1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn 10 THPT

70 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 655,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong tương lai, để có thể hướngdẫn học sinh thấy được sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt và giúp các em có kỹ năng - kỹ xảo sử dụng tốt tiếng Việt

Trang 1

ychởá luận tốt nt/Aiêp

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự hướng dần

nhiệt tình và chu đáo của cô giáo Phạm Kiều Anh - giáo viên tổ Phương

pháp dạy học Ngữ văn và các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 Khoá luận được hoàn thành ngày 10 tháng 05 năm 2007.

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phạm Kiều Anh cùng tập thể các

thầy cô giáo trong khoa đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.

Tron g khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế, em rất mong nhận được sự chỉ hảo của thầy cô và bạn bè để có thể hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.

Hà Nội, Ngày 10 tháng 05 năm 2007

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận

được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dãn - Th.s Phạm Kiều Anh cùng

các thầy cô trong khoa Ngữ văn Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, tôi đãđọc nhiều tài liệu tham khảo có liên quan dến những vấn đề đặt ra trong đề tàicủa mình Tuy nhiên, tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoáluận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nó không trùng với kết quả củanhững tác giả khác

Hà Nội, Ngày 10 tháng 05 năm 2007

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 3

Qỉíịuụễn ^ĩhỉ &ítu 'Jôìền 2 ỌCị - Qlạữ tìún

Trang 4

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI

Trong cuộc sống hàng ngày con người luôn có nhu cầu giao tiếp vớinhau Đó là, sự tiếp xúc giữa cá thể này với cá thể khác hay giữa cá thể vớitập thể trong một cộng đồng ngôn ngữ Quá trình giao tiếp được thực hiệnbằng nhiều phương tiện, trong đó ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếptoàn năng nhất bởi nó tiện lợi và có thể đạt được hiệu quả cao nhất

Khi giao tiếp với nhau, các nhân vật giao tiếp phải hướng tới một mụcđích giao tiếp nhất định Tương ứng với mỗi mục đích giao tiếp thì con ngườichọn những cách thức sử dụng ngôn ngữ khác nhau để biểu đạt nội dung giaotiếp Những cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau nhằm đáp ứng được những mụcđích giao tiếp khác nhau, như vậy dần hình thành những phong cách ngônngữ Căn cứ vào từng mục đích giao tiếp khác nhau, ta có những phong cáchngôn ngữ sau: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ khoahọc, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ hành chính -công vụ, phong cách ngôn ngữ báo, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Ớ phổ thông, mục đích của việc dạy học tiếng Việt không chỉ đơn thuần

là cung cấp những kiến thức về từ ngữ, về câu, về cách dựng đoạn, tạo lập vănbản mà quá đó, giúp học sinh nói, viết đúng phong cách, phù hợp với cáclĩnh vực giao tiếp, đạt tính chuẩn mực và hiệu quả cao khi giao tiếp Đồng thờiqua việc học những tri thức về tiếng Việt, các em có năng lực cảm thụ ngônngữ trong các tác phẩm nghệ thuật, có khả năng tạo lập những văn bản có tínhsáng tạo VI vậy, việc tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ làquan trọng và cần thiết

Trước đây, khi dạy tiếng Việt ở phổ thông, các phong cách chức năngngôn ngữ ít được coi trọng Bản thân nội dung phong cách chức năng ngôn

Trang 5

ychởá luận tốt nt/Aiêp

ngữ cũng chỉ được thực hiện trong một chùm bài ở SGK lớp 11, với số tiết hạnchế, chỉ đủ để giáo viên truyền đạt đến học sinh khối lượng kiến thức sơ đẳngnhất về phong cách ngôn ngữ Gắn với chương trình Cải cách giáo dục, cácnhà giáo dục cho rằng: để rèn luyện cho học sinh bốn kỹ năng nghe, nói, đọc,viết thì cần phải chú trọng hơn tới việc dạy học các phong cách chức năngngôn ngữ Bởi nó chính là cơ sở để các em sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩnmực, nhằm đạt hiệu quả giao tiếp nhất định

Là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong tương lai, để có thể hướngdẫn học sinh thấy được sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt và giúp các em

có kỹ năng - kỹ xảo sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày, chúngtôi cho rằng việc nghiên cứu và tìm hiểu phong cách chức năng ngôn ngữ sẽ làmột cơ hội để tìm ra những cách thức rèn luyện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữcho học sinh

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “ Tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn 10

THPT”

2 LỊCH SỬ VÂN ĐỂ

Tìm hiểu các phong cách chức năng ngôn ngữ, chúng tôi tập trung xemxét quá trình nghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữ cụ thể, trong

đó có hai phong cách chức năng ngôn ngữ là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật được triển khai dạy trong chương trìnhNgữ văn 10 THPT

Có thể nói, trong những năm gần đây việc nghiên cứu về các phongcách chức năng ngôn ngữ đã có nhiều thành tựu mới Đặc biệt, hiện nay khi

“Phong cách học” đã trở thành nội dung bắt buộc đối với tất cả các sinh viênnăm cuối ở các học viện, các khoa chuyên ngành ngôn ngữ ở các trường Đạihọc Khoa học xã hội và nhân văn, ở các trường Đại học sư phạm, thì phongcách chức năng ngôn ngữ lại càng quan trọng và cần thiết Trong thực tế

Trang 6

nghiên cứu đã có nhiều nhà Ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu các ngànhKhoa học xã hội và nhân văn quan tâm đến vấn đề này.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã xuất hiện khá nhiều công trìnhnghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữ Trong đó, tiêu biểu là một

số công trình nghiên cứu của các nhà phong cách nổi tiếng như:

R Gia côp xơn “Bàn về ngôn ngữ học và thi học” N.Y.1960

“Những vấn đề của phong cách học ngôn ngữ học” M., 1969

p Ghirô, p Cuen “phong cách học”, 1997

Ớ Việt Nam, trong những thập kỷ gần đây, môn “Phong cách học” vàcác vấn đề thuộc phạm vi phong cách chức năng ngôn ngữ cũng được nhiềunhà Phong cách học quan tâm Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số côngtrình nghiên cứu tiêu biểu có bàn về phong cách chức năng ngôn ngữ:

Trong cuốn “Phong cách học”, các tác giả Đinh Trọng Lạc, NguyễnThái Hoà đã bàn về các vấn đề lý thuyết của phong cách học như về đối tượngnghiên cứu của phong cách học; các phong cách chức năng ngôn ngữ và việcphân chia chúng Đồng thời, họ cũng đưa ra khái niệm phong cách chức nănglà: “Phong cách chức năng là khuôn mẫu (Strereotype) trong hoạt động lờinói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyềnthống, tính chất chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản (phát ngôn)tiêu biểu” [6,19]

