1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần loài thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối cá thần, xã cấm lương, huyện cấm thủy, tỉnh thanh hóa

66 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên con số này còn khác xa so với thực tế vì còn rất nhiều loài chưa đượcbiết đến và chưa được thống kê đầy đủ.Ngày nay, do tác động mạnh mẽ của nền công nghiệp tiên tiến, nhân loạ

Trang 1

BỌ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỒ HÙNG SƠN

THÀNH PHÀN LOÀI THựC VẬT CÓ HOA TRÊN NÚI ĐÁ VÔI Ở SUÓI CÁ THẦN XÃ CẨM LƯ0NG HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VÃN THẠC sĩ SINH HỌC

NGHỆ AN, 2013

Trang 2

BỌ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ HÙNG SON

THÀNH PHÀN LOÀI THựC VẬT CÓ HOA TRÊN NÚI ĐÁ VÔI Ở SUÓI CÁ THẦN XÃ CẨM LƯ0NG HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành Thực vật

Mã số: 60.42.20

LUẬN VĂN THẠC sĩ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HÒNG BAN

Nghệ An năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đe hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Sinh học này tôi xin bày tỏ longbiết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Hồng Ban người thầy hướng dẫn khoa học đãchỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ long biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trongkhoa Sinh học, phòng Sau đại học - Trường Đại học Vinh Cán bộ và nhân dân

xã Cẩm Lương, huyện cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện do còn hạn chế về mặt thời gian, trình độ và tàichính nên bản luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi mong muốn nhận được nhữngđóng góp ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồngnghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, ngày 05 thảng 10 năm 2013

Tác giả

ĐÕ HÙNG SƠN

MỤC LỤC

Trang 4

Trang

Trang 5

2.1.2 Kinh tế văn hóa xã hội

Trang 6

3.4.1 Thu thập số liệu ở thực địa

Trang 7

Ph Phanérophytes - Cây có chồi trên đất

Ch Chaméphytes (Ch) - Cây có chồi sát mặt đất

Hm Hemicryptophytes (Hm) - Cây có chồi nửa ấn

Cr Cryptophytes (Cr) - Cây có chồi ấn

Trang 8

Th Thérophytes (Th) - Cây chồi một năm

M Cây làm thuốc

T Cây cho gỗ

Or Cây làm cảnh

Oil Cây lấy tinh dầu

F Cây ăn đirợc

K Cây cho công dụng khác

* Các loài thực vật quý hiếm

DANH MỤC CÁC sơ DÒ VÀ BẢNG BIẺƯ

Sơ đồ vi trí địa 11 huyên cẩm Thủy

Tra

ng

13

Trang 9

Bảng 1 Danh lục thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối cá thần,

27

xã Cẩm Lương, huyện câm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

Bảng 2 Sự phân bố các Taxon lớp trong ngành Mộc Lan

43

ở Suối Cá Thần cấm Lương

Bảng 3 So sánh tỷ lệ % giữa các họ nghiên cứu ở Suối Cá Thần

44

với Cúc Xuân Liên

Bảng 4 So sánh hệ số chi, số loài trung bình của Suối cá thần cẩm Lương

44

với Xuân Liên

Bảng 5 Thống kê 10 họ nhiều loài ở suối cá thần câm Lương

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VÀ PHỤ LỤC

Trang

Hình 1 Phân bố của các lớp trong ngành Magnoliophyta

Trang 11

Việt nam nằm trong khu vực nhiệt đới châu Á, nưi có hệ thực vật phong phú đadạng Với diện tích 330.000 km2 đến nay đã tìm ra khoảng 12.000 loài thực vật bậccao Tuy nhiên con số này còn khác xa so với thực tế vì còn rất nhiều loài chưa đượcbiết đến và chưa được thống kê đầy đủ.

Ngày nay, do tác động mạnh mẽ của nền công nghiệp tiên tiến, nhân loại đã tiếnhành khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và nguồn tài nguyên trên núi đávôi nói riêng suy giảm một cách nhanh chóng Điều này đã và đang làm ảnh hưởng xấuđến môi trường sinh thái, nhiều loài trước đây khá phố biến, nay trở nên cạn kiệt vàkhu phân bố của chúng bị thu hẹp đáng kê

Cẩm Thủy là một huyện miền núi bán sơn địa gồm 19 xã và 01 thị trấn Trong

đó xã Cấm Lương là một xã miền núi cao, nằm trong trương trình 135 của chính phủ.Tạo hóa đã ban tặng cho người dân nơi đây dòng suối tiên với những con cá thần Bêncạnh đó xã cấm Lương hiện còn đang giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyênsinh, với những loài động vật, thực vật đặc trưng cúa vùng nhiệt đới Hệ thực vật nơiđây, nhất là hệ thực vật trên núi đá vôi đã góp phần quan trọng trong việc tạo nguồnsinh thủy cho đàn cá thần bí

Việc bảo vệ hệ thực vật rừng đầu nguồn nói chung, hệ thực vật kề ngay bên suối

cá nói riêng là công việc hết sức cần thiết Bởi nguồn tài nguyên thực vật trên núi đávôi nếu mất đi thì không bao giờ phục hồi, phát triên lại được như ban đầu Và như thế,

Trang 12

nguồn tài nguyên trong hệ sinh thái này sẽ bị suy giảm, quỹ gen tự nhiên bị nghèo kiệtlàm mất đi tính đa dạng di truyền trong hệ sinh thái.

