Việc nghiên cứu sự phát triển các chỉ sốhình thái và thể lực ở các độ tuổi học sinh THCS có vai trò quan trọng cho sựphát triển nguồn nhân lực trong tương lai.. Mục đích nghiên cứu - Đán
Trang 1NGUYỄN HỮU DANH
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Ngọc Hợi
Nghệ An - 2013
Trang 2LỜI CẢM
Đế hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học cũng như gia đình và bạn bè.
Tôi xỉn chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giảo khoa Sinh học, phòng Đào tạo sau đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Vinh.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, người đã tận tâm hưỏng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo các trường Trung học cơ sở: Nam Hà, Nguyễn Du (thành pho Hà Tĩnh), Hương Lâm, Hương Thủy (huyện Hương Khê - tỉnh Hà Tĩnh) đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập so liệu.
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trang 32.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số sinh lí một số hệ cơ quan 23
Trang 43.1.1 Chiều cao đứng của học sinh 27
3.5 Tương quan giữa chỉ số IQ với chỉ số BMI, Pignet 633.5.1 Tương quan giữa chỉ số IQ với chỉ số BMI, Pignet ở nữ 633.5.2 Tương quan giữa chỉ số IQ với chỉ số BMI, Pignet ởnam 65
Trang 5IQ : Intelligence Quotient (Chỉ số thông minh)
SD : Standard Diviation (Độ lệch chuẩn)THCS : Trung học cơ sở
VNTB : Vòng ngực trung bình
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 31Bảng 3.2 Cân nặng (kg) của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 35Bảng 3.3 Vòng ngực của học sinh theo nghiên cứu của một số tác giả 39Bảng 3.4 Chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu của một số tác giả 42
Bảng 3.7 Tưcmg quan chỉ số IQ vói BMI, Pignet của học sinh nữ 63Bảng 3.8 Tirưng quan chỉ số IQ với BMI, Pignet của học sinh nam 65
Trang 7Hình 2.1 Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 tuổi đến 20 tuổi 22Hình 2.2 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 tuổi đến 20 tuổi 23
Hình 3.2 Sự khác nhau về phát triển chiều cao của học sinh nam ở thành 28phố và ở miền núi
Hình 3.3 Sự khác nhau về phát triển chiều cao của học sinh nữ ở thành 29phố và ở miền núi
Hình 3.5 Sự khác nhau về phát triển cân nặng của học sinh nam ở thành 33phố và ở miền núi
Hình 3.6 Sự khác nhau về phát triển cân nặng của học sinh nữ thành 34phố và miền núi
Hình 3.8 Sự khác nhau về phát triển VNTB của học sinh nam thành 37phố và miền núi
Hình 3.9 Sự khác nhau về phát triển VNTB của học sinh nữ thành 38phố và miền núi
Hình 3.11 Sự khác nhau về chỉ số BMI của học sinh nam thành 41phố và miền núi
Hình 3.12 Sự khác nhau về chỉ số BMI của học sinh nữ thành 41phố và miền núi
Hình 3.14 Sự khác nhau về chỉ số Pignet của học sinh nam thành 44phố và miền núi
Trang 8Hình 3.15 Sự khác nhau về chỉ số Pignet của học sinh nữ thành 45phố và miền núi
Hình 3.21 Sự biến đổi huyết áp tâm trương của học sinh 52
Hình 3.23 Sự biến đổi thời gian nín thở tối đa của học sinh 54
Hình 3.25 Phân bố học sinh theomức trí tuệ xuất sắc (II) 57Hình 3.26 Phân bố học sinh theomức trí tuệ thông minh (III) 57Hình 3.27 Phân bố học sinh theomức trí tuệ trung bình (IV) 58Hình 3.28 Phân bố học sinh theomức trí tuệ dưới trung bình (V) 59
Hình 3.30 Phân bố học sinh theomức học lực loại giỏi 61
Hình 3.32 Phân bố học sinh theomức học lực loại trung bình 62
Hình 3.34 Tương quan giữa chỉsố IQ và BMI của học sinh nữ 64Hình 3.35 Tirưng quan giữa chỉsố IQ và Pignet của học sinh nữ 65Hình 3.36 Tirơng quan giữa chỉsố IQ và BMI của học sinh nam 66Hình 3.37 Tương quan giữa chỉsố IQ và Pignet của học sinh nam 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triên của mỗiquốc gia, vì đó là cơ sở đê khai thác tốt các nguồn lực khác Việc phát triểnnguồn lực con người là nhân tố quan trọng, là động lực cho tăng trưởng vàphát triển kinh tế - xã hội Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thờiđại kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi rất lớn đến phát triển nguồnnhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, đóng góp cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việc nghiên cứu sự phát triển các chỉ sốhình thái và thể lực ở các độ tuổi học sinh THCS có vai trò quan trọng cho sựphát triển nguồn nhân lực trong tương lai Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VIII đã nhấn mạnh sự cải thiện nâng cao thể lực và tầm vóc ngườiViệt Nam giai đoạn đang phát triển là việc làm cần thiết và đầy ý nghĩa
Các chỉ số về hình thái, thể lực và trí tuệ ở các lứa tuổi không phải là sốhằng định và không giống nhau giữa các vùng miền Cùng với sự phát triếnkinh tế, xã hội, các chỉ số luôn có sự biến đổi, cần phải được tiến hành nghiêncứu thường xuyên
Chính vì lí do trên mà từ năm 1975 đến nay, ở nước ta đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về thể lực và năng lực trí tuệ Đáng chú ý là công trình
nghiên cứu của các tác giả trong nhóm đề tài “Nghiên cứu đặc điếm sinh thế
con người Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khoể\ mã số KX - 07 - 07 do GS.TS Lê Nam Trà làm chủ nhiệm
[70], [71], [72], [73] và nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu về thế lực và trí
tuệ ở học sinh'’ do GS.TSKH Tạ Thúy Lan làm chủ nhiệm [41] Kết quả
nghiên cứu của các công trình đã cho thấy, năng lực trí tuệ của con người thayđối theo lứa tuổi và điều kiện xã hội, đáng kê nhất là chế độ dinh dưỡng và
Trang 10lượng thông tin [20], [21], [43], [55] Điều này có thể thấy rõ nhất là đối với
độ tuối học sinh ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở (THCS)
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ thường xuyên chịu ảnhhưởng nặng nề của thiên tai, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, việc phát triểnnguồn nhân lực là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Do đócần có nhiều công trình nghiên cứu đế đánh giá nguồn nhân lực của tỉnh HàTĩnh Trong các công trình nghiên cứu về chỉ số sinh học và trí tuệ của trẻ emViệt Nam, chủ yếu là học sinh từ 6 đến 17 tuổi [19], [20], thì các côngtrình nghiên cứu về thể lực và trí tuệ của học sinh ở tỉnh Hà Tình còn rất ít Vìvậy, đê làm cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp, biện pháp nâng cao tầm vóc,trí tuệ người Việt Nam; góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho
xã hội nói chung và cho tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài “Sự
phát triến một so chỉ tiêu tliế lực, thế chất, sinh lỷ và năng lực trí tuệ của học sinh trung học cơ sở tỉnh Hà Tĩnh ”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá sự phát triển một số chỉ tiêu thê lực, thê chất, sinh lý của họcsinh THCS tỉnh Hà Tĩnh: chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ sốPignet, BMI, tố chất nhanh, tố chất mạnh, tố chất dẻo, tần số tim, huyết ápđộng mạch, tần số thở
