Cũng nội dung đó, sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2008 chuơngtrình chuẩn viết: “Nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, một số cây bút đã bộc lộ ý thức đối m
Trang 1TRƯỜNG DẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ THÙY DƯONG
NHỮNG TÌM TÒI NGHỆ THUẬT TRONG TIÉU
THUYẾT THÁI BÁ LƠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS LÊ VĂN DƯƠNG
NGHỆ AN-2013
Trang 2MỞ ĐÂU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 9
4 Nhi ệm vụ nghi ên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Cấu trúc của luận văn 11
Chưong I THÁI BÁ LỢI TRONG NỀN TIỀU THUYỀT VIỆT NAM SAU 1975 12
1.1 Một số vấn đề về tiểu thuyết 12
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 12
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 13
1.2 Sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam saul975 16
1.2.1 Tiền đề xã hội, văn hóa, thấm mỹ 16
1.2.2 Một số tác giả tác phẩm tiêu biểu 19
1.2.3 Những tìm tòi trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 23
1.2.3.1 Tìm tòi trong cách nhìn hiện thực 23
1.2.3.2 Đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người 25
1.2.3.3 Đổi mới trong kết cấu, nhân vật, phương thức trần thuật 28
1.3 Thái Bá Lợi và những đóng góp cho tiểu thuyết sau 1975 32
1.3.1 Thái Bá Lợi, cuộc đời, con người và sự nghiệp 32
1.3.1.1 Thái Bá Lợi, một nhà văn - chiến sĩ 32
1.3.1.2 Một tâm hồn gan bó với miền Trung 35
1.3.2 Tiểu thuyết trong văn nghiệp Thái Bá Lợi 40
1.3.2.1 Các tiểu thuyết của Thái Bá Lợi 40
1.3.2.2 Quan niệm của Thái Bá Lợi về tiểu thuyết 42
Chương 2 NHỮNG TÌM TÒI TRONG TIỀU THUYÊT THÁI BÁ LỢI TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 47
2.1 Những đề tài chính trong sáng tác của Thái Bá Lợi 47
Trang 32.1.1 Đề tài lịch sử 47
2.1.2 Đề tài chiến tranh 51
2.1.3 Đe tài hậu chiến 56
2.2 Những cảm hứng nổi bật trong tiểu thuyết TháiBá Lợi 62
2.2.1 Cảm húng ngợi ca 62
2.2.2 Cảm húng chiêm nghiệm triết lý 68
2.2.3 Cảm húng về sự hòa hợp 76
2.3 Những hình tượng nổi bật trong tiểu thuyết Thái Bá Lợi 82
2.3.1 Hìn h tượng người mở cõi 82
2.3.2 Hình tượng người lính 88
2.3.3 Hình tượng người phụ nữ 94
Chương 3 NHỮNG NỖ Lực ĐÔIMỚI TIÊU THUYẾT THÁI BÁ LỢI TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 101
3.1 Sự đan cài nhiều dạng kết cấu 101
3.1.1 Ket cấu theo dòng ý thức, hồi ức nhân vật 102
3.1.2 Ket cấu phân mảnh, lắp ghép 107
3.1.3 Sự hòa trộn thể loại 113
3.2 Sự linh hoạt trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 117
3.2.1 Nhân vật tự bộc lộ qua dòng ý thức 117
3.2.2 Nhân vật hiện lên qua nhiều điểm nhìn khác nhau 120
3.2.3 Đặt nhân vật trong những tình thuống thửthách để làm nối bật tính cách 124
3.3 Sự đa dạng tronng ngôn ngữ, giọng điệu 129
3.3.1 Sự đa dạng trong ngôn ngữ 129
3.3.2 Sự linh hoạt trong giọng điệu 136
KỀTLUẬN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam từ những năm 1980 thế kỷ XX đến nay đạtđược những thành tựu cả về nội dung và hình thức với rất nhiều cây bút tiêubiểu Nằm trong sự vận động của văn học theo xu hướng dân chủ hóa, tiểuthuyết giai đoạn này có cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân bản, nhân văn và
sự thức tỉnh cá nhân Những tìm tòi, cách tân của tiểu thuyết đã góp phần vàoviệc đổi mới và đưa văn học Việt Nam hòa nhập với văn học thế giới, vì thế,cần được khảo sát kỹ cả trên phương diện phong trào cũng như từng tác giả
cụ thể
1.2 Thái Bá Lợi là cây bút có nhiều đóng góp cho tiểu thuyết Việt Nam