Không đồng quan điểm với các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn TháiHoà, tác giả Cù Đình Tú lại cho rằng: “Phong cách chức năng là dạng tồn tạicủa ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phưong tiện biểuhiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giaotiếp, đối tượng tham dự giao tiếp ” [11,45]

Bên cạnh hai công trình tiêu biểu kể trên, nhiều công trình khác cũng đềcập đến vấn đề này Ó đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những hướng phânchia phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau Chẳng hạn, tác giả Đinh

Trang 7

ychởá luận tốt nt/Aiêp

Trọng Lạc chia tiếng Việt ra thành hai phong cách lớn là phong cách khẩu ngữ

và phong cách văn học Phong cách văn học lại bao gồm: phong cách thư từ;phong cách ngôn ngữ hành chính; phong cách ngôn ngữ chính luận; phongcách ngôn ngữ khoa học; phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.[ 5, 285 -298] Trong cách phân loại này, chúng tôi thấy rõ xu hướng muốn đồng nhất phongcách chức năng với dạng lời nói

Trong khi đó các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đìng Tú, NguyễnThái Hoà, lại dựa vào chức năng xã hội của tiếng Việt để chia thành hai loạiphong cách chức năng cơ bản: chức năng giao tiếp và chức năng thông báo.Trong chức năng thông báo lại được chia nhỏ thành các chức năng khác nhaunhư: chức năng thông báo - thẩm mĩ (phong cách ngôn ngữ nghệ thuật); chứcnăng thông báo - trí tuệ (phong cách ngôn ngữ khoa học) [1,45 - 53]

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ,chương trình tiếng Việt ở phổ thông trước đây và chương trình Ngữ văn hiệnnay đã xác định có sáu kiểu phong cách chức năng ngôn ngữ là: phong cáchngôn ngữ sinh hoạt; phong cách ngôn ngữ nghệ thuật; phong cách ngôn ngữchính luận; phong cách ngôn ngữ báo- công vụ; phong cách ngôn ngữ hànhchính; phong cách ngôn ngữ khoa học

Như vậy, tuy cùng nghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữnhưng mỗi tác giả đều đề cập đến phong cách chức năng ngôn ngữ dưới nhữnggóc độ khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau tuỳ theo mục đích và nhiệm vụnghiên cứu riêng Nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ phong phú

là vậy, song việc nghiên cứu cách thức tổ chức dạy học các phong cách này lại

dường như chưa đươc chú trọng lắm Vì vậy, đề tài “Tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn 10 THPT” là

một đề tài khá mới mẻ và thiết thực

Trang 8

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ nội dung cụ thể của đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứuhai phong cách chức năng là Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cáchngôn ngữ nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ những thành tựu nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữchúng tôi tìm hiểu hai phong cách ngôn ngữ là phong cách ngôn ngữ sinhhoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật được triển khai dạy học trong chươngtrình SGK Ngữ văn 10 THPT

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CÚƯ

Thông qua việc nghiên cứu hai phong cách chức năng ngôn ngữ, chúngtôi vận dụng vào tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trongchương trình Ngữ văn 10 THPT

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN cứu

Xuất phát từ đối tượng, mục đích nghiên cứu, đề tài này cần hướng tớicác nhiệm vụ sau:

Trình bày hệ thống kiến thức cơ bản về hai phong cách chức năng ngônngữ: phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách chức năng ngônngữ nghệ thuật

Trên cơ sở nắm vững những kiến thức đó vận dụng vào tổ chức dạy họchai phong cách chức năng ngôn ngữ này theo chương trình SGK Ngữ văn 10THPT

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

Đối với bất kỳ công trình nghiên cứu nào, ở lĩnh vực nào, đối tượngkhám phá càng phức tạp, phong phú bao nhiêu thì càng có nhiều cách thứctiếp cận bấy nhiêu Phương pháp tiếp cận đúng đắn, phù hợp sẽ giúp ngườinghiên cứu nhanh chóng chiếm lĩnh được đối tượng đạt hiệu quả tốt nhất

Trang 9

ychởá luận tốt nt/Aiêp

Thực hiện đề tài này, chúng tôi lựa chọn sử dụng những phương pháp nghiêncứu cơ bản sau:

Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Là phương pháp giúp chúng tôi phântích, xử lý các ngữ điệu để tìm ra đặc điểm cơ bản của vấn đề được nghiêncứu

Phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra sự giống và khác nhau trongcác phong cách ngôn ngữ

Phương pháp thực nghiệm, Phương pháp điều tra khảo sát

Trang 10

PHẦN 2 : N Ộ I DUNG CHƯƠNG 1: CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ

1.1 Khái niệm “Phong cách chức năng ngôn ngữ”

Phong cách ngôn ngữ là một trong những nội dung quan trọng trongquá trình nghiên cứu phong cách học Vì thế, hầu hết các nhà Phong cách học

đã không bỏ qua việc tìm ra quan niệm về phong cách chức năng ngôn ngữ.Bởi lẽ, nó là co sở, là vấn đề co bản khi tìm hiểu về cách sử dụng ngôn ngữphù hợp, đạt chuẩn mực, tạo ra những lời nói hay, đẹp trong giao tiếp

Phong cách chức năng ngôn ngữ vốn là một khái niệm vừa phong phúvừa phức tạp Ngay cùng một thời điểm nghiên cứu song mỗi nhà nghiên cứunhìn nhận nó theo những cách khác nhau Tuy nhiên, để phục vụ cho việc tìmhiểu cách tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chươngtrình Ngữ văn 10 THPT, chúng tôi lựa chọn khái niệm của tác giả Cù Đình Tú.Ông cho rằng: “Phong cách chức năng là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộcbiểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vàotổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mụcđích giao tiếp, đối tượng tham gia giao tiếp” [13,45]

Có thế nói, khái niệm này không những chỉ rõ được đặc điểm nội dungphong cách chức năng ngôn ngữ mà còn xác định rõ các nhân tố cấu thành củaphong cách chức năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng

1.2 Các phong cách chức năng ngôn ngữ

Trong lịch sử nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ, cho đếnnay, các nhà Ngôn ngữ học hiện đại đã đưa ra rất nhiều loại phong cách chứcnăng ngôn ngữ Tiêu biểu phải kể đến các hướng phân chia sau:

Cùng một tác giả Đinh Trọng Lạc, nhưng ở thời kỳ khác nhau lại cóhướng phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau Cụ thể, trong

Trang 11

ychởá luận tốt nt/Aiêp

cuốn “Giáo trình Việt ngữ (Tập III) Tu từ học” [6,285 - 298] Theo tác giả:phong cách chức năng tiếng Việt được chia thành hai bậc Bậc một chia ra haiphong cách lớn, là phong cách khẩu ngữ và phong cách văn học Còn bậc haichia thành năm phong cách nhỏ: Phong cách văn học được chia ra: Phongcách ngôn ngữ thư từ; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữhành chính; Phong cách ngôn ngữ chính luận; Phong cách ngôn ngữ nghệthuật Trong cách phân loại này, chúng ta thấy rõ xu hướng muốn đồng nhấtphong cách chức năng với dạng lời nói