- Đánh giá sự phát triển một số chỉ tiêu về trí tuệ (chỉ số IQ, kết quả họclực); xác định mối tương quan giữa chỉ số IQ với các chỉ số thê lực của họcsinh THCS tỉnh Hà Tĩnh
- So sánh sự phát triển các chỉ tiêu về thể lực giữa học sinh THCS vùngmiền núi và vùng thành phố tỉnh Hà Tĩnh
Trang 113 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu thể lực của học sinh THCS tỉnh Hà Tĩnh(chiều cao, cân nặng, vòng ngục trung bình, chỉ số Pignet, chỉ số BMI)
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu chúc năng sinh lý của học sinh THCS tỉnh HàTĩnh (tần số tim, tần số hô hấp, huyết áp động mạch)
- Nghiên cím một số tố chất vận động của học sinh THCS tỉnh Hà Tĩnh (tốchất nhanh, tố chất mạnh, tố chất dẻo)
- Nghiên cứu chỉ số chỉ số IQ, kết quả học lục; mối tirơng quan giữa chỉ
số IQ với thể lục, học lực
4 Nhũng đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá đuợc đặc diêm phát triển một số chỉ số về thể lực, thể chất,sinh lý, năng lục trí tuệ , mối tirơng quan giữa các chỉ số thể lục vói năng lụctrí tuệ của học sinh THCS tỉnh Hà Tĩnh
- Các chỉ số về hình thái, thể lực và trí tuệ ở các lứa tuổi không phải là
số hằng định và không giống nhau giữa các vùng miền Cùng với sụ phát triểnkinh tế, xã hội, các chỉ số luôn có sự biến đổi, nên luận văn góp phần bổ sungcác số liệu cần thiết về sụ phát triến thể lục của trẻ em, làm cơ sở khoa họccho việc đua ra các giải pháp, biện pháp nâng cao tầm vóc nguời Việt Nam
- Kết quả trong luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi học đirừng nói chung vàcủa học sinh THCS tỉnh Hà Tĩnh nói riêng
Trang 12Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu 1.1 Luợc sử nghiên cứu về các chỉ số thế lực
Vấn đề về thể lực con người từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quantâm nghiên cứu Song tất cả đều thống nhất rằng, thể lực phản ánh cấu trúctổng hợp của cơ thể, nó liên quan chặt chẽ với thể trạng, hình thái, sức khoẻ,sức lao động, thấm mĩ, là khả năng, năng lực vận động của mỗi cá nhân Mộttrong những biểu hiện cơ bản của thể lực là các số đo kích thước của cơ thể,trong đó chiều cao, cân nặng và vòng ngực là các chỉ số cơ bản phản ánh thểlực của con người Từ các chỉ số cơ bản kê trên có thê tách thành các chỉ sốkhác biểu hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số pignet, chỉ số sinh khối
cơ thế (BMI) Các chỉ số đó có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển thểlực của trẻ em, biểu hiện sự tăng trưởng của cơ thể con người từ lúc mới sinhđến lúc chết
Chiều cao là một trong những chỉ số được dùng nhiều trong điều tra cơbản về nhân trắc học và để đánh giá thể lực, sức khoẻ của mỗi cá thể và của
cả cộng đồng Sự phát triển chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, baogồm cả yếu tố bên trong cơ thế như di truyền và những yếu tố bên ngoài nhưyếu tố dinh dưỡng, điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội Các yếu tố này tác độnglên sự phát triển chiều cao một cách dần dần, liên tục và không đồng nhất.Trên Thế giới sự phát triển chiều cao của con người ở mỗi châu lục diễn rakhác nhau và ngay trong cùng một châu lục, ở mỗi quốc gia cũng có sự pháttriển khác nhau [41]
Cân nặng là chỉ số phát triển tổng hợp, biểu thị mức độ và tỷ lệ giữahấp thụ và tiêu hao năng lượng So với chiều cao, cân nặng cơ thê ít phụ thuộcvào yếu tố di truyên hơn mà có liên quan chủ yếu tới chế độ dinh dưỡng [12],[62], [63] Sự phát triển cân nặng liên quan tới nhiều yếu tố khác cho nênthường dùng đê khảo sát nhằm đánh giá thể lực của con người Cân nặng cơ
Trang 13thể cũng thay đổi theo lứa tuổi Cân nặng cơ thể tăng không đồng đều trongquá trình phát triển của con người Từ khi sinh ra, cân nặng cơ thể tăng nhanh
và đạt đến tối đa khi đến tuổi trưởng thành sau đó tốc độ tăng giảm dần [1] Ởcác châu lục khác nhau, cân nặng cơ thể của con người cũng khác nhau vàtrong cùng một nước ở mỗi vùng miền cũng có sự khác nhau So với cân nặng
cơ thể của người châu Âu, châu Mỹ, người Việt Nam nhẹ cân hơn [29], [30]
Vòng ngực là số đo thường được dùng với chiều cao và cân nặng đểđánh giá thê lực và các hệ số tương quan giữa ba số đo [56] Khác với cânnặng, vòng ngực chỉ tăng nhanh khi cơ thể bước vào giai đoạn dậy thì và pháttriển đến một giai đoạn nhất định thì dừng lại ơ nữ, tuổi dậy thì đến sớm hơn
ở nam và thường là từ 11 - 13 tuổi, ở nam 1 3 - 1 5 tuổi [49]
Từ giữa thế kỉ XVIII, việc nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển ởtrẻ em bắt đầu được chú ý Công trình đầu tiên nghiên cứu về thê lực của conngười là do Christian Friedrich Jumpert tiến hành vào năm 1754 Khi đó ông
đã nghiên cứu về chiều cao, cân nặng và một số chỉ tiêu khác của trẻ em từ 1đến 25 tuổi Kết quả của công trình này được giới nghiên cứu đánh giá cao[73] Cũng trong khoảng thời gian này Philibert Guerneau de Montbeilardthực hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Đây
là phương pháp rất tốt đã được áp dụng cho đến nay Sau đó còn có nhiềucông trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.p.Bowditch ở Mỹ Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thànhlập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thếgiới [73]
ơ Việt Nam, nghiên cứu về thể lực được tiến hành muộn hơn so vớitrên thế giới Hình thái thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầutiên ở trẻ em về chiều cao và cân nặng vào năm 1875 do Mondiere thực hiện,sau này là của p Huard, A Bigot trong công trình “Những đặc điểm nhân
Trang 14chủng và sinh học của người Đông Dương” (1938) và “Hình thái học người
và giải phẫu thẩm mỹ học” của Đỗ Xuân Hợp và p Huard (1943) được xem
là những công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề nghiên cứu thê lựccủa người Việt Nam (theo [73]) Trong giai đoạn này số lượng các công trìnhnghiên cứu về thể lực con người Việt Nam chưa nhiều và phương phápnghiên cứu còn đơn giản, nhưng các tác giả đã nêu được các đặc điểm nhântrắc của người Việt Nam đương thời
Nghiên cứu hình thái học ngày càng chuyên môn hoá và được đánh dấubằng sự ra đời của bộ môn hình thái học tại một số trường đại học Sau năm
1954, có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc diêm hình thái, giải phẫu,sinh lý của người Việt Nam trong đó cuốn “Hằng số sinh học người ViệtNam” được xuất bản năm 1975 của Nguyễn Tấn Gi Trọng và cs đã đề cậptương đối đầy đủ về các chỉ số thê lực của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi[75] Đây là một công trình trình bày khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học,sinh lý, hóa sinh của người miền Bắc Việt Nam (do hoàn cảnh lịch sử của đấtnước), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau nàytrên người Việt Nam
Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs đã nghiên cứu một số chỉ sốsinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi [81] Kết quả nghiên cứu chothấy, ở mọi lứa tuối, chiều cao, cân nặng của người Việt Nam nhỏ hơn so vớingười châu Âu, châu Mĩ, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéodài hơn và bước vào thời kỳ nhảy vọt tăng trưởng dậy thì cũng muộn hơn.Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện vào lúc 12-13 tuổi, củanam lúc 13-16 tuổi và đến 23 tuổi đạt giá trị tối đa Tăng trưởng nhảy vợt vềcân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi và kết thúc tăng trưởng cân nặng
cơ thê lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam Do đó, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến
và ổn định về chiều cao, cân nặng sớm hơn so với nam
Trang 15Từ năm 1980 đến năm 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp nghiên cứu trên
101 học sinh Hà Nội từ 6-17 tuổi [25] Với 31 chỉ tiêu nhân trắc học đượcnghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11-
12 tuổi ở nữ, 13-15 tuổi ở nam, chiều cao trung bình cúa nữ trưởng thành là
158 cm và của nam là 163 cm Cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ
và 15 tuổi ở nam Vòng ngực trung bình của nữ trưởng thành là 79 cm và củanam là 78 cm
Năm 1989, tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs đã tiến hành nghiên cứuchiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới trên 8000 người từ 1-55tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam [26] Nhóm tác giả nhận thấy, chiều caocủa nam tăng nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luậtgia tăng chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4cm/20 năm) Vòng ngực tăngnhanh nhất ở nam lúc 13-16 tuổi và ở nữ lúc 11-14 tuổi
Năm 1992, Trịnh Văn Minh và cs đã tiến hành điều tra một số chỉ sốnhân trắc trên 1309 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Minh, Hà Nội
và tại phường Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội [60] Ket quả đáng chú
ý qua hai cuộc điều tra này là các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ sốthể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19-20 ở nữ và 22 tuổi ở nam.Cũng năm này, Trần Thiết Sơn và cs chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứnhất Đại học Y Hà Nội đế nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kết quảcho thấy, thế lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình và có chiều caotrung bình (nam 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hon so với thanh niên ViệtNam cùng lứa tuổi [64]
Năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs nghiên cứu trên
13747 học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình
về các chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình [20] Kết quảnghiên cứu cho thấy, so với số liệu trong cuốn “HSSH” [75] thì sự phát triển
Trang 16chiều cao của trẻ em từ 6-1 ố tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã,nhưng sự gia tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở khu vực nôngthôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kế Học sinh thành phố và thị xã có xuhướng phát triển thể lực tốt hơn so với ở nông thôn.
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “Đặc điém nhân trắc củangười Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoan 1981-1985” trên 13223người thuộc cả 3 miền đất nước Ket luận của công trình nghiên cứu này làngười Việt Nam trong lứa tuối lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm ởnam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới Một số chỉ sốnhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam
Năm 1996, Trần Đình Long và cs qua nghiên cứu đặc điếm sự pháttriển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội đã cho thấy, từ
17 đến 18 tuổi sự phát triên cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt hoặcchững lại [57], [58] Điều này cũng có thể thấy trong công trình nghiên cứutrên học sinh 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [61]
Năm 1998 Nguyễn Kỳ Anh và cs, sau khi đối chiếu so sánh các kết quảnghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra một số nhận xét rằng,thanh niên Việt Nam từ 1 4 - 1 8 tuổi ở nữ và 16 - 18 tuổi ở nam lớn chậm hơn
so với các lớp tuổi trước đó [10]
Năm 1998, Nguyễn Hữu Chỉnh và cs nghiên círu ở sinh viên lớp tuổi từ18- 25 khu vực Kiến An Hải Phòng cho thấy: vẫn có sự tăng trưởng, song sựkhác biệt theo các chỉ số nghiên cứu giữa các lớp tuồi kế tiếp nhau không có ýnghĩa thống kê và dân cư ở khu vực Kiến An Hải Phòng có các chỉ số nhântrắc tốt hơn so với “Hằng số sinh học, 1975” [14], [15], [75] So sánh giữanam và nữ, tác giả cho rằng từ 10 đến 11 tuổi, nữ phát triển nhanh hơn namnhưng từ 14 đến 15 tuổi các kích thước của nam bắt kịp và vượt trội nữ Sau
Trang 17tuổi 25 chiều cao không tăng nữa, cân nặng tăng đến tuổi 30 - 39 tuổi sau đó
ốn định rồi suy giảm, trong đó nam giảm chậm hơn nữ
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu trên đối tượng học sinh THCScác dân tộc của tỉnh Hoà Bình đã nhận thấy, các chỉ tiêu hình thái tăng dầntheo tuổi và khác nhau giữa các trẻ em thuộc các dân tộc khác nhau [18]
Như vậy, các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của trẻ emViệt Nam khá phong phú Ket quả nghiên cứu có sự khác nhau giữa nam và
nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa trẻ em thuộc các địa bàn nghiêncứu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau và giữa các thòi điểmnghiên cứu khác nhau Hầu hết các chỉ số hình thái thẻ lực đều tăng dần theotuổi, nhưng tốc độ tăng không đều, có thời kỳ tăng nhảy vọt Mốc đánh dấu sựnhảy vọt tăng trưởng của các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăngnhanh nhất khoảng 1 2 - 1 5 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi ở nữ, cân nặng cũngtăng nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi ở nữ, vòng ngực trungbình tăng nhanh nhất từ 14 - 16 tuổi ở nam và 12 - 14 tuổi ở nữ
Các tác giả còn nhận thấy, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môitrường [11], [49], [79], [81] Dưới tác động của yếu tố di truyền và điều kiệnsống, đã diễn ra quá trình cải tổ về mặt hình thái, chức năng làm cho cơ thểtrẻ em ngày càng hoàn thiện
1.2 Nghiên cứu tố chất vận động
Mỗi người khi thực hiện những động tác khác nhau đều thích ímg vóinhững thành tích mà khả năng người đó có được Các mặt khác nhau về khảnăng vận động được gọi là tố chất vận động Sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo
là một trong 5 loại của tố chất vận động [68]
Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ.Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
Trang 18+ số lượng đơn vị vận động tham gia vào căng cơ.