Vì vậy, việc nắm vững những đặc trưng cơ bản của hệ thực thực vật như lậpdanh lục loài, tìm hiểu phố dạng sống, các yếu tố địa lý, giá trị sử dụng đẻ khai thác vàbảo vệ nguồn tài nguyên thực vật hợp lí, theo hướng phát triển lâu bền là một việc làmhết sức cần thiết

Cho tới nay công tác điều tra nghiên cứu các hệ thực vật trên núi đá vôi tuy đã

có những bước tiến đáng kế nhưng còn rất ít và chưa được quan tâm đầy đủ Đặc biệtrừng trên núi đá vôi là một hệ sinh thái tương đối nhạy cảm và khó tái sinh Vì các lý

do trên đê góp chung vào mảng các đề tài nghiên cứu về hệ thực vật trên núi đá vôi,

chúng tôi tiến hành đề tài “Thành phần loài thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối Cá

Thần, xã Cấm Lương, huyện cấm Thủy, tỉnh Thanh Ilóa”

2 MỤC TIÊU

Nhằm phản ánh thành phần loài thực vật có hoa, đánh giá tính đa dạng củangành thưc vật này trên núi đá vôi ở suối cá thần, xã cấm Lương Góp phần quan trọngtạo môi trường sinh thái bền vững cho khu du lịch suối cá thần đầy linh thiêng

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nghiên cún về đa dạng sinh học trên thế giói

Vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn đã trở thành một chiến lược toàn thế giới.Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời đế hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảotồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn phạm vi thế giới Đó là Hiệp hội quốc tếbảo vệ thiên nhiên (IƯCN) [Theo 47], Chương trình môi trường Liên hợp quốc(ƯNEP) [Theo 45], Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) [Theo 47], Viện Tàinguyên di truyền quốc tế (IPGRI) [Theo 47] Loài người muốn tồn tại lâu dài trênhành tinh này thì phải có một dạng phát triến mới và phải có cuộc sống mới Nhu cầu

cơ bản và sự sống còn của con người phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu nhữngtài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đedọa Chúng ta đã quá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai,nên ngày nay loài người đang đímg trước hiểm họa Đe tránh sự hủy hoại tài nguyênchúng ta phải ton trọng trái đất và sống một cách bền vững, dù muộn còn hơn khôngchú ý, vì thế hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đãđược tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, 150 nước đã ký vào côngước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng Từ đó nhiều hội thảo được tố chức để thảoluận và nhiều quấn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời Năm 1990 WWF đã cho xuấtbản quấn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng sinh vật (The importance oíbiologicaldiversity) [Theo 45], hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới(World conservation strategy) Wri, IƯCN and WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàncầu (Global biological strategy) [Theo 47], Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bảncuốn “bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the World's biological diversity)[Theo 47], hoặc IUCN, ƯNEP và WWF xuất bản cuốn “ Hãy quan tâm tới trái đất”(Caring for the earth) [Theo 45] Cùng năm, Wri, IƯCN và UNEP xuất bản cuốn

“Chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động” [Theo 45]; tất cả cuốn sách

đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp đê bảo tồn đa dạng sinh học, làm nềntảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai

Trang 14

Năm 1992 - 1995 WCMC công bố một cuốn sách tống hợp “Đánh giá đa dạngsinh vật toàn cầu” các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau cácvùng khác trên toàn thế giới (Global biodiversity assessment) làm cơ sở cho việc bảotồn chúng có hiệu quả [Theo 45].

Bên cạnh đó, hàng ngàn tác phấm, những công trình khoa học khác nhau ra đời

và hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, vềphương pháp luận và thông báo các kết quả đã đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thếgiới Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm hợp tạo thành mạng lưới phục vụcho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học

Theo thời gian, con người ngày càng tích lũy thêm hiểu biết của mình về thếgiới thực vật phong phú xung quanh Những công trình mô tả đầu tiên về thực vật xuấthiện ở Ai Cập cổ đại cách đây hơn (3.000 năm TCN) [Theo 44] và Trung Quốc cổ đại(2.200 năm TCN) sau đó là ở Hy Lạp cố và La Mã cố cũng xuất hiện hàng loạt các tácphẩm về thực vật

Théophraste (371 - 286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loạithực vật [Theo 12] Dựa trên nghiên cứu đặc điẻm hình thái ngoài và sinh cảnh sinh sống

của thực vật, ông cho ra đời hai tác phẩm “Lịch sử thực vậf và “Cơ sở thực vật” trong đó

đã mô tả được khoảng 500 loài cây trồng và cây hoang dại Tiếp đến là Plinus (79

-24TCN) viết bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1.000 loài cây làm thuốc và cây ăn quả Sau đó Dioseoride (20 - 60 sau CN) một thầy thuốc của Tiểu Á đã viết cuốn sách “Dược

liệu học”, trong đó ông nêu được hơn 500 loài cây và đã xếp chúng vào các họ khác nhau

Trang 15

công trình như của Andrea Caesalpino (1519 - 1603) một trong những nhà thực vật họcđược đánh giá cao bởi quan điêm phân loại học thực vật dựa trên đặc điếm quan trọngcủa chúng Ông lấy đặc điểm hạt để làm tiêu chuẩn phân loại thực vật [Theo 12] Nhà

tự nhiên học người Anh, Jonh Ray (1628 - 1705) trong quyên “Lịch sử thực vậf gồm 3

tập mô tả 18.000 loài thực vật Tiếp sau đó Linnee (1707 - 1778) là người được mệnhdanh là “Ông tổ” của phân loại học, nhà tự nhiên học Thụy Điển (1707 - 1778), trong

tác phâm “Hệ thong tự nhiên” của mình ông đã mô tả khoảng 10.000 loài cây và sắp

xếp vào một hệ thống nhất định Ong đã đưa ra cách đặt tên sinh vật rất chặt chẽ vàthuận tiện, mỗi tên cây được gọi bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày naychúng ta còn sử dụng Ông cũng là người xây dựng nên hệ thống phân loại gồm 7 đơnvị: giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [Theo 44]

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX phân loại thực vật dược dựa trên cơ sở cácmối quan hệ tự nhiên của thực vật, dựa vào toàn bộ (hay số lớn) tính chất chung củachúng Có rất nhiều hệ thống phân loại ra đời: hệ thống phân loại của Bernard lussieu(1699 - 1777) và Decandol (1778 - 1836) đã mô tả được 161 họ và đưa phân loại trởthành một môn khoa học Robert Brown(1773 - 1858) đã chia thực vật thành 2 nhóm

đó là hạt trần và hạt kín [Theo 44]

Bước sang thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát triểnmạnh mẽ ở tất cả các quốc gia Phân loại học ngày càng đi sâu nghiên cứu bản chất củasinh vật Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị các cuốn thực vật chí lần lượt ra đời :Thưc vật chí Hồng Công, thực vật chí Anh (1869), thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 -1897), thực vật chí Vân Nam (1977), thực vật chí Malayxia (1922 - 1925), thực vật chíTrung Quốc, thực vật chí Liên Xô, thực vật chí Australia, thực vật chí Thái Lan

Đến năm 1993, Watters và Hamilton đã thống kê được trong các tác phẩmnghiên cứu thì trong suốt 2 thế kỷ qua đã có 1,4 triệu loài thực vật đã được mô tả và đặttên Cho đến nay vùng nhiệt đới đã xác định được khoảng 90.000 loài, trong đó vùng