Cũng tác giả Đinh Trọng Lạc, nhưng trong cuốn “Phong cách học”, [8,66] lại đưa ra cách phân loại Phong cách tiếng Việt ra năm phong cách Vớiquan điểm này phong cách khẩu ngữ được Đinh Trọng Lạc đổi là phong cáchhội thoại, và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật không được coi là phong cáchchức năng ngôn ngữ mà chỉ là kiểu chức năng ngôn ngữ Vì vậy phong cáchchức năng tiếng Việt có năm phong cách: phong cách ngôn ngữ hội thoại;phong cách ngôn ngữ hành chính; phong cách ngôn ngữ khoa học; phong cáchngôn ngữ báo - công vụ; phong cách ngôn ngữ chính luận

Không đồng nhất quan điểm với Đinh Trọng Lạc, tác giả Cù Đình Tú[13] (trong cuốn “Tu từ học tiếng Việt hiện đại”, ĐHSP Việt Bắc 1975), lạichia ngôn ngữ toàn dân thành: phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, thực hiệnchức năng biểu hiện và phong cách ngôn ngữ trình bày thực hiện chức năngtrình bày Phong cách ngôn ngữ trình bày lại được chia thành phong cáchngôn ngữ khẩu ngữ tự do và phong cách ngôn ngữ gọt giũa (phong cách ngônngữ gọt giũa bao gồm: Phong cách ngôn ngữ hành chính và phong cách ngônngữ khoa học) Trong hướng phân chia này tác giả đã khi thì dựa vào chứcnăng, khi thì dựa vào phạm vi giao tiếp để phân loại

Nhìn chung với nhiều quan điểm phân chia khác nhau, nhưng hầu hếtcác kiểu phân chia đều chỉ rõ được các chức năng và phạm vi sử dụng củangôn ngữ Theo chúng tôi hiện nay trong SGK phổ thông có sự phối hợp giữa

Qỉíịuụễn T7/|/ &ítu 'Jôìền 2ỌCị - Qlạữ tìún

Trang 12

các quan niệm trên phân chia phong cách chức năng ngôn ngữ thành sáu kiểu:Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Phong cách ngôn ngữ hội thoại); Phong cáchngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ hành chính - công vụ; Phong cáchngôn ngữ báo; Phong cách ngôn ngữ chính luận và Phong cách ngôn ngữ nghệthuật là phù hợp và nó thể hiện rõ tính khoa học.

Tuy nhiên, do phạm vi của đề tài nên trong khóa luận này, chúng tôi tậptrung tìm hiểu trình bày hai phong cách chức năng ngôn ngữ: Phong cáchngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.3 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.3.1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

1.3.1.1 Khái niệm “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”

Ngôn ngữ được coi là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.Cũng vì vậy khi phân chia các phong cách chức năng ngôn ngữ, các nhà khoahọc đã không quên chức năng này Bởi thế mà phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

là phong cách luôn được các nhà nghiên cứu đề cập tới Có thể nói, phongcách ngôn ngữ sinh hoạt là phong cách ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi vàphổ biến nhất Để xem xét phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, chúng ta xét ngữliệu dưới đây:

Câu chuyện tâm sự giữa đôi bạn thân tại công viên X

- Cái Nhím xinh lắm mày ạ! Bố nó không cho nó đi đội thuỷ lợi đâu.

- Tại sao thế nhỉ?

- Biết đầu đấy Con chim đẹp nẹười ta muốn nhốt tro mị lỗ nạ thì sao?

Đoạn đối thoại trên đây thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Nó thuộcphong cách ngôn ngữ sinh hoạt vì nó thể hiện một nội dung giao tiếp hàngngày, một nhu cầu sinh hoạt xã hội của con người Ngôn ngữ của ngữ liệugiàu sắc thái biểu cảm, cảm xúc Đoạn hội thoại có một bối cảnh cụ thể làcông viên X Ngôn ngữ thể hiện rõ phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở cácphương diện sau: dùng tiểu từ “ạ” biểu thị thái độ của người nói “mày ạ” ( bày

Trang 13

ychởá luận tốt nt/Aiêp

tỏ sự thân mật), dùng đại từ chỉ định “đấy” làm tiểu từ tình thái trong câu nghivấn - phủ định “biết đâu đấy” (nhấn mạnh sự phủ định) Dùng tiểu từ “nhỉ” đểtạo dạng câu nghi vấn “tại sao thế nhỉ?” (bày tỏ sự thân mật) Dùng tiểu từ

“đâu” (bày tỏ sự phân trần giải thích) Dùng danh từ chỉ loại “cái”, “cáiNhím”(chỉ người con gái thân mật, gần gũi) Dùng ẩn dụ tu từ trong câu nghivấn - khẳng định: “con chim đẹp người ta muốn nhốt trong lồng thì sao?”(bày tỏ ý châm biến),

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàngngày là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đóthể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày Nói cụthể hơn, đó là vai của người ông, người bà, bố, mẹ , con, anh chị em, đồngnghiệp, bạn bè , và tất cả những ai với tư cách cá nhân có nhu cầu trao đổi

tư tưởng, tình cảm của mình với người khác”.[7,22]

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày được chia ra làm hai kiểunhỏ là phong cách sinh hoạt hàng ngày tự nhiên và phong cách sinh hoạt hàngngày văn hoá Khác với ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày tự nhiên (tự nhiên,thoải mái) ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày văn hoá, được trình bày do yêu cầu

xã hội có trình độ văn hoá cao, được dùng trong hoàn cảnh nghi thức, trongtình thế “ vai bằng nhau” và “vai không bằng nhau” của người tham gia giaotiếp Đối với kiểu ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày văn hoá người giao tiếp phảituân theo những quy tắc xã giao của xã hội VI vậy, ngôn ngữ sinh hoạt hàngngày văn hoá chủ yếu được dùng trong kiểu ngôn ngữ viết và nói nghệ thuật(ví dụ: Lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch nước)

Ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại cảhai dạng nói và viết trong đó dạng nói là chủ yếu Tồn tại dưới dạng nói lànhững lời trò chuyện, tâm sự, thăm hỏi, đánh giá tồn tại dưới dạng viết lànhững dòng thư, tin nhắn, những dòng lưu niệm, nhật kí

Trang 14

Cũng như những phong cách chức năng ngôn ngữ khác, phong cáchngôn ngữ sinh hoạt cũng mang những chức năng riêng như: chức năng giaotiếp lí trí (cụ thể là trao đổi thông tin, tình cảm), chức năng cảm xúc và chứcnăng tạo tiếp (biểu hiện sự chú ý của người nói đến sự hiện diện của người thứhai) Khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầutrao đổi với nhau về những vấn đề phức tạp, trừu tượng của xã hội, của cuộcsống thì ngôn ngữ sinh hoạt ngày càng phát huy được sức mạnh của mình.

