Dưới đây đề cập đến quá trình nghiên cứu về Trung Quốc tronghơn 10 năm gia nhập WTO trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường qua các sách, báo và một số nguồn tư liệu trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ TRỌNG ANH
TRUNG QUỐC TỪ KHI GIA NHẬP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - WTO
ĐÉN NAY (2001 - 2012)
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC LỊCH sử
NGHỆ AN-2013
Trang 2VÕ TRỌNG ANH
TRUNG QUÓC TỪ KHI GIA NHẬP
TỎ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - WTO
ĐÉN NAY (2001 - 2012)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giói
Mã số: 60.22.50
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC LỊCH sử
Người hướng dàn khoa học:
PGS TS NGUYỄN CÔNG KHANH
NGHỆ AN-2013
Trang 3Tác giả luận văn xin đuực bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Nguyễn Công Khanh, người đã luồn tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin được nói lời cảm on trân trọng tới các thầy cô giáo, trong Khoa Lịch sử trường Đại học Vinh, đã cỏ những ỷ kiến đóng góp quan trọng, quan tâm và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi cũng muốn nói lời cảm on tới các cơ quan, tạp chí, các Viện Nghiên cứu, thư viện đã giúp đỡ tôi nhiều về mặt tư liệu.
Cuối củng, tỏi xin gửi tới gia đình, cơ quan Phòng Giáo dục và Đào tạo Anh Sơn và những người bạn tot, lời biết ơn sâu sắc và sự cảm thông chia sẻ.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năn 2013
Tác giả
Trang 4A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tải 1
2 Lị ch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 M ục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Giới hạn của đề tài 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 B ố cục của luận văn 9
Chương 1 KINH TÉ TRƯNG QUỐC TỪ KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THÉ GIỚI ĐÉN NAY (2001 - 2012) 10
1.1 T ổ chức Thương mại thế giói và quá trình gia nhập của Trung Quốc 10
1.1.1 Khái quát về Tổ chức Thương mại thế giới 10
1.1.2 Xu thế hội nhập thế giới và chính sách hội nhập của Trung Quốc 14
1.1.3 Những cam kết và thực hiện cam kết của Trung Quốc khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới 21
1.2 Những thành tựu kinh tế cơ bản của Trung Quốc 10 năm sau ngày gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới 30
1.2.1 Tình hình kinh tế Trung Quốc trước năm 2001 30
1.2.2 Những thành tựu về kinh tế Trung Quốc từ khi gia nhập WTO trên các lĩnh vực cụ thể 33
Tiểu kết chương 1 51
Chương 2 NHỮNG CHUYỂN BI ÉN VÈ CHÍNH TRỊ - XẢ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRƯNG QƯÓC TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2012 54 2.1 về chính trị - xã hội 54
Trang 52.2.1 Công tác nghiên cứu lý luận và xây dựng đạo đức tư tưởng 74
2.2.2 Cải cách thể chế văn hoá 75
2.2.3 Sự điều chỉnh các chính sách văn hoá 78
2.2.4 Những vấn đề tồn tại và đang đặt ra trong lĩnh vực văn hoá từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay 89
Tiểu kết chương 2 93
Chương 3 MỘT SÓ NHẬN XÉT VÈ TÁC DỘNG CỦA WTO ĐÓI VỚI TRƯNG QUỐC TỪ 2001 ĐÉN 2012 96
3.1 Những thành tựu và hạn chế chính của Trung Quốc từ khi trở thành thành viên WTO đến nay 96
3.1.1 Thành tựu 96
3.1.2 Hạn chế 99
3.2 Triển vọng của Trung Quốc trong WTO 102
3.2.1 Thuận lợi 102
3.2.2 Khó khăn 106
3.3 Bài học kinh nghiêm qua hơn 10 năm sau ngày gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới của Trung Quốc 111
3.3.1 Bài học đối với Trung Quốc 111
3.3.2 Một số bài học kinh nghiệm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể tham khảo trong tư cách thành viên Tổ chức Thương mại thế giới 117
c KÉT LUẬN 121
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
E PHU LƯC
Trang 6APEC Hợp tỏc kinh tế châu Á - Thái Bỉnh DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATC Hiệp định về hàng dệt may và may mặcccc ủy ban họp tác về thuế Hải quan
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụGATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
TRIMs Các biện pháp đầu tư thương mại liên quanTRIPs Các lĩnh vực thương mại về quyền sở hữu trí tuệTRMs Cơ quan giám sát quá độ Trung Quốc
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Toàn cầu hoá đang là một xu thế khách quan, nổi trội của thời đạiđang mang lại những cơ hội hết sức to lớn cho tất cả các quốc gia trên thếgiới Bước vào thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nhân loại thực sự bước vào mộtgiai đoạn mới về “chất” của quá trình toàn cầu hoá Sau Chiến tranh thế giới
II, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đềtoàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chếđối với "thương mại tự do" Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thếgiới đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt độnghên kết kinh tế quốc tế Quá trình hên kết kinh tế quốc tế diễn ra ở nhiều cấp
độ khác nhau, từ liên kết tam giác, tứ giác phát triển đến liên kết khu vực như:
EƯ, ASEAN, NAETA, MERCOSƯR, liên khu vực như APEC, ASEM vàhên kết toàn cầu, trong đó, liên kết khu vực đóng vai trò quan trọng Nếu năm
1956 đánh dấu sự ra đời của liên kết khu vực đầu tiên là Cộng đồng kinh tếchâu Âu, thì trong thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX, hên kết kinh tế khu vực
đã trở thành làn sóng lan khắp các châu lục Hiện nay, trên toàn thế giới cókhoảng 24 tổ chức liên kết kinh tế khu vực có quy mô lớn với những mức độquan hệ khác nhau Tầm ảnh hưởng của chúng đến mức hầu như không cóquốc gia nào không là thành viên của một liên kết kinh tế quốc tế, nhiều quốcgia đồng thời là thành viên của nhiều tố chức liên kết kinh tế khác nhau Và,nếu khi mới ra đời, GATT chỉ có 23 thành viên với lĩnh vực điều tiết chủ yếu
là trong thương mại hàng hóa và còn giới hạn ở vấn đề thuế quan, thì đếntháng 3/2013, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO, tổ chức thay thế choGATT trước đây) đã là một tồ chức với 159 thành viên (Nga: 156, Tadịikistan:159), điều tiết hầu hết các lĩnh vực, khía cạnh của thương mại quốc tế Trong
Trang 8nền kinh tế toàn cầu, cùng với các quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ tăng lênmạnh mẽ là sự gia tăng nhanh chóng các dòng lưu chuyển của vốn đầu tư,công nghệ, kinh nghiệm quản lý, được đấy mạnh Vì vậy, tham gia vào quátrình toàn cầu hóa, các quốc gia có cơ hội to lớn trong việc thu hút nguồn vốnđầu tư nước ngoài, tiếp nhận được các công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinhnghiệm quản lý tiên tiến của thế giới, rút ngắn khoảng cách tụt hậu.
1.2 Đối với các nước đang phát triển như Trung Quốc, toàn cầu hóakinh tế sẽ tạo điều kiện cho quốc gia nhanh chóng tham gia vào quá trìnhphân công lao động quốc tế Từ đó hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý,hiệu quả và sức cạnh tranh cao, rút ngắn được tiến trình hiện đại hóa Sau 15năm kiên trì đàm phán, ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã chính thức trở thànhthành viên thứ 143 của WTO Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch
Dân đã nói rõ: “Gia nhập WTO là quyết sách chiến lược của Chính phủ Trung Ouổc trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, nó nhất trí với mục tiêu cải cách mở cửa và xây dụng thể chế kinh tế thị trường XHCN của Trung Quốc
Đây là sự kiện lịch sử quan trọng nhất trong năm đầu tiên của thế kỷ mới, đốivới Trung Quốc cũng như đối với WTO Gia nhập WTO cũng là sự kiện có ýnghĩa nhất kê từ khi Trung Quốc tiến hành cuộc cải cách kinh tế cách đây gần
một phần tư thế kỷ “ngoài việc chấm dứt 15 năm thương lượng, quan trọng hon, nỏ xác nhận một qiỉyết định tảo bạo của các nhà lãnh đạo Trung Ouổc, ràng buộc nước này vào một chuông trình cải cách kinh tể tiếp tục và rộng lỏm, những cải cách sẽ lan rộng sang hệ thong pháp lí và điều hành chính qiỉyền nước này ” [54, 14].