ÔI 1đới Bắc Mĩ và Au - A có 50.000 loài được xác định [36]

1.2 Nghiên cứu đa dạng phân loại hệ thục vật ỏ’ Việt Nam

Trang 16

ơ Việt Nam lịch sử phát triển môn phân loại thực vật diễn ra chậm hon so vớicác nước khác Thời gian đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các cây có giá trị

làm thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh (1623 - 1713) trong 11 quyển “Nam dược thần

hiện” đã mô tả được 759 loài cây thuốc, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) trong “Vân Đài loại ngữ’ 100 cuốn đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc Lê Hữu Trác (1721 - 1792) dựa

vào bộ “Nam dược thần hiệu” đã bố sung thêm 329 vị thuốc mới trong sách “Hải

Thượng Y tôn tầm linh” gồm 66 quyển Ngoài ra trong tập “Lĩnh nam bản thảo” ông đã

tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh [Theo 12]

Đen thời kì Pháp thuộc tài nguyên rừng nước ta còn rất phong phú và đa dạng,thu hút nhiều nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Do đó, việc phân loại thực vậtđược đấy mạnh và nhanh chóng Điến hình như các công trình của Loureiro năm 1790

“Thực vật ở Nam Bộ” ông đã mô tả gần 700 loài cây [Theo 44].

Gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam doAubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác Đen nay

đã công bó 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có[53]

Năm 1965, Pocs Tamas đã thống kê ở miền Bắc có 5.190 loài [55], và năm

1969, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài của miền Bắc lên 5.609 loài,1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống của Engler), trong đó có 5069 loài thực vật HạtKín và 540 loài các ngành còn lại [30] Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc từ

1969-1976, Lê Khả Kế (chủ biên) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt

Nam” gồm 6 tập đã mô tả rất nhiều loài thực vật có mặt ở Việt Nam [24] và ở Miền

Nam, Phạm Hoàng Hộ trong 2 tập “Cây cỏ ở Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326

loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loài thực vật cómạch [19]

Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên viện Điều tra Qui hoạch Rừng đã công

bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình

vẽ minh họa [52], đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn

Trang 17

Dũng chủ biên Trần Đình Lý và tập thể (1993) công bố “1.900 loài cây có ích ở ViệtNam” [32].

Trong thời gian gần đây hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởi các nhàthực vật Liên Xô và Việt Nam và đăng trong Kỷ yếu cây có mạch của thực vật ViệtNam - Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora tập 1 - 2 (1996) và Tạp chí Sinhhọc số 4 (chuyên đề) 1994 và 1995 [34],[35]

Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cạy cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ

(1991-1993) xuất bản tại Cadana với 3 tập, 6 quyển và tái bản năm 2000 đã mô tả đượckhoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam [21] Có thể nói đây là bộsách đầy đủ nhất về thành phần loài thực vật bậc cao ở Việt Nam, tuy nhiên theo tácgiả thì một số loài thực vật ở hệ thực vật Việt Nam có thể lên tới 12.000 loài

Tiếp theo hàng loạt công trình nghiên cứu về đa dạng thực vật cho các VQG,

các khu bảo tồn thiên nhiên trong đó đặc biệt là những công trình như “Danh lục thực

vật Tây Nguyên” đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân, Trần

Đình Đại, Phan Kế Lộc chủ biên (1984) [2]; “Danh lục thực vật Phú Quốc” của PhạmHoàng Hộ (1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km2 [20];Nguyễn Nghĩa Thìn (1996) cùng các cộng sự với các công trình: “Tính đa dạng thựcvật Cúc Phương” đã công bố 1.944 loài thực vật bậc cao [26]; Phan Ke Lộc, Lê Trọng

Cúc (1997) đã công bố 3.858 loài thuộc 1.394 chi, 254 họ trong cuốn “Thực vật Sông

Đà’’ [29]; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài

thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan[37]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô công bố cuốn "Đa dạng sinh học khu hệ Nấm

và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã" (2003) [41]; Nguyễn Nghĩa Thìn, NguyễnThanh Nhàn (2004) [45] đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia PùMát” Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) công bố cuốn Đa dạng hệ thực vật ở khu bảo tồnthiên nhiên Na hang [47] Đó là những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm các tác giả,nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn ở Việt

Nam

Trang 18

Dựa trên những công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công bốNguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11.373loài thực vật bậc cao trong đó có 10.580 thực vật bậc cao có mạch [36] Lê Trần Chấn

(1999) với trong công trình “Một so đặc điếm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” đã

công bố 10.440 loài thực vật [10]

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên để phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn

gen thực vật từ năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn Mách đỏ Việt

Nam” phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam có nguy cơ tuyệt

chủng, được tái bản và bổ sung năm 2007 tổng số lên 464 loài thực vật, tăng 108 loài đang

bị đe dọa ngoài thiên nhiên [7]

Hiện nay, các nhà khoa học đang đi theo hướng là nghiên cứu các họ thực vậtdưới dạng thực vật chí các công trình như: Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn(1999,2007) [38],[ 48], Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000) [4], Lamiaceae của

Vũ Xuân Phương (2002) [52], Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002) [27],Apocynaceae của Trần Đình Lý (2005) [33], Verbenaceae (2005) cúa Vũ XuânPhương [50] Đây là những tài liệu quan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đadạng phân loại thực vật Việt Nam

về đa dạng các đơn vị phân loại: Trên phạm vi cả nước Nguyễn Tiến Bân(1990) đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiệnbiết 8.500 loài, 2.050 chi trong đó lóp Hai lá mầm 1.590 chi và trên 6.300 loài và lớpMột lá mầm 460 chi với 2.200 loài [Theo 47] Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thựcvật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài câytrồng, như vậy tổng số loài lên tới 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tống số loài;92,48% tổng số chi và 85,57% tổng số họ Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ6,45%, 6,27%, 9,97% về loài Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngànhHạt trần (0,47%) hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi và loài [Theo 30] NguyễnNghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) đãchỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao và

Trang 19

30 họ có trên 100 loài với tống số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật[36] Lê Trần Chấn (1999) với công trình "Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vậtViệt Nam" đã công bố 10.440 loài thực vật [10].

