1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ tỉnh hải dương với công tác phát triển đảng viên ở nông thôn tu nam 2001 den nam 2010

99 615 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Công tác phát triển Đảng viên đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, được các nhà khoa học, tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu, tiêu biể

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Trung tâm đào tạo bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị

Trang 2

đại học quốc gia hà nội Trung tâm đào tạo bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ……… 3

Chương 1: YÊU CẦU KHÁCH QUAN, CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT RIỂN ĐẢNG VIÊN Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2006 11

1.1 Yêu cầu khách quan phát triển đội ngũ đảng viên 11

1.1.1 Đặc điểm nông thôn Hải Dương tác động đến công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương 11

1.1.2 Thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở nông thôn trước năm 2001 13

1.1.3 Yêu cầu mới về phát triển đội ngũ đảng viên ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2006 ở Hải Dương 25

1.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ đảng viên ở nông thôn 32

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển đội ngũ đảng viên từ năm 2001 đến năm 2006 32

1.2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về công tác phát triển đảng viên ở nông thôn 39

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 46

2.1 Đặc điểm những năm 2006 – 2010 46

2.1.1 Tình hình quốc tế 46

2.1.2 Tình hình trong nước 47

2.2 Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở nông thôn49

Trang 4

2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 49

2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển đảng viên ở nông thôn 51

2.2.3 Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo công tác phát triển đảng viên ở nông thôn 56

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU TỪ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở NÔNG THÔN TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2010 CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG 65

3.1 Nhận xét về công tác phát triển đảng viên ở nông thôn của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2010 65

3.1.1 Về ưu điểm 65

3.1.2 Một số hạn chế 73

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 79

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 92

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Chỉ thị số 52CT/TƯ ngày 21/1/2002 của Bộ Chính trị khẳng định: kết nạp Đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật trong công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường thêm sức chiến đấu và bảo đảm sự

kế thừa phát triển của Đảng Đảng là một cơ thể chính trị xã hội sống có quá trình hình thành, phát triển và đào thải riêng Vì vậy phát triển Đảng là đòi hỏi

tự nhiên, là quy luật tất yếu nhằm bù đắp về số lượng và tạo thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa Đảng, đảm bảo sự kế thừa, tạo thêm nhân tố mới trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên Đảng chỉ mạnh khi có một đội ngũ đảng viên hùng hậu cả về số lượng lẫn chất lượng Đội ngũ đảng viên của các

tổ chức Đảng có phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã

hội của đất nước

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác phát triển Đảng có ý nghĩa rất quan trọng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác phát triển đảng viên nhiệm kỳ 2006 - 2010 là: “ Chú trọng

và tăng cường công tác phát triển Đảng, sớm khắc phục tình trạng một số cơ

sở, địa bàn chưa có đảng viên, tổ chức đảng Việc kết nạp đảng viên phải coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, đặc biệt tiêu chuẩn giác ngộ lý tưởng của Đảng, đạo đức, lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm vụ; trọng tâm phát triển hướng vào thế hệ trẻ, công nhân, nông dân, trí thức, quân nhân, cán bộ, con em các gia đình có công với cách mạng Coi trọng giáo dục rèn luyện đảng viên dự

bị, đảng viên trẻ Thường xuyên sàng lọc đảng viên, kiên quyết đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp Khai

Trang 6

trừ những đảng viên thoái hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước Vận động ra Đảng hoặc xóa khỏi danh sách Đảng viên đối với những đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, không làm tròn nghĩa

vụ đảng viên đã được tổ chức Đảng giúp đỡ mà không tiến bộ” Như vậy Đảng phải đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong tất cả các ngành, các cấp, các lĩnh vực ở tất cả các thành phần kinh tế, các dân tộc, các giới, các vùng miền của đất nước Có như vậy Đảng mới có được một đội ngũ đảng viên đều khắp nơi để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của đảng đối với sự

nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, phát huy truyền thống của quê hương, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng trong công tác phát triển đảng viên mới, toàn Đảng bộ có hơn 90.000 đảng viên, sinh hoạt tại hơn bốn mươi nghìn chi

bộ, thuộc gần 800 chi, đảng bộ cơ sở ở 16 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy Các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ luôn nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, không ngại hy sinh gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, kế tiếp nhau gánh vác và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Đảng và nhân dân giao phó, nên hàng năm bổ sung vào đội ngũ đảng viên một lực lượng đảng viên trẻ có sức khỏe, có tri thức và đã tác động tích cực tới các mặt của công tác

xây dựng Đảng và thành tựu chung của công cuộc đổi mới

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển đảng viên nói chung và công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn nói riêng còn bộc

lộ những hạn chế và gặp không ít những khó khăn đã ảnh hưởng tới năng lực

và sức chiến đấu của các chi bộ, của tổ chức cơ sở đảng Vì vậy để thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không ngừng tăng cường công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn bổ sung một

Trang 7

lực lượng hùng mạnh cho chi bộ đảng ở cơ sở, để tất cả các chi bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng làm cho mọi chính sách của Đảng đều được thi

hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng

Với ý nghĩa đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài“Đảng bộ tỉnh Hải Dương với công tác phát triển Đảng viên ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010” làm

luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành “Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công tác phát triển Đảng viên đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, được các nhà khoa học, tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu

là các công trình khoa học sau:

- Các sách chuyên luận, chuyên khảo đề cập đến công tác xây dựng Đảng và phát triển đội ngũ đảng viên:

“ Phấn đấu vào đảng để thực hiện lý tưởng cao đẹp của chúng ta”, Nxb Thanh niên, Hà Nội 1992; “ Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện

nay”, Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội, 2003; “ Tổ chức Đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương thức hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999; “ Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới” Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, 2003; “ Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí và chức năng

của tổ chức cơ sở Đảng” của TS Nguyễn Xuân Thông, trong tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, năm 2006

Các công trình trên đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về xây dựng Đảng và công tác phát triển đảng viên Làm rõ yêu cầu khách quan của công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên; vị trí, vai trò, yêu cầu nội dung công tác xây dựng Đảng; đề xuất các giải pháp về xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ đảng viên

Trang 8

- Các bài báo khoa học đăng trong các tạp chí như

Nguyễn Văn Muôn “ Một số suy nghĩ về công tác phát triển đảng viên

hiện nay”, Xây dựng Đảng số 5 – 1994; Đỗ Xuân với bài “ Hội nghị chuyên

đề về công tác phát triển đảng viên trẻ”, Xây dựng Đảng số 3, 1995

Trần Thu Thủy với bài “ Kinh nghiệm phát triển đảng viên mười doanh

nghiệp quốc doanh”, tạp chí Xây dựng Đảng số 6, 2003; Nguyễn Văn Sáu với

bài “ Một số giải pháp nâng cao công tác phát triển Đảng”, Xây dựng Đảng

số 6, 2004; Nguyễn Minh Quang với bài “ Lai Châu với công tác xây dựng và

củng cố tổ chức cở sở Đảng”, Tạp chí cộng sản số 790, 2008

Hầu hết các tác giả đều đề cập và giải quyết đến các vấn đề phát triển đảng nói chung và phát triển đảng trong sinh viên, thanh niên nói riêng và công tác xây dựng Đảng vững mạnh ở tổ chức cơ sở Đảng Đó là những bài báo khoa học đi xâu nghiên cứu từng khía cạnh của công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên

Một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ, đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này :

“Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nhân cách sinh viên (mặt văn hóa chính

trị)- Đề tài 93-98-081/ĐT (Phân viện Báo chí và tuyên truyền, Học viện

CTQG Hồ Chí Minh thực hiện, H, 12/1993)

“Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường Đại

học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn

Trang 9

“Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên mới trong học

viên hệ đào tạo sĩ quan ở các trường thuộc quân chủng phòng không – không quân trong thời kỳ mới” , luận văn thạc sĩ của Lê Văn Lương (2002);