1.3 Có thể nói, hơn 10 năm gia nhập WTO, Trung Quốc đã bước vàotiến trình mậu dịch quốc tế theo nguyên tắc quy chế tối huệ quốc ổn định đaphương Với tư cách là một quốc gia đang phát triển, Trung Quốc được hưởngnhững chế độ ưu đãi thông thường do WTO quy định, tức là những đãi ngộ đối
Trang 9với những nước đang phát triển; đồng thời thuế quan và mức bảo hộ nhữngngành nghề còn yếu của Trung Quốc được WTO cho phép cao hơn nhữngnước phát triển Hơn nữa, sau ngày gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới,
Trung Quốc bước vào “Câu lạc bộ các nước đạt 1.000 tỷ USD về tông sản phấm quốc nội” Sau 10 năm gia nhập WTO, theo nhận định của các chuyên
gia và các nhà nghiên cứu kinh tế Trung Quốc, nhìn chung tình hình kinh tếcủa Trung Quốc ốn định, tăng trưởng cao, nguồn thu ngân sách tăng, các doanhnghiệp có khả năng cạnh tranh ngay tại thị trường Trung Quốc, đời sống củangười dân, kể cả nông dân được cải thiện đáng kể Nhiều tác động dự báo củaviệc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Trung Quốc được nêu trong các nghiêncứu trước đó đã không phản ánh đúng thực tế diễn ra Tác động tích cực vượtngòai dự tính; cái được là cơ bản Tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm đạt9,5% (năm 2006 ước đạt 10,5%) Trước năm 2001, Trung Quốc là nền kinh tếlớn thứ 6 thế giới; sau 10 năm, Trung Quốc đã đímg hàng thứ 2 thế giới Tỷtrọng của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới đã tăng từ dưới 4% cách đây
10 năm lên 9,3% năm 2010 Chất lượng hàng hóa của Trung Quốc được cảithiện nhiều đế đạt tiêu chuẩn quốc tế và ngành dịch vụ đã mở rộng với quy môchưa từng có Mức tăng trưởng thương mại của Trung Quốc cũng nhanh nhấtthế giới và hiện nay Trung Quốc là nước có giá trị thương mại lớn thứ ba sau
EU và Mỹ Kim ngạch thương mại lên tới 2.927,76 tỷ USD năm 2010
1.4 Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điếm tương đồng về mặt vănhóa và trong quá trình cải cách mở cửa, hiện đại hóa đất nước theo con đườngXHCN trong xu thế hội nhập chung vào nền kinh tế thế giới Thành công củaTrung Quốc trong cuộc cải cách mở cửa 1978, đặc biệt là sự gia nhập WTOvới những thành công vượt bậc là bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thểtham khảo Có thế thấy, sau hơn 10 năm tham gia vào ngôi nhà chung WTO,
đã có rất nhiều ảnh hưởng tới nền kinh tế Trung Quốc, tích cực có mà tiêu cực
Trang 10cũng có Trung Quốc cũng đã tận dụng đirợc nhiều cơ hội mà WTO đem lại
và ứng phó một cách tốt nhất với những ảnh hưởng tiêu cực không thể tránhkhỏi Trung Quốc đã vượt qua được những thách thức, nắm bắt được thời cơ
và đạt được những thành tựu lớn, bởi lẽ hội nhập với những đặc trưng là mở
cửa đê “cho” và “nhận” Đó là những điều mà Việt Nam có thể học tập khi
đã gia nhập và ở trong WTO
Với tất cả các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Trung Quốc từ khi gia nhập Tô chức thương mại thế giới - WTO đến nay (2001 - 2012)” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cún vấn đề
2.1 Dưới đây đề cập đến quá trình nghiên cứu về Trung Quốc tronghơn 10 năm gia nhập WTO trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường qua các sách, báo và một số nguồn tư liệu trong và ngoài nước mà tácgiả đã được tiếp cận sau đây:
- Đỗ Tiến Sâm, Lê Văn Sang trong Trung Ouổc gia nhập WTO và tác động đoi với Đông Nam Á (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002) đã trích lược
cuộc tọa đàm xoay quanh 18 báo cáo khoa học của các học giả trong và ngoàinước về việc Trung Quốc gia nhập WTO và tác động khu vực Đông Nam Á
- Đỗ Tiến Sâm với Trung Ouổc sau 5 năm gia nhập WTO (Nxb Từ điên
bách khoa Hà Nội, 2009) đã trình bày một cách khái quát những chuyển biếncủa Trung Quốc về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa từ khi gia nhập WTOđến 2005
- Tác giả Võ Đại Lược với Trung Ouổc gia nhập Tô chức Thương mại thế giới: thời cơ và thách thức (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004) đã giới
thiệu về tổng quan việc Trung Quốc gia nhập WTO, phân tích tác động TrungQuốc gia nhập WTO đối với bản thân Trung Quốc và đối với kinh tế Mỹ,Nhật Bản, EƯ, ASEAN
Trang 11- Lê Thu Hà với bài viết Kinh tế Trưng Quốc sau khi gia nhập WTO
(Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới 11/2005) trình bày những cái “được”
và “mất” từ khi Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO Bùi
Phóng có bài Kỉnh tế Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO (Tạp chí Kinh tế
Quốc tế số 5/2006) đã phản ánh tống quan sự phát triẻn của nền kinh tế TrungQuốc 5 năm sau khi gia nhập WTO
- Long Vĩnh Đồ (Tổng thư ký Diễn đàn Bắc Ngao, nguyên Thứ trưởng
Bộ Thương mại, Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc) vàRobert Poole (Phó Hội trưởng Ưỷ ban Mậu dịch Mỹ - Trung) đã trình bày tại
Diễn đàn Bắc Ngao ngày 7/11/2006 báo cáo: “Được và mất sau khi gia nhập WTO, đoi sách sau thời kỳ quá độ WTO của Trung Quốc” do Viện Nghiên
cứu quan sát kinh tế và trường Đại học Kinh tế Mậu dịch đối ngoại TrungQuốc đăng cai tổ chức
- Đào Thị Thành trong Luận văn Thạc sỹ Đại học Vinh, 2007 với đề tài
“Trung Quốc 5 năm sau ngày gia nhập tổ chức thương mại thế giới 2001-2006 ”
đã trình bày một cách có hệ thống quá trình Trung Quốc thực hiện cam kết vớiWTO về pháp luật thương mại, về lộ trình cắt giảm thuế và những thành tựukinh tế, xã hội của đất nước này cho đến 2005, thấy được những khó khăn củaTrung Quốc, rút ra được những bài học kinh nghiêm đế Việt Nam tham khảo
- Phạm Thái Quốc có bài “Thương mại Trung Quốc 10 năm gia nhập WTO", tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 10-122/2010), đã phân tích những
cải cách mạnh mẽ và quá trình thực hiện cam kết thương mại với WTO, thànhtựu kinh tế đối ngoại Đồng thời, tác giả đánh giá việc thực thi các chính sáchthương mại của Trung Quốc qua những thành công và hạn chế
- Nguyễn Thu Hạnh có bài Điều chỉnh chỉnh sách thu hút FDI của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO, (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 12-
112/ 2010) trình bày những nội dung điều chỉnh chính sách thu hút FDI bao
Trang 12gồm có chính sách pháp lý, chính sách tài chính và những chính sách khác.Tác giả cũng đưa ra một số nhận xét về quá trình điều chỉnh chính sách vàđánh giá những thành công và hạn chế của những chính sách này.
- Hoàng Thế Anh với “Một so van đề nôi bật trong tĩnh vực kinh tế-xã hội của Trung Ouoc trong 10 năm đầu thế kỉ XXL ” (Tạp chí Nghiên cứu
Trung Quốc, số 5-117/ 2011) trình bày những cải cách theo hướng thị trường
và vai trò của Nhà nước ứng phó với khủng hoảng tài chính tiền tệ, đề cập đếnmột số nét nổi bật về thành tựu của Trung Quốc cho đến năm 2010
Ngoài những công trình nghiên cứu và bài viết trên, từ 2001 - 2012 còn
có hàng loạt các bài viết đăng trên Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn
xã Việt Nam, Báo Thương mại, Báo Thế giới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế,Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Tạp chí Kinh tế Việt Nam viết về chủ đề:Trung Quốc gia nhập WTO và quan hệ giữa hai phía Đây là những nguồn tàiliệu quan trọng, có ý nghĩa cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi
2.2 Qua các bài viết, công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy:Những chuyến biến không ngờ của Trung Quốc sau ngày gia nhập WTO đã,đang và tiếp tục thu hút sự quan tâm của các giới nghiên círu Nhiều công trìnhnghiên cứu, bài viết đã phân tích khá sâu sắc một số vấn đề của việc TrungQuốc gia nhập WTO và Trung Quốc sau hưn 10 năm gia nhập WTO Đặc biệt,
từ các công trình nghiên cứu này, tác giả đã được tiếp cận với một hệ thống sốliệu khá phong phú về Trung Quốc sau hơn 10 năm gia nhập WTO Mặt khác,với một số lượng công trình, bài viết được tiếp cận từ nhiều góc độ; tác giảcũng có điều kiện tiếp thu, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện Từ đó, có thểđưa ra những kiến giải cá nhân khách quan và trung thực hơn
Tuy nhiên những tác phẩm này, bài viết nói trên chỉ đề cập về nhữngchuyến biến của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO một cách rải rác từnglĩnh vực, hoặc chưa đầy đủ và có hệ thống tất cả các chuyển biến kinh tế,
Trang 13chính trị xã hội và văn hóa trong suốt 10 năm, từ 2001 đến 2010 Tuy vậy,những công trình trên là nguồn tư liệu quan trọng để luận văn tiếp tục nghiêncứu và có những kiến giải vấn đề một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu,
chúng tôi xác định đề tài: “Trung Quốc từ khi gia nhập Tô chức thương mại thế giới - WTO đến nay (2001 - 2012) ” là một vấn đề khoa học hết sức cần
thiết để nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
3.1 Mục đỉcli
Nghiên cứu đề tài luận văn hướng đến tập trung một số vấn đề sau:
- Xem xét bối cảnh quốc tế và trong nước khi Trung Quốc gia nhập WTO
- Nghiên cứu quá trình Trung Quốc thực hiện cam kết với WTO vànhững chuyển biến kinh tế, chính trị, xã hôi và văn hóa 10 năm sau ngày gianhập WTO
Đề cập đến triển vọng kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay những thành tựu, hạn chế cũng như những thuận lợi, khó khăn trong nền kinh
-tế mở cửa hiện nay; Những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc sau hơn 10năm gia nhập WTO mà Việt Nam có thể tham khảo sau ngày gia nhập WTO
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ mà luận văn phải thực hiện
đó là: Trên cơ sở nguồn tài liệu tham khảo, tiến hành xác minh phân loại Từ
đó, phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống về Trung Quốc sau hơn 10 nămgia nhập WTO Tìm hiểu Trung Quốc sau hơn 10 năm gia nhập WTO, nhiệm
vụ của luận văn phải nêu lên được những tác động 10 năm sau ngày TrungQuốc gia nhập WTO và bài học kinh nghiệm có thê tham khảo cho Việt Nam
4 Giói hạn của đề tài
về mặt thời gian: Đề tài được giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian
(11/12/2001 - 11/12/2012), 11 năm là thời gian đánh dấu mốc lịch sử, đánh
Trang 14dấu sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ về xã hội Trung Quốc Tuy nhiên, luậnvăn cũng quan tâm đến những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài cho đếnnay (2013).
về nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu Trung Quốc sau hơn 10 năm
gia nhập WTO gồm những thay đổi về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội chođến nay Tuy nhiên, do tính chất của một đề tài sử học nên trong quá trìnhnghiên cứu, luận văn không thể không tìm hiểu những nội dung này trước,trong và sau ngày Trung Quốc gia nhập WTO, cũng như những bài học kinhnghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Các tư liệu, các công trình khoa học, luận văn nghiên círu về về kinh
tế, chính trị - xã hội và văn hóa Trung Quốc sau hơn 10 năm gia nhập WTO
- Các số liệu về sự phát triển ở Trung Quốc lưu trữ tại Bộ Thương mại,
Bộ Ke hoạch - đầu tư, Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Nghiên cứu TrungQuốc, Thông tấn xã Việt Nam
- Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học như: Nghiên cứu quốc tế,Nghiên cứu Trung Quốc, Tạp chí Cộng sản, Những vấn đề Kinh tế thế giới,Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Nghiên cứukinh tế
- Hệ thống tin bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên báo chí trong hơn 10năm (2001 - 2012) Báo Thương mại, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân,Báo Ngoại thương, Báo Kinh tế Việt Nam Nguồn tài liệu đặc biệt của Tuầntin tức Thông tấn xã Việt Nam trong các năm từ 2001 đến nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, về mặt phương pháp luận luận văn dựa trên quanđiểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối xây dựng nềnkinh tế thị trường của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 15về phương pháp nghiên cứu, mặc dù đây là đề tài nghiên cứu về lĩnhvực kinh tế, tuy nhiên nó được tiếp cận từ góc độ sử học do đó luận văn chủyếu vận dụng hai phương pháp truyền thống là phương pháp lịch sử vàphương pháp lôgic Tuy nhiên, cũng do đề tài về kinh tế nên luận văn cũngchú trọng nhiều hơn đến các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: thống
kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần đưa đến một cách nhìn tổng quát và sâu sắc hơndưới góc độ sử học về Trung Quốc sau hơn 10 năm gia nhập WTO Từ đó,đóng góp thêm cho người đọc về sự phát triển của Trung Quốc sau ngày gianhập WTO Đặc biệt, để phần nào mong muốn độc giả có thêm tài liệu thamkhảo khi nước ta đã gia nhập tổ chức này trong hơn 5 năm qua
- Luận văn bước đầu nêu được những tồn tại của kinh tế - xã hội củaTrung Quốc sau hơn 10 năm gia nhập WTO
- Được tiếp cận từ góc độ sử học, do đó đề tài có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo về lịch sử Trung Quốc trong hơn một thập niên đầu của thế kỷXXI trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luậnvăn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Kinh tế Trung Quốc từ khi gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giói đến nay (2001 - 2012)
Chương 2 Những chuyển biến về chính trị - xã hội và văn hóa
Trung Quốc từ khi gia nhập WTO trong giai đoạn 2001 - 2012
Chương 3 Một số nhận xét về tác động của WTO đối với Trung
Quốc từ 2001 đến 2012
Trang 16Chương 1 KINH TÉ TRUNG QUỐC TỪ KHI GIA NHẬP Tỏ CHỨC
THƯƠNG MẠI THÉ GIỚI ĐÉN NAY (2001 - 2012)
1.1 TỐ chức Thương mại thế giới và quá trình gia nhập của Trung Quốc
1.1.1 Khái quát về Tổ chức Thương mại thế giới
1.1.1.1 Sự ra đời Tô chức Thương mại thế giới
Sau Chiến tranh thế giới II, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế vàthương mại, cố gắng của nhiều nước nhằm điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh
tế quốc tế đã dẫn đến sự ra đời của các định chế tài chính quốc tế lớn nhưNgân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Đồng thời, hơn 50nước trên thế giới dự kiến thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với
tư cách là một tổ chức chuyên môn thuộc Liên Hợp Quốc Tháng 2/1946, Hội
đồng Kinh tế - Xã hội Liên Hợp Quốc triệu tập một “Hội nghị Liên Hợp Ouoc về Thương mại và Việc làm” với mục tiêu dự thảo Hiến chương cho
ITO Dự thảo Hiến chương thành lập ITO không những chỉ điều chinh cácquy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ănviệc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ
Công việc chuẩn bị cho Hiến chương này được các quốc gia tiến hànhtrong suốt 2 năm (1946, 1947) Từ tháng 4 đến tháng 10/1947, diễn ra mộthội nghị chuẩn bị toàn diện cho vấn đề này Tại hội nghị, bên cạnh việc tiếptục triển khai các công việc liên quan đến Hiến chương thành lập ITO, cácnước còn tiến hành đàm phán đê giảm và ràng buộc thuế quan đa phương.Trong vòng đàm phán đầu tiên, người ta đã đưa ra được 45.000 nhân nhượngthuế quan có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại giá trị khoảng 10 tỷUSD, tức là khoảng 1/5 tổng giá trị thương mại thế giới Các nước cũng nhất
Trang 17trí áp dụng “tạm thời” ngay lập tức một số quy tắc thương mại trong Dự thảoHiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân nhượng nói trên Ket quả
là, toàn bộ các quy định thương mại và các nhân nhượng thuế quan được đưa
ra trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreements on Taifand Trade - GATT) Theo dự kiến, GATT sẽ là một hiệp
định phụ trợ nằm trong Hiến chương ITO Chơ đến thời điểm cuối 1947,Hiến chương ITO vẫn chưa được thông qua Mặc dù vậy, các nước đềumuốn sớm thúc đấy tự do hoá thương mại, và bắt đầu khắc phục những hậuquả của các biện pháp bảo hộ còn sót lại từ đầu những năm 1930 Do đó,
ngày 23/10/1947, 23 nước đã ký “Nghị định thư về việc áp dụng tạm thời”(PPA), có hiệu lực từ 1/1/1948 Thông qua nghị định thư, GATT đã
được chấp nhận và thực thi
Trong thời gian đó, Hiến chương ITO vẫn tiếp tục được bàn thảo Cuốicùng, tháng 3/1948, Hiến chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị vềThương mại và Việc làm của Liên Hợp Quốc tại Havana (Cuba) Tuy nhiên,quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này Đặc biệt làQuốc hội Mỹ rất phản đối Hiến chương Havana (mặc dù Chính phủ Mỹ đãđóng vai trò rất tích cực trong việc nỗ lực thiết lập ITO) Tháng 12/1950,Chính phủ Mỹ chính thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông quaHiến chương Havana nữa, do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còntác dụng Và mặc dù chỉ là tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duynhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời
Từ khi GATT ra đời, đã diễn ra 8 vòng đàm phán thương mại Thời kỳđầu, các vòng đàm phán xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối vớihàng hoá nhập khâu Tuy nhiên, đến thập niên 80, phạm vi đàm phán đã được
mở rộng, bao trùm cả những vấn đề hên quan tới hàng rào bảo vệ phi thuế
Trang 18quan cản trở thương mại hàng hoá Nhờ vậy, vào khoảng giữa thập niên 90,tại các nước công nghiệp phát triển, thuế đánh vào hàng công nghiệp đã đượcgiảm xuống dưới mức 4%.
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối nhữngnăm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hoá kinh tế trở thành một lànsóng mạnh mẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với sự liên kết kinh tế giữacác quốc gia, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và
sự phát triển của KH-KT, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theokịp tình hình Mặc dù có ưu điẻm, nhimg GATT chỉ là một sản phẩm mangtính tạm thời mà bản thân nó còn nhiều hạn chế rất khó khắc phục Điều đóđòi hỏi các bên tham gia GATT cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng
hệ thống thương mại đa biên Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT vàcác hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật
để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới.Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bảngiải thích khác đã hợp thành GATT 1994 Một số hiệp định riêng biệt cũngđạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ vàcác lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của cácHiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá Vòng đàmphán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thươngmại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại Một trongnhững thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này là, cuối Vòng đàmphán Uruguay, các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tố chứcThương mại Thế giới
Ngày 1/1/1995, WTO chính thức đi vào hoạt động, góp phần tiếp tụcthe chế hoá và thiết lập một trật tự mới trong hệ thống thương mại toàncầu Như vậy, WTO không thay thế GATT mà đã kế thừa và phát triển
thêm từ GATT
Trang 191.1.1.2 Cơ cấu tô chức và chức năng, nguyên tắc pháp lý của WTO
Cơ cấu tổ chức: Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào
các Hội đồng, ưỷ ban của WTO, ngoại trừ cơ quan phúc thâm, các ban hộithấm giải quyết tranh chấp và các Uỷ ban đặc thù Cơ cấu quan trọng nhất của
WTO gồm có: Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng, Các Hội đồng thương mại, Các ủy ban và cơ quan, Các nhóm công tác và Ban thư ký.