Gần đây tập thê các nhà thực vật Việt Nam đã công bố “Danh lục các loài thựcvật Việt Nam” từ bậc thấp đến bậc cao Có thể nói đây là công trình tổng hợp đầy đủnhất từ trước tới nay và cũng là tài liệu cập nhật nhất Cuốn sách đã giới thiệu 368 loài

Vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 461 loài Rêu, 1 loài Quyết lá thông, 53loài thông đất, 2 loài cỏ tháp bút, 691 loài Dương xỉ, 69 loài Hạt trần, và 13.000 thựcvật Hạt kín đưa tổng số các loài thực vật Việt Nam lên trên 20.000 loài [15]

về đánh giá phân loại theo từng vùng: mở đầu là các công trình của NguyễnNghĩa Thìn(1992 - 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương, tiếp theo là Phan Ke Lộc(1992) về cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương; Lê Trấn Chấn, Phan Kế Lộc, NguyễnNghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về đa dạng hệ thực vật Lâm Sơn(Hòa Bình)

Đó là những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm các tác giả, nhằm phục vụ chocông tác bảo tồn của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn ở Việt Nam

1.3 Nghiên cứu đa dạng thực vật trên núi đá vôi ở Việt Nam

Việt Nam có diện tích rừng và rìmg khoảng 19.164.000ha Trong đó diện tíchnúi đá vôi 1.152.500 ha, chiếm 6,01% tống diện tích đất lâm nghiệp Núi đá vôi chiếmmột tỷ lệ tương đối lớn phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ Trong1.152.500 ha núi đá vôi, núi đá vôi có rừng là 396.200 ha và diện tích núi đá vôi không

có rừng là 756.300 ha (theo tài liệu kiểm kê rừng năm 1995 của Viện điều tra quyhoạch rừng) [52]

Theo thống kê bước đầu trong vùng núi đá vôi hiện có 20 khu rìmg đặc dụngbao gồm: 3 Vườn Quốc gia, 14 khu bảo tồn thiên nhiên, 4 khu bảo tồn di tích lịch sửvăn hoá và môi trường với diện tích là 366.371 ha Do vậy hệ sinh thái rừng núi đá vôi

đã và đang đóng góp một phần rất quan trọng đối với môi trường, cảnh quan cũng nhưnghiên cứu khoa học ở nước ta [40]

Hệ sinh thái rìmg trên núi đá vôi ở Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập đến,nhưng các tác giả chỉ đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ không tính đến luận chứng

Trang 20

kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật đê xây dựng các Khu bảo tồn, Vườn Quốc giamột cách có hệ thống.

Việc nghiên cứu hệ thực vật trên núi đá vôi một cách có hệ thống chưa nhiều,ngay cả Vườn Quốc gia Cúc Phương từ khi Bác Hồ ký quyết định thành lập VườnQuốc gia đầu tiên 1962 đến nay ngoài những tài liệu về thực vật đã được hệ thống mộtcách đầy đủ thì chưa có một thống kê nào mang tính hệ thống

Nguyễn Nghĩa Thìn và các tác giả (1994, 2000, 2003, 2004); Phan Kế Lộc vàcộng sự (1999 - 2001) đã công bố một số công trình về hệ thực vật trên núi đá vôi nhưSơn La, Hòa Bình, Phong Nha-Kẻ Bàng, Ba Bể, Cát Bà, Na Hang Các tác giả đãđánh giá về mặt phân loại, về tính đa dạng quần xã thực vật, tổ hợp cấu thành cũng nhưyếu tố địa lý và phổ dạng sống [9], [39], [42], [43], [46]

Đặng Quang Châu (1999) [11] với công trình "Bước đầu điều tra thành phầnloài thực vật núi đá vôi Pù Mát - Nghệ An" Tác giả đã thống kê được 154 loài thực vậtthuộc 60 họ, 110 chi (không kể ngành rêu)

Nguyễn Nghĩa Thìn (2001) [40], đã công bố 497 loài thực vật thuộc 323 chi,

110 họ trên núi đá vôi khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát

Averyanov và các cộng sự (2005), đã nghiên cứu hệ thực vật Pù Luông, các tácgiả đã đánh giá về đa dạng thảm thực vật và thành phần loài với 152 họ, 477 chi, 1109loài [1]

Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) [47] Với công trình "Nghiên cứu đa dạng thực vậtKhu bảo tồn thiên nhiên Na Hang" Công bố 1.162 loài thuộc 614 chi, 159 họ

Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2007), khi nghiên cứu hệ thực vật bậc cao có mạchtrên núi đá vôi ở VQG Ben En Thanh Hóa đã xác định được 412 loài [17]

Khi nghiên cứu hệ thực vật trên núi Đông Bắc vùng Nghĩa Đàn, Nguyễn ĐứcLinh và cộng sự (2010), đã công bố hơn 300 loài thực vật bậc cao có mạch [28]

1.4 Nghiên cứu đa dạng về phố dạng sống của hê thực vật

Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiệnmôi trường Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của

Trang 21

các dạng với điều kiện tự nhiên của tìmg vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiệnsinh thái đối với từng loài thực vật.

Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [56],

về phổ dạng sống, thông qua dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợicủa năm Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống cơ bản

1 - Cây có chồi trên đất (Ph)

2- Cây chồi sát đất (Ch)

3- Cây chồi nửa ẩn (Hm)

4- Cây chồi ẩn(Cr)

5- Cây chồi một năm (Th)

Trong đó cây chồi trên đất (Ph) được chia thành 9 dạng nhỏ:

a Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)

b Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me)

c Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi)

d Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

e Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)

f Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)

g Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp)

h Cây có chồi trên đất mọng nước (Suc)

i Cây có chồi trên đất ký sinh và bán ký sinh (Pp)

Để thuận tiện trong việc so sánh phổ dạng sống giữa các hệ thực vật với nhau,Raunkiaer (1934) đưa ra một phố dạng sống chuẩn dựa trên việc tính toán cho hơn1.000 cây ở các vùng khác nhau trên thế giới:

SB = 48 Ph + 9Ch + 26 He + 8 Cr + 15 Th

ơ Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác giả

Pócs Tamás (1965) [55] đã đưa ra một số kết quả như sau :

- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)

- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me)

- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

4,85%

3,80%

8,02%

Trang 22

- Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)

- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)

Richard [Theo 49] đưa ra phổ dạng sống cho rìmg mưa ẩm nhiệt đới:

SB = 88Ph + 12Ch + OHm + OCr + OTh

Đối với Vườn Quốc gia Cúc Phưong, Phùng Ngọc Lan và các tác giả (1996)[26], đưa ra phổ dạng sống như sau:

SB = 57,78Ph + 10,46Ch + 12,38Hm + 8,37Cr + 1 l,01ThĐối với Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003)[41], đã công bố dạng sống như sau:

Trang 23

Chương 2 ĐIÈƯ KIỆN Tự NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU vực NGHIÊN cứu

2.1 Một số đặc đỉêm tụ nhiên — xã hội của huyện cấm Thủy

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a VỊ trí địa lý

Cẩm Thủy là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây - Bắc của tỉnh thanhhóa cách thành phố Thanh Hóa 76km

Diện tích 425,03km2

Phía Đông giáp huyện Vĩnh Lộc

Phía Bắc giáp huyện Thạch Thành

Phía Tây giáp huyện Bá Thước

Phía Nam giáp huyện Ngọc Lặc và Yên Định

Sơ đồ 1 Vị trí địa lí Huyện cẩm Thủy.

lx»mj Uik

SÔO( Mjó<

Trang 24

b Địa hình — địa chất

Địa hình thấp đần theo hướng Tây Bắc Đông Nam, độ cao trung bình 200 400m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình 25 - 30°, có sông Mã chảy qua dài hơn40km nên huyện có một nguồn nước lớn phục vụ cho đời sống và sinh hoạt cho nhândân

-Cẩm Thủy có địa hình lòng chảo và thấp dần từ phía Tây Nam và Đông Bắcxuống thung lũng sông Mã, trong đó có đến 80% diện tích là đồi núi Có các loại đất:Feralit nâu đỏ, Feralit vàng nhạt, Feralit đỏ vàng thích hợp cho việc trồng cây lâmnghiệp, công nghiệp lâu năm, cây hàng năm và hoa màu, có phù sa bồi đắp thích hợpcho trồng lúa nước

c Khí hậu - Thủy văn

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, không quá nóng, mưa vừa phải, mà đông lạnh tươngđối khô Tổng nhiệt độ trong năm 8400 - 8500°c nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thểxuống 2°c, tối cao tuyệt đối có thể tới 38 - 40°c Ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới20°c là tháng 12, 01, 02 còn lại là các tháng có nhiệt độ trung bình trên 20°c

Lượng mưa trung bình năm 1.600 - 1.900 mm Hàng năm có 10-15 ngày có gióTây khô nóng Sương muối chỉ xảy ra trung bình vào 1 - 3 ngày trong mùa đông

2.1.2 Kinh tế văn hóa xã hội

Huyện có 19 xã và 01 thị trấn; 201 thôn; có 10 xã vùng cao, với 05 xã đặc biệtkhó khăn thuộc chương trình 135 của chính phủ, trong đó có xã cám Lương

Dân số: 113.580 người (đến 01/4/2009), có 3 dân tộc anh em sinh sống: Mường(52,4%), Kinh (44,5%), Dao (2,9%), còn lại là các dân tộc khác

Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 đạt 10,7%

Cơ cấu kinh tế:

Nông - Lâm — Thủy sản: 54,4%

Công nghiệp và xây dựng cơ bản: 11,6%

Dịch vụ: 34%

Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 7,45 triệu đồng, tỉ lệ hộ nghèogiảm 4%/năm, hiện còn 28,9%

Trang 25

Toàn huyện có 72 trường học ở các cấp học phố thông, trong đó có 03 trườngTHPT, 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm dạy nghề, 10 trường đạtchuẩn quốc gia (02 trướng THCS, 07 trường Tiểu học, 01 trường Mầm non), có 03trường cận chuẩn, chất lượng học sinh ngày càng nâng cao.

Y tế: có một bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế dự phòng, 02 phòng khám đakhoa và 20 trạm y tế xã, thị trấn (có 10 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế)

Trong báo cáo tóm tắt kinh tế xã hội huyện câm Thủy năm 2007 với phó thủtướng Trương Vĩnh Trọng ngày 13/7/2007, huyện đã đưa ra một số chỉ tiêu quan trọngtrong việc phát triển suối cá cấm Lương, đó là “Tập trung huy động các nguồn lực, đầu

tư phát triển và xây dựng các công trình trọng điểm phục vụ sản xuất; phát triên mạnhcác loại hình dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch suối cá cấm Lương” Huyện còn đềnghị, kiến xuất lên Chính phủ “Hổ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đồngthời bảo tồn khu du lịch suối cá thần câm Lương”

2.2 Một số đặc điểm tự nhiên — xã hội xã cẩm Lương

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 26

Việc giao lưu hàng hóa và mọi quan hệ xã hội với các xã trong khu vực duynhất bằng một con đường độc đạo là cầu treo bắc qua sông Mã (cầu được xây dựngbàng nguồn vốn của Chính phủ, hoàn thành đưa vào sử dụng tháng 9 năm 2005) Nhờ

vị thế đó mà rừng được bảo vệ tốt hơn, việc quản lý rìmg cũng tương đối thuận tiện,

c Khí hậu

Cẩm Thuỷ nói chung và cẩm lương nói riêng có khí hậu nhiệt đới gió mùa,không quá nóng, mưa vừa phải, mùa đông lạnh, tương đối khô, biên độ tương đối lớn.Tổng nhiệt độ trong năm là 8.400 - 8.500°c Nhiệt độ trung bình tháng Giêng là 15,5 - 16,0°c, tháng Bảy là 28 - 29 °c Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới 2°c, tốicao tuyệt đối có thể tới 38 - 40°c Lượng mưa trung bình năm 1.600 - 1.900 mm Hàngnăm có 10-15 ngày có gió Tây khô nóng Sương muối chỉ xảy ra trung bình vào 1 - 3ngày trong mùa đông

2.2.2 Điều kiện xã hội

Xã có 6 thôn, 689 hộ và 2964 khẩu (tính tới ngày 25/4/2012), gồm 2 dân tộcMường và Kinh Dân tộc Mường chiếm 87%, dân tộc Kinh chiếm 13% Nhân dân cácdân tộc trong xã có truyền thống đoàn kết lâu đời, cần cù và sáng tạo trong lao động,sản xuất