“Công tác phát triển đảng viên mới trong sinh viên đại học ở Đà Nẵng

hiện nay”, luận văn thạc sỹ của Lê Thưởng (2001);

“Công tác phát triển đảng trong sinh viên một số trường đại học ở Hà

Nội hiện nay, thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sỹ của Dương Trung Ý

(2001)

“Công tác phát triển đảng viên trong công nhân các doanh nghiệp ngoài quốc danh ở tỉnh Bình Dương, Đồng Nai hiện nay”:, luận văn thạc sỹ

của Võ Châu Thảo (2005)

“Công tác phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức thuộc Đảng bộ giao

thông vận tải hiện nay”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hoàng Huyến (2007)

“Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên trong công tác

thanh niên các dân tộc thiểu số ở nông thôn tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, luận

văn thạc sỹ của Hứa Khánh Vi (2003)

“Phát triển Đảng viên trong sinh viên các trường Đại học công an nhân dân ở phía bắc trong giai đoạn hiện nay” luận văn thạc sỹ của Vũ Thế

Trang 10

công trình đó là những tài liệu tham khảo có giá trị, học viên có thể kế thừa và phát triển trong quá trình làm luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010, và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu để vận dụng vào giai đoạn mới

* Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương nói chung và khu vực nông thôn nói riêng

- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010

- Nhận xét kết quả, rút ra một số kinh nghiệm đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh ở khu vực nông thôn trong giai đoạn

2001 – 2010

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương

* Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn: Chủ trương và sự chỉ đạo

- Giới hạn thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010

- Giới hạn không gian: Trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 11

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về xây dựng Đảng và vấn đề phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh hải Dương ở khu vực nông thôn

5.2 Nguồn tài liệu

- Một số tác phẩm kinh điển của Mác – Lênin và Hồ Chí Minh

- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết Ban chấp hành Trung ương, Bộ chính trị và các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Hải Dương và Đảng bộ các huyện liên quan đến đề tài

- Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến luận văn

- Kết quả khảo sát thực tế của tác giả ở các địa phương

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu; phương pháp lịch sử, phương pháp logic, và kết hợp giữa hai phương pháp đó với các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn trong những năm 2001 đến 2010

- Luận văn hệ thống chủ trương, sự chỉ đạo phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn; góp phần tổng kết công tác xây dựng Đảng ở cơ sở

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Lịch sử Đảng và xây dựng Đảng ở trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố của tỉnh Hải Dương

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương và 6 tiết

Chương 1: Yêu cầu khách quan, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về công tác phát triển Đảng viên khu vực nông thôn từ

Trang 13

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN, CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

VIÊN Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2006

1.1 Yêu cầu khách quan phát triển đội ngũ đảng viên

1.1.1 Đặc điểm nông thôn Hải Dương tác động đến công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương

- Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý, Hải Dương là tỉnh nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ, trong

vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, với diện tích tự nhiên 1.660,9 km2, chiếm 0,26% tổng diện tích tự nhiên cả nước, cách thủ đô Hà Nội 56 km Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 5A, 18 A, 183, đường sắt nối Hà Nội - Hải Phòng, nối Quảng Ninh - Hà Nội một phần đi qua tỉnh Đơn vị hành chính tỉnh gồm Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang

Địa hình, Hải Dương được chia thành hai vùng rõ rệt: vùng đồi núi và

vùng đồng bằng, bao gồm các Vùng đồi núi nằm ở Bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm

Khí hậu, Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung

trung bình hàng năm 1542 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm từ khoảng

Trang 14

1300 - 1700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87% Đơn vị hành chính tỉnh gồm Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang

- Đặc điểm kinh tế - xã hội

+ Đặc điểm kinh tế

Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Năm 2011, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 10,5%, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%, giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 13 % Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5% Giá trị hàng hoá xuất khẩu ước đạt 420 triệu USD, tăng 73,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chủ yếu tăng do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 85,7%) Tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 440 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước Đến nay Hải Dương đã quy hoạch 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719 ha Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp Đến hết tháng 10/2011 đã thu hút 350,2 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 37 dự án ( tăng

9 dự án), tăng 39,2% so với cùng kỳ năm 2010 Ước tính vốn đầu tư thực hiện của các dự án năm 2011 đạt 300 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 2010

+ Đặc điểm xã hội, dân số

Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2011, tỉnh Hải Dương dân số hơn

Dân số thành thị: 324.930 người Dân số nông thôn: 1.378.562 người Nam: 833.459 người Nữ: 870.033 người số người trong độ tuổi lao động xã hội trong toàn tỉnh là 929.039 người, chiếm 55% dân số Trên địa bàn tỉnh có

Trang 15

10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.646.426 người, chiếm 99,74%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu có 1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc Tày có 469 người, chiếm 0,0028%; dân tộc Nùng có 75 người, chiếm 0,0045%; dân tộc Thái có 65 người, chiếm 0,0039%; dân tộc Mông có 17 người, chiếm 0,001%; dân tộc Dao có 27 người, chiếm 0,0016%; dân tộc Thổ

có 21 người, chiếm 0,0012% và các dân tộc khác chiếm 0,213%

Trình độ dân trí: Tính đến năm 2011 đã phổ cập giáo dục THPT cho

12 huyện, thành phố với tổng số 263 xã, phường, thị trấn; số người trên 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo là 41% , (Chủ yếu là đào tạo nghề 31,54%) trong

đó có trình độ đại học trở lên là 2,9%, tăng 1,62% so với 2004, số người tốt nghiệp cao đẳng là 2,1% tăng 0,97% so với năm 2004 (1,13%), số người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 5,8% tăng 2,58% so với 2004 (3,22%), số người có bằng chứng chỉ, công nhân kỹ thuật, nghiệp vụ chiếm 3,2%

1.1.2 Thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở nông thôn trước năm 2001

- Vai trò, vị trí của đội ngũ đảng viên

Đảng viên là những chiến sĩ cách mạng ưu tú,tiên tiến, giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân, nhân dân lao động Họ gắn kết với nhau bằng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng sức mạnh của đảng viên mang sức mạnh của tổ chức, sức mạnh của tổ chức ngày càng mạnh nếu đội ngũ đảng viên đó

có đủ tài và đức Do vậy đảng viên và đội ngũ đảng viên có chất lượng tốt, sẽ

quyết định đến sức mạnh của tổ chức cơ sở Đảng

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”, C.Mác và ph.Ăngghen đã phác họa những nét chung nhất về người cộng sản: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lí

Trang 16

luận,họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” Do đó phải có đội ngũ đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực trình độ cao, số lượng đủ, cơ cấu tương xứng…để tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng

lợi đường lối của Đảng đề ra

Tiếp nối những tư tưởng của C.Mác và ph.Ăngghen V.I.Lênin đã đấu tranh quyết liệt chống lại những phần tử cơ hội chủ nghĩa xung quanh vấn đề đảng viên Đồng thời ông cũng chỉ ra: Trong hàng ngũ Đảng viên chỉ gồm những người giác ngộ,trung thành với chủ nghĩa cộng sản, đó là những người

dám hi sinh quên mình phục vụ chủ nghĩa cộng sản

Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời cho tới nay, gắn liền với quá trình xây dựng, lớn mạnh và trưởng thành, là quá trình bổ sung thường xuyên vào đội ngũ đảng viên những quần chúng ưu tú của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và các lực lượng tiến bộ khác Phát triển Đảng

là một yêu cầu khách quan đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Đảng, là một điều kiện đảm bảo cho Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng là xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa cộng sản ở nước ta

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác phát triển Đảng đối với sự phát triển của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi vận dụng những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin vào việc xây dựng Đảng cầm quyền

