Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng từng đánh giá: “Và tôi không ngại khi khẳng định rằng, Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn nữ xuất sắc nhất hiện nay”.[40;8] Tiếp nối bước chân của các t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS MAI THỊ NHUNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học "Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy" là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Hà
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập khóa học Thạc sĩ Văn học Việt Nam tại trường ĐHSP Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo Hoàn thành luận văn thạc sĩ khóa học này, tôi xin chân thành cảm
ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Mai Thị Nhung người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc trao đổi, chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Ngọc Hà
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN ĐỖ BÍCH THÚY 8
1.1 Khái niệm văn hóa và màu sắc văn hóa 8
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 11
1.2.1 Văn học truyền tải và lưu giữ văn hóa 12
1.2.2 Văn học điều chỉnh văn hóa 15
1.2.3 Văn học dự báo văn hóa 16
1.3 Một số lý thuyết nghiên cứu văn hóa 17
1.3.1 Duy vật luận (Materialism) 17
1.3.2 Đặc thù văn hoá luận (Cultural Particularism) 17
1.3.3 Chức năng luận (Functionalism) 18
1.3.4 Cấu trúc luận (Structuralism) 18
1.3.5 Tương đối văn hoá luận (Cultural relativism) 19
1.4 Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy và các phương diện văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 20
1.4.1 Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy 20
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.4.2 Khái lược về màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 22
Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 27
2.1 Văn hóa gia đình 27
2.2 Văn hóa sinh hoạt cộng đồng 40
2.3 Văn hóa nghệ thuật truyền thống 47
2.4 Biểu tượng văn hóa 53
Tiểu kết 61
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN MÀU SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 62
3.1 Nghệ thuật mô tả không gian 62
3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 69
3.3 Nghệ thuật mô tả tâm lí nhân vật 76
3.4 Chi tiết nghệ thuật 82
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đỗ Bích Thúy là một trong những cây bút tiểu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam viết về đề tài miền núi Các sáng tác của chị đã nhận được những đánh giá cao với văn phong giản dị, trong sáng và khả năng đi sâu vào nội tâm nhân vật Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng từng đánh giá: “Và tôi không ngại khi khẳng định rằng, Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn nữ xuất sắc nhất hiện nay”.[40;8]
Tiếp nối bước chân của các thế hệ nhà văn đi trước như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng…, Đỗ Bích Thúy đã đem đến cho văn học Việt Nam một cái nhìn mới về văn hóa miền núi Càng đặc biệt hơn đây là một nhà văn nữ, cái nhìn của chị cũng mang những sắc thái độc đáo hơn so với các nhà văn thuộc phái mạnh Miền núi trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy rất nhẹ nhàng và tinh tế nhưng lại vô cùng sâu sắc Một loạt các tập truyện ngắn như
Sau những mùa trăng, Những buổi chiều ngang cuộc đời, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá… đã tái hiện được cuộc sống của đồng bào vùng cao Đặt các sáng tác
đó trong dòng văn học cùng đề tài, chúng ta thấy những nỗ lực trong hành trình sáng tạo, thấy được những đóng góp của nhà văn cho văn học nước nhà Mặc
dù tuổi đời còn khá trẻ những không thể không thừa nhận Đỗ Bích Thúy là một cây bút tài năng và độc đáo trong các nhà văn cùng thế hệ
1.2 Một đặc điểm tạo nên cái hay trong các sáng tác miền núi nói chung
là những nét riêng về văn hóa Các sáng tác của Đỗ Bích Thúy cũng không năm ngoài quy luật đó Chị đã từng tâm sự: “Trong những tác phẩm của mình, tôi đã từng đề cập đến sự xâm lấn của văn minh đô thị đối với miền núi, và tôi cho rằng đây vẫn là một đề tài “nóng” đối với văn chương, báo chí Lấy một ví dụ, lâu nay người ta vẫn cưỡi ngựa đi chợ…Thế là chả mấy chốc mất cả bao nhiêu câu chuyện lãng mạn nảy sinh từ con ngựa thồ (có người còn gọi là “văn hóa ngựa thồ” ấy), mất cả kiến trúc truyền thống Sự mất dần từng ít một đó chính
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
là sự xâm lấn của văn minh đô thị Nó không phải chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân nào, nó sẽ làm biến đổi cả một vùng đất.” [20] Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, tác giả rất chủ động trong việc tái hiện các không gian văn hóa đang “rạn vỡ” đó Làm nên sự đặc sắc trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy không chỉ là văn phong, bút pháp độc đáo mà còn là tình yêu đối với các giá trị văn hóa, với cái đẹp đang cần được lưu giữ của miền núi nói riêng và quê hương đất nước nói chung
1.3 Hướng tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa trong thời gian gần đây đã được vận dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu văn học và đạt được hiệu quả rõ rệt Đặc biệt với các sáng tác mạng đậm dấu ấn vùng miền như trường hợp Đỗ Bích Thúy thì hướng tiếp cận này sẽ chỉ ra được vị trí và đóng góp của nhà văn trong dòng chảy các sáng tác về dân tộc miền núi Đây
chính là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài "Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy"
2 Lịch sử vấn đề
Tuy mới xuất hiện trên văn đàn văn học trong một thời gian không dài nhưng những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy đã được bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao Các tác phẩm của chị đã trở thành đối tượng khảo sát nghiên cứu của một loạt các luận văn trong thời gian gần đây
Tác giả Nguyễn Thị Thu với đề tài: Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại (2012) đã tìm hiểu khá kĩ lưỡng nghệ thuật kết cấu, tạo tình huống, ngôn ngữ cũng như giọng điệu trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của nhà văn Đỗ Bích Thúy
Trong quá trình quan sát “truyện ngắn hôm nay”, Bùi Việt Thắng nhận thấy: “văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” [29] Thực tế sáng tác và từ các cuộc thi trên Tuần báo, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã cho thấy điều đó Sau một số nhà văn như Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thanh Hà là Đỗ Bích Thúy liên tục giành giải thưởng cao quý nhất cuộc
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Nhà văn Chu Lai đánh giá cao
về Đỗ Bích Thúy Theo ông, thành công của Đỗ Bích Thúy là mang đến cho người đọc một “món ăn lạ”, khiến họ được sống trong một mảnh đất lạ mà “tất
cả được miêu tả dịu nhẹ, chênh vênh, chấm phá, không dài dòng, không đa ngôn” Ông cũng cho rằng: “chất bình dị, xôn xao, chân thật không chỉ là tiêu chí trong các cuộc thi văn của Tạp chí mà còn là đặc trưng của nền văn học”[18] Cũng chính yếu tố đó làm nên cái duyên và sức gợi của nhà văn trẻ
Đỗ Bích Thúy Chu Lai cũng chỉ ra những nhược điểm của tập truyện Sau những mùa trăng là sự thử nghiệm sang mảng đề tài khác còn vụng về, gượng gạo (Sông còn chảy mãi, Phía sau kí ức) Những tìm tòi trong cách thể hiện của
Đỗ Bích Thúy (cảm hứng giọng điệu, cốt truyện…) được Chu Lai ghi nhận bước đầu Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Nguyễn Hòa khẳng định “trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ viết về đề tài dân tộc và miền núi không nhiều và Đỗ Bích Thúy là một người thành công trong số ít đó”
Tác giả Ngô Thị Yên lại đi sâu vào nghệ thuật trần thuật trong sáng tác
Đỗ Bích Thúy với cách khai thác về điểm nhìn, lời văn, cốt truyện, người trần
thuật Luận văn Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy cũng đã
đánh giá khá cụ thể về cách tân nghệ thuật của nhà văn này Đặc biệt luận văn
đã khảo sát kĩ các kiểu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và khẳng định chị là cây bút có vị trí quan trong trên văn đàn văn học Việt Nam hiện nay