đương đại Từ truyện vừa Hai người trở lại trung đoàn (1978) trở đi, ông
được biết đến như một nhà văn đi đầu trong sự đổi mới nghệ thuật theohướng dân chủ hóa Người đọc biết đến ông với hàng loạt tác phâm có giá trị,được nhiều giải thưởng của Trung ương và địa phương như: Giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam năm 1983 với Họ củng thời với những ai, Giải A của
ủy ban toàn quốc các Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2003
với tiểu thuyết Trùng tu, Giải A của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nang năm 2004 với tiểu thuyết Khê ma ma, Giải B (không có giải A)
của Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nang lần thứ nhất (1997
- 2005) với tiểu thuyết Trùng tu và tiểu thuyết Khê ma ma, Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 với tiểu thuyết Minh sư Năm 2012, ông
vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật Vớinhững thành tựu đã được ghi nhận, Thái Bá Lợi đã trở thành một cây bút văn
xuôi được người đọc và giới phê bình chú ý Việc nghiên cứu Những tìm tòi nghệ thuật trong tiếu thuyết Thái Bá Lợi sẽ giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn
về những đóng góp của ông đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Các nhà nghiên cứu phê bình văn học chú ý đến Thái Bá Lợi bắt đầu từ
tác phấm Hai ngưòi trở lại trung đoàn và coi đây là một trong những nhà văn
sớm có ý thức trong đổi mới văn học Song, đến nay vẫn chua có công trìnhnào nghiên cứu đầy đủ tiêu thuyết của ông mà mới chỉ là lời đánh giá về nhữngcống hiến của ông trong cái nhìn tổng quát về văn học Việt Nam thời kỳ đổimới hoặc các bài viết đề cập đến một số phuơng diện trong sáng tác hoặc một
số tác phẩm cụ thể
2.1 Những bài nghiên cứu tông quan về tiêu thuyết Thái Bá Lợi
Đánh giá đóng góp của Thái Bá Lợi trong văn xuôi Việt Nam thời kỳđổi mới, giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Đại học
Su phạm năm 2004, ở chirơng viết về Nền văn học mới từ sau Cách mạngtháng Tám năm 1945, khi đề cập đến quá trình vận động của văn học ViệtNam sau 1975, đã nhận xét và khăng định: “Công cuộc đổi mới văn học thục
sụ trở thành một phong trào mạnh mẽ từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI Nhungtruớc đó đã có những dấu hiệu đổi thay ở một số cây bút nhạy bén nhất Năm
1977, Thái Bá Lợi viết Hai người trở lại trung đoàn, Nguyễn Trọng Oánh viết Đất trang và Nguyễn Khải viết Cha và Con và ” Cũng nội dung đó,
sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2008 (chuơngtrình chuẩn) viết: “Nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, một số cây bút
đã bộc lộ ý thức đối mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời
sống nhu Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng, Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung đoàn” Trong bài viết Sự thay đôi thị hiếu thẩm mĩ của công chủng văn học sau đôi mới (www.vannghequandoi.com.vn), tác giả Nguyễn ThanhTâm cho rằng: “Chủ đề đã thay đổi rất lớn với sự xuất hiện trong văn chuơngnhững khía cạnh của tinh thần nhu vô thức, tiềm thức, tâm linh; những vấn đềnghiêng về sụ nhìn nhận, đánh giá, vói thái độ phản tỉnh vê cuộc đời, vênhững năm tháng đã đi qua; những vấn đề thiết thục với thế sụ nhu miếngcơm manh áo, sự thủy chung và bội phản, những ham muốn đời thirờng,
Trang 7những nhu cầu thiết cốt của cá thể trong một sinh quyến mới (Bức tranh, cỏ lau - Nguyễn Minh Châu, Hai người trở lại trung đoàn - Thái Bá Lợi, ).