+ Chế độ co của các đơn vị vận động đó
+ Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước khi co
Sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang (độ dày) của cơ Tăngtiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ Sự phì đại
cơ xảy ra chủ yếu là do các sợi cơ có sẵn dầy lên (tăng thể tích) Khi sợi cơ đãdầy lên đến một mức độ nhất định, theo một số tác giả chúng có thể tách dọc
ra đế tạo thành những sợi cơ có một đầu gân chung với sợi cơ mẹ Sự tách sợi
cơ đó có thể gặp khi tập luyện sức mạnh và lâu dài Tập luyện sức mạnh, cũngnhư các hình thức tập luyện khác, không làm thay đối số lượng các loại sợi cơ
mà chỉ làm tăng khả năng huy động tối đa các đơn vị vận động tham gia vàohoạt động vận động
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gianngắn nhất Sức nhanh như một tố chất vận động có biểu hiện ở dạng đơn giản
và ở dạng phức tạp Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm:
cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ở ngoại vi Sự thayđổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm cho các nơron vận động có khả năngphát xung động với tần số cao và làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó
Trang 19là các yếu tố làm tăng tốc độ và tần số của động tác Tốc độ co cơ phụ thuộctrước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Các cơ có tỷ lệsợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng tốc độ cao hơn Tốc
độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng các chất cao năngadenozintriphotphat (ATP) và creatinphotphat (CP) Theo một số tác giả hàmlượng ATP và CP có thể tăng lên 10 - 30% khi tập luyện sức nhanh
Độ dẻo chiếm một vị trí đặc biệt trong các tố chất vận động [35] Nănglực mềm dẻo được phân làm hai loại: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụđộng
ỉ Mềm dẻo tích cực là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ởcác khớp nhờ sự nổ lực của cơ bắp
I Mem dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ởcác khớp nhờ tác động của ngoại lực như: Lực ấn, ép của huấn luận viên hoặcbạn tập Năng lực mềm dẻo phụ thuộc vào tính đàn hồi của cơ bắp và dâychằng, vào độ mềm dẻo của xương và độ linh hoạt của khớp
Các tố chất vận động trên liên quan mật thiết với nhau: sức mạnh, sứcnhanh và sức bền có nhiều cơ sở sinh lý chung Vì vậy, hoàn thiện tố chất vậnđộng này bao giờ cũng kèm theo sự hoàn thiện tố chất vận động khác Hiệntượng này được gọi là sự di chuyển dương tính các tố chất vận động Nếutrình bày hoàn toàn một tố chất nào đó thì vô hình chung chúng ta tước đoạtmất khả năng xuất hiện tố chất khác, quy luật này đặc biệt thê hiện rõ trongmối tương quan giữa sức mạnh và sức nhanh, ví dụ: khi ném các vật có khốilượng khác nhau, vật nặng không thể ném với tốc độ cao Còn khi ném vậtnhẹ, thì ngược lại, tốc độ tối đa sẽ cao, nhưng sức mạnh thẻ hiện đế ném lạikhông lớn [35]
Trang 201.3 Nghiên cứu chức năng một số hệ cơ quan
1.3.1 Nghiên cứu tần sổ tim và huyết áp động mạch
Hoạt động của hệ tuần hoàn đảm bảo cung cấp oxi và chất dinh dưỡngcho toàn bộ cơ thể sống, trong đó tần số tim và huyết áp động mạch là nhữngchỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn
Tim có chức năng vừa hút và vừa đấy máu, là cơ quan có vai trò rấtquan trọng trong hệ tuần hoàn, tim hoạt động có tính chu kỳ Tần số tim là sốchu kì tim trong một phút, phản ánh gián tiếp hoạt động của tim Bởi vậy tần
số tim là một trong các chỉ số dùng đế đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn vàtình trạng sức khỏe của con ngiròi
Huyết áp là áp lực máu lên thành mạch máu Huyết áp được tạo ra dolực co bóp của tim và sức cản của thành mạch Sự biến đổi của huyết áp cóquan hệ mật thiết với lưu lượng tâm thu, tần số tim, trở ngại ngoại vi, tính đànhồi của các mạch máu, độ nhớt của máu
Việc nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em đã đượcnhiều tác giả thực hiện [2], [18], [23], [27], [52], [53], [54], [74], [75] Theocác tác giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự giảm dần đó có hênquan đến hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thầnkinh ngoài tim Tần số tim có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể, khí hậu,bệnh lí
Khi nghiên cứu trên trẻ em trước tuổi đến trường và trẻ em tuổi họcđường, nhiều tác giả đã nhận thấy, huyết áp động mạch của học sinh tăng dầntheo tuổi nhưng tăng không đều, thời điểm huyết áp tăng nhảy vọt ở nữ là 9 -
12 tuổi, ở nam là 9 - 13 tuổi [21], [22], [52], [54], [59], [80] Một số tác giảcho rằng, có sự khác biệt huyết áp theo giới tính Ở các châu lục khác nhau,huyết áp động mạch của trẻ em cũng khác nhau Nghiên cứu của các tác giảcho thấy, huyết áp động mạch phụ thuộc rất nhiều vào di truyền và yếu tố
Trang 21dinh dưỡng [22], [54], [75] ơ Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về tần số tim và huyết áp của trẻ em Theo số liệu trong “HSSH” [88], thìhuyết áp động mạch của trẻ em từ 3 - 15 tuổi tăng dần Huyết áp của nam caohơn của nữ cùng tuổi Huyết áp thay đối theo tư thế của trẻ khi đo, khi đứngcao hơn khi nằm và ngồi
Năm 1993, Đoàn Yên và cs nghiên cứu tần số tim và huyết áp củangười Việt Nam, nhận thấy từ sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạchbiến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổnđịnh đến 49 tuổi rồi lại tăng dần, còn tần số tim lại giảm dần cho đến 25 tuổi,sau đó ổn định đến 69 tuổi Huyết áp động mạch trên người Việt Nam ở mọilứa tuổi thấp hơn so với người Âu, Mỹ [81]