Trong đề đài “Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy” tác giả Phan Thị Yến cũng đưa ra những kết luận về nghệ thuật sáng tác của nhà văn này: “Đỗ Bích Thúy đã biết nắm bắt, sử dụng có hiệu quả các yếu tố nghệ thuật như trữ tình ngoại đề, hồi ức, chi tiết nghệ thuật… như một phương tiện hữu dụng làm nổi bật lên thế giới tinh thần con người, nhất là người phụ nữ miền núi và từ đó nhân vật trở nên sống động, tạo được dấu ấn riêng trong thế giới nhân vật của văn xuôi đương đại Việt Nam” [55,113]
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cũng khái thác theo hướng này là đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 - 2006(Nguyễn Thu
Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy) của tác giả Nguyễn Thanh Hồng [14] Luận văn đã khảo sát những đóng góp của các nhà văn nữ trong quá trình đổi mới nghệ thuật tự sự
Nhìn nhận sáng tác của Đỗ Bích Thúy trong mỗi liên hệ với các sáng tác
về đề tài miền núi, tác giả Nguyễn Quốc Toán trong luận văn Miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy lại đi sâu vào quan niệm nghệ thuật về con người
với các kiểu: Con người tha hóa; con người tâm linh; con người cô đơn; con người bi kịch
Khai thác sáng tác Đỗ Bích Thúy trong trường nhìn các sáng tác về miền
núi còn có Đề tài dân tộc và miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa của tác giả Mai Thị Kim Oanh; Truyện ngắn về đề tài miền núi phía Bắc (Cao Duy Sơn; Đỗ Bích Thúy; Nguyễn Huy Thiệp) của tác giả
Nguyễn Minh Trường.[51] Các luận văn này cũng trên cơ sở so sánh với các nhà văn viết về đề tài miền núi khác để triển khai các nghiên cứu của mình
Một đề tài nữa cũng hết sức thú vị về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy là Tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện giá trị văn học - văn hóa Ở đề tài này các sáng tác của Đỗ Bích Thúy được triển khai ở
mục 2.2 Mảng đề tài miền núi và dân tộc thiểu số Luận văn đi sâu vào khả năng tái hiện không gian hiện thực miền núi phía Bắc với những trang văn miêu tả phong cảnh giàu chất thơ, phác họa sinh động cuộc sống, sinh hoạt của dân miền núi; ở mục 3.2 tác giả luận văn lại đi sâu vào hình ảnh và thân phận người phụ nữ dân tộc thiểu số; Đặc biệt ở mục 4.2, luận văn triển khai ngôn
ngữ như một biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc.[31] Trong bài Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, đăng trên báo VN số 5, (3/2/2007), nhà văn Trung Trung
Đỉnh viết: " Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể về
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn, nết ở và cả cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào những chi tiết lạ thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có" Nhà văn khẳng định: " Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu Một
mở đầu mơ ước của một nhà văn" [7] Vậy là ngay từ những tác phẩm đầu tiên,
Đỗ Bích Thúy đã "buộc" người ta phải nhớ tới chị qua một văn phong riêng đậm chất văn hóa miền núi
Còn ở đề tài “Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa”, tác giả Nguyễn Thị Hải Hà cũng đã khảo sát 26 truyện ngắn và khẳng định:
“Thông qua ngòi bút miêu tả tinh tế của nhà văn, thiên nhiên, con người, văn hóa miền núi phía Bắc hiện lên sinh động, phong phú và gần gũi Truyện ngắn
Đỗ Bích Thúy đã, đang và sẽ giúp người đọc hiểu được nhiều hơn về những nét văn hóa đặc sắc của những người con nơi núi rừng nhiều hơn nữa” [11,2] Ở đề tài này, tác giả chủ yếu khái thác các giá trị văn hóa trong thiên nhiên và con người cùng các biểu tượng, ngôn ngữ
Qua khảo sát một loạt các luận văn nghiên cứu về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, người viết nhận thấy các đề tài mới tiếp cận ở những góc độ nghệ thuật,
tự sự, thi pháp thể loại và một vài vấn đề về góc độ văn hóa Để có một cái nhìn toàn diện, đa chiều về dấu ấn văn hóa trong sáng tác của nhà văn này thực sự vẫn còn nhiều phương diện cần khai thác Chúng tôi mong muốn có những đóng góp để làm sáng tỏ giá trị văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy vì vậy chúng tôi chọn vấn đề “Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy” làm
đề tài nghiên cứu của mình
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu: các màu sắc văn hóa trong truyện ngắn
Đỗ Bích Thúy như văn hóa gia đình, văn hóa sinh hoạt cộng đồng, văn hóa nghệ thuật; các biểu tượng và các nghệ thuật thể hiện các phương diện mang màu sắc văn hóa ấy
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy
và một số tác phẩm của một số tác giả khác để đối chiếu so sánh khi triển khai vấn đề Tuy nhiên do thời gian có hạn nên chúng tôi tập trung nhiều hơn vào các tác phẩm tiêu biểu của Đỗ Bích Thúy
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
4.2 Đóng góp mới của luận văn
Tiếp tục hướng nghiên cứu về văn học dưới góc độ văn hóa để lý giải một hiện tượng văn học mới như Đỗ Bích Thúy; Từ góc độ đó, đề tài sẽ khẳng định thêm giá trị của nhà văn này trên văn đàn văn học, đồng thời cũng muốn chỉ ra xu thế chung của văn học sau Đổi mới là tìm về bản sắc văn hóa, là cảm hứng trước những biến động thời đại đang làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện sắc màu văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hoá học hình thành trên vùng
tiếp giáp của các tri thức xã hội và nhân văn về con người và xã hội, nghiên
cứu văn hoá như một chỉnh thể toàn vẹn với một phạm vi rộng khắp, trong đó
văn hóa học văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống Từ cái nhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy những mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận văn
cần kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, Cái nhìn liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết thỏa đáng vấn đề cần nghiên cứu
Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu khác như khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp so sánh…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết và sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Trang 14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC
CỦA NHÀ VĂN ĐỖ BÍCH THÚY 1.1 Khái niệm văn hóa và màu sắc văn hóa
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [4]
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng và được nhìn nhận ở nhiều góc độ Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị
sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên , chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên Theo bộ Từ Hải (1989), văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa
Ở phương Tây cổ đại, khái niệm văn hóa gốc Hy Lạp, La Mã (cuture) có nghĩa đen là vun xới, trồng trọt Mở rộng ra, nó ám chỉ sự rèn rùa, giáo dục và đào luyện
Sang thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, phá bỏ các quan niệm của “Đêm trường trung cổ” với tính chất giáo điều, kinh viện mà nhà thờ phong kiến xây dựng, văn hóa thường được đồng nghĩa với văn chương nghệ thuật “Đó là thời
kì mà lý trí con người được tôn sùng đến cao độ, người có văn hóa là người có
lý trí phát triển cao, nhờ đó mà thành tựu được lý tưởng nhân bản Các học giả nổi tiếng của kỷ nguyên ánh sáng như Vôn - te, Con đóc xê, Tuốc gô… đều cho rằng lịch sử phát triển văn hóa của loài người đồng thời cũng tức là lịch sử phát triển của lý trí Một dân tộc có văn hóa khác với những bộ tộc dã man nguyên thủy dã man ở chỗ mọi thiết chế xã hội và chính trị của nó đều thấm nhuần lý
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trí, biểu hiện lý trí, cũng như trong những thành tựu khác của văn chương, nghệ thuật” [4]
Sáng thế ki XIX, các nhà nhân chủng học và nhân loại học đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới về văn hóa dựa trên sự mô tả chi tiết, tỉ mỉ sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhiều bộ tộc người nguyên thủy Họ cho rằng văn hóa
là tổng thể kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật và phong tục… Thậm chí nhà nhân loại học người Mỹ C.Wissher trong cuốn “Con người
và văn hóa” đã xếp thành mục chi tiết:
1 Ngôn ngữ: tiếng nói, chữ viết
g Kinh doanh, công nghiệp
3 Nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc
4 Huyền thoại và kiến thức khoa học:
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trải qua nhiều quan niệm, cho đến này về cơ bản văn hóa được hiểu