Tuy nhiên, đây là những bài viết khái quát về một giai đoạn văn học nênchưa đi sâu nghiên cứu về tiểu thuyết Thái Bá Lợi mà chỉ xem tiểu thuyết củaông như là dẫn chứng tiêu biẻu minh họa cho một vài nhận định, đánh giá vềthành tựu đổi mới của văn học
Phạm Phú Phong, trong bài viết Thái Bá Lợi với tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 (Tạp chí Sông Hương, số 194 - 04 - 2005), khắng định
ông là nhà văn viết về chiến tranh sau 1975 rất thành công khi đi vào khaithác hiện thực, con người thời chiến đa diện, đa tính cách với cách kết cấu vàgiọng điệu riêng Tác giả cho rằng “Thái Bá Lợi tập trung đi vào chủ đề đạođức của con người trong chiến tranh được biểu hiện ở lòng trung thực, đức hysinh và ý thức trách nhiệm của người lính” và “nhân vật trong tiểu thuyết củaông không phải là những con người hoàn thiện hoàn mỹ, mỗi người đều cócái tốt lẫn cái xấu, ưu điểm lẫn nhược điểm” Tác giả ghi nhận những thànhcông trong kết cấu tiểu thuyết của Thái Bá Lợi “khi thì cắt dán, khi thì lắpráp, khi thì xâu chuỗi xoay chiều biến ảo khôn lường không gian thời giannghệ thuật đa chiều, đa diện, vừa có thể hình dung ra quá khứ, vừa dễ tiếp cậnhiện tại và định hướng cho tương lai” Tác giả đánh giá: “Bằng thực tiễnsáng tác, Thái Bá Lợi có sự vận động, thay đổi quan niệm về tiểu thuyết, vềchiến tranh, về lý tưởng thâm mỹ, từ đó có những cách tân cả về nội dung lẫnhình thức tác phẩm Trước tiên là sự đổi mới về không gian, thời gian nghệthuật, về sự quan tâm đến số phận con người và về giọng điệu văn chương.Các yếu tố tạo thành chỉnh thể thống nhất trên đây của tiểu thuyết có sự hòaquyện khó phân biệt trong sáng tác của Thái Bá Lợi, trong quá trình anh kiếntạo một khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi, chứa đựng trong một không gianlép kẹp, thế hiện sô phận mong manh của cuộc đời con người” Bài viêt củatác giả mới chỉ đề cập đến mảng đề tài chiến tranh trong sáng tác của Thái BáLợi chứ chưa có cái nhìn đầy đủ toàn diện trên tất cả các sáng tác của ông
Trang 8Khăng định những đóng góp của Thái Bá Lợi trong quá trình đổi mới
văn học, tác giả Phan Ngọc Thu, trong bài Thái Bá Lợi và quả trình đôi mới bút pháp sáng tạo (vannghedanang.org.vn), đi sâu phân tích kiểu tư duy hình
tượng đậm đặc thế giới hiện thực ký’ ức trong các sáng tác của ông và chorằng “đặc điểm này đã thấm đẫm và chi phối một cách sâu sắc toàn bộ thếgiới nghệ thuật của anh từ cốt truyện, kết cấu đến hình tượng nhân vật, ngônngữ và giọng điệu Nó trở thành một nét đặc trưng khi nhận diện phong cáchcủa nhà văn” Nhận xét về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thái BáLợi, tác giả cho rằng tác phấm của Thái Bá Lợi không ngừng thay đổi biếnhóa “đều cùng là thế giới hiện thực hồi ức nhưng nghệ thuật trần thuật chuyểndần từ tuyến tính sang đồng hiện, từ lối kết cấu theo kiểu đan xen giữa thực