Năm 1996, Trần Đỗ Trinh và cs đã tiến hành nghiên cứu trị số huyết ápngười Việt Nam và công bố trong chương trình nghiên cứu một số chỉ số sinhhọc người Việt Nam thập kỷ 90 Công trình được tiến hành tại 20 tỉnh thuộc 7vùng địa lý trong cả nước từ lứa tuổi 15 trở lên Kết quả cho thấy trị số huyết
áp tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ, mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15
-19 Huyết áp ở nam giới cao hơn so với nữ giới, dù mức chênh lệch khôngnhiều, chỉ khoảng 1-3 minHg, nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê [74]
Năm 1995, Trần Thị Loan nghiên cứu tần số tim và huyết áp độngmạch của học sinh từ 6 -17 tuổi ở Hà Nội đã cho thấy, tần số tim của học sinhgiảm dần theo tuổi nhưng tốc độ giảm không đều, có thời gian giảm nhanh, cóthời gian giảm chậm, giảm nhanh ở lứa tuổi dậy thì Huyết áp tâm thu và tâmtrương tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều, có thời gian tăngnhanh, có thời gian tăng chậm Thời điểm tần số tim giảm nhanh nhất vàhuyết áp tăng nhanh nhất đối với nam là lúc 1 3 - 1 4 tuổi và đối với nữ là lúc
11 - 12 tuổi [44]
Năm 2001, Nguyễn Văn Mùi nghiên cứu đặc điểm biến đổi tần số mạch
Trang 22và huyết áp của trẻ em lứa tuổi 7 - 15 ở ngoại thành Hải Phòng, nhận thấy tần
số mạch của các em nam và nữ giảm dần theo tuổi còn huyết áp tâm thu vàhuyết áp tâm trương tăng dần theo tuổi Tần số mạch ở lứa tuổi 7 - 1 2 của các
em nam nhanh hơn so với các em nữ cùng tuổi, nhưng từ 13 - 15 tuổi không
có sự khác biệt
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, tần sốtim và huyết áp động mạch biến đối có tính chất chu ki Tần số tim giảm dần,huyết áp tâm thu và tâm trương tăng dần, nhưng tốc độ tăng không đều Tần
số tim, huyết áp động mạch ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng củakhí hậu Ngoài ra, tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố xã hội nhưlao động, trạng thái tâm lí
1.3.2 Nghiên cừu tần sổ thở
Tần số thở của trẻ em giảm dần theo lứa tuổi, cụ thể là ở trẻ sơ sinh tần
số thở 40 - 60 lần/phút, trẻ dưới 6 tháng thở 40 - 35 lần/phút, trẻ từ 7 - 12tháng thở 35 - 30 lần/phút, trẻ 2 - 3 tuổi thở 30 - 25 lần/phút, trẻ 10 - 12 tuổithở 22 - 20 lần/phút, trẻ 14 - 15 tuổi thở 2 0 - 1 8 lần/phút Như vậy, tần số thởcủa trẻ em giảm nhanh trong những năm đầu, sau đó giảm dần ở những nămtiếp theo cho đến 15 tuổi Sau 15 tuổi thì tần số thở của trẻ em gần như khônggiảm nữa và bắt đầu đi vào ổn định Tần số thở của trẻ em nam và trẻ em nữ
có sự chênh lệch nhỏ Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ,nhưng đến khi 10 tuổi trẻ em nữ thở nhanh hơn trẻ em nam Nguyên nhân là
do khi bước vào tuổi dậy thì có sự thay đổi hoạt động của một số hệ cơ quantrong cơ thể [76]
1.4 Nghiên cún các chỉ số trí tuệ
Nói đến khả năng thông minh của con người, người ta đã dùng nhiềucách gọi khác nhau như trí tuệ, trí thông minh, trí khôn, trí óc [78] Theo
Trang 23tiếng la tinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, là sự thông thái Còn trong tiếngViệt, khái niệm trí tuệ thường được dùng để chỉ khả năng hoạt động trí óc củacon người trong việc nhận thức thế giói và xử lý tình huống Hoạt động trí tuệbiểu hiện ra nhiều mặt, có hên quan đến nhiều hiện tượng tâm sinh lý vànhiều bộ môn khoa học khác nhau như Triết học, Sinh học, Y học, Xã hộihọc, Giáo dục học Bởi vậy việc nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vựcliên ngành [13], [16], [17], [28], [37] Năm 1905, Binet và Simon đã dùng trắcnghiệm (test) nghiên cứu trí tuệ đế phân biệt các trẻ em học kém bình thường
và các trẻ em học kém do trí tuệ chậm phát triển Sau đó, test này được cảitiến nhiều lần đê dùng cho trẻ em và người lớn [66] Đẻ đánh giá trình độ pháttriển trí tuệ của trẻ em ở từng lứa tuổi, năm 1912, Stem V đã đưa ra cách tínhchỉ số thông minh (IQ) bằng thương số giữa trí tuệ (MA) và tuổi thực (CA)[66] Meili R sử dụng test trí tuệ vào việc tư vấn nghề nghiệp và tư vấn họcđường [67] Với mục đích chuẩn đoán trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em,người ta xây dựng nhiều loại test đo lường trí tuệ khác như test “Trí tuệ đadạng”, test “Khuôn hình tiếp diễn” của Raven, test “WISC”, test “Hình thứchợp REY” Người đầu tiên nghiên cứu về trí tuệ là F.J.Gall, vào đầu thế kỷXVII, ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệtập trung ở các vùng chuyên biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con người quađường nét và đo sọ não Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệcủa F.Galton (1893), Alled Binnet và Simon (1905), Petersalovey và JohnMager [40],
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam còn mới mẻ Trước năm 1975 nghiêncứu về trí tuệ chỉ mới hạn chế trong ngành y tế do các cán bộ ngành y tế thựchiện nhằm mục đích chuấn đoán bệnh tâm thần ở một số bệnh viện Trướcnhững năm 80, ở Miền Bắc vấn đề dùng test rất ít được phổ biến, việc sửdụng toán thống kê trong nghiên cứu tâm lý học còn rất ít [8], [9] Kết quả
Trang 24nghiên cứu của các công trình [8], [31], [32], [33], [38], [40], [43], [44], [47],[65], [66] cho thấy, có thể sử dụng test Raven để chuẩn đoán khả năng hoạtđộng trí tuệ của trẻ em Việt Nam.