như sau: Tất cả những cái ta đã biết liên quan đến con người thuộc về văn hóa, tất cả những gì chúng ta còn chưa biết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hóa Chính là theo nghĩa đó, Édouard Herriot (1872-1957) - nhà khoa học và chính khách, viện sĩ Viện hàn lâm Pháp - đã nói câu bất hủ:
“Văn hóa là cái còn lại khi ta quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả” (La culture, c’est ce qui reste quand on a tout oubliộ, c’est ce qui manque quand on a tout appris) [32]
Ở nước ta, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong lời ngỏ của trang Web
về văn hoá vanhoahoc.com cũng định nghĩa tương tự: “Con người tồn tại trong môi trường văn hoá Môi trường ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian Cuộc sống trong ta và quanh ta thấm đẫm chất men của không gian văn hoá Cha ông ta, bản thân ta, rồi con cháu ta, sinh ra trong văn hoá, sống trong văn hoá và chết đi trong thời gian văn hoá Tất cả những cái ta đã biết liên quan đến con người thuộc về văn hoá, tất cả những gì chúng ta còn chưa biết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hoá Chính là theo nghĩa đó Edouard Herriot (1872 - 1957) - nhà khoa học và chính khách, Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp - đã nói câu bất hủ: “Văn hoá là cái còn lại khi ta đã quên tất cả, là cái còn thiếu khi
ta đã học tất cả” [32]
Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy: Văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống bao quanh con người, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với đề tài Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy thì khái niệm màu sắc văn hóa chưa từng có trong bất cứ từ điển văn học hay từ điển thuật ngữ văn học nào Bởi vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách hiểu về màu sắc văn hóa đó là: những sắc thái văn hóa miền núi của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao được phản ánh trong sáng tác của một nhà văn người Kinh nên vừa quen vừa lạ: quen vì đó là những nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được phản ánh bằng những phương thức nghệ thuật khác nhau trong nhiều sáng tác văn học, lạ vì được miêu tả bằng thủ pháp "lạ hóa" và qua cái nhìn nghệ thuật từ bên ngoài vào của Đỗ Bích Thúy
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Nói về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Văn học ở thời kì nào cũng phải đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hóa, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ Trước đây, văn học và văn hóa bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có những đặc trưng loại biệt Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa đang cho thấy là một hướng tiếp cận có hiệu quả Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của tổng thể văn hóa Nó truyền tải lưu giữ được những giá trị văn hóa” [41]
Trong lịch sử văn học của bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệ giữa văn hoá và văn học Đó là một mối quan hệ hai chiều khăng khít không thể tách rời ở đây, chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa mối quan hệ
đó để có thể thấy hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hoá là vô cùng cần thiết
Văn hoá chính là chất liệu để văn học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật
của mình, là “sân khấu” để văn học có thể thể hiện nổi bật các giá trị của mình, đồng thời văn hoá cũng là “chìa khoá” để “giải mã” các “ẩn số” nghệ thuật
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mặt khác, văn học lại phản ánh văn hoá, tái tạo mô hình văn hoá qua thế giới nghệ thuật, và chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của văn học trong việc định hướng cho sự phát triển văn hoá
Ta có thể ví văn hoá như một dòng sông lớn, còn văn học là nhánh sông nhỏ Sông lớn có đầy nước thì nhánh sông nhỏ mới đầy, và nhánh sông nhỏ lại góp phần điều tiết nước cho sông mẹ Lịch sử văn học đã chứng minh rõ điều này
1.2.1 Văn học truyền tải và lưu giữ văn hóa
Theo như nhận định trên của tác giả Đỗ Lai Thúy thì văn học không tách rời văn hóa mà nó là nơi bảo lưu và gìn giữ các giá trị tốt đẹp Lịch sử loài người nói chung và Việt Nam nói riêng đã minh chứng rõ nét cho điều này
Như chúng ta đã biết, văn học phản ánh cuộc sống con người, lấy con người là trung tâm Con người lại là chủ thể của văn hóa Trong quá trình phản ánh sinh hoạt của con người, tất yếu văn học sẽ chứa đựng các giá trị văn hóa Chẳng hạn như phong tục tập quán của các dân tộc đa phần đều được
mô tả lại trong văn học hay những thú chơi của người xưa được Nguyễn Tuân lưu lại trong những trang viết “Vang bóng một thời” Đó thực sự là mảnh đất tuyệt với để các giá trị văn hóa được lưu giữ Tác giả Huỳnh Như Phương cũng khẳng định:
“Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm gương của văn hoá Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Đó là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi…), là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân (hoa thuỷ tiên, nghệ thuật pha trà, thư pháp…), là những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…) Tác phẩm văn học còn dẫn ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hoá qua việc lý giải tấn bi kịch
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu.”[27]
Có thể nói, văn học dân gian chính là nơi bảo lưu văn hoá đầy đủ nhất Nếu như sân khấu dân gian đang dần bị lấn át bởi các loại hình nghệ thuật hiện đại, nếu các làng nghề tranh dân gian đang dần lụi tàn, nếu các giai điệu dân gian ngày càng ít người biết đến thì văn học dân gian vẫn ghi dấu đậm nét trong tâm thức người Việt ở đó, người Việt tìm được cội nguồn của mình, tìm được đầy đủ những nét văn hoá đẹp đẽ của dân tộc Không biết từ bao giờ văn hoá đã
trở thành “nguồn sữa”, chất liệu cho văn học “lớn lên” Ta có thể bắt gặp tục ăn trầu qua truyện cổ tích Trầu cau hay tục làm bánh trưng, bánh dầy ngày tết qua
Sự tích bánh trưng bánh dầy Như vậy, các phong tục tập quán, các yếu tố văn
hoá được đưa vào văn học, làm đề tài cho văn học Mặt khác, văn học lại lý giải các giá trị văn hoá, đồng thời bảo lưu chúng trong trường kỳ lịch sử Và có lẽ nhờ vậy mà nhiều giá trị văn hoá đã chiến thắng được thời gian đến tận bây giờ
Văn hoá thời kỳ phong kiến cũng được phản ánh sâu sắc qua các sáng tác văn học Chúng ta có thể thấy được hào quang của các triều đại phong kiến qua các tác phẩm văn học, thấy được lịch sử qua các trang sách, thấy được cha ông ta đã sống ra sao, chiến đấu thế nào… trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Qua văn học, chúng ta có thể thấy được bức tranh văn hoá của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, văn học không thể phản ánh trực tiếp
được văn hoá, “mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hoá, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hoá Nhờ thế mà tránh được sự phản ánh
“gương”, phản ánh một cách trần trụi Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh, như người ta nói, có nghệ thuật”[51, 3]
Có người cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hoá qua sử sách, thậm chí còn rõ hơn văn học Chúng ta có thể biết người xưa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ra sao một cách cụ thể Đó là điều không cần bàn cãi nhưng đó cũng chỉ là một phần, bởi khái niệm văn hoá có nội hàm rất rộng Sử học có thể tái hiện được những giá trị văn hoá cụ thể nhưng còn những giá trị phi vật chất Đó là điều khó có thể dựng lại được nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lưỡi cày hay lưỡi cuốc Chẳng hạn như tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo Đó là những truyền thống văn hoá quý giá mà chỉ có thể thấy được rõ nhất qua hình tượng nghệ thuật văn học Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học mà nếu chỉ miêu tả bằng ngôn ngữ thông thường khó có thể thuyết phục được Mặt khác,
có những yếu tố văn hoá từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi
mà sử học cũng không sao tạo dựng lại được, và lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn thơ Đó không phải là điều ngẫu nhiên bởi từng có thời kỳ văn sử bất phân Nhờ các sáng tác đó mà các “ẩn số” lịch sử văn hoá được giải mã
