá nhân, tập thể của giáo viên)