Thời kì này đáng chú ý nhất là nghiên cứu của Vũ Thị Chín và cs [8]thực hiện trong những năm 1972 đến 1975 theo thang Brunet - Lezin Đây làcông trình Việt Nam hóa test đầu tiên ở miền Bắc Từ thập kỉ 80 đến nay cáccông trình nghiên cứu về trí tuệ ngày càng nhiều Tiêu biểu là các công trìnhnghiên cứu của Trần Trọng Thủy [66], [67], Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng[65], Bùi Văn Huệ [36], Trần Thị Loan [50], 51],
Năm 1989, Trần Trọng Thủy tìm hiểu sự phát trién trí tuệ của học sinhquận Hoàn Kiếm, Hà Nội bằng test Raven, đã đưa ra nhận xét rằng sự pháttriển trí tuệ của học sinh phổ thông cơ sở diễn ra theo chiều hướng chung giữacác lứa tuổi, các khối lớp, chỉ khác nhau về cường độ phát triển [66] Nhìnchung, cường độ phát triển trí tuệ từ trung bình trở lên Tỉ lệ (%) học sinh ởmỗi trình độ tăng theo khối lớp, riêng trình độ “rất tốt” giảm theo lứa tuổi.Điểm test trung bình tăng theo lứa tuổi So với học sinh nước ngoài, trình độphát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém
Nghiên cứu về quá trình hình thành tư duy, Trịnh Bỉnh Dy (1996) đãcoi chức năng trí tuệ là một chức năng sinh lý chỉ có ở loài người, nhờ cóchức năng này con người làm chủ muôn loài, cải tạo thiên nhiên vì lợi ích củaloài người Nghiên cứu chức năng trí tuệ bao gồm nghiên cứu nhiều vấn đềnhư tư duy, tri thức, ý thức, học tập, [24]
Tìm hiểu về vai trò của yếu tố di truyền đối với trí tuệ, Trịnh văn Bảo
và cs (1993) cho thấy, chỉ số thông minh (IQ) và nhận thức trong quá trìnhhọc tập của học sinh phù họp với kết quả học tập [11]
Nhóm nghiên cứu dưới sự chủ trì của GS TSKH Tạ Thúy Lan tạitrường Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 1990 đến nay đã nghiên cứu trí tuệ
Trang 25của nhiều đối tượng [48] Các kết quả nghiên cứu tương đối đa dạng và phongphú, trong đó đáng chú ý là quy luật tăng dần năng lực trí tuệ của học sinhtheo lứa tuổi và có tưong quan thuận với kết quả học tập của học sinh [54].Khả năng hoạt động trí tuệ tương quan với quá trình hoàn chỉnh hóa điện não
đồ, cụ thê là nhịpo; ở vùng chẩm và nhịp p ở vùng trán Do đó, có thê dùng
test Ra ven và hình ảnh điện não đồ để đánh giá và phân loại khả năng hoạtđộng trí tuệ của trẻ [69] Giữa năng lực trí tuệ và học lực có mối tương quanthuận khá chặt chẽ Môi trường tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng nhất địnhđến năng lực trí tuệ của học sinh, sinh viên [42]
Mai Văn Hưng (2003) đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lựctrí tuệ của sinh viên một số trường đại học phía Bắc Việt Nam Ket quảnghiên cứu cho thấy, các chỉ số thê lực tương quan thuận với năng lực trí tuệ[37]
Tạ Thúy Lan, Mai Văn Hưng (1991) nghiên cứu trí tuệ của học sinhThanh Hóa cũng nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi vànăng lực trí tuệ của học sinh có mối tương quan thuận với học lực [47] TrầnThị Loan (2002) nghiên cứu phát triển trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi.Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình phát triến trí tuệ học sinh diễn ra hêntục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt theo giới [54] Trí tuệ vàhọc lực của học sinh có mối tương quan thuận nhưng không chặt chẽ
1.5 Tống quan địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ, có tọa độ địa lý từ17°53 50 đến 18°4540 vĩ độ Bắc và 105°05 50 đến 106°3020 kinh độ Đông.Phía Bắc giáp thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng
Trang 26Bỉnh, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông là biểnĐông.
về địa hình: Hà Tĩnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, có địa hìnhhẹp và dốc, nghiêng dần từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình 1,2% Địa hình
bị chia cắt bởi nhiều sông suối đã tạo nên 137 km bờ biên, có nhiều sông, cửalạch và các bãi biển đẹp Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, dãynúi phía Tây có độ cao trung bình 1.500 m, phân hoá phức tạp và bị chia cắtmạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau Dải đồng bằng ven biến hẹpchạy theo quốc lộ 1A và thường bị cắt ngang Dải đồng bằng trung du Thanh -Nghệ - Tĩnh được hình thành từ những trầm tích biển tuổi Đệ tứ xen kẽ cácsuối Do địa hình dốc nên đất đai phần lỏn bị xói mòn, bạc màu
về khí hậu: Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm,mưa nhiều Ngoài ra, tỉnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyên tiếp giữamiền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miềnNam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc Hà Tĩnh có 2 mùa rõ rệt:mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này nóng, khô hạn kéo dài kèm theonhiều đợt gió Tây nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 40°c,khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớngây ngập úng nhiều nơi; mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa nàychủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thểxuống tới 7°c [5], [6], [7]
1.5.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Số đơn vị hành chính cấp huyện, xã: Hà Tình có 01 thành phố, 01 thị xã(thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh) và 10 huyện; 262 xã phường, thị trấntrong đó có 8 huyện, 72 xã và 124 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn (CT135); có 10 huyện thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 108/NĐ-CPngày 22/9/2006 của Chính phủ
Trang 27Dân số chung của tỉnh: Hà Tĩnh có 1.229.197 người (niên giám thống
kê Hà Tĩnh 2011), giảm so với điều tra dân số năm 1999, do một bộ phận dân
di cư chuyển đến các địa phương khác sinh sống mà chủ yếu là ở các tỉnh phíaNam Hiện nay có 4 dân tộc thiểu số: Chứt, Mường, Lào, Mán thanh với 466
hộ, 1874 nhân khẩu, sống ở các huyện: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê
Tỷ lệ dân tộc thiểu số so với dân số toàn tỉnh là 0,168% Tỷ lệ đói nghèo củatỉnh Năm 2006: 33,41%, năm 2012: 14,2% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bìnhquân giai đoạn 2006-2010 đạt 9,43%
về Giáo dục - Đào tạo: Hà Tĩnh có mạng lưới trường lóp phát triểnnhanh: quy mô các cấp học, ngành học từng bước hoàn thiện, cơ bản đáp ứngnhu cầu học tập của nhân dân Tỷ lệ tốt nghiệp các cấp học, tỷ lệ học sinh trúngtuyển vào các trường đại học, cao đẳng, học sinh giỏi các cấp hàng năm đạt cao sovới bình quân chung của cả nước Tuy nhiên, chất lượng giáo dục toàn diệnchưa đồng đều giữa các vùng, miền Quy mô trường lớp và các cơ sở đào tạocòn nhỏ lẻ Cơ sở vật chất trường học còn thiếu thốn, phương tiện, điều kiệnnghiên cứu khoa học chưa đảm bảo, thiếu cơ sở thực hành đào tạo nghề, đờisống của một bộ phận cán bộ, giáo viên, học sinh còn gặp nhiều khó khăn,nhất là vùng sâu, vùng xa [4] [5], [6], [7]