Dòi sống nhân dân: nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và

lâm nghiệp, gần đây có phát triẻn thêm một số ít nghề phụ như dệt thổ cẩm phục vụ dulịch, đan cót nan, may mặc, mộc, sản xuất vật liệu xây dựng, thu nhập bình quân theođầu người là 550kg lương thực/ năm: giá trị bình quân 8.500.000đ/người/năm Tỷ lệ hộnghèo theo chuân mới là: 12,61%

Văn hóa xã hội: toàn xã có 67 gia đình thương binh liệt sỹ trong đó 03 bà mẹ

việt nam anh hùng, 07 trường hợp nhiễm chất độc gia cam: 14 đối tượng 07 Xã có 6/6thôn và 2/3 cơ quan xây dựng làng văn hóa, cơ quan văn hóa Trong đó được nhà nướccông nhận 2 cơ quan văn hóa cấp huyện, xã đang phấn đấu từ nay đến 2013 đăng kýxây dựng xã văn hóa

Trang 27

Giáo dục: xã có 3 trường, mẫu giáo, tiểu học, THCS Hiện nay có 47 em đang

theo học các trường đại học, cao đắng và trung học chuyên nghiệp, đến nay đã đượcnhà nước công nhận phố cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi

Y tế: xã có trạm y tế kiên cố 2 tầng với 8 phòng CT 135 năm 2005, có 1 bác sỹ,

4 y sỹ và 6 y tá thôn bản và xã được UBND tỉnh công nhận là xã đạt chuẩn quốc gia về

y tế đầu tiên trong huyện cẩm Thủy từ 2003

An ninh — Quốc phòng: được ổn định và giữ vững, an toàn làm chủ, chưa có tệ

nạn xã hội như mại giâm, cờ bạc, số đề, ma túy xãy ra trên địa bàn

2.2.3.DU lịch.

Trong thú vui thám hiếm thiên nhiên có mấy ai tìm tới các tòa cao ốc, hay lựachọn những thắng cảnh chốn non sâu với phong cảnh hữu tình ấn chứa nhiều huyền bíchưa được khám phá Thành Roma nguy nga hay Paris tráng lệ hẵn sẽ mang đến chobạn nhiều điều kỳ thú và làm hài lòng cả những người khó tính nhất Song đó là tinhhoa của các nền văn minh lớn trên thế giới, xuất hiện sớm và phát triên rực rỡ nhất

“Suối ngọc cá thần” là cảnh đẹp “Độc nhất vô nhị” với đầy đủ vẻ thơ mộng và

cố kính, một địa danh thật gần gũi với tất cả chúng ta, tình hữu hảo và hiếu khách sẽhơn bất cứ nơi nào bạn từng đến Tới làng Ngọc quý khách được sống trong không khítràn ngập của lễ hội và phong cảnh hữu tình Sự huyền bí nơi đây luôn thách thức mọi

sự hiểu biết, bao thú vị đang chờ dấu chân của du khách

Truyền thuyết kể lại rằng từ thuở “Đẻ đất đẻ nước” Làng Ngọc đã có một cộngđồng người Mường ở trong các hang động, sống chủ yếu bằng săn bắt hái lượm Mọingười thương yêu đùm bọc lẫn nhau Một ngày kia có tiếng sét kinh hoàng phá tan đicuộc sống thanh bình, không gian trở nên vắng lặng, mây đen che khuất bầu trời, sấmsét rền vang, mưa tuôn gió gào, cuồng phong giữ dội tạo thành trận Hồng Thủy nhấnchìm cả buôn làng trong sóng nước

Lạ kỳ thay một buổi sớm tinh mơ, nghe rộn rã trên cành cao chim hót, núi rừngđẩy lùi sóng nước, IŨ sạch bùn trong Iiắng ấm ban mai, muông thú thi nhau truyềnngôn ngữ của muôn loài, tìm bạn tình và gọi bầy tụ hội Một sức sống thần kỳ đang vẫygọi, mọi người bàng hoàng trước sự đổi thay, vẳng xa xa tiếng sáo ai véo von, sức hút

Trang 28

lạ kỳ đưa buôn làng tiến bước, tới phía tây đầu nguồn con nước có rừng Đăng tươithắm ngát hương.

Giữa phong cảnh hữu tình xuất hiện một tràng trai: Đầu đội mũ hình rồng,khoác trên vai chiếc cung dát ngọc, chàng mặc áo dát bạc và chiếc khố lấp lánh, trêntay trái cầm cây sáo trúc còn tay kia mang chiếc rìu vàng Với dáng vẽ uy nghi của một

vị thần, chàng bước tới nghiêng mình và cất tiếng: “Con sinh ra từ núi rừng nhưng vẫnkiếp làm người, tha thiết mong buôn làng dang tay đón nhận! ”

Nhờ có chàng trai dạy cho làm nhà, trồng trọt, bản làng thêm trù phú tốt tươi,cuộc sống dựa vào thiên nhiên dần được đấy lùi và thay thế bằng bàn tay lao động Để

tỏ lòng và ghi ơn chàng trai, mọi người gọi Anh bằng một cái tên thân thiện (Ái Rồi chọn giữa mùa Đăng rực nở mở hội mìmg truyền thống của bản thôn

Ngọc)-Biết bao cô gái xinh đẹp đã nhớ thương, nhưng Ái Ngọc vẫn chan hòa bình dị,ngày chỉ dẫn giúp buôn làng lao động, tối thổi sáo ru mọi người giấc ngủ bình yên.Tiếng sáo mang nổi niềm tâm sự Khiến Tiên Thủy - Con út của Long Vương đã đemlòng thầm thương trộm nhớ Nhưng tiếc thay đúng lúc vua cha thúc dục Nàng se duyênvới Thuồng Luồng gian ác Nàng quyết không chịu đã chốn khỏi cung đi theo tiếng gọicủa con tim Nghe theo tiếng sáo Nàng cứ đi miệt về phía tây, sức cùng lực kiệt Nàngcũng không hề dừng bước cho đến một chiều kia: Gắng hết sức rồi gọi to một tiếng

“Hỡi chàng ơi”rồi gục xuống lịm đi trên thảm cỏ dưới gốc Đăng tươi thắm Tiếng gọivang xa và lợt thấu vào tai Ái Ngọc Cơ duyên trời đưa đường dẫn bước, tiếng sáochàng đem lại sức hồi sinh Họ gặp nhau rồi kết tóc se duyên hạnh phúc giữa hội mùaĐăng nở ngát hương