đã coi trọng công tác phát triển Đảng viên Bác nói: “Trong công tác xây dựng đảng, cái gốc là chi bộ…Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng Chi bộ tốt thì mọi chính sách của đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng Trái lại chi bộ kém thì mọi công việc không trôi chảy” [41, tr 3 - 5]

Trang 17

Nói về vai trò, vị trí của người đảng viên, Bác viết: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên Mọi công việc của đảng do đảng viên làm Mọi nghị quyết đảng do đảng viên chấp hành Mọi chính sách đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của đảng viên đều do đảng viên cố gắng thực hiện Vì vậy, Đảng cần làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động Phải nâng cao trình độ lý luận và chính trị của đảng viên Phải tăng cường tính kỉ luật của đảng viên Phải phát triển tính hăng hái

và hoạt động chính trị của đảng viên’’[41, tr 235 - 236]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò to lớn của đội ngũ đảng viên Người thường xuyên quan tâm tới giáo dục, bồi dưỡng độ ngũ đảng viên

kế tục cách mạng vừa “hồng”, vừa “chuyên” Vì theo Ngừơi đảng viên tốt thì đảng mới mạnh Đảng mạnh thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình

Trong công tác phát triển Đảng , Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác phát triển đảng viên Ngay sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập, ngày 27/2/1930, thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bác viết “Lời kêu gọi” gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức bóc lột “Lời kêu gọi” có đoạn “Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh! Anh chị em bị áp bức bóc lột! Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập Đó là Đảng của giai cấp vô sản Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để: 1 Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng; 2 làm cho nước An Nam được độc lập…” [42, tr 8 -10]

Việc giúp đỡ Đoàn viên thanh niên phấn đấu trở thành đảng viên, ngày 18/01/1963, tại bài viết “Đảng cần phải giúp đỡ Đoàn thanh niên phát triển

Trang 18

tốt, đồng thời phải chọn những đồng chí đã kinh qua thử thách và đã đủ điều kiện đưa họ vào Đảng”, Bác Hồ viết: “Vấn đề phát triển Đảng Phải chọn lọc đảng viên mới một cách hết sức cẩn thận Phải đoàn kết giúp đỡ các đồng chí mới để họ tiến bộ không ngừng Các chi bộ Kiến An vừa kết nạp thêm 475 đảng viên mới Như thế là tương đối khá Nhưng còn có lỗi lệch lạc số chị em phụ nữ và số thanh niên gái và trai đựơc kết nạp quá ít Đảng cần giúp đỡ đoàn thanh niên phát triển tốt, đồng thời phải trọn những đồng chí đoàn viên

đã kinh qua thử thách và đã đủ điều kiện đưa họ vào Đảng…Bác mong rằng đoàn viên sẽ ra sức phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, và tiến bộ mãi mãi để xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng ta” [42, tr 15]

Đảng viên là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân

Để hoàn thành được trọng trách vẻ vang đó thì đảng viên không những phải

có phẩm chất cộng sản cao đẹp mà còn phải có cả năng lực phù hợp với chức

trách, nhiệm vụ được giao phó

Đảng ta cũng chỉ rõ: Người đảng viên phải có trình độ hiểu biết về lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước,

có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu

quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trong quá trình phát triển và lãnh đạo, Đảng không ngừng nâng cao số lượng, chất lượng đảng viên Trung ương Đảng đã ra nhiều chỉ thị nêu rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên Bộ Chính trị nhấn mạnh: kết nạp đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên,

có ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng Đảng để tăng sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa phát triển của Đảng Do đó luôn côi trọng chất lượng,

không chạy theo số lượng, trẻ hóa đội ngũ đảng viên

Trang 19

Từ sự phân tích ở trên, chúng ta thấy người đảng viên có vai trò rất lớn trong quá trình xây dựng Đảng Do đó, công tác phát triển đảng viên cần thực

hiện nghiêm túc trong toàn Đảng và trong các tổ chức cơ sở Đảng

- Thực trạng của đội ngũ đảng viên ở khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trước 2001

Sau ngày đất nước được giải phóng, những hậu quả chiến tranh và các

tệ nạn của xã hội cũ đã làm cho toàn bộ vùng nông thôn Việt Nam nói chung

và tỉnh Hải Dương nói riêng gặp phải nhiều khó khăn về mọi mặt

Đảng bộ các khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trải qua kháng chiến

ác liệt đã trưởng thành nhanh chóng về tư tưởng phẩm chất, về công tác lãnh đạo, nhưng số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ còn nhiều thiếu sót nhất là mất đoàn kết trong nội bộ, trình độ giác ngộ chính trị, năng lực quản lý kinh tế của cán bộ đảng viên còn thấp, một số cấp ủy đảng chưa thực sự quan tâm đến công tác xây dựng củng cố Đảng cũng như phát triển Đảng

Ngày 1 tháng 1 năm 1997 Đảng bộ tỉnh Hải Dương được tái lập, Đảng

bộ tỉnh Hải Dương có 800 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 480 đảng bộ cơ sở, 320chi bộ cơ sở, 263 cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; 364 cơ sở đảng cơ quan hành chính sự nghiệp; 55 cơ sở đảng lực lượng vũ trang; 202 cơ sở đảng doanh nghiệp Đảng bộ tỉnh có 4.090 chi bộ trực thuộc các đảng bộ cơ sở, riêng số chi bộ trực thuộc các đảng bộ xã, phường, thị trấn có 2.713, trong đó 1.800 chi bộ thôn, cụm dân cư

Tại thời điểm năm 1997 Đảng bộ tỉnh Hải Dương có 75.140 đảng viên chiếm 4,75% dân số; trong đó đảng viên thuộc cơ sở xã, thị trấn thuộc khu vưc nông thôn 58.985% đảng viên, chiếm 78.5%; đảng viên ở các cơ sở doanh nghiệp 7.213%, chiếm 9,6%; đảng viên ở các cơ sở đảng hành chính sự

Trang 20

nghiệp 6.838, chiếm 9,1%; đảng viên thuộc các cơ sở đảng lực lượng vũ trang

1803, chiếm 2,4% [34, tr 1]

Trong tổng số đảng viên của chi bộ tỉnh, đảng viên là nông dân trực tiếp sản xuất ở khu vực nông thôn chiếm 43,4%, trong đó trình độ học vấn tiến sĩ, thạc sĩ là 0%, đại học 0,3%, cao đẳng và trung cấp 24,5%, còn lại là trình độ học vấn dưới trình độ trung cấp[3, tr 3]

Các đảng bộ ở khu vực nông thôn là hạt nhân chính trị ở khu vực nông thôn, là người trực tiếp lãnh đạo mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn khu vưc Từ năm 1997, các đảng bộ ở khu vực nông thôn là nơi trực tiếp lãnh đạo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác và phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ở địa phương, lãnh đạo và chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng; lãnh đạo thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục; lãnh đạo việc thực hiện tốt các phong trào chăm lo sức khỏe cộng đồng, dân số kế hoạch hóa gia đình, phong trào đền ơn đáp nghĩa…

Các đảng bộ ở khu vực nông thôn còn là nơi chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn đội ngũ cán bộ để đưa ra giới thiệu để bầu hoặc bổ nhiệm vào các cơ quan trong hệ thống chính trị ở cơ sở; lãnh đạo và thực hiện việc kiểm tra giám sát đối với chính quyền cơ sở, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ngăn ngừa tiêu cực, biểu dương khen thưởng kịp thời các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt

Bên cạnh đó, thực trạng về đội ngũ đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng ở khu vực nông thôn còn nhiều yếu kém và bất cập, số lượng đảng viên còn quá

ít, nhiều thôn làng chưa có đảng viên Tình trạng đảng viên có trình độ học vấn thấp, trình độ chính trị thấp, tỏ ra “ngại” học chính trị, chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước Một số đảng viên vi phạm kỉ luật vẫn chưa bị

xử lý kip thời làm ảnh hưởng uy tín của người đảng viên cộng sản

Trang 21

Từ thực tiễn nêu trên, có thể nhận thấy tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên ở khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trước năm 2001 có những đặc điểm sau:

- Số lượng đảng viên của các đảng bộ khu vực nông thôn chiếm đại đa

số đảng viên trong toàn tỉnh; đảng bộ ở khu vực nông thôn trực tiếp tiến hành các hoạt động lãnh đạo và xây dựng nội bộ Đảng, nơi gắn bó mật thiết với nhân dân lao động

- Thông qua các đảng bộ ở khu vực nông thôn, Đảng trực tiếp lãnh đạo nhân dân lao động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, đóng góp kinh nghiệm quý báu cho Đảng

- Các Đảng bộ ở khu vực nông thôn là hạt nhân lãnh đạo chính trị và giải quyết mọi vấn đề phát sinh ở cơ sở theo quan điểm của Đảng, lập trường giai cấp công nhân Có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần phát huy sức mạnh của toàn Đảng toàn dân xây dựng đất nước, giữa vững an ninh chính trị

Nhận thức rõ vai trò, vị trí to lớn cũng như thực trạng các đảng bộ và đảng viên khu vực nông thôn, ngay sau khi tái thành lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển đảng viên, nhất là đảng viên ở khu vực nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của tỉnh

- Thực trạng phát triển đội ngũ đảng viên ở khu vực nông thôn Hải Dương trước 2001

Сông tác phát triển Đảng ở khu vực nông thôn là việc rất quan trọng và được các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo Ngày 24 tháng 8 năm 1996 Tỉnh ủy

Hải Hưng ra Chỉ thị số 05 - CT/TU về việc đẩy mạnh phong trào thi đua xây

dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh,với mục tiêu:

Trang 22

Tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng gắn với củng cố, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở

cơ sở; coi trọng đổi mới nội dung, hình thức và thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng, chế độ phê bình và tự phê bình, tích cực phát hiện và đấu tranh với các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tổ chức, bảo đảm trong tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ sở Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ; tích cực phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng [46, tr 2]

Thực hiện mục tiêu đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo thực hiện sáu nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ thứ tư là: coi trọng công tác phát triển đảng, phấn đấu hàng năm bảo đảm 100% chi bộ kết nạp được thêm đảng viên mới, đặc biệt là khu vực nông thôn

Tiêu chuẩn đảng viên ở khu vực nông thôn được coi trọng như phải sản xuất giỏi, đạo đức tốt…vì họ là người đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, có tư duy kinh tế, dám nghĩ dám làm, biết làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội

Sau quá trình thực hiện chính sách phát triển đảng viên từ năm 1997 đến năm 2000, tỉnh đã đạt được những thành tích đáng kể:

Về phát triển cơ sở đảng

Năm 1997 có trên 60% Đảng bộ xã, thị trấn, phường đạt trong sạch vững mạnh, đến năm 2000, có 551 cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, bằng 68,4% tổng số cơ sở đảng trong đó có 320 cơ sở thuộc khu vực nông thôn, tăng 8,2% so với năm 1999, tăng 23,8% so với năm 1997, tăng 38% so với năm 1995 [35, tr 5] Ngoài ra còn có rất nhiều đảng bộ xã trong sạch

Trang 23

được Tỉnh ủy tặng cờ Điển hình là Đảng bộ các xã Hưng Thịnh, Tráng Liệt,

Cổ Bì, Hùng Sơn, Thanh Miện

Về phát triển đội ngũ đảng viên

Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ đã tăng lên rõ rệt cả về số lượng và chất lượng Năm 1997 toàn tỉnh Hải Dương đã kết nạp được 2.142 đảng viên mới, tăng 26,9% so với năm 1996 Trong đó nông dân có 824 đảng viên đạt tỉ

lệ 38% tổng số đảng viên mới Do làm tốt công tác kết nạp đảng viên, khu vục nông thôn tỉnh Hải Dương không có thôn, làng nào không có đảng viên Năm

1999 toàn tỉnh đã kết nạp được 2.515 đảng viên mới tăng 4% so với năm

1998, trong đó nông dân có 901 đảng viên, và 1.131 đảng viên nữ đạt tỉ lệ 44%, là đoàn viên Thanh niên đảng Cộng sản Hồ Chí Minh 1.568 đạt tỉ lệ 62%; có trình độ cấp III là 2042 bằng 81% Trong đó có trình độ Cao đẳng, Đại học là 24%; 20 đảng viên mới là học sinh sinh viên [49, tr1] Tính đến 30-11- 2000, toàn tỉnh có 78.103 đảng viên, tăng so với năm 1996 là 3942 đảng viên, so với năm 1997 bình quân hàng năm tăng 15- 20%, trong tổng số đảng viên kết nạp nông dân chiếm 43%, công nhân chiếm 13% trên 80,1% có trình

độ trên cấp III Các chi bộ cơ sở có điều kiện kết nạp đảng viên đều kết nạp được đảng viên mới [38, tr 13]

Công tác phát triển đảng luôn gắn liền với làm trong sạh đội ngũ đảng viên

Song song với công tác phát triển đảng, đảng bộ tỉnh Hải Dương luôn coi trọng việc làm trong sạch hàng ngũ Đảng, đảm bảo việc phát triển Đảng bền vững trong những năm từ 1997 đến năm 2000 Đảng bộ đã xử lý bằng các hình thức kỉ luật đối với các cơ sở đảng và các đảng viên vi phạm

Năm 1997, trong 6 tháng đầu năm đã kiểm tra 3.516 lượt tổ chức đảng, 28.438 đảng viên, trong đó có 1.1613 cấp ủy viên các cấp, kết luận và xử lý

Trang 24

theo thẩm quyền 677 đảng viên, trong đó khai trừ 102 đảng viên, đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác 422 đảng viên

Năm 1998, đi đôi với tăng cường công tác phát triển đảng viên mới, các cấp ủy đã coi trọng việc kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng và xử lý nghiêm minh những đảng viên vi phạm kết quả xử lý kỉ luật 688 đảng viên Trong số đó đảng viên bị xử lý có một thường vụ huyện ủy, 7 huyện ủy viên,

144 cấp ủy cơ sở trở xuống và 516 đảng viên thường Trong các hình thức có khiển trách 276 đảng viên( bằng 41,3%), cảnh cáo 218( bằng 32,6%), cách chức 51 ( bằng 7,6%) và khai trừ 123 ( bằng 18,4%), đã đình chỉ hoạt động đảng 17 đảng viên và xóa tên, cho rút 254 trường hợp [24, tr 4]

Đến tháng 12 /2000 có 5.254 đảng viên có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời 1.103 đơn thư tố cáo cán bộ, đảng viên; đã xử lý kỉ luật 2.491 đảng viên, trong đó khai trừ 437 đảng viên, cách chức 148 đảng viên, cảnh cáo 848, khiển trách 1.058 [50, tr 25]

Sau khi có kế hoạch hướng dẫn của Bộ Chính trị, tỉnh ủy Hải Dương đã thành lập ban chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6(lần 2) đồng thời có kế hoạch chỉ đạo cấp ủy Đảng tổ chức triển khai quán triệt nhanh tinh thần Nghị quyết và kế hoạch thực hiện Nghị quyết Từ đầu tháng 3/1999, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng tình hình tổ chức đảng và đảng viên nội dung sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình trong Đảng Kết quả bước đầu có sự chuyển biến trong các cấp ủy, đảng viên và nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, tạo sự nhất trí cao trong cán bộ, đảng viên, sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân

Thông qua kiểm điểm cán bộ, đảng viên thể hiện trách nhiệm cao, với ý thức xây dựng chân thành thẳng thắn tự phê bình và phê bình, kiểm điểm cá nhân và tập thể ở số đông cơ sở đảng đã gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đã kết hợp giải quyết các vấn đề nổi cộm Hầu hết các đảng viên