Văn hoá của thời kỳ nào cũng có những chuẩn mực riêng, là thước đo cái đẹp của thời kỳ đó Ví dụ như thời trung đại coi áo the, khăn xếp là đẹp, còn người hiện đại lại coi quần jeans, áo phông… là hợp mốt Như vậy, nếu không hiểu văn hoá ăn mặc của mỗi thời kỳ mà đem cái chuẩn này đánh giá cái chuẩn kia sẽ là sai lầm Như vậy, khi thưởng thức một tác phẩm văn học, người đọc cũng phải hiểu môi trường văn hoá mà tác phẩm ấy hình thành thì mới có thể
thấy được cái hay, cái đẹp của nó Bởi vậy mới nói văn hoá là “chìa khoá” để
đi vào thế giới văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung Chỉ đơn cử như việc tìm hiểu văn học nước ngoài, nếu chúng ta không hiểu văn hoá của họ (tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, thẩm mĩ…) chúng ta sẽ không hiểu được văn học của họ Ví dụ như việc tìm hiểu văn học Nhật Bản, chí ít chúng ta cũng phải biết đến văn hoá trà đạo, kiếm đạo hay tinh thần samurai của họ Để cho nhân vật ngồi uống tách trà ngắm hoa anh đào nở phải hiểu là nhân vật đang thư thái, tâm tĩnh như mặt nước mùa thu Hay một võ sĩ nếu thua cuộc tại sao phải mổ bụng tự sát Đó là quan niệm về danh dự của người võ sĩ, mà nếu không biết văn hoá đó của họ có thể đánh giá sai lầm
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Văn học phản ánh văn hóa chính là khía cạnh thứ nhất chúng tôi muốn khẳng định ở mối liên hệ phức tạp này Bởi vậy nghiên cứu văn học mà bỏ qua giá trị¸ văn hóa sẽ là một thiếu xót vô cùng lớn
1.2.2 Văn học điều chỉnh văn hóa
Tuy văn học là một thành tố nằm trong văn hóa, phản ánh văn hóa nhưng văn học mang tính chất “động” Nó có khả năng quay ngược chở lại để điều chỉnh văn hóa: Nếu văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hoá lớn Bằng nghệ thuật ngôn từ,
họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá trị văn hoá dân tộc, nhân bản và khai phóng
Có thể nói, văn hoá phát triển theo từng thời kỳ lịch sử ở đó, có những giá trị vẫn trường tồn, có những giá trị đã mất đi hay gần bị mất đi Đó là sự
“thanh lọc” của thời gian Thời gian lưu lại những gì đẹp đẽ và “phủ bụi” lên những gì không còn phù hợp Sự “thanh lọc” ấy một phần nhờ vào vai trò của văn học Chẳng hạn như tác phẩm Vang bóng một thời của tác giả Nguyễn
Tuân Trước những cách sống đẹp, tao nhã như uống trà, thưởng hoa, thả thơ… đang dần mất đi cùng sự suy tàn của triều đại phong kiến, nhà văn đã dùng văn học để bảo lưu nó Và như vậy những nét văn hoá đó sống cùng tác phẩm của ông để nhắc nhở với chúng ta về một thời quá khứ vàng son, sống mãi cùng
tâm thức người Việt Hay như một tác phẩm được đánh giá là kỳ thư như
Tôtem sói (Khương Nhung) cũng thể hiện rất rõ điều này Có lẽ với nhiều nước trên thế giới thì văn hoá du mục và loài sói thảo nguyên vẫn còn rất xa lạ Chúng ta không biết rằng nền văn hoá đó đang dần bị biến mất bởi sự phát triển của đô thị, của khoa học hiện đại Tác giả Khương Nhung, bằng tác phẩm của mình, đã giới thiệu cho bạn đọc thế giới về điều đó Nó như một tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta về sự lụi tàn của văn hoá du mục và sự biến mất của loài sói
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thảo nguyên Nói cách khác, tác phẩm văn học qua việc phản ánh văn hoá đã tác động vào tình cảm con người để qua đó điều chỉnh cách sống, cách ứng xử với văn hoá Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc, nhiều tri thức Và tiếng sói tru dưới ánh trăng ám ảnh mỗi người Bàn về điều này, tác
giả Đỗ Lai Thuý cũng khẳng định: “Văn học không thể có ảnh hưởng tức thời, trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ có thể tác động đến con người với tư cách là chủ/khách thể của văn hoá, làm cho con người biến chuyển rồi mới phát sinh hành động cụ thể”[41, 3]
Ở đây, chúng ta cũng cần nhấn mạnh rằng, các nhà văn, nhà thơ chân chính khi sáng tác luôn hướng tới những giá trị văn hóa tốt đẹp và cố gắng loại
bỏ những văn hóa “rác” nên có thể nói sự tác động của nó là tích cực Bằng việc cảm nhận, báo động với các hiện tượng văn hóa, nhà văn luôn là người tiên phong “rung chuông” cảnh tỉnh con người trong ứng xử văn hóa
1.2.3 Văn học dự báo văn hóa
“Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hoá tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hoá, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hoá dân tộc.”[27]
Văn học không chỉ phản ánh mà còn có khả năng dự báo văn hóa Như chúng ta đã biết các nhà văn đều nó năng lực nhìn nhận cuộc sống sâu sắc Trong các tác phẩm của họ, có thể ý thức hay vô thức, đã đưa ra những dự báo
về văn hóa cho những giai đoạn sau Văn học còn có tác dụng gợi mở những giá trị văn hóa mới Nhờ văn học, con người có thể dự báo được tương lai Tác phẩm "Người mẹ" và "Bài ca chim báo bão" của M.Gooc-ky được coi là những tín hiệu mở đường cho nền văn hóa Xã hội chủ nghĩa Nhiều phát minh khoa học hiện đại được bắt nguồn từ những ý tưởng trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của J.Véc-nơ Nhiệm vụ của các nhà văn là hướng tới xây dựng một mô hình văn hóa tốt đẹp hơn trong tương lai
Lí giải khả năng dự báo này của văn học có khá nhiều ý kiến: Ở khía cạnh tâm linh, các nhà văn được cho là những con người có linh cảm đặc biệt
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Họ được cho là có khả năng tiên tri bằng trí tưởng tượng vượt thời đại Ở mặt khác, họ lại được xem là những người nắm bắt được quy luật vận động của lịch
sử và của loài người nên tiên đoán được tương lai Để có thể có một kết luận chính xác cho vấn đề này là vô cùng phức tạp nhưng thực tế đã chứng minh quả thực ở một số trường hợp đặc biệt, văn học đã trở thành cánh cửa để loài người
đi vào những kỷ nguyên văn hóa mới
1.3 Một số lý thuyết nghiên cứu văn hóa
1.3.1 Duy vật luận (Materialism)
Đây là một quan niệm triết học và xã hội học, về căn bản, thuyết duy vật coi mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của
sự tương tác vật chất Duy vật luận được Marx và Engels hoàn thiện và phổ biến thành một trong những học thuyết vĩ đại nhất trong kinh tế, chính trị, xã hội… của các quốc gia đi theo hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Trên cơ sở thuyết duy vật của Marx và Engels, Marvin Harris (1927-2001) đã xây dựng nên một học thuyết mới, sử dụng trong khoa học xã hội và nhân văn có ảnh hưởng khá mạnh trong thế kỷ XX Từ góc nhìn tiến hoá luận, Leslie White và Julian Steward đã tạo dựng nên các lý thuyết tân tiến hoá luận
và sinh thái văn hoá
1.3.2 Đặc thù văn hoá luận (Cultural Particularism)
Đây là một trong những hệ lý thuyết nhân học hiện đại đầu tiên được Frank Boas xây nền và một số học trò của ông như Alfred Kroeber, Ruth Benedict, Margaret Mead… hoàn thiện Về cơ bản, học thuyết này nhấn mạnh đến tính đặc thù của mỗi nền văn hoá không phân biệt giữa phương Đông và phương Tây, giữa hiện đại và bản địa… Học thuyết này giúp tránh được những định kiến về sự “chậm tiến” của các bộ tộc/bộ lạc lạc hậu bởi nó đề cao tới vấn
đề bản sắc văn hoá (culture in itself) của mỗi nền văn hoá Đây cũng chính là cách mà Frank Boas và những người theo trường phái của ông phản ứng lại tiến hoá văn hoá luận vốn ảnh hưởng đến hầu khắp giới khoa học xã hội và nhân văn trước đó Theo lý thuyết này, bản sắc văn hoá của mỗi tộc người hay mỗi
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nền văn hoá có giá trị “tự thân” của nó nên không thể áp đặt bằng một khung văn hoá của bất cứ một xã hội nào khác cho dù “cái khung” đó được coi là văn minh hay tiến bộ hơn Và như vậy, quá trình phát triển văn hoá (chứ không phải
là tiến hoá văn hoá - ĐHH) của các nền văn hoá với nền tảng xã hội khác nhau
sẽ đi lên bằng những cách thức khác nhau chứ không thể là những bước tiến hoá chung giống như sự phát triển của sinh vật trong thế giới tự nhiên
1.3.3 Chức năng luận (Functionalism)
Đây là một trong những lý thuyết khoa học ra đời từ rất sớm được ứng dụng trong triết học, xã hội học trước khi đến với nhân học hiện đại Người được coi như cha đẻ của học thuyết này là Emile Durkheim, nhưng trước đó Herbert Spencer (1820-1903) đã sử dụng nó trong các nghiên cứu của ông về khoa học xã hội Có thể tóm tắt tư tưởng cơ bản của chức năng luận như sau: Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống” Các lý thuyết