1.3.1.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Muốn thực hiện được chức năng trao đổi - cảm xúc - giao tiếp trongcuộc sống hàng ngày, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày phải có đượcnhững đặc trưng riêng của nó Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày vớiđặc điểm thiên về những chi tiết riêng, cụ thể, sinh động luôn hướng về việcbộc lộ rõ rệt những tư tưởng tình cảm, thái độ của con người trong xã hội,trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, những lời nói chung chung, trừu tượng,khô khan không thể coi là lời nói hay trong phong cách sinh hoạt Vậy phongcách ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc trưng nào?

ảnh, và màu sắc cảm xúc Đáng lẽ nói: đánh đau thì nói: xé xác, chẻ xác, lột

xác, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh sặc tiết, Hay một ví dụ khác:

“nóng quá, bồ hôi mẹ bồ hôi con bò ra khắp người” (Tô Hoài) (so với: nhiều

bồ hôi chảy ra khắp người).Cách nói và ví dụ của Tô Hoài đã chỉ rõ sự xuất

Trang 15

ychởá luận tốt nt/Aiêp

hiện nhiều mồ hôi về câu, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt sử dụng nhiều câu

hỏi, câu nói trực tiếp, cụ thể (ví dụ: Bác ăn cơm chưa?).

Nhờ có tính cụ thể mà việc giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày trở nên

dễ dàng, nhanh chóng ngay trong trường hợp đề cập đến những vấn đề trừutượng, những vấn đề tế nhị, khó nói,

Có thể nói, không trong phong cách ngôn ngữ nào mà số lượng các biệtngữ xã hội, những cách diễn đạt theo lối “thời thượng” lại xuất hiện và thaythế nhau nhanh chóng như ở phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Ví dụ: Trong

những năm gần đây xuất hiện những lối nói có vẻ ngược đời kiểu như: hơi bị

đẹp, đẹp kinh khủng, đẹp dã man,

Như vậy, tính cụ thể của ngôn ngữ sinh hoạt là cơ sở tạo ra sự chính xác

về hoàn cảnh, về nhân vật giao tiếp, lời nói, từ ngữ, cách diễn dạt,

b) Tính cảm xúc

Bên cạnh tính cụ thể trong ngôn ngữ, ngôn ngữ trong sinh hoạt giaotiếp hàng ngày còn có tính cảm xúc Có thể nói, tính cảm xúc gắn chặt vớitính cụ thể Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đời sống được sử dụng vôcùng cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú

đa dạng của con người gắn với những tình huống giao tiếp cụ thể, muôn hìnhmuôn vẻ Đó là, tình cảm, thái độ của người nói, người viết đối với đối tượngđược đề cập, với người nghe, người đọc Chính thái độ và cảm xúc làm thànhnội dung biểu hiện, bổ sung của người nói giúp người nghe có thể hiểu nhanhchóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói.Chính nó đem lại cho phong cách ngôn ngữ sinh hoạt sự ý nhị, duyên dáng,sâu xa, hấp dẫn, thể hiện cách cảm, cách nghĩ của những con người cụ thể

Chẳng hạn, một bà mẹ mắng con: Mày còn về đây làm gì? Sao không đi nữa

đi Con với chả cái.

Tính cảm xúc của ngôn ngữ sinh hoạt còn được thế hiện qua việc sửdụng nhiều ngữ khí từ với nhiều màu sắc tình cảm khác nhau để thực hiện

Trang 16

chức năng tạo tiếp (đấy, nhỉ, nhé, nào, thôi, ), ví dụ: Anh đi đâu đấy?(hỏi

người đang ở trước mặt), hoặc : Tôi chết mất thôi!(với ý than vãn) Mặt khác,phong cách ngôn ngữ sinh hoạt sử dụng nhiều từ cảm thán biểu thị những sắcthái, tình cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau vốn làm thành nội dung biểu hiện

bổ sung ý nghĩa của lời nói Nó mang lại cho phong cách này cái ý nhị, duyên

dáng, sâu xa, hấp dẫn Ví dụ: A! Mẹ đã về kia rồi!(dùng khi reo mừng) để tạo

ra tính cảm xúc Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt từ láy giàu sắc thái cụthể, gợi hình, gợi cảm (loanh quanh, luẩn quẩn, hấp tấp, hớt hơ hớt hải, )

được sử dụng nhiều Ví dụ: Đi đâu mà hớt hơ hớt hải thế?.Và để thể hiện tính

cảm xúc người nói sử dụng câu cảm thán (ví dụ: Ôi mừnẹ quá!).

Như vậy, tính cảm xúc trong ngôn ngữ sinh hoạt là việc sử dụng từ ngữ,

âm thanh, cách diễn đạt giàu sắc thái tình cảm để biểu thị thái độ tình cảmcủa mỗi người khi giao tiếp

c) Tính cá thế

Không chỉ có tính truyền cảm xúc của nhân vật trong giao tiếp, ngônngữ trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt còn thể hiện đậm nét tính cá thể.Tính cá thể của ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện ở vẻ riêng của mỗi người khi traođổi, trò chuyện, tâm sự với người khác Người này thường nói từ tốn, khoanthai, nghiêm túc, chính xác, người kia hay nói hấp tấp, qua loa, đại khái, Xét

về khía cạnh này, lời ăn tiếng nói thể hiện nết người, thể hiện những suy nghĩ,tâm lí, trạng thái cảm xúc, thái độ của các nhân vật giao tiếp Ví dụ: có ngườihay sử dụng cách nói ví von so sánh, để lời nói có hình ảnh gây ấn tượng

Chẳng hạn: Trông nó như Thị Nở ấy. Hay nhiều người lại hay thích dùngthành ngữ, tục ngữ, quán ngữ (Vẽ dường cho hươu chạy; Mượn gió bẻ măng;

Cá lớn nuốt cá bé, ) Ta thấy ở một số địa phương có những cách nói biếnthể ngữ âm, từ địa phương ( không nói “nhưng mà” mà nói “dưng mà”, “cáichổi” gọi là “cái chửi”, “bảo” nói là “bẩu” ) Đó cũng là tính cá thể ở mỗiđịa phương

Qỉíịuụễn Tỉ hì Tĩhít 'Tôiềii 2 ỌCị - Qlạữ iMĨtr

Trang 17

ychởá luận tốt nt/Aiêp

Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, lời nói đẹp là lời nói tự nhiên,sinh động Trong thực tế giao tiếp hàng ngày, không ai nói giống ai, mỗingười có một đặc điểm riêng trong lời nói, trong cách diễn đạt Những nétriêng tinh tuý ấy dần trở thành cái tinh tuý của phong cách ngôn ngữ sinhhoạt Bởi vậy, các nhà văn thường dùng lời nói như một phương tiện để khắchọa tính cách nhân vật Chẳng hạn: lời Chí Phèo và lời Bá Kiến trong truyệnngắn “Chí Phèo” (Nam Cao) thể hiện rõ tính cách, bản chất của mỗi nhân vật

- “Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?