WTO ngày càng lớn mạnh về cả số lượng lẫn chất lượng, ngày càng cónhiều nước đang phát triển xin gia nhập Nguyên nhân chính là trong quátrình thực hiện mục tiêu của mình, WTO đã tạo điều kiện cho các nước pháttriển và các nước có nền kinh tế chuyến đổi, mở rộng thị trường Bên cạnh đó,môi trường thương mại đa phương do WTO điều tiết sẽ giúp hạn chế nhữnghành vi phân biệt đối xử và hạn chế thương mại của các nước phát triển đốivới hàng hoá các nước đang phát triển
Chức năng: WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý,
điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệpđịnh đa biên của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản
lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên; là một diễn đàn chocác cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về những quan hệ thương mại đabiên trong khuôn khổ những quy định của WTO Là diễn đàn cho các cuộcđàm phán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đa biên;đồng thời WTO là một thiết chế đế thực thi các kết quả từ việc đàm phán đóhoặc thực thi các quyết định do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra; sẽ thi hành Thoảthuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp giữacác thành viên; thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nướcthành viên); Đe đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan diêm trong việc tạo lậpcác chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ họp tác với IMF, WB
và các cơ quan trực thuộc của nó
Trang 20Nguyên tắc pháp lý: Tổ chức WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc
pháp lý cơ bản làm nền tảng là: Nguyên tắc tối huệ quốc: Nguyên tắc đãi ngộquốc gia; Nguyên tắc mở cửa thị trường và Nguyên tắc cạnh tranh công bằng.Bốn nguyên tắc trụ cột của WTO thể hiện bước tiến dài trên con đường dânchủ hoá các quan hệ kinh tế và tạo lập một môi trường kinh tế quốc tế
1.1.2 Xu thế hội nhập thế giới và chỉnh sách hội nhập của Trung Quốc
1.1.2.1 Xu thế hội nhập thế giới
Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, sự phát triển của nền kinh tếthế giới đã chịu sự tác động sâu sắc của một loạt những xu thế mới Đó là xuthế phát triển CM KH-CN, quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới
và xu thế chuyến từ đối đầu sang đối thoại giúp cho lực lượng sản xuất đượcquốc tế hoá cao độ Thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ và ngày càng giữmột vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế thế giới
về cách mạng KH-CN, những đột phá trong lĩnh vực tin học, sinh học,
vũ trụ học, đại dương học, quản lý đã thúc đây sự ra đời của thời đại kinh tếtri thức Trên cơ sở đó, kết cấu kinh tế thế giới bắt đầu có những thay đổi lớn,nổi bật là sự thay đối kết cấu ngành nghề, trong đó ngành dịch vụ hiện đại sửdụng những lao động có trí tuệ liên quan đến xử lý thông tin, tri thức ngàycàng tăng Sự chênh lệch ấy là nỗi nhức nhối của các nước chậm tiến, song nócũng là sự bức bách buộc các nước biến thách thức thành cơ hội, tận dụng sựphân công lao động quốc tế ngày càng mở rộng để sử dụng các nguồn lực cònchưa khai thác của mình trong sản xuất và trao đối hàng hoá, dịch vụ trongkhu vực và trên quốc tế Các công ty xuyên quốc gia ngày càng được nângcao, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới; tầm hoạtđộng mới của các công ty xuyên quốc gia đã thúc đây quốc tế hóa sản xuất,quốc tế hoá nền kinh tê thê giới phát triến nhanh chóng
Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế lớn phản ánhđòi hỏi, bức xúc của các quốc gia, dân tộc vì sự phát triển kinh tế giữa các
Trang 21nước Thế giới đang xây dựng nền kinh tế với những chính sách hợp tác, hộinhập quốc tế sâu rộng, trong đó chú trọng đến hiệu quả và tăng sức cạnh tranhcho các nền kinh tế.
Khi toàn cầu hoá đang trở thành xu thế khách quan thì yêu cầu hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên cấp bách Toàn cầu hoá kinh tế làmột xu thế mới của quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình
độ phát triển cao của nền sản xuất, phân công lao động quốc tế và việcquốc tế hoá sản xuất trở nên phổ biến Đặc điểm quan trọng của toàn cầuhoá là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, trong đónền kinh tế của các quốc gia chỉ là các bộ phận có quan hệ tương tác lẫnnhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú Bất kỳ một quốc gia nàokhi tham gia vào kinh tế quốc tế đều có thể thu được lợi ích nếu quốc gia
đó biết tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những sản phâm thể hiện mốitương quan thuận lợi hơn về mặt chi phí so với các quốc gia khác Do vậy,chỉ những quốc gia nào bắt kịp xu thế này, biết tận dụng thời cơ, vượt quathách thức mới có thể đứng vững và phát triển Quốc gia nào không thựchiện hội nhập tức là đã tự loại mình ra khỏi lề của sự phát triển Nói cáchkhác, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một tất yếu khách quan Tiếntrình toàn cầu hoá được biểu hiện rõ rệt nhất ở xu thế ngày càng tăng của tự
do hoá thương mại Các cuộc đàm phán và các cuộc “mặc cả toàn cầu” diễn
ra ở nhiều cấp độ: song phương, đa phương (khu vực và toàn cầu), do tácdụng thực hiện tự do hoá thương mại, xúc tiến đầu tư, hợp tác chuyển giaocông nghệ, nâng cao hiệu suất thủ tục hải quan và trong đó vai trò củaWTO là không thể thiếu Với 147 nước thành viên và nhiều nước đang đàmphán để gia nhập Tổ chức Thương mại lớn nhất toàn cầu này, điều tiết 90%khối lượng thương mại thế giới, có vai trò quan trọng trong các hoạt độngkhác như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư [94] ơ đây còn phải kê
Trang 22đến sự gia tăng các liên kết kinh tế thế giới, sự lưu chuyển tự do các nền tàichính đang được quốc tế hoá, sự vận dụng và phát triển của thương mạiđiện tử đang làm cho khái niệm về không gian và địa điểm của thị trườngmất dần ý nghĩa, làm cho nền kinh tế các nước không chỉ liên hệ, giao lưu
mà còn đan xen, dung hợp lẫn nhau, hình thành một nền kinh tế toàn cầu.Đến nay, trên thế giới có hơn 200 thoả thuận hợp tác khu vực và tiểu khuvực với mục tiêu tự do hoá đã cho thấy tự do hóa là xu thế không thể đảongược và quốc gia nào không chấp nhận nó thì sẽ bị đẩy ra quỹ đạo hoạtđộng của nền kinh tế toàn cầu
Ngoài những đặc điểm nổi bật nhất có tác dụng chi phối nền kinh tế thếgiới và các quốc gia như vừa nêu thì còn có những đậc điểm khác cũng có tácdụng quan trọng như các vấn đề lương thực, năng lượng, chủ nghĩa khủng bốquốc tế, các vấn đề an ninh phi truyền thống (môi trường, nghèo đói, bệnhdịch, tội phạm ma tuý ), đang là nguy cơ lớn đối với sự phát triển kinh tế thếgiới ngày càng trở thành các mối quan tâm toàn cầu
Tất cả các đặc diêm ké trên đòi hỏi sự liên kết và đóng góp của mọiquốc gia trong việc chung sức giải quyết khó khăn mâu thuẫn, đồng thời cũngtạo điều kiện đê các quốc gia được chung hưởng mọi lợi ích mà hoàn cảnhquốc tế tạo ra
1.1.2.2 Chỉnh sách hội nhập của Trung Quốc
Giới lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng: trong tiến trình thúc đấytoàn cầu hoá kinh tế, WTO đóng vai trò rất quan trọng, gia nhập WTO giúpTrung Quốc tham gia sâu hơn vào quá trình toàn cầu hoá Hơn nữa, TrungQuốc - một cường quốc với dân số bằng 1/5 dân số thế giới, diện tích đứngthứ ba thế giới và là một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thếgiới, cường quốc thương mại đứng thứ 4 thế giới thì không thê đứng ngoài tổchức “Liên Hợp Quốc” về kinh tế này Ngược lại, WTO sẽ không hoàn chỉnh
Trang 23nếu như không có sự tham gia của Trung Quốc Vào WTO trong bối cảnh khingười Trung Quốc cho rằng đó là lúc sự phát triển cúa Trung Quốc không thểtách khỏi thế giới, sự phát triển của thế giới cũng không thể tách khỏi TrungQuốc Trước khi vào WTO, Trung Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi, tạođược nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường XHCN.