về chức năng luận của Durkheim được tiếp nối bởi Alfred Radcliffe-Brown (1881-1955) và Bronislaw Malinowski (1884-1942), Robert Merton (1910-2003) và Talcott Parsons (1902-1979)
Malinowski cho rằng mỗi cá thể có sinh lý cần thiết (tái sản xuất, thức phẩm, chỗ ở…) và sự thành lập xã hội để tìm những gì cần thiết Đó cũng là nguồn gốc văn hóa cần thiết và là 4 phương tiện cần thiết cơ bản (kinh tế, quản
lý xã hội, giáo dục và tổ chức chính trị)
1.3.4 Cấu trúc luận (Structuralism)
Đây là một trong những lý thuyết có ảnh hưởng lớn, được xem như một trong những cuộc cách mạng về phương pháp luận trong khoa học xã hội và nhân văn thế kỷ XX Người sáng lập Ferdinand de Saussure (1857-1913) đã
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chủ trương một phương pháp luận tập trung vào tính hệ thống của ngôn ngữ được biểu thị bằng những ký hiệu gồm cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) Phương pháp này đã được ông sử dụng trong ngôn ngữ học và sau đó là ký hiệu học Dựa vào cấu trúc luận (trên cơ sở ký hiệu học của F de Saussure), Lévi-Strauss đã cho ra đời nhân học cấu trúc (structural anthropology) từ những tương quan giữa các thành tố văn hoá khác nhau thông qua cấu trúc của chúng Theo ông, những hình mẫu phổ quát của văn hoá là những sản phẩm của những cấu trúc không đổi trong ý nghĩ của con người Chẳng hạn như trong các tác phẩm thơ ca, nhà ngôn ngữ học nhận ra các cấu trúc rất giống với các cấu trúc trong các huyền thoại mà các nhà dân tộc học đã từng bắt gặp trong quá trình phân tích của họ Có thể nói, cấu trúc luận chính là một công cụ quan trọng để chúng ta tiếp cận thế giới biểu tượng của văn hoá
1.3.5 Tương đối văn hoá luận (Cultural relativism)
Đây là một học thuyết ra đời tại Mỹ với quan điểm cho rằng không có những nền văn hoá bậc cao và nền văn hoá hạ đẳng, mọi nền văn hoá đều bình đẳng (tương đương) tuỳ theo môi trường của chúng Mọi thành tố của văn hoá
có mối quan hệ chặt chẽ với chính bản chất đặc trưng của văn hoá Giữa hai cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ I và lần thứ II, lý thuyết tương đối văn hoá đã trở thành công cụ quan trọng để các nhà nhân học Mỹ chống lại sự “thống nhất văn hoá” và cải biến các nền văn hoá phi phương Tây Đóng góp này của thuyết tương đối văn hoá là một công cụ phục vụ đắc lực cho sự ra đời của Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 10/12/1948 Có thể nói, tương đối văn hoá luận cùng với đặc thù văn hoá luận của Frank Boas đã ghi một dấu ấn hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa vị chủng (racism) và chủ nghĩa phát xít (facism) đem lại quyền tự do, bình đẳng của con người không phân biệt đẳng cấp, chủng tộc, màu da
Ý tưởng cơ bản của tương đối luận là không có tiêu chuẩn cuối cùng nào của tốt đẹp hay xấu xa trong văn hóa nên mọi phán xét về sai hoặc đúng là sản
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phẩm của xã hội Tương đối luận văn hóa giữa một vị trí lớn trong thế giới hiện đại Những thuật ngữ như “đa nguyên”, “sự khoan dung”, và “sự chấp nhận” được bổ sung ý nghĩa mới, ranh giới văn hóa được cởi mở
Cách nhìn là một điều vô cùng quan trong cho việc am hiểu lịch sử, tâm
lí và chính trị Cách nhìn văn hóa có thể giúp chúng ta hiểu tại sao những hoạt động lại được phán xét đúng sai ở từng nền văn hóa Ví dụ trong xã hội cổ đại khi phán xét nhuộm tóc xanh là một tội lỗi thì trong xã hội hiện đại đó là một điều bình thường Nói một cách đơn giản hơn, “chúng ta cần hiểu những chuẩn mực của các nền văn hóa khác để không phán xét tiêu chuẩn của họ Họ có những lí lẽ riêng
1.4 Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy và các phương diện văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
1.4.1 Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy có thể nói là nhà văn nữ xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại Các tác phẩm của chị luôn đọng lại trong lòng người đọc những vẻ đẹp đầy chất thơ của văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc Chỉ mới xuất hiện trên văn đàn nhưng các sáng tác của Đỗ Bích Thúy đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả Không chỉ truyện ngắn mà còn ở nhiều thể loại khác chị cũng đạt được những thành tựu nhất định
Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13 tháng 04 năm 1975 tại Hà Giang, mảnh đất
đã đi vào kí ức và các sáng tác của chị “Quê hương luôn là vùng miền lưu dấu, mang sắc màu chủ đạo của ký ức, gắn với mỗi người như một sợi dây vô hình Với Đỗ Bích Thúy, thì còn một sợi dây hữu hình là căn nhà mái ngói rêu phong trong thung lũng ba mặt là núi, một mặt là sông ở huyện Vị Xuyên, Hà Giang Nơi ấy có bản người Dao, người Tày, có những người phụ nữ Mông nhẫn nại
và cam chịu đã đi vào những trang văn của chị.” [31] Mảnh đất hồn hậu với đồng bào chất phác, những vẻ đẹp đầy chất thơ chính là ngọn nguồn cảm hứng bất tận cho sáng tác của chị Dù đi đâu, về đâu những trang viết của Đỗ Bích
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 21 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thúy luôn “nhưng nhức” tình yêu thương dành cho vẻ đẹp của đất trời và con người nơi đây
Đỗ Bích Thúy đến với văn chương khi tuổi đời còn rất trẻ (19 tuổi), Sau khi ước mơ làm nhiều nghề, cuối cùng văn chương đến với chị một cách tự nhiên: “Đúng là cuộc đời tôi đã có những biến động không ngờ và tất cả đều dẫn dắt tôi đến với con đường văn chương Là học sinh giỏi văn (từng đi thi học sinh giỏi văn toàn quốc), nhưng tôi thất vọng với ý định sẽ trở thành cô giáo Học xong Cao đẳng Tài chính - Kế toán, chưa kịp nhận việc thì có một vị khách tìm đến tận nhà “mời” tôi về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang sau khi ông đọc truyện ngắn của tôi trên Báo Tiền Phong Các chú trên tỉnh đến Hội Văn nghệ chơi nói: “Cháu còn trẻ thế, ngồi đây làm gì cho phí, sang làm báo đi” Tôi chuyển sang làm phóng viên Báo Hà Giang Bốn năm trời lăn lộn với nghề báo, thường xuyên phải đi công tác vùng sâu, vùng xa nhưng tôi thấy yêu nghề Tôi tự nhủ, mình sẽ gắn bó lâu dài với nghề báo nên đi học tiếp tại Phân viện Báo chí Tuyên truyền Đang học năm cuối, nghe bạn bè khuyên, tôi gửi ba truyện ngắn tham dự cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đoạt giải nhất, nên khi ra trường các chú bảo tôi về làm việc ở tạp chí Nếu làm việc ở quê, chắc chắn tôi không viết được nhiều như bây giờ.”[16] Đỗ Bích Thúy viết văn vì nhu cầu nội tâm là chính, chị viết văn như sự trả ơn, nên trong cuộc đời viết văn của mình chị đã định hình một cách viết không quá ồn
ào, hoa mĩ mà giản đơn và trong trẻo như vùng cao, như tâm hồn chị
Đỗ Bích Thúy cũng có viết về Hà Nội nhưng có lẽ các tác phẩm gắn với mảnh đất Hà Giang nơi chị sinh ra và lớn lên là thành công hơn cả Nhà văn đã khai thác được chiều sâu phức tạp trong cuộc sống cũng như nhân cách, phẩm chất và những nét đẹp văn hóa của con người vùng núi một cách chân thành nhất
Đỗ Bích Thúy đã xuất bản các tập truyện ngắn “Sau những mùa trăng” (2001), “Những buổi chiều ngang qua cuộc đời” (2003), Tiếng đàn môi sau bờ rào
đá (2006), Người đàn bà miền núi (2008), Mèo đen (2011), Đàn bà đep (2013)…
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 22 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tóm lại, bằng việc xây dựng những nhân vật người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, số phận éo le, trắc trở, Đỗ Bích Thúy đã chỉ cho độc giả một mảng màu tối trong bức tranh hiện thực ở vùng cao, nơi thân phận con người luôn bếp bênh và đau đớn Ở nơi đó có những ước nguyện, những khát vọng hạnh phúc tình yêu, sự yên bình , thanh thản đang bị khuất lấp bởi những bóng núi
vô hình nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là một tình yêu chân thành, dung dị được gửi gắm trong từng trang văn của tác giả
1.4.2 Khái lược về màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Văn hóa được biểu hiện qua nhiều phương diện trong sáng tác văn học nhưng qua các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy chúng ta thấy chủ yếu nó được làm
rõ trên các góc độ như ngôn ngữ, các biểu tượng, phong tục tập quán…