tại và dòng chảy ý thức trong Trùng tu, đến lối cấu trúc ghép mảng, hòa trộn thê loại trong Khê ma md\ Tuy nhiên, bài viết mới chỉ phác thảo đôi ba nét
phong cách nổi bật của Thái Bá Lợi như kiểu tư duy hình tượng đậm đặc thếgiới hiện thực ký ức chứ chưa có cái nhìn khái quát sáng tác của ông trên haiphương diện nội dung và hình thức Cũng cách nhìn ấy, Vũ Thị Thảo, trong
bài viết Thải Bá Lợi — Kỷ ức và mơ ước (Lời giới thiệu Tiếu thuyết Thái Bá Lợi - NXB Hội Nhà văn), khăng định hiện thực trong sáng tác của ông là
hiện thực ký ức và bước ra từ thế giới ấy là “hình tượng người lính và ngườiphụ nữ, họ xuất hiện trong nhiều thời điểm của chiến tranh và hòa bình vớinhiều mối quan tâm khác nhau” Theo tác giả, “Thái Bá Lợi thường vận dụngnghệ thuật tạo dựng tình huống với lối kết thúc truyện mang màu triếtlý chính điều này làm cho câu chuyên mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc” Rấttiếc, bài viết chỉ mang tính chất là lời giới thiệu nên chưa đầy đủ
Lại Nguyên An trong bài Mấy nhận xét về một sổ tác giả văn xuôi lứa
“tứ tuần ”(http://phebinhvanhoc.com.vn) coi Thái Bá Lợi là một nhà văn lứa
“tứ tuần” có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam sau 1975 Theo tác giả,
“nếu gộp chung các sáng tác khác của Thái Bá Lợi: Thung lũng thử thách (1977), Họ cùng thòi vói những ai (1980), Bán đảo (1984) thì thấy hai
mạch: một mạch truyện chiến đấu, nổi bật là vấn đề hai thế hệ Đúng hơn,
Trang 9sự đánh giá lớp trẻ, quan hệ lớp trẻ với lớp đàn anh Mạch thứ hai, là mạch
quan hệ con người trong đời thường Mạch này được tính bằng vào Hai người trở lại trung đoàn và Bán đảo Ớ Hai người trở lại trung đoàn có thế thấy cái
cảm nhận khá sắc: ra khỏi cuộc sống thời chiến là một cuộc sống khác, với
những xử sự khác, dẫu vẫn là giữa những con người ấy với nhau Bán đảo nhằm vào những quan hệ con người sau chiến tranh (giống như Miền chảy của Nguyễn Minh Châu) Nó có cái nhìn tỉnh táo hơn, trầm tĩnh hơn”.
Rất tiếc, bài viết mới chỉ là những lời đánh giá tổng quát trong sự tương quanvới các tác giả văn xuôi lứa “tứ tuần” khác
Tìm hiểu ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Thái Bá Lợi, tác giả
Võ Công Chánh, trong bài Mẩy cảm nhận về ngôn ngữ và giọng điệu trong sảng tác của Thải Bá Lợi (vannghedanang.org.vn), đã có những khảo sát thú
vị về cách dùng ngôn ngữ và sự biến hóa trong giọng điệu ở các sáng tác củaông Tác giả cho rằng “giản dị, chân chất là nét nổi bật trong ngôn ngữ sángtạo của nhà văn” và “sự thay đổi trong điểm nhìn trần thuật đã tạo nên vẻ đẹpngôn ngữ giàu chất hồi ức và ngẫm ngợi, suy nghiệm nó kết đọng ở phầncuối tác phẩm theo lối quy nạp” Còn giọng điệu trong sáng tác của ông có sựđan xen “Trong giai đoạn đầu của Thái Bá Lợi chủ yếu vẫn nằm trong mạch