- Trung Quốc đã tạo được những tiền đề chính trị cho kinh tế pháttriển và xã hội tiến bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hình thành đượcđường lối cải cách mở cửa đúng đắn, từng bước hoàn chỉnh lý luận xây đựngCNXH đặc sắc Trung Quốc, tạo điều kiện cho việc khai thác tối ưu mọinguồn lực, thực thi chiến lược phát triển kinh tế tốc độ cao trong những năm
về sau của Trung Quốc
- Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (1992) đã đột phá, đề ramục tiêu cải cách kinh tế Trung Quốc là xây dựng thể chế kinh tế thị trườngXHCN Cho đến cuối những năm 1990, Trung Quốc đã thực hiện và thuđược thành tựu quan trọng về cải cách thể chế trên nhiều phương diện và thuđược thành tim nhất định, nhưng nhiệm vụ cải cách còn rất nặng nề, do thịtrường chưa hoàn thiện, trình độ quản lý đất nước bằng pháp luật chưa cao,cải cách hành chính chưa có bước tiến lớn, cải cách doanh nghiệp nhà nước
và hệ thống tiền tệ còn trì trệ, tình trạng độc quyền trong một số ngành chưa
bị xoá bỏ
- Những nhân tố phát triển của Trung Quốc còn nhiều tiềm năng, khônggian phát triển còn rất rộng Đáng kể là mức tích luỹ cao, duy trì một thòi giandài, luôn luôn trên 30% có khi tới 40%, đứng vào hàng ngũ các nước có mứctích luỹ cao nhất thế giới Có được kết quả này là nhờ truyền thống văn hóatiết kiệm của dân tộc Trung Hoa
Tuy nhiên, Trung Quốc phải đối mặt với nhiều thử thách nghiệt ngã,trực tiếp đe dọa sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định xã hội: Cùng
Trang 24với sự phát triển kinh tế, nhu cầu năng lượng, nguyên liệu đều tăng, mâuthuẫn cung cầu nối bật, dân số quá đông, sức ép làm việc tăng mạnh; trình
độ khoa học lạc hậu, chênh lệch lớn so với các nước lớn khác; đầu tư cho R
& D thấp xa so với mức trung bình của thế giới; các loại mâu thuẫn dochuyên đổi mô hình kinh tế - xã hội tăng lên khiến khó khăn thêm: nạn lạmphát, thất nghiệp, chênh lệch xã hội, tham nhũng tăng lên gây mất ổn định
xã hội
Trong bối cảnh đó, việc tham gia sâu vào hội nhập quốc tế, sức ép của
tự do hóa kinh tế đòi hỏi minh bạch hóa các quan hệ sẽ góp phần hóa giải mâuthuẫn đó
Sau 15 năm Trung Quốc theo đuổi mục tiêu gia nhập WTO, kể từ năm
1986 - khi nước này đề xuất việc trở lại Hiệp định chung về Thuế quan vàMậu dịch (GATT) - tiền thân của WTO, với vô số cuộc đàm phán với nhiềuquốc gia, đặc biệt là với Mỹ và Liên minh châu Âu (EƯ), ngày 10/11/2001,Trung Quốc đã chính thức được chấp nhận trở thành thành viên của WTO,bằng việc các bộ trưởng của 142 nước thành viên tổ chức thương mại toàn cầunày thông qua báo cáo của nhóm công tác Trung Quốc về vấn đề gia nhậpWTO và nhất trí kết nạp Trung Quốc Không đầy 1 ngày sau đó, lãnh thố ĐàiLoan, với danh xưng Đài Bắc - Trung Quốc (Chinese Taibei), cũng được kếtnạp vào WTO
Với hai nền kinh tế thành viên mới, WTO lúc này có 144 nước và lãnhthổ thành viên, trong đó có hơn 110 nước và khu vực đang phát triển Kimngạch mậu dịch giữa các thành viên WTO chiếm trên 90% tổng kim ngạchmậu dịch thế giới WTO trên thực tế đã trở thành "Liên Hợp Quốc kinh tế"phát huy vai trò quan trọng trong kinh tế mậu dịch thế giới, phạm vi rộng, sứcảnh hưởng lớn, các tổ chức kinh tế quốc tế khác không thê so đọ nổi Do vậy,gia nhập WTO sẽ đem lại lợi ích nhiều mặt đối với Trung Quốc
Trang 25- Thúc đẩy phát triển tăng trưởng kinh tế quốc dân: Theo tính toán của
WB, gia nhập WTO, thực hiện cam kết gia nhập WTO, các nước có liên quan
sẽ huỷ bỏ cô ta về mặt hàng sợi, mỗi năm Trung Quốc có thể thu được 116 tỷUSD, và có thể tạo nên 4 triệu việc làm Việc bố trí, phân phối tài nguyên hợp
lý dựa trên ưu thế của mình sẽ đem lại hiệu quả cao cho sản xuất Thêm vào
đó, sự tự do hoá mậu dịch sẽ làm cho Trung Quốc thu được nhiều lợi hơn.Tạp chí "Kinh tế Thế giới" của Anh dự đoán, lợi ích mà Trung Quốc (baogồm cả Đài Loan) thu được sau khi gia nhập WTO sẽ gấp 20 lần so với khichưa gia nhập
- Thông qua cơ chế hoà giải tranh chấp của WTO giải quyết các tranhchấp mậu dịch giữa Trung Quốc và nước ngoài; Sản phẩm của Trung Quốc sẽ
dễ tiến vào thị trường thế giới và có thể làm thay đổi tình trạng sản phẩm củaTrung Quốc bị phân biệt đối xử trên trường thế giới, được hưởng chế độ ưuđãi tối huệ quốc một cách vô điều kiện của các nước thành viên WTO và chế
độ ưu đãi thông thường của gần 30 nước; Trung Quốc có thể lợi dụng cơ chếgiải quyết tranh chấp trong đàm phán đa phương của WTO để giải quyết tranhchấp mậu dịch giữa Trung Quốc với các nước khác, không giống như trướcđây phải dùng pháp luật của một nước nào đó để giải quyết tranh chấp; Đồngthời, qua cơ chế giải quyết tranh chấp bằng đàm phán đa phương của WTO sẽgiảm được sự đối đãi không công bằng của các nước đối với Trung Quốc,thoát khỏi áp lực của một số nước phát triển đối với Trung Quốc trong quan
hệ song phương
- Gia nhập WTO sẽ giúp cho Trung Quốc được lợi qua việc hình thànhđiều tiết vĩ mô trong điều kiện kinh tế thị trường, về quản lý kinh tế mậudịch, với nguyên tắc công khai của WTO, Trung Quốc có thể xoá bỏ các quiđịnh tuỳ tiện, tăng cường tính ổn định, tính công khai của chính sách, đi theocon đường pháp chế hoá và qui phạm hoá về mặt quản lý sẽ có lợi cho các
Trang 26biện pháp điều tiết vĩ mô, như tỷ giá ngoại hối, lãi suất ngân hàng và tín dụng,
từ đó nâng cao trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của Trung Quốc
- Gia nhập WTO là đi vào cơ chế cạnh tranh, các doanh nghiệp hoạtđộng sản xuất kinh doanh phải theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, nhu cầuthị trường và tập quán kinh doanh tiêu thụ, thúc đẩy tiến độ kỹ thuật vànâng cao trình độ quản lý, từ đó nâng cao tố chất tổng thể của doanhnghiệp Cạnh tranh quyết liệt tất nhiên sẽ làm cho một số doanh nghiệp đổ
vỡ, song sẽ làm cho một số doanh nghiệp khác làm ăn phát đạt Gia nhậpWTO, Trung Quốc gắn mình với thị trường thế giới, tham gia cuộc cạnhtranh quốc tế
- Trung Quốc cũng sẽ được lợi trong việc thu hút đầu tư và kỹ thuậtnước ngoài Trung Quốc gia nhập WTO sẽ chấp nhận tất cả những hiệp định,nghị quyết của Vòng đàm phán Ưrugoay, trong đó có các hiệp định về đầu tư.Phạm vi đầu tư và kinh doanh sẽ mở rộng Các hạn chế đối với thương nhânnước ngoài được nới lỏng Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp đầu tư nướcngoài sẽ được hưởng đãi ngộ tối huệ quốc và ưu đãi thông thường trên phạm
vi lớn hơn Mức độ công khai của các qui phạm kinh tế của Trung Quốc sẽcao hơn, tạo môi trường đầu tư - kinh doanh ổn định và có thê nắm bắt đượcđối vói thương gia nước ngoài
- Người tiêu dùng của Trung Quốc sẽ có được những sản phẩm và dịch
vụ chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn Sau khi gia nhập WTO, hạ thấp thuế quan
và xoá bỏ hạn chế nhập khẩu sẽ làm cho giá cả hàng nhập khẩu giảm xuống
và độc quyền bị phá vỡ, cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn, giúp cho người tiêudùng có thể mua được sản phâm và dịch vụ chất lượng cao hơn
Như vậy, sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO ngày 11/12/2001, đánhdấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình cải cách mở cửa và hội nhậpkinh tế quốc tế của Trung Quốc, hứa hẹn những thành công rực rỡ trong quátrình “trỗi dậy ” của đất nước này
Trang 271.1.3 Những cam kết và thực hiện cam kết của Trung Quốc khi gia nhập To chức Thương mại thế giới
1.1.3.1 Những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập Tô chức Thưong mại thế giới
Ngày 11/12/2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, được hưởngmọi quyền lợi và gánh vác mọi nghĩa vụ của thành viên tổ chức này
về Quyền lợi: Thứ nhất, quyền phát ngôn, quyền biểu quyết sau khi
gia nhập WTO, với tư cách một nước đang phát triển nằm trong WTO,Trung Quốc có quyền phát ngôn và biêu quyết tương ứng, đó là điều hếtsức có lợi về các mặt kinh tế, chính trị đối với Trung Quốc cũng như đông
đảo với các nước đang phát triển; Thứ hai, là tham gia chế định nguyên tắc
mậu dịch - Trung Quốc sẽ tham gia đàm phán với mậu dịch nhiều bên,thông qua việc chế định nguyên tắc mậu dịch quốc tế Điều đó giúp TrungQuốc có cơ hội chủ động bảo vệ quyền lợi chính đáng và nâng cao địa vị
của mình cũng như bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển; Thứ ba,
được hưởng quy chế tối huệ quốc rộng rãi khiến Trung Quốc sẽ cải thiệnđược môi trường mậu dịch, tạo thuận lợi cho việc phát triển những mặt
hàng xuất khẩu có ưu thế; Thứ tư, sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp có
tác dụng giảm bớt tính kì thị đơn phương đối với Trung Quốc nhằm cải
thiện môi trường bên ngoài và xúc tiến quan hệ mậu dịch; Thứ năm, tham
dự sâu hơn vào quá trình phân công quốc tế khiến nền kinh tế Trung Quốc
sẽ trực tiếp hội nhập với nền kinh tế thế giới, tạo thuận lợi cho mục tiêuquốc tế hoá sản phẩm, thu hút vật tư thiết bị nước ngoài, thực hiện tínhnhất thê hoá giữa tài nguyên với thị trường
về Nghĩa vụ: Thứ nhất, Trung Quốc phải từng bước hạ mức thuế quan
theo yêu cầu của WTO đối với các nước đang phát triển, đồng thời hạn chếmức thuế quan cao nhất dưới 15% Điều đó có nghĩa là nhiều ngành sản xuất
Trang 29và bình đẳng cơ chế tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ quốc dân như đối với mậudịch hàng hoá; từng bước cắt giảm hàng rào mậu dịch, mở cửa các ngànhngân hàng, bảo hiếm, vận tải, kiến trúc, du lịch, thông tin, pháp luật, kiêmtoán, tư vấn, bán buôn, bán lẻ v.v Hơn 150 chúng loại hàng dịch vụ trongdanh sách thống kê của WTO đều nằm trong phạm vi mở cửa.