Trang 25

trong toàn Đảng bộ đã nghiêm túc chuẩn bị bản kiểm điểm nêu ưu, khuyết điểm rõ ràng và tiếp thu góp ý của các đảng viên khác, quần chúng

Đảng viên tham gia phân tích chất lượng (sau khi kết thúc kiểm điểm đảng viên) là 66.519 bằng 86% tổng số đảng viên toàn tỉnh (30/6/2000) Đảng viên được xếp loại đủ tư cách phấn đấu tốt là 50.362 bằng 75,5%; đảng viên

đủ tư cách nhưng còn hạn chế từng mặt là 1.068 bằng 1,6%; đảng viên cần đưa ra khỏi đảng là 214 bằng 0,4% so với đảng viên dự phân loại Trong số đảng viên phải xem xét xử lý có 90 cấp ủy cơ sở(14 Bí thư, 19 Phó bí thư và

57 Chi, đảng ủy viên); Có 74 là chi ủy chi bộ thuộc (22 Bí thư, 15 Phó bí thư,

37 chi ủy viên), 904 đảng viên Trong số 1.282 đảng viên cần xem xét, xử lý đưa ra khỏi đảng đến ngày 30/11/2000 đã kết luận xử lý 982 trường hợp Trong đó: Khiển trách 343 đồng chí , cảnh cáo 244 đồng chí, cách chức 35đồng chí, khai trừ là 99, cho rút và xóa tên 261 trường hợp trong số cán bộ đảng viên bị thi hành kỉ luật có 8 đồng chí thuộc Tỉnh ủy quản lý; 100 đồng chí thuộc Huyện ủy và tương đương quản lý; 71 đồng chí thuộc đảng ủy cơ sở quản lý; 542 đảng viên không giữa chức vụ [50, tr 120 - 121]

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì công tác phát triển đảng viên tỉnh Hải Dương nói chung và công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trước năm 2001 nói riêng còn bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm:

Một số tổ chức cơ sở đảng thực hiện chưa tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở còn yếu, hiệu quả thấp Nhiều đảng bộ có tổ chức triển khai thực hiện chỉ thi, nghị quyết của Đảng cấp trên nhưng không đưa ra chương trình hành động thực hiện; Chưa thực hiện tốt chủ chương, một số cơ sở đảng khi thực hiện còn sai phạm, đặc biệt là cấp, bán đất sai thẩm quyền (ở huyện thanh Miện từ năm 1990 – 2000 có 16/19 xã, thị trấn, bán đất sai thẩm quyền)

Trang 26

làm cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân thắc mắc, bất bình, một số

xã đến năm 2001 chưa giải quyết dứt điểm như xã Hồng Quang, huyện thanh Miện; xã Hồng Khuê huyện bình Giang…

Một số đảng bộ xã, thị trấn chưa quan tâm đúng mức tới công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ, đảng viên; tổ chức học tập nghị quyết chưa kịp thời, còn hình thức; công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ, thiếu thường xuyên; việc nắm bắt tâm tư nguyên vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng không sâu sát, chưa coi trọng đúng mức đến ý kiến và đề nghị của cán bộ, đảng viên, quần chúng, do đó chưa phản ánh kịp thời, đầy đủ lên tổ chức Đảng và chính quyền cấp trên

Một bộ phận đảng viên xa sút ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật kém, vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống; không đề cao vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên Nhìn chung, Đội ngũ đảng viên đông nhưng chưa mạnh

Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo của cấp ủy, nhất là cán bộ chủ chốt xã, thị trấn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới Một

số cấp ủy chưa thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, còn biểu hiện mất đoàn kết, xây dựng quy chế làm việc và thực hiện quy chế chưa tốt, số đảng cấp ủy viên cơ sở chưa qua bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ ở một số xã, thị trấn chưa coi trọng, còn hiện tượng cục bộ, nể nang trong công tác cán bộ

Tỷ lệ đảng bộ xã, thị trấn được công nhận “Trong sạch, vững mạnh” hằng năm đạt cao, nhưng chất lượng còn hạn chế, chạy theo thành tích; tình hình kinh tế - xã hội nhiều địa phương trong tỉnh chưa thực sự vững mạnh

Những yếu kém, khuyết điểm trên, do những nguyên nhân sau:

Sự lãnh đạo của một số huyện và thành uỷ đối với tổ chức cơ sở đảng ở khu vực nông thôn có nơi, có lúc chưa được quan tâm đúng mức, thiếu hướng dẫn , ít kiểm tra đôn đốc, chậm giải quyết tháo gỡ khó khăn cho cơ sở, việc

Trang 27

củng cố xây dựng và thẩm định xét duyệt tổ chức cơ sở đảng đạt “trong sạch vững mạnh” ở một số nơi làm chưa thật chặt chẽ, còn hình thức và chạy theo thành tích

Sự phối kết hợp giữa một số cơ sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh với các huyện, thành uỷ để giải quyết các vấn đề tồn tại, vướng mắc ở một số xã phường, thị trấn, đơn vị trong thời gian qua chưa thật sự chặt chẽ, thiếu tích cực và còn hiện tượng đùn đẩy, chờ đợi lẫn nhau, trách nhiệm giải quyết không rõ ràng, cụ thể nên để một vụ việc kéo dài

Thủ tục hành chính còn rườm rà, văn bản của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể cấp trên xuống tổ chức cơ sở đảng quá nhiều, việc nghiên cứu của cơ sở đảng còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng ở một số đảng bộ xã, thị trấn “ hấp thụ” không hết, triển khai không kịp thời, vận dụng thiếu chính xác nghị quyết của các cấp bộ đảng

Một số đảng bộ xã, thị trấn ở khu vục nông thôn chưa hiểu rõ vị trí, vai trò, chức năng và thực hiện chưa tốt nhiệm vụ của mình trong việc lãnh đạo thực hiện nhiện vụ chính trị cơ sở Trong công tác phát triển đảng, một số đảng bộ tỏ ra buông lỏng các nguyên tác phát triển đảng, tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, còn nhiều biểu hiện “tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, thực hiện tự phê bình và phê bình không thường xuyên nghiêm túc; Xử lý vi phạm kỉ luật Đảng chưa kịp thời, còn né tránh Việc phân công nhiệm vụ và phân tích chất lượng đảng viên ở nhiều đảng bộ xã, thị trấn còn nhiều hình thức, chưa phản ánh đúng thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên Biện pháp để nâng cao chất lượng các mặt và quản

lý đảng viên còn nhiều hạn chế

1.1.3 Yêu cầu mới về phát triển đội ngũ đảng viên ở nông thôn từ năm

2001 đến năm 2006 ở Hải Dương

- Bối cảnh lịch sử

+ Thế giới với nhiều biến đổi nhanh chóng và phức tạp

Trang 28

Cách mạng khoa học công nghệ, phát triển mạnh mẽ đã làm thay đổi hoàn toàn cơ cấu kinh tế xã hội và hình thành nền kinh tế mới – kinh tế tri

thức là một xu thế tất yếu của lịch sử

Điểm nổi bật của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học công nghệ là sự tham gia của các yếu tố trí tuệ, tri thức hiện đại và thông tin vào trong quá trình lao động và sản xuất của loài người Con người là động lực của sự phát triển, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất, để quá trình phát triển của xã hội được bền vững thì con người cần phải có tri thức, kĩ năng lao động giỏi, tay nghề chuyên môn tốt…Tri thức là sức mạnh, là tài sản của mỗi đất nước, mỗi con người trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức phát triển thì những lao động giản đơn, tay nghề thấp không còn phù hợp nữa mà thay vào đó là những lao động đào tạo xứng tầm với công nghệ hiện đại Chứng tỏ rằng sự phát triển của khoa học công nghệ thì đòi hỏi con người phải có trình độ kiến thức, phải được đào tạo, họ phải cố gắng học tập…để tự khẳng định được vai trò của mình