Trước hết, văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện chuyên trở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Người ta nói ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự để lưu truyền lại, cùng nhờ ngôn ngữ để phát triển Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn đi song song với biến đổi và phát triển văn hóa Vậy muốn nghiên cứu văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải tìm hiểu văn hóa Trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, ngôn ngữ văn hóa mang đặc trưng vùng miền được thể hiện rõ nét Nó biểu thị sự am hiểu của chị với miền đất Hà Giang và hơn nữa qua ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số giúp chúng ta cảm nhận được văn hóa nơi đây Theo dõi những trang viết của Đỗ Bích Thúy về đề tài miền núi, chúng ta có thể thấy rõ nỗ lực của chị trong việc tái hiện ngôn ngữ văn hóa từ cách sử dụng hình ảnh lẫn ngữ pháp Tất nhiên, đó không hoàn toàn là ngôn ngữ chính xác của đồng bào dân tộc nhưng chúng ta cũng có thể dễ dàng hình dung được tư duy của họ
Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm của đời sống văn hoá Nó là hạt nhân tâm lý cho sự tưởng tượng, làm bộc lộ ra những bí mật của cõi vô thức và trở
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 23 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành động lực cho sự sáng tạo của thế giới hữu thức Biểu tượng thực sự vén
mở cho ta thấy chân trời của trí tuệ bằng sự cảm nhận những giá trị đúng đắn của cuộc sống Sau cùng, biểu tượng còn hình thành nên các “khuôn mẫu văn hoá” - khuôn mẫu hành vi trong mọi ứng xử của con người Các khuôn mẫu này được lắp đi lắp lại nhiều lần trong đời sống xã hội, theo chiều dài lịch sử đã trở thành nếp sống, lối sống, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng dân tộc khác nhau Thực chất, biểu tượng đã thể hiện được sắc thái riêng của mỗi nền văn hoá và đã tạo thành “cái gen” di truyền của nền văn hoá đó, và biểu tượng
đã trở thành “khuôn mẫu gốc” (Archetype) và chuẩn mực văn hoá của mỗi cộng đồng Trong các sáng tác của mình Đỗ Bích Thúy cũng thường xuyên xoáy sâu vào một số biểu tượng như đá, nước, lửa… Nó tạo thành một nỗi ám ảnh trong quan niệm sống của con người miền núi Không gian văn hóa một phần được tạo nên bởi chính biểu tượng này Từng suy nghĩ đã thấm sâu vào cành cây, dòng suối… Nó phản ánh tâm hồn của con người nơi đây được gìn giữ qua biết bao thế hệ
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững
và tương đối thống nhất
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ một dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người
Có thể nói qua phong tục chúng ta sẽ thấy nhịp sống của từng dân tộc Đỗ Bích
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 24 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thúy cũng tái hiện nhịp sống này thông qua việc mô tả phong tục của đồng bào miền núi Ở đó có những nét đẹp, có những hủ tục… chị nhìn nó với con mắt yêu thương và cảm thông Từ đó mọi màu sắc văn hóa được hiện lên thật đa dạng và phong phú
Đọc kĩ các truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng ta thấy nhà văn phản ánh số phận của những mảnh đời bất hạnh nơi miền núi Những số phận này lại thường được đặt trong những xung đột văn hóa dữ dội, giữa những chất thơ lãng mạn và cuộc sống hiện đại đang dần xâm lấn Chị cũng từng bầy tỏ quan niệm này: “Trong những tác phẩm của mình, tôi đã từng đề cập đến sự xâm lấn của văn minh đô thị đối với miền núi, và tôi cho rằng đây vẫn là một đề tài
“nóng” đối với văn chương, báo chí Lấy một ví dụ, lâu nay người ta vẫn cưỡi ngựa đi chợ Một người một ngựa, giỏi lắm thồ thêm được ít ngô, một vài con
gà, đi ròng rã nửa ngày trời mới đến chợ Giờ một chiếc xe máy, giá cũng bằng hoặc rẻ hơn cả con ngựa ấy, đổ ít xăng vào, chở hai ba người, vù một cái đến nơi rồi Tiện quá còn gì Bán quách ngựa đi, mua chiếc xe máy, tha hồ phóng Hoặc giả, xưa kia làm một cái nhà trình tường, lợp ngói máng, công xá chuẩn
bị, dựng nhà tốn kém biết bao nhiêu Giờ mua một ít tấm lợp fibro xi măng về,
vù cái, xong cái nhà Tiện quá Rẻ nữa
Thế là chả mấy chốc mất cả bao nhiêu câu chuyện lãng mạn nảy sinh từ con ngựa thồ (có người còn gọi là “văn hóa ngựa thồ” ấy), mất cả kiến trúc truyền thống Sự mất dần từng ít một đó chính là sự xâm lấn của văn minh đô thị Nó không phải chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân nào, nó sẽ làm biến đổi cả một vùng đất.” [20]
Quả thực, nhà văn Đỗ Bích Thúy trong mỗi tác phẩm của mình đều gửi vào đó những nỗi xót xa khi văn minh đô thị ào ạt tấn công “bóp nghẹt” những trong trẻo của bầu trời miền núi Đó là cái xót xa của người con dành cho những giá trị dân tộc Có thể nói, những trang viết của chị chính là lời cảnh báo những vẻ đẹp đang dần mai một
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 25 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tái hiện lại những xung đột văn hóa, Đỗ Bích Thúy đã đặt ra vấn đề về bảo tồn và gìn giữ văn hóa Với sự phát triển ồ ạt của các đô thị, cuộc tấn công của văn minh hiện đại lên các làng bản nguyên sơ mà thiếu đi sự bảo tồn và điều hòa với các giá trị truyền thống đang là câu hỏi thật sự khó Từ sự xung đột này, nhà văn đã tái hiện lại những bi kịch của thân phận con người Đỗ Bích Thúy đã viết về mảnh đất thân yêu của mình với tất cả tình yêu và sự đau xót Thân phận con người giờ đây không chỉ đối mặt với thiên tai với đói kém
mà còn cả sự nghi kị, ganh ghét, thù hằn nhau Cái tình nghĩa làng bản lại tối đi khi ánh điện trở về, khi các con phố mọc lên và hàng chợ mở khắp nơi Tiếng sáo gọi bạn tình giờ khắc khoải khi đối mặt với những chiếc đài cầm tay – sản phẩm của văn minh công nghiệp Những trang viết cứ hoang hoải buồn trước
sự xâm lấn của văn minh đô thị, sự xâm lấn đó đang dần làm mất đi chất thơ của cuộc sống con người nơi mảnh đất này
Sau tất cả nỗi đau ấy, thông điệp của nhà văn gửi tới người đọc là trái tim biết yêu những giá trị truyền thống, là vấn đề đặt ra với con người khi bảo tồn
và gìn giữa văn hóa, là câu hỏi để hòa hợp được những vùng đất khác nhau, giữa truyền thống và hiện đại
Ở phần lý thuyết này chúng tôi chỉ xin khái lược một vài phương diện cơ bản về văn hóa xuất hiện trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy Với những phương diện cơ bản đó, luận văn sẽ chia thành nhóm văn hóa cụ thể như văn hóa sinh hoạt gia đình, văn hóa sinh hoạt cộng đồng, văn hóa nghệ thuật truyền thống và biểu tượng văn hóa để khảo sát kĩ trong chương 2
Tóm lại, truyền thống và hiện đại là hai mặt luôn hiện diện trong đời sống của mỗi quốc gia, dân tộc, trên mọi lĩnh vực của quá trình phát triển Trong đó, bao gồm cả lĩnh vực văn hóa- vốn được xem là nền tảng tinh thần của xã hội Tuy là hai mặt khác nhau, nhưng truyền thống và hiện đại không tồn tại một cách tĩnh tại, độc lập mà luôn có sự liên hệ, tác động lẫn nhau, vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, có sự vận động, phát triển và dẫn đến sự hình
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 26 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành diện mạo văn hóa của một dân tộc Chính vì vậy mà mối liên hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa đã trở thành vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia Điều đó càng trở nên đặc biệt quan trọng ở những quốc gia đang phát triển, vốn đã mang trong mình những giá trị văn hóa tích lũy qua suốt chiều dài lịch sử, nay lại đang đứng trước sự nghiệp hiện đại hóa và cả mặt trái của nó Nếu không xác định đúng và đầy đủ sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển văn hóa, chúng ta sẽ không thể phát huy được vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Tiểu kết
Ở chương một này, chúng tôi tập trung vào những vấn đề lý thuyết cơ bản về văn hóa và mối quan hệ giữa văn học, văn hóa Có thể khẳng định rằng, với văn học cần có một cái nhìn lý giải từ văn hóa, cần đặt trong moi trường văn hóa để thấy những “tầng vỉa” ý nghĩa ẩn sâu trong đó Cái nhìn văn hóa không chỉ giúp nghiên cứu văn học cụ thể và sinh động hơn mà nó còn phù hợp với xu hướng thời đại Việc nghiên cứu liên ngành mở rộng ra những “chân trời” không chỉ có ý nghĩa với khoa học mà còn có ý nghĩa cả với cuộc sống Chúng tôi dành một phần nhất định để tìm hiểu về cuộc đời và quan niệm sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy thông qua các phương diện văn hóa cơ bản Đây chính là cơ sở để người viết có thể khảo sát kĩ lưỡng vào từng tác phẩm cụ thể ở chương 2