Thứ năm, mở cửa thương mại dịch vụ theo thời gian biểu mà WTO quy
định cho các nước dựa trên trình độ phát triển của Trung Quốc
Thứ sáu, mở rộng phạm vi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Các nước phát
triển có ưu thế và quyền lợi rất lớn trong lĩnh vực độc quyền công nghệ, nhãnmác nối tiếng, tác phẩm văn hoá, khoa học kỹ thuật và phần mềm máy vitính Không còn nghi ngờ gì nữa, việc tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trítuệ là phù hợp với nguyện vọng của họ Là nước đang phát triển, Trung Quốccòn có khoảng cách nhất định so với các nước phát triển về phương diện quản
lý quyền sở hữu trí tuệ, thi hành luật pháp và quản lý hành chính Sau khi gianhập WTO, các ngành hữu qua ở Trung Quốc như công nghiệp hoá học, ydược, thực phẩm, phần mềm vi tính đều phải mua bản quyền của các nướcphát triển phương Tây, mà đây là một khoản chi lớn
Thứ bảy, mở rộng và hoàn thiện chính sách đầu tư nước ngoài Trung
Quốc đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi và khuyến khích nguồn vốn nướcngoài, phù họp với nguyên tắc không phân biệt đãi ngộ của tố chức Thươngmại thế giới Nhưng những vấn đề pháp quy trong thu hút đầu tư của nướcngoài chưa thật sự hoàn thiện, chính sách "Đãi ngộ quốc dân" còn tồn đọngnhiều khúc mắc, cần tiến hành một số điều chỉnh quan trọng
Lộ trình cắt giảm thuế quan trong các ngành ngliề: cắt giảm thuế
quan là nội dung quan trọng nhất mà WTO đòi hỏi ở Trung Quốc Việc thựchiện nó có thể mang lại nhiều rủi ro cho các ngành nghề của nước này
Trang 30* ỉ e tĩnh vực nông nghiệp: Sau nhiều cuộc đàm phán song phương và
đa phương trong khuôn khổ WTO, Trung Quốc cam kết thực hiện nhiều nộidung nhằm tự do hoá mậu dịch đối với nông sản:
- Giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản từ mức bình quân 21% năm
2000, xuống 15,5% vào năm 2004, trong đó thịt bò từ 45% xuống 12%, táo từ30% xuống 10%, cam, quýt và nho từ 40% xuống 12%, pho mát từ 50%xuống 12%, thịt gia cầm từ 20% xuống 10%, rượu nho từ 65% xuống 20%.Trung Quốc sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu các sản phâm như dầu hạt cải, bơ,quýt và rượu vang còn khoảng 9% đến 18% Các nhà sản xuất Trung Quốc sẽthiệt hại lớn do cắt giảm thuế, tự do nhập khâu hơn sẽ làm cho ngũ cốc TrungQuốc như ngô, đậu tương phải cạnh tranh với các sản phấm nhập khấu có chấtlượng cao hơn [58, 106]
* về tĩnh vực công nghiệp:
- Ngành ô tô: Trước khi gia nhập WTO, thuế nhập khẩu xe hơi của
Trung Quốc từ 80% đến 100%, thuế nhập khẩu linh kiện từ 25% đến 60%.Năm 2005, thuế nhập khẩu xe hơi giảm còn 25%, bình quân thuế nhập khẩulinh khiên 25% [56, 139] về thuế đầu tư, trước đây quy định thuế doanhnghiệp nước ngoài sản xuất xe hơi không được quá 50% Trung Quốc gia nhậpWTO phải tìmg bước xoá bỏ quy định đó Hiệp định với EU buộc Trung Quốcphải xóa bỏ mọi hạn chế với các loại xe hơi được sản xuất từ các liên doanhTrung Quốc và EƯ trong vòng 2 năm Ngành ô tô của nước này sẽ là ngành bịảnh hưởng mạnh nhất khi Trung Quốc gia nhập WTO do phải cạnh tranh mạnh
mẽ trong điều kiện nhập khâu ô tô và phụ tùng ô tô tăng mạnh sau khi giảmthuế Ngoài ra các hãng nước ngoài được phép hoạt động mua bán và mạnglưới dịch vụ riêng trong vòng 3 năm khi Trung Quốc gia nhập WTO [89,9]
- Ngành dệt may: là một lĩnh vực có lợi khi xóa bỏ hạn ngạch nhập
khẩu Theo hiệp định WTO, Trung Quốc chấm dứt hạn ngạch nhập khẩu sản
Trang 31phẩm dệt may từ ngày 1/1/2005 Tuy nhiên, việc này sẽ cho phép các nướcnhập khẩu hàng dệt may Trung Quốc hạn chế hàng nhập khẩu khi hàng hóaTrung Quốc phá vỡ thị trường của họ.
- Ngành sản xuất kỹ thuật cao: Thuế đối với sản phấm công nghệ cao
như thiết bị viễn thông,., được giảm dần và xóa bỏ vào năm 2005 TrungQuốc tham gia hiệp định công nghệ thông tin (ITA) và cam kết xóa bỏ thuếđối với các sản phẩm thuộc danh sách ITA bao gồm: các sản phẩm bán dẫn,phụ kiện và thiết bị viễn thông Các hãng nước ngoài cũng được quyền sở hữu
và xâm nhập thị trường dịch vụ viễn thông và nâng cao sự bảo vệ bản quyềnthông qua việc Trung Quốc thực thi hiệp định về các lĩnh vực liên quan đếnthương mại bản quyền
* về ngành dịch vụ: Trung Quốc gia nhập WTO đã mở cửa lĩnh vực
dịch vụ mạnh mẽ chưa từng có, đặc biệt ở các lĩnh vực như:
- Trong tĩnh vực viễn thông: Trung Quốc cam kết sau 2 năm sẽ xoá
bỏ hạn chế khu vực, cho vốn nước ngoài tham gia với tỷ lệ không quá50% [84,13]
- về ngân hàng: Chính phủ Trung Quốc đã tôn trọng các cam kết và
mở cửa thêm các lĩnh vực kinh doanh cho các ngân hàng có vốn nước ngoàitham gia Những nỗ lực mở cửa và điều chỉnh họp lý, nhanh chóng về mặtchính sách đã tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài mở rộng hoạtđộng Sau 5 năm gia nhập WTO, mặc dù đã có một số vụ sáp nhập, số lượng
tổ chức kinh doanh do các ngân hàng nước ngoài thành lập đã tăng từ 190lên 312 Các ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh đồng NDT vóicác công ty Trung Quốc sau 2 năm Trung Quốc gia nhập WTO Sau khi gianhập WTO, các ngân hàng nước ngoài có thể nắm giữ 15% thị phần tiền gửi
là ngoại hối, 10% là NDT; 20-30% tiền cho vay là ngoại hối, 15% tiền chovay là NDT
Trang 32- về bảo hiểm: Trung Quốc cho phép “kiểm soát quản lý một cách có
hiệu quả” trong các liên doanh bảo hiểm nhân thọ mặc dù cổ phần của phíanước ngoài chỉ được hạn chế ở 50% Trong lĩnh vực dịch vụ, từ 6/2001, EƯđảm bảo quyền lựa chọn miễn phí đối tác liên doanh Trung Quốc TrungQuốc sẽ xóa bỏ những hạn chế về địa lý trong vòng 3 năm, cho phép các nhàbảo hiểm nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực, y tế, lum trí Trung Quốccũng cho phép thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ liên doanh với tỷ lệ vốnnước ngoài không quá 50%, sau 2 năm cho phép thành lập công ty bảo hiểmphi nhân thọ, sau 5 năm cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn nướcngoài [84,15]
- về ngành chứng khoán: Một số liên doanh nước ngoài được phép
tham gia vào quản lý quỹ theo cùng phương thức quản lý của các công tyTrung Quốc Sau 3 năm gia nhập WTO, các công ty nước ngoài sẽ được nắmđến 49% ở các liên doanh
Việc Trung Quốc gia nhập WTO được các nhà lãnh đạo cũng như cácnhà nghiên cứu Trung Quốc khăng định là: với nền kinh tế Trung Quốc, đâyvừa là cơ hội vừa là thách thức vừa là sức ép vừa là sức đẩy, vừa có ảnhhưởng tích cực vừa có ảnh hưởng tiêu cực vấn đề là làm thế nào để biếnnhững ảnh hưởng bất lợi, tìm ra đối sách để đưa kinh tế có sức cạnh tranh caotrên trường quốc tế
1.1.3.2 Thực hiện cam kết của Trung Ouổc sau khi gia nhập WTO
Trước hết, đó là hoàn thiện hệ thong pháp luật:
Trung Quốc hết sức chú trọng đến việc tăng cường cải cách bộ máynhà nước và chuyển dịch chức năng nhà nước theo quan diêm: trong thời
kỳ đầu của kinh tế thị trường hiện đại cũng như trong thời kỳ sau khi gianhập WTO, nhà nước có hai vai trò: là người quản lý và là chủ thế của kinh
tế thị trường
Trang 33Từ khi gia nhập WTO, Nhà nước Trung Quốc đã sửa đổi hon 3.000
pháp định pháp quy, trong đó bao gồm: Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Ngoại thưong, các địa phương hủy bỏ 190.000 pháp qui mang tính địa phương, điều
lệ chính quyền địa phương và những biện pháp chính sách khác Quốc vụViện Trung Quốc đã có 3 lần xoá bỏ và điều chỉnh 1806 hạng mục phê duyệthành chính [56, 8] Chính quyền các địa phương cũng xoá bỏ hàng trăm nghìnhạng mục phê duyệt hành chính, đặc biệt là xoá bỏ số lượng lớn các văn kiệnnội bộ
Có thể nói, với những chính sách điều chỉnh tích cực và kịp thời trên,
từ sau ngày gia nhập WTO, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu hết sức
to lớn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội Trung Quốc tăng trưởng mạnh
Thứ hai là điều chỉnh trong lĩnh vực dịch vụ: Từ năm 2002, Trung