Tên Thuồng Luồng hung ác mất người yêu, trong cơn cuồng phẫn đã giết baosinh mạng Y làm mưa to gió lớn, dâng nước cao tràn ngập cả núi đồi, hòng cướp đi sựsống của muôn loài Ai Ngọc biết chuyện chàng buồn lắm, chỉ vì mình mà hậu họa cảmuôn dân Chàng càng thương yêu vợ hơn và nhận lấy về mình phần trách nhiệm

Sáng hôm sau trong con nước thét gào, một hiệp sỹ oai hùng cưỡi mình rồng ratrận Thuồng Luồng biết Ai Ngọc là chồng yêu của Tiên Thủy nên xông vào cuộcchiến Qua nhiều ngày đêm giao tranh quyết liệt đôi bên vẫn bất định được thắng thua

Trang 29

Cho đến chiều kia bằng sức mạnh của vị thần trong cuộc chiến tranh chính nghĩa,Chàng dương cao cây cung bằng ngọc bắn mũi tên trúng ngực Thuồng Luồng, ngay lậptức mọi con nước rút luôn, Ái Ngọc phải rẻ đất để trở về cấp tốc Muốn trả thù và gặpnàng Tiên Thủy, Thuồng Luồng liền rẻ đất chạy theo sau Nhimg vì vết thương quá sâunên chỉ đi được một đoạn thì ngã lăn ra chết Còn Ái Ngọc về làng gặp vợ con; khảihoàn ca vang dộn chốn thanh bình - Bản mường vui ngập tràn trong lời ca và tiếng sáo.

Tiếc thay vì sức cùng lực kiệt, do vết thương quá nặng, trong cơn lâm nguychàng đã ôm nàng và các con vào lòng rồi ra đi mãi mãi Đau thương vô vàn và tưởngnhớ công ơn, dân làng đưa chàng về với cõi tiên ở chính nơi trước kia chàng xuất hiện.Đêm đó mọi người đều sót sa sầu thảm, các con thơ cùng nàng ly oán khóc than Sánghôm sau không ai thấy ngôi nhà và vợ con của Ai Ngọc đâu, thay vào đó là cửa hangtrào ra một dòng nước mát, cá ở đâu xuất hiện bơi lượn lờ, đông lạ kỳ và chỉ có mộtloài duy nhất Dưới chân suối có xác một con rắn cụt, nhân dân cho rằng đó là Ái Ngọchiện thân - Một con rồng Thiên Đình cử xuống trần, cứu giúp dân làng thoát can quanạn khỏi, họ đã tiến hành chôn cất thật tôn nghiêm, lập Miếu thờ rồi ngày ngày hươngkhói

Con suối kia là dòng nước mắt khóc thương chồng, cùng đàn cá là những đứacon bé nhỏ Nhân dân tưởng nhớ công ơn vị anh hùng nhân hậu nên đã lấy tên Chàngđặt cho mảnh đất quê hương đó là làng Làng Lương Ngọc ngày nay

Cùng với biển sầm Sơn, Thành Nhà Hồ, Vườn Quốc Gia Bến En và động TừThức , Suối cá Làng Ngọc là hiện tượng thiên nhiên kỳ thú xứ Thanh bên chân núiTrường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã cẩm Lương, huyện miền núi câm Thuỷ

Huyện Cẩm Thủy nằm ở phía nam liên khu đá vôi Pù Luông, với nhiều khurừng đá vôi nguyên sinh, các loài động thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, đặc biệt

là loài voọc mông trắng chỉ có duy nhất tại nơi này Suối cá thần câm Lương là mộtnét chấm phá tuyệt đẹp giữa bức tranh thiên nhiên ấy

Qua cây cầu treo bắc ngang dòng sông Mã xanh trong, du khách có thể thỏa sứcngắm cảnh trời mây non nước Dòng sông Mã hiền hòa chảy, những rặng cây xanhmướt hai bên bờ , tất cả làm nên một không gian bình yên và tuyệt đẹp Qua cây cầu

Trang 30

treo, con đường dẫn vào suối cá thơ mộng với những ruộng lúa chín vàng ươm, nhữngdãy đồi núi trập trùng cùng với tiếng gió thì thầm ru vỗ Từ xa xa, đã nghe tiếng suốichảy róc rách như reo vui chào đón Dòng suối hiện ra trong xanh ẩn hiện dưới nhữngtán cây, đàn cá hàng nghìn con chen nhau bơi lội, thanh tân tựa chốn tiên.

Đến với suối cá, du khách còn có thể khám phá hệ thống hang động tuyệt đẹpngay bên cạnh Những nét sinh hoạt độc đáo của người Mường bản Ngọc cũng là mộtdiêm nhấn độc đáo: múa sạp, đánh cồng chiêng, hát sắc bùa Khi thấm mệt, du khách

có thể nghỉ ngơi, thưởng thức những món ăn dân tộc trên nhà sàn mát rượi, nào là ngônếp nướng, cơm lam, rồi thịt lợn muối chua ngay giữa không gian sơn thủy hữu tình.Đồng thời, du khách còn chiêm ngưỡng những vũ điệu quyến rũ của các cô gái Mườngthướt tha

Đây là một trong những khu du lịch, tâm linh- sinh thái độc đáo nhất xứ Thanh

và hiếm có ở nước ta Bởi suối cá thần câm Thủy là hiện tượng thiên nhiên kỳ thú có

từ hàng trăm năm nay dưới chân núi Trường Sinh, được đồng bào dân tộc Mường bảnđịa gìn giữ như một báu vật

Từ khi phát hiện ra suối cá thần câm Lương đến nay, đã có nhiều tài liệu khoahọc viết về các loài cá ở đây Tài liệu của các nhà ngư loại học trong nước đã chứngminh, đàn cá hàng nghìn con lớn, nhỏ ở suối cá thần cẩm Lương gồm các loài: Cá dốc(có tên khoa học là Spimbarbichthys denticulatus- thuộc bộ cá chép, có tên trong sách