Chí Phèo lim dim mắt rên lên:

- Tao chỉ liều chết với hố con mày thôi Nhưng tao mà chết có khối

thằng sạt nghiệp mà còn rũ tù chưa biết chừng.

Cụ Bá cười nhạt nhưng tiếng cười giòn lắm Người ta bảo cụ chỉ hơn nạười ta ở tiếng cười.

- Cái anh này mới hay ỉ ’’

Ba đặc trưng trên đây của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt biểu hiện rõrệt trong đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này Sự biểu hiện này có nhữngmức độ khác nhau trong từng hoàn cảnh giao tiếp khác nhau

1.3.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.3.2.1 Khái niệm i( Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

Không giống như phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữnghệ thuật thường được sử dụng trong lĩnh vực nghệ thuật Đó là, thứ ngônngữ được nghệ sĩ gọt giũa, trau chuốt nhằm tạo nên những hình tượng nghệthuật Để làm rõ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ta xét ngữ liệu sau:

Trong bài thơ “Tràng giang” (Huy Cận) có đoạn:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền vê nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dònẹ”.

Trang 18

Nhà thơ Huy Cận cho biết, để có câu thơ cuối đoạn, tác giả đã trải quabảy lần lựa chọn, biến đổi và cuối cùng đã chọn:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Đoạn thơ trên tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ nhu đảo “một cànhcủi khô” thành “Củi một cành khô” Cùng với các biện pháp nghệ thuật tu từkhác được sử dụng như nhân hoá “sóng buồn”, “thuyền buồn”, “nước sầu”,

“củi lạc” Những điều trên cho ta thấy tác giả hết sức quan tâm tới cấu trúc nộitại của đoạn thơ, làm cho đoạn thơ mang tính đa nghĩa, hàm súc: đoạn thơkhông chỉ nói về cảnh sắc thiên nhiên (có sóng gọn, có nước, có thuyền) màcòn mang nặng nỗi buồn cô đơn vô định của thân phận con người giữa cuộcđời trôi nổi

Như vậy, Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngônngữ văn học) là phong cách ngôn ngữ được dùng trong các văn bản thuộc lĩnhvực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch )

Giữa phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ phinghệ thuật có sự khác nhau ở những phương diện sau:

Thứ nhất là về hệ thống tín hiệu: Nếu ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ

thống tín hiệu đầu tiên mà con người sử dụng để vật chất hoá những ý nghĩ,tình cảm của mình, tức là diễn đạt ý nghĩ, tình cảm này trong một hình thứctri giác một cách cảm tính (từ ngữ, phát ngôn ) Thì ngôn ngữ nghệ thuật lại

là mã phức tạp hơn Đó là hệ thống tín hiệu thứ hai được cấu tạo nên từ hệthống tín hiệu thứ nhất Nói như Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Về sự phân tíchngôn ngữ”: “Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ nhất của văn học”, “ngôn ngữ

là vật liệu xây dựng những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật” 49) Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một phương tiện biểuhiện, và nó nhất thiết phải tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng nghệthuật của tác phẩm”

Trang 19

ychởú Luận tốt nt/Aiêp

Thứ hai là vê chức năng: các ngôn ngữ phi nghệ thuật chủ yếu có chức

năng giao tiếp, những phẩm chất thẩm mĩ nếu có cũng chỉ đóng vai trò phụthuộc thứ yếu Còn trong ngôn ngữ nghệ thuật thì chức năng thẩm mĩ xuấthiện ở bình diện thứ nhất, ngoài ra nó còn có chức năng thông báo, chức năngtrao đổi và chức năng tác động

Thứ ba là vê tính hệ thống: Cả ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phinghệ thuật đều có tính hệ thống Song tính hệ thống ở mỗi kiểu phong cáchngôn ngữ lại khác nhau Trong ngôn ngữ nghệ thuật, tính hệ thống thể hiện ởchỗ chức năng thẩm mỹ với những thông số và thước đo gắn với phong cáchcủa mỗi cá nhân, của từng đặc trưng thể loại tác phẩm, của khuynh hướngsáng tác Còn phong cách chức năng của ngôn ngữ phi nghệ thuật dựa trêntính hệ thống của cấu trúc bên trong ngôn ngữ Tính hệ thống bị quy định bởicấu trúc của trạng thái hiện đại của ngôn ngữ, tính hệ thống gắn bó với sự khubiệt của xã hội đối với ngôn ngữ

Thứ tư là về bình diện nghĩa: Ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình

diện nghĩa Ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa Nó có khả năng mộtmặt hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn hoá với ý nghĩa của các từ, của cáchình thức ngữ pháp và mặt khác hướng vào hệ thống các hình tượng của cáctác phẩm nghệ thuật Bởi sự phản ánh thế giới trong tác phẩm văn học đi đôivới kết cấu nghệ thuật, cho nên từ đó nảy sinh thông tin đôi vừa về khách thểđược mô tả vừa về tác giả, về những đặc điểm trong cách cảm thụ thế giới,trong thế giới quan của tác giả vốn được diễn đạt trong tác phẩm, trong những

Trang 20

cả những phương tiện ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hoá như những từ địaphương, những từ lóng, những từ tục,

Thứ sáu là về vai trò tronọ, nạôn nẹữ dân tộc - ngôn ngữ nghệ thuật

xứng đáng giữ vai trò trung tâm của ngôn ngữ dân tộc Vai trò của nó trong sựphát triển của ngôn ngữ dân tộc to lớn đến mức chính ngôn ngữ dân tộc luônluôn gắn với tên tuổi của các nhà văn lớn

13.2.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Như vậy, thông qua những sự khác biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật vàngôn ngữ phi nghệ thuật, chúng ta có cơ sở để xác định những đặc trưng củangôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thốngtín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên) Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữtrong tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thànhhình tượng nghệ thuật Muốn thực hiện được chức năng thẩm mỹ, ngôn ngữnghệ thuật phải có những đặc trưng chung như tính cấu trúc, tính hình tượng,tính cá thể hoá, tính cụ thể hoá

a) Tính cấu trúc

Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện ở chỗ: Mỗi vănbản nghệ thuật tự bản thân nó là thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúngkhông những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống chung Biểuhiện của tính cấu trúc trong ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó “Các yếu

tố ngôn ngữ trong tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau cùng thực hiệnnhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau để giải thích cho nhau nhằm đạt đếntính nghệ thuật”

Tính cấu trúc trong tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi phải liên kết tất cả cácphương tiện ngôn ngữ hết sức đa dạng tác phẩm thành một chỉnh thể lời nóinghệ thuật Cái phạm trù đó theo viện sĩ V.V.Vinôgôrađôp là phạm trù “ hìnhtượng tác giả” Thuật ngữ “ hình tượng tác giả” diễn đạt hai khái niệm gắn bó

Trang 21

ychởá luận tốt nt/Aiêp

với nhau: thứ nhất đó là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật nhất định đượcthể hiện trong tác phẩm Thứ hai, đó là cấu trúc lời nói - yếu tố vốn là trungtâm tổ chức của tác phẩm nghệ thuật

Như vậy, tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là thể hiện ở sự gắn bótrong một hệ thống của các yếu tố trong ngôn ngữ

b) Tính hình tượng.