Quốc đã sửa đối và xóa bỏ một loạt pháp luật, pháp quy về lĩnh vực thươngmại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư không phù họp với qui tắc của WTOcũng như ban hành nhiều pháp luật, pháp quy mới Điều này cho thấy sự quantâm của nước này đối với sự phát triển của ngành dịch vụ ngày một cao Sauđây là một số chính sách điều chỉnh đối với ngành này cho phù hợp với việcthực hiện chính theo yêu cầu của WTO:
- Trung Quốc chủ trương cải thiện và điều chỉnh kết cấu ngànhdịch vụ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh quốc tế, mở rộng các loạisản phấm dịch vụ nên đã tăng cường cải tạo các ngành: giao thông vậntải, lưu thông hàng hóa, ăn uống, dịch vụ công cộng, dịch vụ nôngnghiệp, tích cực phát triển các ngành: quản lý hàng hoá, du lịch, giáodục đào tạo, văn hoá Đồng thời, ra sức phát triến các ngành trunggian: thông tin, tiền tệ, bảo hiểm, kế toán, tư vấn, dịch vụ pháp luật, dịch
vụ KH-KT Các thành phố, địa phương chú trọng phát triển các ngành ưuthế của địa phương mình
Trang 34- Tăng cường cải cách doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh quốc tếcủa các doanh nghiệp làm dịch vụ Do nhu cầu phát triển kinh tế và nhữngcam kết khi gia nhập WTO nên ngành dịch vụ Trung Quốc đang từng bướcxoá bỏ độc quyền, thực hiện cơ chế cạnh tranh, tăng cường sức mạnh củadoanh nghiệp đa nguyên hoá quyền cố phần, tố chức lại doanh nghiệp nhằm
có sức cạnh tranh quốc tế tốt
- Trung Quốc đã xoá bỏ hạn chế xâm nhập thị trường của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; ban hành chính sách khuyến khích doanhnghiệp, doanh nhân phát triển ngành dịch vụ nhằm tạo môi trường cạnhtranh công bằng Có thể nói, Trung Quốc sau ngày gia nhập WTO đã mởcánh cửa lĩnh vực dịch vụ mạnh mẽ chưa từng có Nhiều nhà nghiên cứunhận xét: điều kiện mở cửa cam kết trong các ngành nghề dịch vụ của TrungQuốc khi gia nhập WTO cao hơn so với các nước khác Đây là kết quả cóđược khi Trung Quốc thực hiện chính sách điều chỉnh phù hợp vói sự pháttriển chung của thế giới [94]
Thứ ba là điều chỉnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và lĩnh vực khác:
- Vấn đề đào tạo cán bộ, đội ngũ các nhà doanh nghiệp và đội ngũ nhân tài: Trung Quốc cho rằng: đê bồi dưỡng và đào tạo một đội ngũ doanh
nghiệp lớn mạnh thì trước hết phải thay đổi chế độ nhân sự truyền thống.Ngoài một số ít nhân viên quản lý kinh doanh trong các doanh nghiệp đặc biệt
do nhà nước đầu tư hoặc khống chế cổ phần, tất cả các doanh nghiệp khác đềunên tuyển dụng thông qua cạnh tranh thị trường; thay đổi tư cách “quan chức”của các nhà doanh nghiệp đê họ không chạy theo quyền lực chính trị mà tậptrung vào kinh doanh
- Vẩn đề sửa đôi vãn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ: Các văn bản pháp
luật về sở hữu trí tuệ được ban hành như: Luật bản quyền, luật nhãn hiệuthương mại, luật phát minh sáng chế, điều lệ bảo hộ phần mềm máy tính và
Trang 35đều có hiệu lực thi hành ngay sau khi gia nhập WTO Việc phát triển luật sởhữu trí tuệ của Trung Quốc có liên hệ mật thiết với việc phát triển ngoạithương và đầu tư Ke từ khi Luật nhãn hiệu hàng hoá được ban hành năm
1982, Trung Quốc đã ban hành rất nhiều luật và quy định liên quan tới hàngloạt đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và gia nhập hầu hết các điều ước quốc
Để đảm bảo sự tuân thủ với TRIPS, Trung Quốc đã nỗ lực cả về phápluật thực định và cả về thể chế về mặt lập pháp, các luật chính về sở hữu trítuệ đã được sửa đổi bao gồm luật sáng chế năm 2000, luật nhãn hiệu hànghoá năm 2001, luật bản quyền năm 2001 Cũng trong năm 2001, rất nhiềucác quy định được ban hành bao gồm nghị định về bảo vệ phần mềm máytính, thiết kế bố trí mạch tích hợp và giống vật nuôi mới Cùng với các chếtài về hành chính và dân sự, một số tội danh về vi phạm sở hữu trí tuệ cũngđược bổ sung vào bộ luật hình sự về mặt thể chế, hệ thống các cơ quan nhànước đã được thiết lập để quản lý và thực thi luật sở hữu trí tuệ bao gồm một
cơ quan xét xử đặc biệt phụ trách lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong Toà án nhândân Ket quả của những nỗ lực này, đến nay Trung Quốc được coi là đã cómột khuôn khố pháp lý về cơ bản phù hợp với WTO trong lĩnh vực bảo hộquyền sở hữu trí tuệ [84,16]
Trang 36Mặc dù có một khuôn khổ pháp lý phù hợp với WTO, việc vi phạm sởhữu trí tuệ vẫn khá phổ biến ở Trung Quốc Các đối tác thương mại chính củaTrung Quốc nhận xét đó là do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ởtrung ương chịu trách nhiệm về việc thực thi sở hữu trí tuệ; các hình phạt vềhình sự, hành chính và dân sự chưa tạo ra sự ngăn chặn thích đáng; cán bộnhà nước chưa được đào tạo đầy đủ Mặc dù trong những năm gần đây, Chínhphủ đã tăng cường nỗ lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ nhưng việc bảo hộquyền sở hữu trí tuệ vẫn còn rất yếu kém Đó cũng chính là vấn đề hàng đầu
mà các công ty nước ngoài đang kinh doanh tại Trung Quốc phàn nàn
1.2 Nhũng thành tựu kinh tế cơ bản của Trung Quốc 10 năm sau ngày gia nhập Tổ chức Thương mại thế giói
1.2.1 Tình hình kinh tế Trung Quốc truớc năm 2001
Trung Quốc là một đất nước có diện tích 9.597.000 km2, đứng thứ tưsau Liên Bang Nga (17.075.000 km2), Canada (9.971.000 km2) và Mỹ(9.629.000 km2), gấp 30 lần so với diện tích Việt Nam Dân số giữa năm 2000khoảng 1.264,5 triệu người, đông nhất thế giới, chiếm 20,8% dân số toàn cầu,gấp hơn 15 lần dân số Việt Nam Tỷ lệ dân số thành thị năm 2000 của TrungQuốc là 31% cao hơn tỷ lệ 23,5% của Việt Nam Tỷ lệ lao động nông nghiệpnăm 1998 của Trung Quốc là 47,5% thấp hơn tỷ lệ 70% của Việt Nam [84]
Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập ngày 1/10/1949, nền kinh tếTrung Quốc đã trải qua nhiều biến động với những đặc trưng cơ bản
là một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, hiệu quả kém, cơ cấu kinh
tế lệch lạc Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1952- 1978 khá cao, trungbình đạt 7,9% Tốc độ tăng trưởng cao là do chiến lược phát triến công nghiệpnặng Trong giai đoạn này, trong khi tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămcủa công nghiệp là khoảng 11%, thì nông nghiệp chỉ là 3,2% và thương mại là4,2% Như vậy, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc lúc bấy giờ không cân đối, đời
Trang 37sống nhân dân ít được cải thiện Năm 1975, tổng sản phẩm quốc dân tính theođầu người của Trung Quốc đạt 210 USD, thuộc nhóm các nước kém phát triển(có thu nhập dưới 265 USD) Nen kinh tế Trung Quốc càng khó khăn hơn dodiễn biến của cuộc “Đại nhảy vọt” (1958 - 1961) và “Đại cách mạng văn hóa”(1966 - 1976) Trung Quốc áp dụng mô hình quản lý tập trung, hầu như đóngcửa, khép kín với nền kinh tế thế giới, do vậy, chìm sâu trong sự trì trệ vàkhủng hoảng Có thể nói, nền kinh tế Trung Quốc những năm 70 rối ren, thậmchí, đã ở bên bờ vực của sự phá sản Trong khi đó, nhiều nền kinh tế của cácnước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông lại cóbước phát triển nhanh và rực rỡ Tình hình trên đòi hỏi phải có một sự thayđổi căn bản nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, đúng qui luật, cải thiệnđời sống nhân dân và nâng cao vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế.Trung Quốc cũng như nhiều nước khác nhận thức được xu hướng toàn cầuhóa tất yếu để táng cường quan hệ kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế.Mục tiêu chủ yếu của Trung Quốc trong tiến trình hội nhập là nâng cao thựclực kinh tế trong nước và phát triên thị trường nước ngoài, từ đó đạt mục tiêulớn hơn là tạo dựng, nâng cao vị thế kinh tế, chính trị của Trung Quốc trêntrường quốc tế, đưa nước này trở thành một cường quốc ngang hàng với cáccường quốc trên thế giới.