đỏ Việt Nam); cá chài, cá mại Hình thù các loài cá này rất lạ, màu sắc phong phú như:màu đỏ, xanh, hồng Mỗi khi bơi, thân cá thần phát sáng nhiều màu, lấp lánh ánh bạctrông thật vui mắt, ấn tượng Đặc biệt, đàn cá thần rất thân thiện với con người Hàngngày, đàn cá thần tung tăng bơi lội dưới dòng suối, nhảy lên khỏi mặt nước vui đùacùng du khách Đến tối, đàn cá này lại bơi vào hang trú ấn Vào mùa nước cạn, lòngsuối Ngọc chỉ sâu khoảng 20- 40cm, nước trong vắt, du khách có thê đưa tay xuốngnước vuốt ve những con cá thần to như bắp chân, bắp tay Đây là điều kỳ thú, hấp dẫn,nên đã thu hút hàng chục nghìn lượt du khách trong, ngoài nước đến suối cá thần cẩmLương mỗi năm

Trang 31

Bên cạnh suối cá thần, xã câm Lương hiện đang còn giữ được nguyên vẹn hệthống rừng nguyên sinh với các loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộcdãy núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phương Đồng bào dân tộc Mường nơi đây với nhữngnếp sinh hoạt văn hóa truyền thống như: dệt thổ cẩm, uống rượu cần, múa Pồn Pông

sẽ là diêm nhấn đế thu hút du khách Dọc dãy núi Trường Sinh hiện còn có nhiều hangđộng nguyên sơ chưa được khám phá

Đặc biệt, nếu du khách đến với suối cá thần câm Lương vào dịp mùng 8 thánggiêng âm lịch hàng năm sẽ được dự lễ hội khai hạ- một lễ hội độc đáo nhất của đồngbào dân tộc Mường bản địa nơi đây Theo quan niệm của người dân địa phương, lễ hộirước thần cá (còn gọi là lễ hội khai hạ đầu xuân) có từ xa xưa, được đồng bào dân tộcMường ở xã cấm Lương bảo tồn, lưu giữ khá nguyên vẹn cho đến ngày nay Lễ hộinày được tổ chức trang trọng, hoành tráng, với ước nguyện của người dân địa phương

là cầu cho mưa thuận, gió hòa, mọi người khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt

Suối cá thần cẩm Lương nằm giữa vòng tua du lịch Hà Nội - Mai Châu - PùLuông - Suối cá cấm Lương - Thành Nhà Hồ - Cúc Phương

Trang 32

Chương 3:

ĐỎI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu

3.1 Đoi tượng và phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ các loài thực vật có hoa ở khu vực núi đá vôi suối cá thần cẩm Lương,Cẩm Thủy, Thanh Hóa

3.2 thòi gian nghiên cứu

Đe tài được tiến hành từ tháng 6 năm 2012 đến thánh 10 năm 2013

Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu 3 đợt, mỗi đựt kéo dài từ 7 đến 10 ngày

- Đợt 1: Từ 22/6/2012 đến 29/6/2012

- Đợt 2: Từ 12/10/2012 đến 20/10/2012

- Đợt 3: Từ 25/4/2013 đến 2/5/2013

Trong đợt thu mẫu về thì chúng tôi phân tích và xác định tên khoa học

Số mẫu thu được cả 3 đợt nghiên cứu: 340 mẫu, chúng tôi đã xác định được 275loài.Hiện nay số mẫu đã được lưu trữ tại phòng thực vật bậc cao khoa Sinh học, trườngĐại học Vinh

3.3 Nội dung nghiên cúu

- Điều tra thành phần loài thực vật có hoa ở khu vực nghiên cứu

- Lập danh mục thực vật và sắp xếp các taxon theo cách sắp xếp của Brummitt1992

- Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật (theo Raukiaer 1934)

- Xác định ý nghĩa kinh tế của các loài thực vật

3.4 Phương pháp nghiên cúu

3.4.1 Thu thập số liệu ở thực địa

Khi nghiên cứu tính đa dạng của một hệ thực vật thì việc thu thập mẫu là nhiệm

vụ quan trọng làm cơ sở đê xác định tên taxon và xây dựng bảng danh lục chính xác vàđầy đủ Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến rộng 2m chạy qua tất cảcác sinh cảnh nham thu kỹ hết các loài thực vật có ở trên đó

3.4.2 Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên

Trang 33

Thu mẫu theo nguyên tắc của Nguyễn Nghĩa Thìn [36] và Klein R.M., KleinD.T [25].

- Đối với cây gỗ, cây bụi mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu, kích cỡ phải đạt 29 X41cm có thể tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết Đối với cây thân thảo, thì cốgắng thu cả rễ, thân, lá

- Sau khi thu mẫu thì đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng cây thì đánhcùng một số hiệu Đặc biệt khi thu mẫu phải ghi ngay những đặc điẻm dễ nhận biếtngoài thiên nhiên vào phiếu ghi thực địa (phụ lục) vì những đặc điếm này dễ bị mất khimẫu khô: nhựa mũ, màu sắc, hoa, quả, lá

Khi thu và ghi nhãn xong, đính nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bó vào baotải buộc lại sau đó mới đem về nhà xử lý

3.4.4 Xác đinh và kiếm tra tên khoa học

Đồng thời với việc xử lý mẫu thành những tiêu bản đạt yêu cầu, tiến hành xácđịnh tên loài, thực hiện theo trình tự gồm các bước như sau:

Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải tuân

theo các nguyên tắc:

+ Phân tích từ tổng thê bên ngoài đến chi tiết bên trong

+ Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình

+ Phân tích đi đôi với việc tra klioá xác định

+ Khi tra khoá luôn đọc từng cặp đặc điếm đối nhau cùng một lúc đế dễ phânđịnh các cặp dấu hiệu

Ngày đăng: 30/12/2015, 08:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   danh   lục   thực   vật   được   xây   dựng   theo   hệ   thống   phân   loại   của   Brummitt (1992) - Thành phần loài thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối cá thần, xã cấm lương, huyện cấm thủy, tỉnh thanh hóa
ng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) (Trang 34)
Hình   1.   Phân   bó   của   các   lớp   trong   ngành   Magnoliophyta - Thành phần loài thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối cá thần, xã cấm lương, huyện cấm thủy, tỉnh thanh hóa
nh 1. Phân bó của các lớp trong ngành Magnoliophyta (Trang 46)
Hình 2. Phố dạng sống cơ bản của thực vật có hoa ở suối cá thần xã câm Lương - Thành phần loài thực vật có hoa trên núi đá vôi ở suối cá thần, xã cấm lương, huyện cấm thủy, tỉnh thanh hóa
Hình 2. Phố dạng sống cơ bản của thực vật có hoa ở suối cá thần xã câm Lương (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w