Bên cạnh tính cấu trúc trong ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật còn có tínhhình tượng Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữnghệ thuật Trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong phong cách học, tính hìnhtượng theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của lời nói thơ,truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thông tin được tri giác mộtcách cảm tính nhờ hệ thống những hình tượng ngôn từ

Ví dụ : từ “vũng’ trong câu thơ của Nguyễn Đình Thi là như vậy:

“Buổi chiều ứa máu Ngổn ngang những vũng bom ”

Trong câu thơ trên, nhà thơ Nguyễn Định Thi viết là“vũng bom” chứ khôngphải “hố bom” Trong “vũng” có nét nghĩa thường trực “nước” mà từ “hố”không nhất thiết phải có Nét nghĩa này tạo sự cộng hưởng giữa từ “vũng” và

từ “máu” tạo ra sức tố cáo mạnh mẽ: những bom đạn Mỹ trút xuống làng quê

ta chính là những vũng máu

Có thể nói bất kì một từ nào của ngôn ngữ phi nghệ thuật trong điềukiện của một ngữ cảnh nhất định đều có thể chuyển thành một từ nghệ thuậtnếu thêm nét nghĩa bổ sung nào đó

Ví dụ: Trong câu thơ của Nguyễn Đình Thi

“Ôi những cánh đông quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Trang 22

Các từ ngữ “chảy máu”, “đâm nát”, bên cạnh các nghĩa đen nghĩa đầu tiêncòn mang nghĩa bổ sung xây dựng hình tượng văn học, phác hoạ hình tượng tổquốc Việt Nam thân thương bị kẻ thù tàn phá, huỷ diệt.

Tuy nhiên, không phải là mỗi từ của ngôn ngữ phi nghệ thuật xuất hiệntrong văn bản nghệ thuật đều bắt buộc được cải tạo thành từ thi ca Trong vănbản nghệ thuật bao giờ cũng có những yếu tố có giá trị nghệ thuật bên cạnhnhững yếu tố không có giá trị nghệ thuật đó

Như vậy, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật được biểu hiện trướchết ở từ Hơn nữa, nó còn có trong những đơn vị lớn hơn của ngôn ngữ Đó làmột thể thống nhất của tạo hình và biểu đạt Hình tượng là một tín hiệu phứctạp trong đó xuất hiện với tư cách là bình diện nội dung, có sự biểu đạt mới,không bị rút gọn lại ở các biểu đạt trước đó

Ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật không phải là cái vỏ ngoài của hìnhtượng mà là hình thức duy nhất trong đó hình tượng có thể tồn tại được Trongviệc biểu đạt hình tượng nghệ thuật có hai loại đơn vị: đơn vị ngôn ngữ có sựbiến đổi nội dung khái niệm và đơn vị ngôn ngữ diễn đạt cái đặc trưng chungđược thực tại hoá trong ngữ cảnh Sự biến đổi nội dung khái niệm và sự thựctại hoá đặc trưng ngữ nghĩa chung là giai đoạn của một quá trình cải tiến chứcnăng thẩm mỹ của các đơn vị ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

Như vậy, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ được thểhiện qua từ ngữ, qua những phương tiện tu từ, qua biện pháp tu từ, qua ngữcảnh hay nói cách khác là qua hình thức ngôn từ mà, còn qua nội dung biểuđạt của hình thức ngôn từ đó Nói rộng hơn, tính hình tượng là tính có lí donghệ thuật của các tác phẩm

c) Tính cá thểhoá

Nói đến đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật không thể không nói đếntính cá thể hoá Tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu là dấu ấnphong cách tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách

Trang 23

ychởá luận tốt nt/Aiêp

tác giả là cái thuộc về bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữnghệ thuật Dấu ấn tác giả không có trong ngôn ngữ phi nghệ thuật và cả trongvăn học dân gian truyền miệng Dấu ấn phong cách tác giả chỉ có thể có trongtác phẩm nghệ thuật với tư cách là một thể thống nhất của cấu trúc tu từ học,trong đó gồm một hệ thống tu từ học hoàn chỉnh được liên kết lại bởi hìnhtượng tác giả, bởi ý định thẩm mỹ, bởi chủ đề tư tưởng của tác phẩm Chẳnghạn: Nam Cao là nhà văn được biết đến là cây bút hiện thực phê phán, các tácphẩm của ông thể hiện một ngòi bút sắc lạnh, dửng dưng, nhưng bên trong làmột trái tim ấm nóng tràn đầy tình thương

Tính cá thể hoá của ngôn ngữ tác phẩm nghệ thuật thể hiện tính cá thểhoá của ngôn ngữ tác giả Ngôn ngữ là chung nhưng sự vận dụng ngôn ngữ làtuỳ thuộc vào cá nhân Mỗi nhà văn do xu hướng, sở trường thị hiếu, tập quán,tâm lí xã hội, cá tính mà hình thành giọng diệu riêng, cái vẻ riêng của ngônngữ khi tác giả kể, dẫn chuyện hoặc nói về mình Đối với nhà văn, cái “giọngnói” riêng đó có giá trị quyết định Nói như T.Sêkhôp “nếu tác giả nào không

có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả” Mỗitác giả lớn đều có một thứ ngôn ngữ riêng không thể lặp lại trong lịch sử vănhọc Chẳng hạn, chúng ta thấy Hồ Xuân Hương và Tú Xương đều là nhữngnhà thơ trào phúng của văn học Việt Nam nhưng mỗi nhà thơ lại có sở trườngriêng có giọng điệu riêng, nếu ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương độc đáo, dị kì vìbiết khai thác những từ tượng thanh, tượng hình “lắt léo”, những cách nói lái,chơi chữ tài tình thì thơ Tú Xương lại giản dị, hồn nhiên mà sắc cạnh vì biếtkhai thác nghĩa đen, nghĩa chính xác nhất của ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.Tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật còn thể hiện ở từng sự vật, từngcảnh, từng nhân vật của tác phẩm Trong tác phẩm vật, cảnh, người khôngtrùng nhau thì ngôn ngữ thể hiện chúng cũng không trùng nhau Ví dụ trong