Trang 282.1 Thời gian nghiên cứu
Đe tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 8năm 2013
Trang 292.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ sổ thế lực
- Chiều cao: được đo ở tư thế đímg thẳng trên nền phắng, hai gót chânsát vào nhau, mắt nhìn thăng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chấm, lưng, mông,gót chân) chạm vào thước đo Tư thế thẳng đứng được xác định khi đuôi mắt
và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thắng nằm ngang, song song với mặt đất.Thước đo bang vải có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trườnghọc - Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Lấy trị số chiều cao chính xác đến 0,1cm
- Cân nặng: được xác định bằng cân điện tử SECA của Nhật Bản Cânđặt trên nền đất bằng phăng Khi cân học sinh mặc quần áo mỏng, không đigiày dép và đứng yên ở giữa bàn cân; cân vào buổi sáng khi chưa ăn Khi số
đo ổn định người làm nhiệm vụ cân ghi chép kết quả vào phiếu Khi đọc cânnặng, đọc chính xác đến 0,1 kg, đơn vị tính trọng lượng cơ thẻ là kilôgam
- Vòng ngực trung bình: được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức Vòng ngực được đo ở
tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm
vú sao cho mặt phang của thước dây tạo ra song song với mặt đất Thước đobằng vải có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học - BộGiáo dục và Đào tạo sản xuất Trước khi đo hướng dẫn học sinh cách hít vàotận lực và thở ra gắng sức Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng Lấy trị số vòngngực chính xác đến 0,1 cm
- Chỉ số pignet được tính theo công thức sau
Pignet = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)].Chỉ số Pignet được đánh giá dựa theo thang phân loại của Nguyên QuangQuyền và Đỗ Như Cương chỉ số càng nhỏ thì thể lực càng tốt [22]
Trang 31- Chỉ sổ BMI gọi là chỉ số khối cơ thể tính theo công thức:
Khối lượng cơ thể (kg)BMI = - -
[Chiều cao đứng (m)]2Chỉ số BMI trẻ em được đánh giá theo 4 cấp độ (theo
wikipedia.org/wiki/body mass index)
BMI < bách phân vị thứ 5: suy dinh dưỡngBMI = bách phân vị thứ 5 - 8 5 : bình thườngBMI = bách phân vị thứ 85 - 95: nguy cơ béo phìBMI > bách phân vị thứ 95: béo phì
32 32 31 30 29 28 27 26 25 24 23 22 21 20 19 18 17 16 15 14 13
BIỂU ĐÓ BMI ĐOI VỚI NỮTỪ2ĐẺN 20 TUổl
Hình 2.1 Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 đến 20 tuổi
Hình 2.2 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ sổ chức năng của một sổ hệ cơ
quan
- Tần số tim: được xác định sau khi đối tượng đã nghỉ ngoi ít nhất 15phút và dùng ống nghe tim phổi để đo Người đo đặt ống nghe vào ngực tráicủa đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trongvòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả ba lần đokhác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 1 5 - 2 0 phút rồi đo lại
- Huyết áp động mạch: được xác định bằng phương pháp Korotkov.Dùng huyết áp kế đồng hồ, đo huyết áp động mạch cánh tay trái, đối tượngnằm ở tư thế thoải mái Đo 2 lần rồi lấy giá trị trung bình của 2 lần đo
- Tần số thở: xác định bằng cách cho đối tượng nằm trên giường, haitay đặt lên ngực, vén áo của đối tượng lên cao hơn bụng Quan sát bụng củađối tượng, mỗi một lần thành bụng của đối tượng nâng lên, hạ xuống thì tính
là một nhịp thở Tính số nhịp thở/1 phút
- Thời gian nín thở tối đa: Theo liệu pháp Stange, đo thời gian nín thở ở
tư thế ngồi trong trạng thái yên tĩnh Cho đối tượng ngồi thăng trên ghế sao
Trang 32cho đùi vuông góc với thân, hai tay chống lên đầu gối, cho đối tượng hít vào,thở ra 3 lần thật sâu đến lần hít vào thứ tư thì dùng ngón tay kẹp mũi và bắtđầu bấm đồng hồ tính thời gian đến khi xuất hiện thở ra sẽ biết được thời giannín thở tối đa.
2.2.3 Phương pháp nghiên cún một so to chất vận động
- Tố chất mạnh: (Theo Sermeep, 1986) đo bằng sức bật cao tại chỗkhông vung tay (cm), đứng thăng dơ cao tay, mũi chân cách tường 20cm vàđánh dấu điểm chạm của đầu ngón tay giữa, sau đó bật cao tối đa và đánhdấu, lấy hiệu số độ cao giữa 2 điểm trên Đối tượng được đo 3 lần, lấy giá trịtrung bình
- Tố chất dẻo: (Theo Sermeep, 1986) đánh giá độ dẻo cột sống của đốitượng bằng cách uốn dẻo tại chỗ về phía trước (cm) Tư thế đứng nghiêm trênghế, 2 chân thẳng, từ từ cúi người về phía trước tới mức tối đa Đo lặp lại 3lần lấy kết quả cao nhất, trên mặt ghế kết quả (-), dưới mặt ghế kết quả (+)
- Tố chất nhanh: (Theo Covalep, 1975) đánh giá tố chất nhanh bằngphương pháp “Tepping test” Đo vận động của ngón tay (số lần/5s) bằng cáchchấm bút trên giấy trong thời gian 5 giây, lặp lại 3 lần, lấy giá trị trung bình
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu chỉ số IQ và học lực của học sinh
- Chỉ số IQ:
Trí tuệ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm, sử dụng test
“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven bộ A, B, c, D, E (loại dùng cho người bình
thường từ 6 tuổi trở lên)
Toàn bộ test Raven gồm 60 khuôn hình được chia thành 5 bộ A, B, c,
D, E cấu trúc theo nguyên tắc tăng dần mức độ khó Mỗi bộ gồm 12 khuônhình, được bắt đầu từ khuôn hình đơn giản (khuôn hình 1) và kết thúc bằng
Trang 33khuôn hình phức tạp (khuôn hình 12) Từ bộ A đến bộ E cũng được cấu trúctheo mức độ tăng dần Do đó, bài tập dễ nhất trong toàn bộ test Raven là bàitập 1 của bộ A, tức là khuôn hình Ai và khó nhất là bài tập 12 của bộ E, tức làkhuôn hình E12.
Từng bộ A, B, c, D, E có nội dung riêng Trong đó:
Bộ A - Thể hiện tính toàn vẹn, tính liên tục của cấu trúc
Bộ B - Thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình
Bộ c - Thế hiện những thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc
Bộ D - Thể hiện sự thay đổi chỗ của các hình
Bộ E - Thế hiện sự phân giải hình thành các bộ phận cấu hình
Sau khi hướng dẫn cách thực hiện, mỗi đối tượng được phát một quyểntest Raven và một phiếu trả lòi đế làm bài hoàn toàn độc lập Đối tượng thựchiện test theo trình độ vốn có của mình, không hạn chế thời gian Song trênthực tế, không có đối tượng nào làm bài quá 60 phút
Cứ mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm Chỉ có bài tâp nào có độ biếnthiên cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ bị loại vàphải làm lại Căn cứ vào điểm test Ra ven, chỉ số IQ được tính theo công thứcsau :
Trong đó: IQ - chỉ số thông minh; X - điểm trắc nghiệm cá nhân; điểm sốtrắc nghiệm trung bình của người cùng độ tuổi; SD - độ lệch chuẩn Sau đóđối chiếu chỉ số IQ vói tiêu chuẩn phân loại trí tuệ theo bảng phân loại hệ sốthông minh của D.Wechsler đê tính tỉ lệ phân bố học sinh theo các mức trítuệ (bảng 2.3)
Trang 34và yêu cầu đối tượng làm lại.