Sau 25 năm cải cách kinh tế, ngoại thương của Trung Quốc đã vươn lên
từ vị trí thứ 32 lên vị trí thứ 7 trên thế giói, kim ngạch xuất khẩu tăng 10 lần.Năm 2001, GNP của Trung Quốc đạt 1.190 tỷ USD Trung Quốc cũng đứngđầu về xuất khẩu trong nhóm các nước đang phát triển Khoảng một nửa kimngạch được thực hiện dưới hình thức “thầu lại” nghĩa là Trung Quốc muanguyên vật liệu để chế biến rồi tái xuất
Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất châu Á,quốc gia có thị trường nội địa lớn nhất thế giới Năm 2000, thu nhập hàng
Trang 38năm trên một đầu người của Trung Quốc chỉ đạt 850 USD so với 9.000 USDcủa Hàn Quốc và 35.000 USD của Nhật Bản Trung Quốc có tưong đối nhiềulợi thế: lao động dồi dào, quy mô dân số lớn cho nên nhu cầu còn rất lớn; tàinguyên phong phú, đa dạng, có chế độ chính trị ốn định; có hệ thống chínhsách theo hướng cởi mở.
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã chiếm vị trí thứhai trên thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài, chỉ sau Mỹ Trung Quốc là nơithu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, bình quân thời kỳ 1995-2000 lênđến 41 tỷ USD/năm, chiếm 70% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ châu
Âu, Bắc Mỹ vào Đông Á Trung Quốc cũng là nước có tỷ lệ vốn đầu tư pháttriển so với GDP khá cao Cộng kim ngạch xuất khẩu với đầu tư nước ngoài,Trung Quốc trở thành nước đứng thứ hai thế giới về dự trữ ngoại tệ (sau NhậtBản) với hơn 165 tỷ USD [53,15]
Theo cơ quan thống kê, trong nửa đầu năm 2001, nền kinh tế TrungQuốc tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước Ông Yiping Huang - một chuyêngia kinh tế của Salomon Smith Barney (tập đoàn cung cấp các dịch vụ quản lýtài sản, đầu tư ngân hàng và môi giới chứng khoán toàn cầu), tại Hồng Kông
cho biết: "Việc đầu tư tnrc tiếp tăng cùng vói khả năng gia nhập Tô chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai gần cũng cỏ thế giúp tăng trưởng kinh tế tăng thêm 1% Khi Trung Ouoc gia nhập WTO sẽ giúp cho các nhà xuất khấu lớn của Trung Ouổc thâm nhập thị trường nước ngoài Nó cũng sẽ cho phép nhiều công ty nước ngoài giành được lợi thế” [84].
Đê thúc đây tiêu dùng nội địa, Chính phủ Trung Quốc đang tăng chitiêu xây dựng các công trình công cộng và tăng lương cho các viên chức.Nhà nước có kế hoạch phát hành hàng trăm tỷ NDT trái phiếu nội địa chocác quỹ việc làm công cộng, nhằm tạo được nhiều việc làm và duy trì chi
tiêu xã hội
Trang 391.2.2 Những thành tựu về kinh tế Trung Quốc từ khi gia nhập ĨVTO trên các lĩnh vực cụ thể
Khi Trung Quốc gia nhập WTO cách đây hơn 10 năm, ít ai dự đoánđược rằng, nước này có thể nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trênthế giới Hiện, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc đã tăng gần ố lần
từ 509,8 tỷ USD năm 2001 lên 2.927,76 tỷ USD năm 2010 Năm 2011, GDPđạt 47.156,4 tỉ NDT, tính theo giá có thể so sánh, tăng trưởng 9,2% so vớinăm trước Ong Lương Văn Đào, Phó Vụ trưởng Vụ châu Á, Bộ Thương mại
Trung Quốc cho biết: “10 năm gia nhập Tô chức thương mại thế giới là khoảng thời gian Trung Ouổc đạt được toc độ tăng trưỏng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử Chỉ trong 10 nãm, Trung Ouổc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ
2 trên thế giới, là nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới Đó là 10 năm Trung Quốc thành công gia nhập WTO” [93, 10] Có thể thấy thành tựu kinh tế
Trung Quốc sau 10 năm gia nhập WTO qua các ngành kinh tế sau:
1.2.2.1 ỉ e Công nghiệp:
Từ sau ngày gia nhập WTO, sản lượng và tiêu thụ hàng công nghiệptăng trưởng đều đặn Trung Quốc hiện đang dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnhvực sản suất như: sản xuất than, dệt may, xi măng; đứng thứ 2 thế giói về sảnxuất điện tử: mục tiêu vượt Anh và đuổi kịp Mỹ trong sản xuất công nghiệp
mà Mao Trạch Đông đưa ra tuy không thành công vào năm 1958 nhưng đượcthực hiện vào năm 1999 [70, 5] Sản lượng công nghiệp tăng 13,5% trongnăm 2010 Gia nhập WTO cũng thúc đẩy việc điều chỉnh cơ cấu công nghiệp:ngành dệt, công nghiệp nhẹ, cơ điện, than xây dựng, luyện kim, kim loạimàu có ưu thế truyền thống tiếp tục được phát huy Từ năm 2002, khả năngsản xuất trong ngành: dệt may, lụa, sợi hoá học, gang thép, phân hoá học đứng đầu thế giới Các sản phâm như: máy điều hoà không khí, máy giặt, tủlạnh có sản lượng lần lượt chiếm 30%, 24% và 16% tổng sản lượng trên toàn
Trang 40thế giới, với một loạt doanh nghiệp nhiều lợi thế và thương hiệu nổi tiếng Cóthể nghiên cứu một số ngành tiêu biểu sau:
- Ngành xe hơi: Những đặc trưng vốn có cùng với việc mất đi lá chắn
bảo hộ cao về thuế quan, phi thuế quan và đầu tư sẽ khiến cho việc gia nhậpWTO tác động mạnh tới ngành ôtô của Trung Quốc Chỉ trong vòng 2 thập
kỷ, những con đường nhỏ xe đạp đan xen đã nhường chỗ cho những tuyếnđường cao tốc với từng hàng ô tô nối đuôi nhau Giờ đây, Trung Quốc thậmchí còn có nhiều nhãn hiệu xe hơi hơn cả Mỹ Tuy được coi là “ngành nontrẻ”, song ngành công nghiệp ô tô cũng là một trong những ngành trụ cột củaTrung Quốc Ngành kinh tế này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ khi Trung Quốcgia nhập WTO
Qua mấy chục năm phát triển, đặc biệt là sau khi Chính phủ TrungQuốc ban hành chính sách đối với ngành công nghiệp xe hơi vào năm 1994,ngành công nghiệp xe hơi Trung Quốc đã quy hoạch phát triển Các công tytrong nước như: Công ty xe hơi Đông Phong, Tống công ty xe hơi ThượngHải đều phát triến mạnh, năng lực sản xuất tăng, đạt trên 150 ngàn xe Cáctập đoàn xe hơi lớn của Trung Quốc đều thăm dò và đầu tư vào ngành xe hơicủa Trung Quốc, khiến ngành này tương đối sôi động [89, 9]
Trong những năm dài thương lượng để gia nhập WTO, không ít ý kiến
cho rằng công nghiệp ôtô sẽ là một trong số những “nạn nhân” của việc hội
nhập này Nhưng chỉ khoảng nửa năm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO thìphía bị sốc lại là các công ty nước ngoài khi bị 2 công ty nội địa nhỏ, ít têntuổi qua mặt: bán chạy nhất trong năm 2002 là 2 loại xe nội địa Chery vàMerrie chứ không phải các loại xe nước ngoài danh tiếng (trong 4 tháng đầunăm, mức tiêu thụ xe Volkswagen tăng 16% trong khi xe Chery tăng 305%)
Năm 2006, sản lượng xe hơi đạt 7 triệu chiếc Hiệu quả kinh tế củangành sản xuất xe hơi khá cao, theo thống kê năm 2005, Trung Quốc xuất