“Truyện Kiều” Nguyễn Du, đã miêu tả Thuý Kiều và Thuý Vân đều là những

Trang 24

người con gái đẹp, nhưng nếu như vẻ đẹp của Thuý Vân được tác giả tả trựctiếp, toàn diện khuôn mặt:

“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”.

thì khi tả Thuý Kiều, tác giả chủ yếu tập trung vào đôi mắt:

“Làn thu thuỷ nét xuân sơn

Như vậy, Nguyễn Du đã cá thể hoá Thuý Kiều và Thuý Vân

Như vậy, tính cá thể trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật chính là cáiđộc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác,lối nghĩ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ

d) Ngôn ngữ nghệ thuật có một nét chung nhất, một thuộc tính rộng

nhất là sự cụ thể hoá nghệ thuật - hình tượng mà ngôn ngữ phi nghệ thuật

không có nét này, thuộc tính này Sự cụ thể hoá tác động đến trí tưởng tượngcủa người đọc, kích thích người đọc Tính cụ thể hoá ngôn ngữ nghệ thuật tạo

ra trước mắt người đọc bức tranh vô cùng phong phú, sinh động, các biến cốhiện lên trong từng giai đoạn, từng vấn đề, từng trạng thái trong sự biến đổiliên tục Để làm rõ tính cụ thể hoá của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật chúng

ta xét ngữ liệu dưới đây:

“Xập xè én liệng lầu không

Có lan mặt đất rêu phong dấu ạiầy”

Nguyễn DuTrong câu thơ của Nguyễn Du, từ “Xập xè” vừa gợi ra hình ảnh thị giácvừa gợi ra biểu tượng âm thanh, không chỉ miêu tả dáng bay của con chim vàtiếng lè xè của đôi cánh, còn gợi ra sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâmtrạng chơ vơ của chàng Kim Như vậy, ta nói ngôn ngữ có tính cụ thể hoá

Có thể nói, sự cụ thể hoá nghệ thuật là thuộc tính rộng lớn nhất của lờinói nghệ thuật Nó giải thích bản chất sự tác động của từ ngữ nghệ thuật đếnngười đọc, giải thích đặc trưng của lời nói nghệ thuật như là đặc trưng củahoạt động sáng tạo nghệ thuật

Trang 25

ychởá luận tốt nt/Aiêp

Sự cụ thể hoá nghệ thuật được thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chứcphương tiện ngôn ngữ Và sự cụ thể hoá nghệ thuật còn có thể đạt được bằngmột phương thức đặc biệt khác Đó là “Sự dẫn dắt bằng động từ”, tức là cáchnhà văn gọi tên từng động tác cụ thể để tạo sự tưởng tượng của người đọc.Ngoài ra sự cụ thể hoá ngôn ngữ nghệ thuật đến từng chi tiết tinh tế, chi li đếntừng đường nét tỉ mỉ, sinh động không chỉ hạn chế trong việc sử dụng từ ngữ,kết cấu mà còn mở rộng ra hình thức độc thoại, đối thoại, các hình thức diễnđạt, tường thuật, miêu tả, biện luận, trữ tình

Cũng như ba đặc trưng đầu tính cấu trúc, tính hình tượng và tính cá thểhoá, tính cụ thể hoá là một đặc trưng chung của ngôn ngữ nghệ thuật Bởi lẽ,

cụ thể hoá hình tượng là thuộc tính chung nhất, khái quát nhất, giải thích bảnchất sáng tạo của nghệ thuật ngôn từ, bản chất của sự tác động, bản chất sángtạo của nghệ thuật ngôn từ, bản chất của sự tác động thẩm mỹ của lời nói nghệthuật

Tóm lại, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có bốn đặc trưng chung làtính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hoá và tính cụ thể hoá hình tượngnghệ thuật Bốn đặc trưng cùng tồn tại, hỗ trợ làm phong phú cho ngôn ngữnghệ thuật Nếu hiểu các khái niệm như trên đã trình bày thì có thể nói đây lànhững đặc trưng phân biệt lời nói nghệ thuật với lời nói phi nghệ thuật

Trang 26

Phong cách hành chính - công vụ (2 tiết)

Phong cách khoa học (2 tiết)

Phong cách hội thoại (2 tiết)

Các lỗi về phong cách (2 tiết)

Bắt đầu từ năm học 2000 - 2001 phần phong cách học được viết lạitrong chương trình SGK tiếng Việt 11 - sách chỉnh lí hợp nhất có sự chỉnh lí

về dung lượng kiến thức truyền đạt Phần Phong cách học được trình bày trongchương II với tên gọi “Phong cách học tiếng Việt” gồm các nội dung:

Bài 4: Những hiểu biết cơ bản về phong cách học (2 tiết)Bài 5: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (1 tiết)Bài 6: Phong cách ngôn ngữ gọt giũa (1 tiết)Bài 7: Phong cách ngôn ngữ khoa học và Phong cách ngôn ngữ

Bài 9: Phong cách ngôn ngữ văn chương (2 tiết)

Qỉíịuụễn 77/i/ &ltu 'Jôiền 2 Ọlị - Q(jạữ iMĨtr

Trang 27

ychởá luận tốt nt/Aiêp

Với SGK Ngữ văn hiện nay, theo chương trình đổi mới 2006 - 2007phần phong cách học được đưa vào chương trình ngữ văn 10 THPT

Tuy nhiên, để làm rõ các đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữchức năng, và phân biệt được phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cáchngôn ngữ phi nghệ thuật, giúp học sinh không chỉ hiểu mà còn vận dụngchúng vào giao tiếp, và quá trình học giảng văn thì chương trình Ngữ văn 10chỉ tập trung vào hai phong cách ngôn ngữ chức năng là phong cách ngôn ngữsinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Hai phong cách này được trìnhbày trong bốn tiết, mỗi phong cách thực hiện trong 2 tiết nên số lượng nộidung, kiến thức tăng và trình bày cụ thể hơn Phong cách ngôn ngữ sinh hoạtđược đưa vào chương trình học kỳ I (tiết 36 và tiết 42), phong cách ngôn ngữnghệ thuật được trình bày trong học kì II (tiết 83 và 84)

Dưới đây chúng tôi tập trung thiết kế 2 giáo án tương ứng với bốn tiếthọc phong cách chức năng ngôn ngữ này

2.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm

2.2.1 Giáo án 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (2 tiết)

Tiết 1 Ngôn ngữ sinh hoạt

- Cung cấp khái niệm phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Trang 28

- Học sinh nhận dạng các đặc điểm về ngôn ngữ của phong cách ngôn

ta sẽ tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ sinh hoạt và nó có các dạng biểu hiện nào?

Trang 29

Nội dung cơ

bản cần đạt Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

Hoạt độngl: I Khái niệm ngôn ngữ sinh

CH: Cuộc hội thoại diễn ra - Cuộc hội thoại diễn ra

- Hình thành trong hoàn cảnh nào (không trong hoàn cảnh:

khái niệm gian, thời gian)?