âm hưởng sử thi Giai đoạn sau hòa vào cảm hứng đời tư và thế sự đã tạo chovăn mạch Thái Bá Lợi đan cài thêm nhiều giọng điệu: khi tự hào ngợi ca, khitrữ tình sâu lắng, khi điềm tĩnh ngẫm ngợi giàu chất minh triết” Tuy nhiên,bài viết mới chỉ dùng lại ở những cảm nhận bước đầu về một vài yếu tố thuộcphương diện hình thức trong sự nghiệp văn học của Thái Bá Lợi
Như vậy, nghiên cứu tổng quan về tiêu thuyết Thái Bá Lợi các bài viếttrên đã phát hiện thấy những tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật của ông nhưngcòn đơn lẻ, rời rạc, phiến diện
2.2 Những bài nghiên cứu vê từng tiêu thuyêt của Thái Bả Lợi
Nhìn chung, bài viết về Thái Bá Lợi chủ yếu đi vào tìm hiểu các sáng
tác cụ thể của ông Trong buối Tọa đàm về hai cuon tiếu thĩỉyết Trừng tu và Khê ma ma (do Nguyễn Chí Hoan thực hiện, Báo Văn nghệ, số 51, 18 - 12 -
Trang 102004) các nhà nghiên cứu đã có những nhận xét sâu sắc: “Khê ma ma đã đua
ra một mẫu hình trong sáng, thanh thản và thông qua đó tinh thần nhân bảncủa quá khứ trở nên những chuẩn mục của tuơng lai nhu cách ứng xử nhân
ái, đời sống tinh thần cao đẹp’ (nhà phê bình Ngô Thảo), “Trong Trùng tu,
nhân vật chìm vào cuộc chiến nên nguời đọc thấy chiến tranh gần hơn, dễtiếp cận hơn mặc dù vẫn hiện thục và nghiệt ngã” (Nhà văn Nguyễn ViệtHà) Ngoài ra, những đánh giá của Nguyễn Chí Huân, Trung Trung Đỉnh,Bảo Ninh, Khuất Quang Thụy, Phạm Ngọc Tiến đều đã khăng định đây làhai cuốn sách có tu tuởng, có triết lý, có nghĩ ngợi và có tính xã hội “đã làmánh lên lẽ sống của dân tộc và phẩm giá con nguời trong chiến tranh” (HữuThỉnh) Bài viết mới chỉ dừng lại ở những ghi chép xoay quanh hội thảo chứchua phải là công trình nghiên cứu về hai tác phẩm của Thái Bá Lợi
Tác giả Hàn Hoa trong bài Ngược dòng thòi thượng - một giấc mơ về
lý tưởng (Đọc Khê ma ma của Thái Bá Lợi, http://evan.vnexpress.net), cho rằng tiểu thuyết Khê ma ma nổi bật nhất là chất nội tâm, nó tạo nên thứ tính
chất lấp lửng của ngôn từ, đó là “ý tại ngôn ngoại” của cuốn tiếu thuyết.Theo tác giả “ba muơi hai đoạn “nhật ký” là ba mirơi hai câu chuyện mà hầuhết có chung một lối cấu trúc: “Tôi” làm một việc, kể một chuyện, biêu lộ
một điều gì đó và rồi “Khê ma ma” bình luận, nhận xét nhu thể khai tâm cho
“Tôi” hoặc đơn giản và tụ nhiên “Khê ma ma” can dụ vào nhu một nguời chị
em cùng chí huớng Chính ở những đoạn điên hình đó, cấu trúc mấu truyện
lên tới mức điển hình cao độ”, cấu trúc đó để làm nổi bật hình ảnh "Khê ma
ma" những mẫu gốc có tính siêu việt và siêu nhiên của con người và "cuốn
nhật ký" trong mơ này bị ám ảnh bởi một quá khứ lớn lao và trục tiếp hơn,
một thòi mà chất ìý tưởng ngự trị đời sống với tu cách là cái cao cả, cái mục
đích cách chung của nhiều thế hệ của dân tộc” Đó là những nhận xét sắc sảo
về nội dung song về phuơng diện hình thức thỉ tác giả bài viết chua đi sâunghiên cứu