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng đêchấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
- Bước 2: Xử lý số liệu bằng phần mền Exell 2003 và phần mềm SPSS16.0
Trang 35Chương 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN
3.1 Các chỉ số thế lực của học sinh
Thế lực là một thông số tổng họp cơ bản phản ánh sự phát triển về mặtsinh học của cơ thể và có mối hên quan nhất định với tình trạng sức khỏe.Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu các chỉ số: chiều cao đứng, cân nặng
cơ thể, vòng ngực trung bình và các chỉ số thể lực BMI, Pignet để đánh giáthẻ lực của học sinh Tổng số học sinh điều tra là 2189 học sinh gồm 1149học sinh nam và 1040 học sinh nữ từ 12 đến 15 tuổi Kết quả nghiên cứu đượctrình bày trong các phần sau đây:
3.1.1 Chiều cao đủng của học sinh
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh theo lớp tuổi và theogiới tính được thể hiện trong hình 3.1
Hình 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh
Các số liệu được nêu trong hình 3.1 cho thấy, từ 12 đến 15 tuổi, chiềucao đứng của học sinh nam và học sinh nữ tăng liên tục Đối với nam: chiềucao đứng tăng thêm 17,5 cm, mỗi năm tăng trung bình 5,83 cm Đối với nữ:
Trang 36chiều cao đứng tăng thêm 11,1 cm, mỗi năm tăng trung bình 3,7 cm Nhu vậy,
ở giai đoạn 1 2 - 1 5 tuổi, chiều cao của học sinh nam tăng nhanh và tăng nhiềuhơn so với học sinh nữ Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nhận xét của cáctác giả khác [19], [25], [26], [56], [75], [81]
Ớ cùng một độ tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh nữ làkhông giống nhau Cụ thế, ở tuổi 12 chiều cao của học sinh nam thấp hơn họcsinh nữ 1,52 cm; ở tuổi 13 nam thấp hơn nữ là 0,95 cm Từ tuổi 14 đến 15chiều cao học sinh nam tăng nhanh và cao hơn học sinh nữ: ở tuổi 14 chiềucao đứng trung bình của học sinh nam cao hơn học sinh nữ 2,22 cm; ở tuổi 15cao hơn 4,88 cm Điều này chứng tỏ tuổi dậy thì của học sinh nữ đến sớm hơnthì nên chiều cao phát triển mạnh Đến 1 3 - 1 5 tuổi, học sinh nam mới bắt đầubước sang tuổi dậy thì nên chiều cao đứng phát triển mạnh và bắt đầu cao hơn
so với học sinh nữ Kết quả nghiên cứu này phù hợp với số liệu của Trần VănDần và cs [19], Trần Đình Long và cs [56], Đỗ Hồng Cường [18], nhưng lạisớm hơn so với số liệu trong cuốn “HSSH” [75], Đoàn Yên và cs [81], ThẩmThị Hoàng Điệp và cs [26] và của Trần Thị Loan [54]
ONam miền núi ONam thành phố
Lóp luôiHình 3.2 Sự khác nhau trong phát triển chiều cao của học sinh nam ở thành
phố và miền núi tỉnh Hà Tình
Trang 3715 chiều cao đứng trung bình của học sinh nam thành phố cao hơn học sinhnam miền núi là 9,33 cm; học sinh nữ thành phố cao hơn học sinh nữ miềnnúi là 4,5 cm Điều này chứng tỏ chiều cao đứng của học sinh thành phố tăngnhanh và vượt xa so với học sinh miền núi.
Trang 38Tốc độ tăng chiều cao đứng theo lứa tuổi ở học sinh không giống nhaugiữa vùng thành phố và vùng miền núi Học sinh nam thành phố tăng chiềucao nhanh hem học sinh nam miền núi (học sinh nam thành phố trung bìnhtăng 6,30 cm/năm; học sinh nam miền núi tăng 5,37 cm/năm) Trong khi đó,ngược lại học sinh nữ ở thành phố giai đoạn này tăng chậm hơn ở miền núi(học sinh nữ thành phố tăng 3,09 cm/năm, miền núi tăng 4,32 cm/năm).
Tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh diễn ra không đồng đều và cóthời điểm tăng nhảy vọt Chiều cao đứng của học sinh nam tăng nhanh tronggiai đoạn từ 13 - 15 tuổi, của học sinh nữ từ 12 - 14 tuổi Trong đó, thời điểmtăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh nam là 14 tuổi (tăng 7,16em), của học sinh nữ là 13 tuổi (tăng 4,24 em) Như vậy, thời điểm tăngtrưởng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh nữ đến sớm hon so với của họcsinh nam một năm Sau thời kì tăng trưởng nhảy vọt, tốc độ tăng chiều caođứng của học sinh nam và nữ đều chậm lại Sở dĩ có thời kỳ tăng nhảy vọt vềchiều cao là do có liên quan đến tuổi dậy thì Ở tuổi dậy thì, hoocmon tăngtrưởng và hoocmon sinh dục tiết ra mạnh nhất làm cho hệ xưcmg của các emphát triển mạnh, đặc biệt là xưemg ống dài ra rất nhanh nên chiều cao của các
em cũng tăng nhanh Thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của họcsinh trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với số liệu của Trần VănDần và cs [19], Đỗ Hồng Cường (năm 2009) [18], nhưng sớm hon so với sốliệu trong cuốn “HSSH” [75] và các tác giả khác như Đoàn Yên và cs [81],Đào Huy Khuê [39], Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [26] và của Trần Thị Loan[54]
So với số liệu về chiều cao đứng của trẻ em trong công trình nghiêncứu của tác giả khác như: “HSSH” [75], Đoàn Yên và cs [81], Thẩm ThịHoàng Điệp [26], Trần Văn Dần và cs [19], Đào Huy Khuê [39], chiều caođứng của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có trị số lớn hơn (bảng
Trang 40Các số liệu trong hình 3.4 cho thấy, cân nặng của học sinh tăng liên tục
từ 12 - 15 tuổi Cân nặng của học sinh nam tăng thêm 12,55 kg, tăng trungbình 4,2 kg/năm Cân nặng của học sinh nữ tăng thêm 9,13 kg, tăng trungbình 3,0 kg/năm Nhận xét này phù hợp vói kết quả nghiên cứu của các tácgiả khác như: Nguyễn Tấn Gi Trọng, Vũ Triệu An, Trần Thị Ân [75], ĐoànYên và cs [81], Trần Văn Dần và cs [19], Đào Huy Khuê [39] và của Trần ThịLoan [54], Đỗ Hồng Cưừng [18].Tốc độ tăng cân nặng của học sinh khôngđều Cân nặng tăng nhanh nhất ở nam lúc 13 - 15 tuổi, ở nữ lúc 12 - 14 tuổi.Trong đó, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng của nam là 15 tuổi và học sinh nữ
là 14 tuổi Như vậy, thời điếm tăng nhảy vọt cân nặng của học sinh nam vàhọc sinh nữ diễn ra muộn hơn so với thời điếm tăng trưởng nhảy vọt về chiều