Trong điều kiện đó, đòi hỏi mỗi đảng viên phải có tri thức, tài năng thì mới có uy tín, tác động đối với người khác, đảng viên muốn lãnh đạo và có ảnh hưởng đối với quần chúng thì trình độ kiến thức và năng lực phải cao hơn quần chúng thì mới kéo quần chúng về phía mình được Xã hội Việt Nam đang có nhiều lớp người đang cố gắng trau dồi kiến thức để tiếp cận với khoa học hiện đại, nhưng cũng có một số người tự mãn với chính mình khiến họ ngày càng tụt hậu Đây cũng là môt trong những nguyên nhân làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng Sự tụt hậu về trí tuệ cũng là một nguy cơ lớn cho một đảng cần quyền

Cách mạng khoa học công nghệ phất triển thúc đẩy quá trình truyền thông, giao lưu trong công tác tuyên truyền giáo dục người vào đảng

Trang 29

Từ đó đặt ra yêu cầu mới cho việc phát triển đảng viên là phải nâng cao trình độ mọi mặt cho đảng viên để xứng đáng là đội ngũ tiên phong, lãnh đạo toàn thể nhân dân và toàn dân tộc

Xu thế toần cầu hoá

Toàn cầu hoá về kinh tế đang là xu hướng tất yếu Vấn đề mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đã tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho các quốc gia, mọi người có thêm cơ hội học tập, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm, khoa học công nghệ của thế giới, văn minh nhân loại Xu thế toàn cầu hoá giúp các quốc gia giao lưu và hội nhập không chỉ về kinh tế

mà còn về văn hoá và các lĩnh vực khác

Bên cạnh những mặt thuận lợi ấy, xu thế toàn cầu hoá cũng có thể mang lại những bất lợi cho mỗi quốc gia như: tệ nạn xã hội, thay đổi truyền thống bao đời, làm biến dạng bản sắc dân tộc…Tình hình chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực xấu luôn muốn xoá bỏ chế độ chính trị, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thủ đoạn của chúng là làm chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ giữa Đảng và nhân dân làm suy giảm niềm tin, lý tưởng của cán

bộ đảng viên rồi mua chuộc…cho nên vấn đề đặt ra cho đảng, và cán bộ đảng viên là phải kiên định lập trường, giữa vững độc lập dân tộc, ổn định chính trị

và định hướng xã hội chủ nghĩa Để làm được điều đó mỗi đảng viên phải có đạo đức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, nhạy bén, tỉnh táo trước thủ đoạn tinh vi của kẻ thù Đây là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu trong công tác phát triển đảng viên trong thời kì mới , quyết định sự sống còn của Đảng

Công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục phát triển theo chiều rộng và chiều sâu

Từ khi chúng ta tiến hành đổi mới đất nước năm 1986 đến nay, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, không chỉ đưa nước ta thoát

Trang 30

khỏi tình trạng đói nghèo mà đã xây dựng đựơc cơ sở vật chất ban đầu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Từ năm 1996 đến năm 2001 đạt được các thành tựu quan trọng:

Thứ nhất: nhịp độ tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trong nước (GDP)

tăng bình quân 6,94%, nhiều vùng cây công nhiệp hình thành, nông nghiệp phát triển liên tục, nhất là sản xuất lương thực Công nghiệp giữ nhịp độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất bình quân hàng năm 13,5%

Kết cấu hạ tầng được tăng cường Xuất khẩu tăng mạnh Đến năm 2000 nước ta chặn được đà giảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu đạt và

vượt kế hoạch đề ra

Thứ hai: Văn hoá xã hội tiến bộ ,đời sống nhân dân được cải thiện,

mức tiêu dùng tăng lên gấp đôi, nhiều người lao động được giải quyết việc

làm, vấn đề xoá đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt

Thứ ba: Tình hình chính trị xã hội cơ bản đựơc ổn định, quốc phòng an

ninh được tăng cường

Thứ tư: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, chính trị

được củng cố, bầu cử Quốc hội thành công tốt đẹp Nền hành chính đựơc cải cách, nhà nứơc pháp quyền tiếp tục được hoàn thiện, nhân dân phát huy quyền làm chủ, uy tín của dân với Đảng tăng lên, người dân tin hơn vào công cuộc đổi mới và chủ nghĩa xã hội

Thứ năm: quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế đạt nhiều kết quả

Những thành tựu trong những năm 1996 đến 2001 đã làm thay đổi bộ mặt đất nứớc và cuộc sống của nhân dân, nền độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa đựơc củng cố, vị trí của Việt Nam được nâng cao hơn Điều này đã

tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phát triển Đảng

Trang 31

Có được những thành tựu trên là do: Sự lãnh đạo của Đảng với bản lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn, đó là sự kết hợp sức mạnh toàn dân với tấm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết sáng tạo của nhân dân

Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục phát triển theo chiều rộng

và chiều sâu Chúng ta chủ động phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế mở cửa hội nhập Công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được nhiều thành tựu và cũng gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn và thách thức

Đặc biệt trong tình hình mới hiện nay thì tình hình thế giới luôn có những diễn biến vô cùng phức tạp Sự chống phá của các thế lực thì địch luôn luôn tiếp biến dưới nhiều hình thức khác nhau Chúng chưa bao giờ chịu từ bỏ

âm mưu phá hoại chủ nghĩa xã hội của chúng ta, âm mưu diễn biến hoà bình nhằm làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa Chúng luôn tìm mọi cách để chia rẽ nội bộ đảng ta, chia rẽ Đảng với nhân dân với hi vọng mua chuộc, bôi nhọ thanh danh, tư cách cán bộ, đảng viên, làm cho dân ta dần xa lánh Đảng

Chính vì vậy mà đòi hỏi đội ngũ đảng viên phải có tư tưởng chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, năng lực tốt, nghĩa là người đảng viên phải đủ cả tài và đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo tốt và tỉnh táo trước những âm mưu phá hoại của kẻ thù

- Yêu cầu mới phát triển đội ngũ đảng viên ở nông thôn Hải Dương

+ Số lượng đảng viên

Trong điều kiện mới, việc đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, chú trọng lựa chọn bồi dưỡng những người ưu tú trong các tầng lớp thanh niên, tri thức, đội ngũ công nhân, nông dân, lực lượng vũ trang có lý tưởng cách mạng

và có động cơ đúng đắn để kết nạp Đảng, tạo nguồn xây dựng đôị ngũ cán bộ

kế cận và trẻ hoá tuổi bình quân của đảng viên Phấn đấu mỗi năm kết nạp

Trang 32

được 2500 đảng viên trở nên và năm sau kết nạp cao hơn năm trước, bảo đảm

số lượng đảng viên cân đối, phù hợp với từng địa phương

Trong việc lựa chọn kết nạp đảng viên mới cần quan tâm tạo điều kiện cho kết nạp đảng viên mới là phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những khu vực có số lượng đảng viên còn ít chưa đáp ứng được yêu cầu tình hình mới

+ Chất lượng đảng viên

Phát triển đảng viên không chỉ về số lượng đảng viên mà phải coi trọng phát triển về chất lượng đảng viên Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên với tiêu chuẩn: không ngừng nâng cao trí tuệ, đi đầu trong việc áp dụng tiến

bộ khoa học – kĩ thuật trong sản xuất, kinh doanh, hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ công tác, biết làm giàu chính đáng; sống có văn hoá, có đạo đức, gương mẫu trong cuộc sống, làm việc theo pháp luật, tích cực đấu tranh chống tham nhũng lãng phí; gần dân, lắng nghe ý kiến của dân ở nơi cư trú và nơi công tác, cùng dân bàn bạc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và quyền lợi chính đáng của dân; nâng cao chất lượng đội ngũ cấp uỷ cơ sở

Cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên Đảng viên vừa phải là tấm gương đạo đức trong sáng, cần, kiêm, liêm, chính, chí công, vô tư, vừa cần có kiếm thức trí tuệ để tham gia lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của đảng

ở cơ sở, góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh quốc phòng Do vậy, các tổ chức đảng cần tạo điều kiện cho đảng viên đựơc học tập bằng các hình thức thích hợp về lý luận chính trị qua nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, cải tiến công việc để rèn luyện kĩ năng lãnh đạo, quản lý Đồng thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đảng viên, tạo cho họ có điều kiện tốt nhất để đựơc cống hiến

+ Môi trường xây dựng đảng viên

Trang 33

Để công tác phát triển đảng viên đạt được hiệu quả tốt thì việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho công tác phát triển đảng viên là một tất yếu khách quan

Các cấp uỷ Đảng cần tập trung lãnh đạo tạo ra môi trường trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đảng viên, coi đây là điều kiện cơ bản bảo đảm việc giáo dục, bồi dưỡng quần chúng ưu tú, kết nạp vào đảng đạt chất lượng Củng cố và nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh phải gắn với chỉ đạo tích cực giải quyết những cơ sở yếu kém Đồng thời củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, phải chú trọng nâng cao chất lượng đảng viên Đảng viên phải thật sự tiên phong, gương mẫu mới có đủ khả năng, uy tín để lựa chọn, bồi dưỡng và giới thiệu được những quần chúng ưu tú cho Đảng cần đưa những kiến thức cơ bản về tôn giáo, chính sách tôn giáo, dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước thành nội dung học tập trong chương trình bồi dưỡng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ đảng viên ở những nơi có đông đồng bào công giáo, đông đồng bào các dân tộc thiểu số

Cùng với hoạt đông giáo dục, nâng cao trình độ lý luận và nhận thức chính trị, nêu cao tinh thần cách mạng, ý thức vì đảng vì dân của mỗi đảng viên, cần đẩy mạnh đấu tranh, uốn nắn những nhận thức lệch lạc những quan điểm sai trái, phản động, có hại cho sự nghiệp chung, bảo đảm cho tổ chức Đảng vững mạnh cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức

Tăng cường vai trò lãnh đạo và quản lý của Đảng bộ cấp tỉnh đối với các chi bộ cấp cơ sở Phân công công việc rõ ràng giữa các tổ chức và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đảng viên, tránh đùn đẩy trách nhiệm và cấp này ỷ lại vào cấp khác

Các hoạt động phong trào nhằm thúc đẩy công tác phát triển đảng viên như phê bình tự phê bình, thi đua xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh

Trang 34

cần phải thực hiện nghiêm túc, đảm bảo công bằng, không chạy theo thành tích

Đưa ra các tiêu chí để đánh giá đảng viên, thực hiện phân công công việc nghiêm túc, thực hiên quy chế bổ nhiệm cán bộ một cách dân chủ và đảm bảo uy tín của người đảng viên Thực hiện nghiêm túc việc phê bình kiểm điểm và khen thuởng kịp thời đối với đội ngũ cán bộ đảng viên

1.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ đảng viên ở nông thôn

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển đội ngũ đảng viên từ năm 2001 đến năm 2006

- Quan điểm chỉ đạo việc phát triển đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Quan điểm Đại hội IX về phát triển đảng viên

Đại hội IX của Đảng (4/2001) đã quyết định trong những năm tới toàn Đảng tiếp tục thực hiện Nghị quyết về xây dựng và phát triển đảng viên, nhất

là nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII, các cấp uỷ cần tập trung chỉ đạo công tác phát triển đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, kết hợp chặt chẽ việc phát triển đảng viên, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên với việc tăng thêm số lượng, đảm bảo chất lượng đảng viên mới Trong

đó tập trung vào công tác giáo dục đạo đức tư tưởng, lập trường chính trị, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu làm trong sạch đội ngũ đảng viên, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học tập không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý và vận động nhân dân, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, thi hành kỉ luật nghiêm khắc mọi vi phạm về nguyên tắc, chấp hành nhiệm vụ, phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định

Trang 35

Để làm được điều đó Đảng tiến hành nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên Nghị quyết Đại hội IX chỉ rõ: Đổi mới việc phân tích, đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng, và đảng viên Trên tinh thần đó ngày 30/10/2002 của Ban Tổ Chức Trung ương có hướng dẫn số 10 – HD/TCTW

về đổi mới đánh giá chất lương đảng viên, điều này đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Công tác phát triển đảng viên là trách nhiệm của mỗi đảng viên và mỗi

tổ chức cơ sở Đảng Điều lệ Đảng Đại hội IX của Đảng (tháng 4 năm 2001) thông qua xác định: Tổ chức cơ sở Đảng là “nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” Nền tảng về tổ chức và chất lượng Chất lượng của tổ chức

cơ sở Đảng là nền tảng tạo nên chất lượng hoạt động của toàn Đảng Tổ chức

cơ sở Đảng mạnh thì Đảng mạnh và ngược lại Đồng thời nhấn mạnh: “Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên đoàn thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên

Đại hội lần thứ X của Đảng (tháng 4 năm 2006) một lần nữa khẳng định: Cần đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong thanh niên, đoàn viên, sinh viên bởi làm tốt công tác này chẳng những thiết thực chuẩn bị nguồn sinh lực trẻ cho Đảng mà còn góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện của Đảng trong thời kì mới Văn kiện Đại hội chỉ rõ:

“ Đẩy mạnh và bảo đảm chất lượng Chú trọng trẻ hoá và nâng cao trình độ của đảng viên, lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”[31, tr 133]

Nhân dịp kỉ niệm 115 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban

Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số 44 – CT/TW ngày 12/10/2004

về “Kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh” Chỉ thị nhấn mạnh: Trong những

Trang 36

năm qua, công tác phát triển đảng viên đã có nhiều kết quả nhưng vẫn còn những thiếu sót cả về nhận thức và tổ chức, chưa đáp ứng được yêu cầu kế thừa, phát triển và tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng Đặc biệt trong chỉ thị này cũng xác định: Chú ý phát triển đảng viên trong đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để trẻ hoá đội ngũ đảng viên đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong sự nghiệp đổi mới của Đảng Bên cạnh đó cũng cần quan tâm đến việc phát triển đảng trong các giai cấp, tầng lớp khác ở những nơi chưa Ccó hoặc ít đảng viên, phải chú trọng chất lượng đảng viên, không chạy theo số lượng, phải làm đúng những thủ tục đã quy định: người được kết nạp vào Đảng phải có đủ tiêu chuẩn và điều kiện quy định của Điều lệ Đảng Chú ý kết nạp vào Đảng những người ưu tú là đoàn viên thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, công nhân nông dân trí thức, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang, phụ nữ, dân tộc thiểu số, người lao đọng trong các thành phần kinh tế, ở những cơ sở trọng điểm, những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên

Như vậy, để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo chính trị của mình, Đảng không ngừng phát triển mọi mặt, trong đó có sự phát triển ngày càng lớn mạnh đội ngũ của mình

Trong từng thời kì, Đảng luôn quan tâm chỉ đạo sát sao công tác phát triển đảng thông qua các chỉ thị, nghị quyết của mình Quan điểm của Đảng

về phát triển đảng viên là phải coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, lựa chọn chính xác, cẩn trọng, không bỏ sót quần chúng ưu tú, đề cao tiêu chuẩn đạo đức, tài năng

- Phương hướng phát triển đảng viên

Nâng cao trình độ mọi mặt của đảng viên, lựa chọn những người có kiến thức, năng lực để đưa họ vào Đảng là phương hướng xây dựng đội ngũ đảng viên