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 27 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
Văn hóa là một phạm trù rộng và phức tạp Nó không phải là những đơn
vị cụ thể để đo đếm chính xác Ở chương hai này chúng tôi chia văn hóa thành các nhóm để khảo sát như văn hóa sinh hoạt gia đình, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa nghệ thuật truyền thống, biểu tượng văn hóa nhưng giữa các nhóm này cũng luôn có sự vận động, xuyên thấm vào nhau Nói cách khác sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối để tiện cho việc khảo sát
2.1 Văn hóa gia đình
Gia đình là hạt nhân cơ bản của mọi xã hội, là nơi lưu giữ một cách chắc chắn nhất các giá trị truyền thống Nghiên cứu văn hóa , nguồn gốc văn hóa bắt nguồn từ mỗi “hạt nhân” xã hội Trong các sáng tác của mình, nhà văn Đỗ Bích Thúy đã tái hiện lại được những nét đẹp văn hóa từ mái nhà , gác bếp, từ bữa cơm gia đình của đồng bào miền núi đến những quan niệm lạc hậu đến bao bi kịch gia đình Chính điều đó đã tạo nên những sắc màu văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Văn chương nghệ thuật sinh ra để lưu giữ những vẻ đẹp Với sức sống của nó, các giá trị văn hóa được phô bày, được tô điểm, đặc biệt là những giá trị tôn vinh con người, tôn vinh lối sống tử tế Đỗ Bích Thúy đã có những trang viết về miền núi không quá dữ dội như Cao Duy Sơn mà đằm thắm giàu nữ tính
Văn chương của chị đầy tinh tế với cái nhìn hết sức đời thường Cái nhìn nhân bản của chị nằm ở những giá trị đời thường như hôn nhân
“Đã uống chén rượu vợ chồng, không đón dâu nhưng ông chú họ xa cũng đã quay con gà ba vòng trên đầu Sương, thế là Sương được con ma nhà chồng giữ hồn cho rồi” [34;55]
Có thể nói, trong tâm linh người miền núi luôn tin vào một sự gắn bó vô hình trong các mối quan hệ gia đình Sự gắn bó nhìn ở một phương diện tâm linh nào đó thể hiện mối liên hệ bền vững giữa con người với nhau Nhân vật
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 28 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sính trong truyện “Cái ngưỡng cửa cao” được gắn kết với người vợ của mình bằng nghi lễ giản đơn như vậy nhưng cái nếp nghĩ của Sính- một người miền núi lại đặt trong sự va chạm với Sương- người miền xuôi lại tạo ra sự rạn vỡ Ngay từ đám cưới của hai người nhà văn Đỗ Bích Thúy đã tái hiện sự xung đột văn hóa
“Ngày Sính cưới Sương, nhà gái không có ai, chỉ có mấy cô giáo ở điểm trong, điểm ngoài đến dự Đấy cũng là đám cưới đầu tiên ở Sủng Tráng cô dâu không mặc váy cưới, cũng không có lễ đón dâu Cả bản đến hết, cả những người quên không mời cũng đến” [34;54]
Cái đám cưới với khao khát giữ chân cô giáo người Kinh của người Sùng Tráng cũng không thể giữ được Sương Văn hóa khác biệt tạo nên nỗi đau trong cả hai người Đó không chỉ là nỗi đau của một cô giáo lên vùng cao dạy học trong mất mát tình yêu mà còn là vết rạn của xung đột văn hóa trong nếp sống gia đình
“Sương vẫn là con dâu người Kinh Xe lanh thì rối, dệt lanh thì lỗi, đồ sôi lúc nào cũng cho muối…[34;63] Mọi thứ đều xa lạ với Sương từ những công việc giản dị cho đến không gian sống Một thế giới lạ lẫm làm tình yêu của cô cũng đầy sợ hãi “Nhưng sáng ra nhìn núi cao ngất trời như một sự bủa vây, như một sự cầm tù, mọi thứ hoang dại hẳn đi trong mắt cô Ngay cả luống cải xanh ngắt cao ngồng mọc trên những luống đất rốc đen sẫm tro bếp cô cùng cảm thấy nó không phải thứ rau xanh dành cho cô” [34;66]
Đỗ Bích Thúy thực sự là nhà văn có con mắt quan sát tinh tế, kỹ lưỡng Đặc biệt trong việc tái hiện các phong tục về hôn nhân, chị luôn mô tả rất chi tiết Đó có lẽ là tình yêu của chị dành cho những nét đẹp đầy chất thơ của đồng bào miền núi
“Thế là thành lệ rồi Trước, đi đám cưới, người làng có gì thì mang nấy, chục con gà con nhốt trong lồng làm giống cũng được, một cái chảo cũng được, thậm chí nhà nghèo quá thì vót cho mấy cái cặp bếp, mấy cái muôi, thìa gỗ” [34;81]
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 29 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chất thơ trong đời sống của người miền núi nặng về tình cảm Trong các mối quan hệ, tình cảm chính là sự gắn kết bền chặt, cố kết họ với nhau Đặc biệt, văn hóa gia đình được thể hiện rõ trong những quan niệm, nếp nghĩ Nếp nghĩ ấy giản dị mà đầy tình người Nó gắn bó với không gian gia đình
Nhìn chung trong văn hóa Việt hay văn hóa của đồng bào thiểu số, gia đình luôn là nơi mà con người ta hướng về Lối sống duy tình không chỉ hiện rõ trong các sáng tác miền xuôi mà trong văn chương miền núi càng thể hiện rõ nét Tình nghĩa thủy chung được gắn chặt với quan niệm về vợ chồng, gia đình
Đó có lẽ là khởi nguồn của nét đẹp văn hóa Nhân vật Sính trong “Cái ngưỡng của cao” biểu hiện rõ quan niệm này Anh yêu vợ Dù vợ bỏ đi nhưng nỗi nhớ, tình yêu trong anh không thể ngừng được Đó là tình yêu chung thủy, tình yêu hồn nhiên, mãnh liệt của người miền núi
“Cô giáo Sương hơn Sính hai tuổi Mặc kệ, hơn hai chứ hơn mười tuổi cũng thế thôi” [34;64] Tình yêu hồn hậu của người miền núi không cần quá nhiều lễ nghi hay toan tính Nó bộc trực và thẳng thắn Yêu là yêu mà nhớ là nhớ Tâm trạng của nhân vật Sính trong tác phẩm luôn cồn cào như bị thiêu đốt: “Sính nhớ vợ quá mà Cái giường nằm một nửa, nửa kia có gối mà không
có người, gió chạy rầm rập trên mặt chiếu hoa” [34;53] Cảm nhận tình yêu được nhà văn mô tả với nhiều cũng bậc tinh tế càng làm bộc lộ tình cảm chân thành của con người miền núi: “Trong nhà chỗ nào cũng có dấu tay Sương Từ cái nồi đến bộ ấm chén uống chè Trong bụng Sính lúc nào cũng như có người
đổ rượu mạnh vào, rồi thả thêm một que diêm đang cháy nữa Chỉ có rượu bị đốt cháy mới bỏng thế Không biết vợ mình đang ở đâu, có ai làm gì xấu cho
vợ mình không” [34;54]
Có thể nói sức hấp dẫn của truyện ngắn Đỗ Bích Thúy một phần nằm ở những lối sống truyền thống, những vẻ đẹp văn hóa giản dị trong cư xử giữa người với người, những mối tình gắn bó thủy chung Trong xã hội đang biến động dữ dội, tình yêu trở nên mong manh và dễ vỡ thì văn Đỗ Bích Thúy vẫn
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 30 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lưu giữ tình nghĩa bền chặt Sính đã có thể tìm thấy tình yêu với Vi nhưng ký
ức với Sương đã giữ anh lại Trong đau đớn, Sính vẫn bộc lộ nét đẹp của tình nghĩa thuỷ chung:
“Vi lần tìm hai bàn tay Sính, nắm lấy nó Sính đã để yên vì không còn sức gỡ ra Bất chợt Sính chồm dậy hất Vi ngã sang một bên Chiếc vòng Không có chiếc vòng, cánh tay Vi trơn như một con rắn…” [34;70]
Văn hóa trong sinh hoạt gia đình còn được nhà văn Đỗ Bích Thúy thể hiện không chỉ qua các mối quan hệ với con người mà còn qua các nghi lễ tâm linh với người chết, với đồ vật, động vật
Nếu những nét văn hóa trong hôn nhân gia đình khiến con người ta gắn kết thủy chung thì những phong tục giành cho người chết thể hiện một niềm tin
về một thế giới khác
“Theo phong tục người Tày, mỗi dòng họ trong bản đều có một khu rừng dành riêng cho người chết, bọn trẻ trâu chúng tôi gọi là rừng mả… Khi có người chết, trong nhà mồ bao giờ cũng có đủ thứ tối thiểu cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày - nồi niêu, gạo, muối…còn thêm cả một con gà trống cho có bạn” [34;130]
Cái niềm tin vào một thế giới khác, sự chu toàn với người đã khuất cũng thể hiện nét đẹp nhân văn của người miền núi Đằng sau cái chết là điều gì? Thực sự cũng không ai biết nhưng niềm tin ngàn đời truyền lại đó phải chăng khiến người sống tử tế hơn
So sánh với các nhà văn viết về miền núi khác như Cao Duy Sơn, chúng
ta có thể thấy rõ sự khác biệt với sáng tác của Đỗ Bích Thúy Nhà văn Cao Duy Sơn thường tái hiện bức tranh văn hóa thiên về vật chất hơn là tinh thần: “Ngôi nhà của Vương được cất lên từ thời cụ nội Nó nằm sâu trong hẻm của phố Cũ Tuy không đồ sộ như những ngôi nhà hiện đại ngoài mặt phố nhưng nó luôn tạo cho anh cảm giác thư thái và vô cùng gắn bó mỗi khi mở cửa bước vào Nhiều lúc nhắm mắt lại anh như nghe có tiếng nói của các thế hệ trong ngôi