CH: Các nhân vật giao tiếpgồm những ai? Và họ có quan

Thời gian: buổi trưaKhông gian khu tập thể X

hệ với nhau như thế nào? -HS: Các nhân vật giao tiếp

gồm: Lan, Hùng, mẹ Hương,Hương, ông hàng xóm

Quan hệ giữa các nhân vật:.Quan hệ bình đẳng (ngangvai): Lan, Hùng, Hương.Quan hệ trên dưới: mẹHương ông hàng xóm vớiLan, Hùng, Hương.Quan hệ ruột thịt: mẹHương với Hương.Quan hệ xã hội: mẹ Hương,ông hàng xóm, Lan, Hùng,Hương

Trang 30

Qỉíịuụễn \Jhì &ítu 'Jôìền 2 ỌCị - Qlạữ tìún

Nội dung cơ

bản cần đat Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

CH: Nội dung, hình thức vàmục đính của cuộc hội thoại làgì?

CH: Trong hoạt động giaotiếp, người tham gia giao tiếp

sử dụng âm thanh, từ ngữ, ngữđiệu, cử chỉ, câu như thế nào

để biểu thị nội dung giao tiếp?

- HS: Nội dung:Báo đã đếngiờ đi học

.Hình thức: gọi - đáp.Mục đích: Giục bạn maulên để đến lớp đúng giờ

HS: Đặc điểm của âm thanh,

từ ngữ, ngữ điệu, cử chỉ, câutrong đoạn hội thoại:

Âm thanh: Tự nhiên, thoảimái (Hùng, Hương “gàolên”, mẹ Hương: nhẹ nhàng,

ôn tồn Ông hàng xóm: càunhàu, doạ nạt)

Về từ ngữ: sử dụng từ hôgọi, tình thái từ: à, ơi, nhỉ,nhé

Sử dụng từ ngữ thân mậtgiàu sắc thái biểu cảm (mẹHương: con, các cháu ơi;ông hàng xóm: chúng mày,ngủ ngáy; Lan, Hùng: lạch

Trang 31

Nội dung cơ

bản cần đạt Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

- GV: Đoạn hội thoại trên thể

bà lạch bạch, chết thôi ).Sử dụng thành ngữ: “Chậmnhư rùa”

.Sử dụng từ láy: Lạch bàlạch bạch, ngủ ngáy

.Về câu:

Câu đối đáp (Hương ơi!Các cháu ơi! Đây rồi!Ra đâyrồi! )

Sử dụng đa dạng các kiểucâu:

Câu tỉnh lược: (Đi học đi!Đây rồi! Ra đây rồi! )

Câu cầu khiến (Đi học đi!Các cháu ơi khẽ chứ, để chocác bác ngủ với; Nhanh lêncon )

Câu cảm thán (Hương ơi!

Cô phê bình chết thôi!) Về biện pháp tu từ:

So sánh (“Chậm như rùa!”,

“Lạch bà lạch bạch như vịtbầu ấy”)

Bố cục: Tự nhiên khôngtheo khuôn mẫu có sẵn

Trang 32

đời thường, không có sự chuẩn

bị trước, không theo khuônmẫu mà ngôn ngữ thân mậtsuồng sã, tự nhiên thoải mái

Đó là những đặc điểm cơ bảncủa phong cách ngôn ngữ sinhhoạt

- CH: Vậy qua phân tích ngữliệu trên em hiểu thế nào làngôn ngữ sinh hoạt?

*Khái niệm: GV nhắc lại vànhấn mạnh:

Phạm vi sử dụng: Trong đờisống hàng ngày

Mục đích: Trao đổi thông tin,tình cảm, ý nghĩ đáp ứngnhu cầu trong cuộc sống

*Ghi nhớ

-HS: ngôn ngữ sinh hoạt làlời ăn tiếng nói hàng ngàytrong cuộc sống của ngườidân dùng để trao đổi thôngtin, ý nghĩ, tính cảm đápứng nhu cầu trong cuộcsống

Trang 33

Nội dung cơ

bản cần đạt Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

-GV: Yêu Cầu học sinh đọcghi nhớ (SGK- 114)

nào? -HS: Thảo luận và phát biểu:

Ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện

ở hai dạng:

Dạng chủ yếu nhất là dạngnói: đối thoại, độc thoại

VD Hai người đối thoạiA: Cậu làm bài tập chưa?B:TỚ làm rồi

VD: Ngôn ngữ độc thoại: lời

tự nhủ với chính mình

“Mình phải cố lên!”

Một số trường hợp ở dạngviết: nhật ký, hồi ký, thư

*Lưu ý: Bên cạnh các dạngbiểu hiện trên, chúng ta cònphải lưu ý tới vấn đề sau:

Trong tác phẩm văn học códạng lời nói tái hiện tức là môphỏng lời thoại tự nhiên như:

từ,

Trang 34

Hoạt động 2:

Thực hành

ký, Khi tái hiện lời nói tựnhiên được biến cải phần nàotheo thể loại văn bản và ý địnhchủ quan Để làm rõ vấn đềnày chúng ta xét ví dụ sau: bàitập phần b (SGK - 114)

Ngữ liệu trên nhà văn đã sửdụng lời nói tái hiện để tả lờinói của ông Năm Hên Đó là,lời nói tự nhiên được tác giảbiến cải theo thể loại văn bản

*Kết luận: Dù ở trường hợpnói hay viết, tái hiện hay sángtạo ngôn ngữ sinh hoạt vẫn làtiếng nói hàng ngày chưa đượcgọt giũa nó mang sắc thái tựnhiên, thân mật, gần gũi

Trang 35

Nội dung cơ

bản cần đạt Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

-Ai nhắc hộ tôi cái xe lên hèvới, chốc nữa tôi bán ưu tiêncho

- Cho chục cái đây chị cả ơi!

-Chị Hai, tiền lẻ hơn thẻthương binh đây

-Yêu cầu xếp hàng! Xếphàng!

-Ôi giời ơi! Thẻ đỏ đây mà!

- Đề nghị không bán cho conphe

(Ma Văn Kháng)CH: Đoạn hội thoại trên thuộcngôn ngữ nào? Phạm vi giaotiếp, nội dung giáo tiếp nào?

Ngôn ngữ giao tiếp được thểhiện như thế nào? -HS: Thảo luận và phát biểu:

Đoạn hội thoại trên thuộcngôn ngữ sinh hoạt

Phạm vi giao tiếp: đượcdùng trong giao tiếp giữa các

cá nhân trong đối thoại muabán

Nội dung: Lời trao đổi giữangười bán và người mua Ngôn ngữ: Tự nhiên, thoải

Ngày đăng: 30/12/2015, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành - ổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn 10 THPT
Hình th ành (Trang 37)
Hình   tượng   ngôn   ngữ,   người - ổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn 10 THPT
nh tượng ngôn ngữ, người (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w