Bài viết Thái Bá Lợi Trừng tu kỷ ức của Thanh Thảo (Báo Văn nghệ,
số 51, 18 - 12 - 2004) cho rằng tiểu thuyết Trimg tu là sự thể hiện ý tuởng
Trang 11“trùng tu” của tác giả, đó là “trùng tu” ký ức chiến tranh và trùng tu ngôn ngữtiểu thuyết Theo Thanh Thảo “những nhân vật của Thái Bá Lợi thường bước
ra từ ký ức của anh Không ai có thê nhớ mọi thứ, kê cả nhà văn Nhưngnhững khoảng “bất chợt nhớ” của nhà văn có vẻ nhiều hơn của người thường.Những câu văn của Thái Bá Lợi cũng có vẻ được gọi ra từ ký ức, những câuvăn vừa hoàn chỉnh vừa lấp lửng” Và, “Chính cái giọng văn không đa cảm,cái giọng văn cứ thường thường, cứ tưng tửng, không đao to búa lớn, khôngtriết lý rùm beng của Thái Bá Lợi đã khiến tôi nghèn nghẹn Và chính câuchuyện không đầu không đũa, nhớ trước quên sau, đứt nối như những cơnmưa bất chợt đã không cho người đọc hời hợt là tôi một chỗ trú ân nào Tôi
cứ như bị phơi ra đê đối mặt với từng trang sách không ra kế chuyện màkhông ra tự thú kia, vừa bị một lực hút khó cản vừa chịu một lực đẩy hayrung lắc vừa phải đê không phải đa cảm non hay sướt mướt hão” Tuy nhiên,
tiểu thuyết Trùng tu không chỉ dừng lại ở ý tưởng “trùng tu” ký ức và ngôn
ngữ mà tác giả còn đặt ra những vấn đề khác như mối quan hệ giữa con người
và con người sau chiến tranh, cái nhìn về những người bên kia chiếntuyến nhưng bài viết lại chưa đề cập đến
Với tiểu thuyết Minh sư, tác phâm đạt giải thưởng của Hội Nhà văn
năm 2010, các nhà nghiên cứu đều cho rằng “đây là một cuốn sách đáng đọc
bơi những ý tưởng mà nó chuyển tải” Tấn Phong, trong bài viết Biện chứng của một giai đoạn lịch sử bi hùng (Văn nghệ, số 9, 3 - 3 - 2012), đã có
những phát hiện sâu về cuốn tiểu thuyết này Theo tác giả, cuốn tiểu thuyết có
ba cái độc đáo: Thứ nhất đó là sự hòa trộn thể loại “không cần biết nó là ký
sự lịch sử, là truyện vừa hay tiểu thuyết” Thứ hai, “ tác giả không đi sâu vàonhững tranh giành ngôi vị, những âm mưu thoán đoạt, những tranh chấp phenhóm, bè đảng Người kê chuyên cứ thủng thắng kể lại những điều mìnhbiết, mình đọc, mình ghi nhận; ung dung, từ tôn bám sát nhân vật, .tập trungkhắc họa tính cách một nhóm nhân vật tiêu biếu - để đến lượt nó, lại làm cái
“phông” tập trung khắc họa tính cách thân phận nhân vật chính là ĐoanQuận công Nguyễn Hoàng” Một nét độc đáo nữa của cuốn truyện này là “lúc
Trang 12phảng phất văn phong chính sử, lúc lại như những truyền kỳ, giai thoại; lại cókhi, vượt qua những cách bức hàng trăm năm, giữa người kể chuyện và cácnhân vật hầu như không còn vách ngăn, mà chập làm một, cứ như chuyệnmới xảy ra ngày hôm qua Giữa lịch đại và đồng đại là một hành lang thôngsuốt, hết sức tự nhiên Người kể chuyện như người mộng du, chợt tỉnh và lại
mơ màng ” Tất cả những sáng tạo độc đáo đó là đê bộc lộ ý tưởng của tácgiả “Có chăng một cuộc xâm lăng của những người đi mở đất? - Câu trả lờicủa một nhà chép sử chịu trách nhiệm về ngòi bút của mình là KHÔNG Vì