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 31 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhà này… đến tường và trần nhà được ghép bằng gỗ đinh nên nước đen bóng, luôn tạo một cảm giác yên tĩnh dễ chịu” [52,13] Về các sáng tác của Đỗ Bích Thúy lại bám sát cả vào những khía cạnh mang màu sắc văn hóa tinh thần Tuy nhiên, cả hai nhà văn đều gặp nhau ở một điểm đó là sự trân trọng với các giá trị truyền thống
Trong văn hóa sinh hoạt gia đình, chúng tôi xếp vào mục này cả những yếu tố liên quan đến lao động sản xuất bởi ở miền núi, các con vật gắn bó loài người cũng được coi như một thành viên trong gia đình Chẳng hạn trong cách đối xử với con ngựa, nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng cho thấy nếp sống đọc đáo của đồng bào dân tộc:
“Người Mông nuôi ngựa không ai muốn bán, cũng không bao giờ đem giết thịt như con dê, con lợn Ngựa ở với người mãi, đến lúc không mong được thứ gì trên lưng nữa thì nghỉ ở nhà, cùng với người già, không ai bắt lên nương, xuống chợ nữa Già quá thì chết, chết được chôn Ở chợ thỉnh thoảng có bán thịt ngựa chỉ là ngựa ngã núi, không cứu sống được nữa mới đem mổ thịt mà thịt ngựa ấy mổ ra rồi cũng chỉ có người nơi khác đến mua, người trong bản không ai ăn” [34;229]
Con ngựa thồ là một vẻ đẹp của văn hóa miền núi Nó cần mẫn, thủy chung như phẩm chất của đồng bào nơi đây Giữa người và ngựa luôn có sự gắn bó bền chặt Ngựa thành một thành viên trong gia đình, được đối đãi như con người Hay như loài chó trong quan niệm của người dân tộc cũng được coi
là người bạn Việc không giết thịt chó phản ảnh lối sống tình nghĩa với cả những gì nhỏ bé, gần gũi, phản ánh quan niệm sống có trước có sau của người dân vùng cao
“Bao đời nay, con người Pụ Cháng, Pụ Dín nuôi chó giữ nhà, giữ nương, coi nó như bạn Chó lớn lên cùng với người Có con chó giữ cửa, người lớn đi làm cứ để trẻ con ở nhà không phải lo gì Đến mùa hè bẻ ngô, nhổ sắn, mang theo con chó lên nương làm nhà cho nó ở, rồi người cứ về nhà mà ngủ Trẻ con
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 32 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có khi bị đánh vì hư, nhưng con chó một câu chửi cũng không phải nghe Cứ ở với người mãi, chó mẹ già ống, lông rụng, nằm một chỗ, thì chó con đã kịp lớn lên cả đàn Cần tiền đến đâu cũng chỉ bán con gà, con lợn, không ai bán chó bao giờ” [34;411]
Bởi vì những con vật này gắn bó với người, cách đối xử với loài vật cũng
là một nét đẹp trong văn hóa nơi đây Đó là sự biết ơn, là tình nghĩa Sự thật thà, chung thủy, trước sau như một của đồng bào dân tộc là nét đẹp khiến những trang văn của Đỗ Bích Thúy đi vào lòng người kỳ lạ
Trong những sáng tác của mình, Đỗ Bích Thúy không chỉ tái hiện những nét văn hóa đẹp mà còn phê phán những hủ tục Chính những quan niệm lạc hậu, lỗi thời đã gây ra biết bao bi kịch gia đình trên mảnh đất này Đó là quan niệm trọng nam khinh nữ mà Đỗ Bích Thúy thể hiện trong “Gió không ngừng thổi”:
“Bà già khóc nấc lên, hai giọt nước mắt hiếm hoi lăn ra từ hai mắt trũng sâu Bằng mọi cách phải có một đứa con trai, phải giữ được đất của họ Thào ở Lũng Pục, phải có người thờ cúng tổ tiên, nhớ chưa” [34;35]
Cái áp lực vô hình luôn đeo đẳng trên đầu người phụ nữ miền núi Từ cái phong tục này dẫn đến rất nhiều những nét văn hóa lạc hậu, lãng phí:
“Ở bếp có con ma bếp, ma bếp cai quản việc sinh đẻ của đàn bà và phù
hộ cho việc chăn nuôi gia súc…ngày Kía đẻ con Sèn bố mẹ chồng làm một cái
lễ cúng ma buồng to lắm, to như cúng cho một thằng cháu trai” [34;35]
Không chỉ tạo ra sự lãng phí trong thờ cúng mà quan niệm trọng nam khinh nữ còn tạo ra những bi kịch thương tâm trong gia đình Nỗi đau, sự ám ánh tội lỗi chụp lên đầu người phụ nữ mà cụ thể ở đây là nhân vật Kía vẫn chưa
có con trai Nó như một món nợ để rồi Kía phải cố gắng làm lụng, cố gắng bù đắp cho điều đó bằng việc làm “hùng hục”
“Ngày ngày Kía hùng hục giành làm hết việc nhà, lúc nào cũng dựng sẵn một can rượu ngô ở góc nhà và vài tảng thịt khô trên gác bếp để chồng gọi bạn đến chơi Kía sợ chồng buồn, buồn lắm, vừa buồn vừa thương bố mẹ chồng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 33 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chết chưa nhắm được mắt, thương chồng sắp đến tuổi ông mà chưa được làm
bố một thằng con trai” [34;36]
Người phụ nữ bị mặc định đó là tội lỗi họ tự vơ hết nỗi đau và nỗi buồn vào trong mình Thậm chí họ còn đành lòng đi tìm người đàn bà khác cho chồng mình
Trong truyện ngắn “Tràng A Khành” nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng dành một tình cảm tương tự cho thân phận của người phụ nữ miền núi như vậy Trong câu chuyện này, bà vợ già cũng vì không sinh được con trai nối dõi mà đau khổ Cái áp lực ấy bao trùm cả gia đình:
“Nhưng không có con trai được, cố mười năm rồi, sắp thành miếng thịt trong nồi thắng cố rồi cũng có được gì đâu Lại thương bà vợ già không bỏ được”.[34;45]
Nếu những nét đẹp trong hôn nhân gia đình càng tình nghĩa, thủy chung bao nhiêu thì cái hủ tục khiến con người ta xa nhau càng đau đớn bấy nhiêu Bà
vợ già trong truyện nuốt nước mắt vào trong mà đích thân dắt con bò đẹp nhất cho chồng đi xin một thằng con trai ở người đàn bà khác:
“Và ông mang con bò đi thật Thậm chí bà vợ già còn chọn cho ông con
bò đẹp nhất đàn, con bò vàng có cái đốm nâu giữa trán, tiễn ông tới tận chân núi Chí Sán, còn đứng nhìn theo ông mãi Ông cũng vừa dắt bò, vừa ngoái lại nhìn vợ Từ rất xa vẫn nhìn thấy tấm váy dày bị gió thổi xòe ra rực rỡ Nhưng cũng từ xa, ông không nhìn thấy trên hai gò má hây hây hồng có những giọt nước mắt đang nối nhau chảy” [34;47]
Người đàn bà giấu đi những giọt nước mắt và thân phận của họ là nỗi đau nhức nhối trong văn Đỗ Bích Thủy Những quan niệm lạc hậu đã giết chết mái ấm gia đình Đằng sau những giọt nước mắt kia, người viết tự hỏi đó là bao nhiêu đêm không ngủ, là bao nhiêu tiếng thở dài
Có thể nói, vấn đề trọng nam khinh nữ trong văn hóa của đồng bào dân tộc được nhà văn Đỗ Bích Thủy dành cho mối quan tâm đặc biệt Chị đã thể
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 34 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hiện trên nhiều trang viết nỗi đau và sự đồng cảm với người phụ nữ trong bi kịch gia đình Trong tác phẩm “Những buổi chiều ngang qua cuộc đời”, nhà văn cũng tái hiện nỗi đau đó:
“Tôi quay mặt vào vách Tôi đã sinh liền bốn đứa con gái Chồng tôi thì mong có một thằng con trai Như mọi người đàn ông khác ở làng, anh lo thiếu người đội mũ rơm, chống gậy Chỉ có một nỗi đợi chờ ấy thôi mà tôi không làm được” [34;257] Những hủ tục, những quan niệm sống lạc hậu là sợi dây trói vô hình thân phận người phụ nữ Đỗ Bích Thúy đã tái hiện được những mảnh đời chân thực qua những hủ tục này: “Nhà không có con trai, sau chẳng đỡ đần gì được cho làng thì đến cả mở miệng cũng không dám lớn tiếng, huống hồ đòi mảnh đất cắm cọc” [34;264]
Nếp nghĩ lạc hậu trong văn hóa đồng bào dân tộc được viết ra tự nhiên không hề có phê phán, soi xét mà đơn giản chỉ là sự cảm thông và xót xa Có lẽ trong ứng xử văn hóa, trong văn chương sự cảm thông ấy là cần hơn cả
Ngoài việc tái hiện những bi kịch gia đình thông qua hủ tục trọng nam khinh nữ, nhà văn còn phản ánh những nét văn hóa tiêu cực khác trong cúng bái tang ma đầy lãng phí của người miền núi Nó là một nguyên nhân khiến đồng bào dân tộc đã nghèo lại càng nghèo, đã khổ lại càng khổ:
“Sau khi làm hai đám ma, trong nhà tôi hầu như không còn gì Bò, dê,
gà, lợn mổ để thầy mo cúng lễ hết, ngô lúa cũng hết” [34;341]
Con người miền núi luôn đói nghèo do thiên nhiên khắc nghiệt mà cũng
do những tập tục, quan niệm lạc hậu như vậy Cái thế giới tâm linh một mặt khiến họ sống tử tế, lo chu toàn cho người đã khuất một mặt lại làm khánh kiệt
họ Nỗi khổ bao giờ cũng xuất phát từ đói nghèo
Trong các trang viết của mình, Đỗ Bích Thúy không chỉ tái hiện các nét văn hóa truyền thống trong gia đình mà còn phản ánh những xung đột dữ dội của kinh tế thị trường, văn minh đô thị với những giá trị truyền thống đó như chị từng tâm sự: “Trong những tác phẩm của mình, tôi đã từng đề cập đến sự