Trang 37

Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện đảng viên Chỉ

có giáo dục, bồi dưỡng đảng viên mới tạo ra chất lượng đảng viên Nội dung giáo dục, bồi dưõng và rèn luyện đảng viên mới hình thành nên chất lượng đảng viên Nội dung giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên phải toàn diện

cả về chính trị, tư tưỏng đạo đức, khoa học công nghệ, văn hoá xã hội…phải trang bị cho đảng viên kiến thức về kinh tế thị trường, ý thức cảnh giác với kẻ thù

Phải đổi mới phương pháp giáo dục, gắn với thực tiễn hơn, hình thức giáo dục phải đa dạng Phải có kế hoạch cụ thể về giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện hàng năm

Củng cố lại các trung tâm bồi dưỡng chính trị Nâng cao chất lượng đội ngũ tuyên truyền, báo cáo, giảng dạy

Phải dựa vào quần chúng để giáo dục, rèn luyện, quản lý, đánh giá đảng viên là biện pháp khá hiệu quả để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, phân công nhiệm vụ cho đảng viên, để có biện pháp giáo dục đúng, đảng viên nêu cao đựợc tính

tự giác, tránh cho đảng viên bị vi phạm kỉ luật Các tổ chức cơ sở đảng phải đánh giá, phân loại đảng viên chính xác

Đặc biệt quản lý, kiểm tra giám sát có hiệu quả thì phải dựa vào quần chúng, phải kết hợp giữa cá nhân, tổ chức đảng và quần chúng

Phân công nhiệm vụ cho đảng viên để đảng viên làm việc có trách nhiệm hơn, để tổ chức Đảng có nội dung kiểm tra, giám sát, đánh giá đảng viên Mọi đảng viên đều phải tham gia công việc của Đảng, đặc biệt là nhiệm

vụ bám, nắm, vận động nhân dân

Đối với công tác đánh giá đảng viên, xử lý dứt điểm những đảng viên biến chất: Phải đánh giá đúng đảng viên mới phân loại, quản lý, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên Đánh giá đảng viên phải căn cứ vào hiệu quả

Trang 38

công việc, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, dựa vào dân mà đánh giá đảng viên Kết hợp chặt chẽ giữa đánh giá đảng viên với xử lý đảng viên biến chất Trước hết kiên quyết xử lý đảng viên biến chất ra khỏi Đảng để cơ thể Đảng được trong sạch, vững mạnh

Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở Đảng: Thực tế đảng viên yếu kém một phần là do tổ chức cơ sở Đảng sinh hoạt hình thức, đấu tranh, phê bình và tự phê bình kém, vì thế cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng của các tổ chức cơ sở Đảng như: Mở rộng dân chủ điều đó sẽ giải phóng đựơc tư tưởng tự do trong toàn Đảng thì tổ chức mới phát huy được trí tụê sáng tạo, đảng viên dám nói dám làm, sự độc đoán

sẽ bị xử lý

Sinh hoạt chi bộ phải có nội dung cụ thể chứ không phải họp cho có lệ, cần đổi mới nội dung, cách thức sinh hoạt Từ sinh hoạt thảo luận dân chủ thì đảng viên mới bộc lộ rõ mình, đây chính là cơ sở để đánh giá, phân loại đảng viên

Xây dựng hoàn thiện các quy định về công tác đảng viên: nhằm đưa công tác đảng viên vào nề nếp, thống nhất, để điều tiết hành vi của đảng viên,

là căn cứ phân loại đảng viên Các quy định càng cụ thể, chặt chẽ thì công tác xây dựng đội ngũ đảng viên càng đi đúng hướng và đạt hiệu quả Xác định tiêu chuẩn đảng viên phải cụ thể hơn, không chung chung như trước nữa

Tóm lại, để thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên cần tiến hành đồng bộ từ giáo dục, rèn luyện, quản lý, kiểm tra, giám sát đến xử lý kỉ luật đảng viên Kết hợp giữa cá nhân đảng viên, tổ chức Đảng và đoàn thể nhân dân, dựa vào dân để xây dựng đội ngũ đảng viên

- Giải pháp phát triển đảng viên

Để công tác phát triển đảng viên đạt đựơc kết quả tốt cần thực hiện một

số giải pháp như:

Trang 39

Thứ nhất: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhằm nâng

cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ đảng viên, quần chúng về vai trò, vị trí công tác phát triển Đảng

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên làm cho đảng viên nhận thức về vai trò, sứ mệnh của Đảng ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng đất nước

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục mục tiêu, lý tưởng, hình thành động cơ vào Đảng đúng đắn cho đảng viên Công tác phát triển đảng có vai trò quan trọng đến thắng lợi của công nghiêp hoá, hiện đại hoá Chính tư tưởng, quan điểm chính trị của mỗi đảng viên quyết định phương hướng, mục tiêu chính trị của Đảng

Trong những năm qua công tác này chưa được quan tâm đúng mức Do

đó, cần đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng bằng những hoạt động thiết thực nhất như: Đẩy mạnh các phong trào thi đua, nghiên cứu… tránh hô hào khẩu hiệu, lý thuyết suông

Thứ hai: Phát triển đảng viên phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị của

các đơn vị cơ sở

Đội ngũ đảng viên có chất lượng luôn gắn với sự vững mạnh của các đơn vị cơ sở bởi chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt Đó là mối quan hệ biện chứng

Công tác phát triển đảng viên thuộc hoạt động của Đảng nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng Chính đội ngũ đảng viên là người đưa chủ trương chính sách của Đảng vào quần chúng nên phải xây dựng được đội ngũ đảng viên có chất lượng Như vậy chất lượng đội ngũ đảng viên quyết định hiệu quả lãnh đạo của mỗi cơ sở Đảng

Trang 40

Trong mỗi giai đoạn cách mạng thì nhiệm vụ của Đảng của đất nước là khác nhau nên đòi hỏi công tác phát triển cũng phải được thực hiện cho phù hợp

Hiệu quả công tác phát triển đang thể hiện ở hiệu quả phát triển mọi mặt khác trong đời sống nhân dân, đặc biệt là trong phát triển kinh tế Do đó, nếu tách rời công tác phát triển đảng với nhiệm vụ chính trị của Đảng, đất nước sẽ làm cho công tác phát triển Đảng mất phương hướng

Thứ ba: phát triển đảng viên phải toàn diện nhưng lấy chất lượng chính

trị làm trọng tâm

Chất lượng đội ngũ đảng viên, công tác xây dựng đội ngũ đảng viên là bao gồm nhiều khâu, nhiều hoạt động, cả tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách

và con người, vì vậy phải bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ

Xây dựng đội ngũ đảng viên phải bảo đảm cả tính toàn diện về số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn, chất lượng Với con người thì toàn diện cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, trình độ, năng lực phẩm chất đạo đức, tư cách, nhận thức và hành động

Tuy nhiên phát triển đội ngũ đảng viên phải lấy chất lượng chính trị làm trọng tâm, chứ không phải chạy theo thành tích, cần nâng cao trình độ kiến thức, năng lực hoạt động thực tiễn cho đảng viên Sự kết hợp giữa tính toàn diện với trọng tâm là phương hướng cơ bản bảo đảm chất lượng bền vững của đội ngũ đảng viên của công tác phát triển Đảng

Thứ tư: Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ sở Đảng, chính quyền

các cấp, tổ chức chính trị xã hội trong công tác phát triển Đảng

Trong công tác phát triển đảng viên, nếu chúng ta biết phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ sở Đảng, chính quyền các cấp, tổ chức chính trị xã hội thì chúng ta sẽ xây dựng đựơc Đảng vững mạnh

Ngày đăng: 30/12/2015, 16:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức :       + Khiển trách  137  157  115  97  71 - đảng bộ tỉnh hải dương với công tác phát triển đảng viên ở nông thôn tu nam 2001 den nam 2010
Hình th ức : + Khiển trách 137 157 115 97 71 (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w