đó là BIỆN CHỬNG của sự dung hợp, là lô-gic lịch sử hội đủ ba điều kiệnTHIÊN - ĐỊA - NHÂN” Rất tiếc là bài viết mới chỉ dừng lại ở những đánhgiá, nhận định ban đầu chứ chưa đi sâu phân tích, lý giải một cách thấu đáocác vấn đề đó
Trong bài Nỗi đau quả khứ dạy ta những gì? (Văn nghệ, số 17 + 18, 28
-4 - 2012), Văn Chinh cho rằng: “Bang thi pháp nhà nghiên cứu lục lọi lịch
sử (cả những truyền thuyết dã sử trong nhân gian) mà nhân vật, sự kiện lịch
sử sống lại; hiện tại và quá khứ đan xen nhau, cắt nghĩa và lý giải lẫn nhaukhiến trường liên tưởng của nó là vô cùng, làm nên sức hấp dẫn cho tiểu
thuyết.” Theo tác giả cuốn Minh sư như một tiêu thuyết cắt nghĩa quá trình
hòa họp ở một chiều dài lịch sử và chiều sâu tâm linh thấm thìa
Đề cao tư tưởng Nhãn trị và hòa giải trong tiểu thuyết Minh sư; tác giả
Nguyễn Chí Hoan (vannghe danang.org.vn - số 161) cho rằng Thái Bá Lợi
“theo đuổi bền bỉ một tư tưởng thật sự thực chất, có chiều sâu của trải nghiêmsuy tư nghiêm cẩn, riêng biệt và độc đáo, có hình thức diễn đạt thật sự vănchương” Theo tác giả “Bản thân cái tư tưởng về “Minh sư” như vậy cho thấythật rõ cái nguồn gốc kết họp minh triết của Ấn Độ cổ xưa, Phật giáo vàKhống giáo trong một châm ngôn linh động về diễn đạt Bởi vậy khái niệm
“sự thật” trong đó mang màu sắc đạo lý không nhằm đến một “chân lý” đặcthù nào, mà nhằm đến một chuẩn mực ímg xử đối với mọi thứ được nhìnnhận có tính chân lý, và như vậy làm nối bật tính cách kẻ “quân tử thời trung”trong hình ảnh nhân vật Nguyễn Hoàng” Đây là một nhận xét sắc sảo về
Trang 13chiều sâu tu tưởng của cuốn tiểu thuyết Minh sư nhưng chưa đi vào nghiên
cứu những tìm tòi về phương diện hình thức của tác giả
Tác giả Huỳnh Thu Hậu trong bài Những cách tân trong Minh sư của Thái Bá Lợi {http://nhathongưyentrongtao.wordpress.com) đã chỉ ra những
nỗ lực cách tân tiểu thuyết của nhà văn qua cuốn tiêu thuyết này đặc biệt là ởnghệ thuật trần thuật, ở cách viết đi chênh vênh giữa sự thật lịch sử và hư cấu
Theo tác giả, “giá trị của tác phẩm Minh sư không chỉ ở nỗ lực cách tân và
đổi mới cách viết như sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, tố chức đa điém nhìnnghệ thuật, tạo nên tiếng nói đa thanh mà còn nằm ở tư tưởng nhân văn vàdân chủ mà tác giả gửi gắm qua bức thông điệp về thân phận con người trong
và sau chiến tranh đặc biệt là những người phụ nữ, những cách nhìn khácnhau về những sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử”
Ngoài ra còn có một số bài viết khác như ‘Mở cõi ”, mở trang sử cũ, ngẫm chuyện hôm nay (Nguyễn Khắc Phê, tạp chí Hồn Việt) Minh sư cho ta nhận biết (Trần Nhã Thụy, tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri), Minh sư nào trong chuyện người mở cõi (Trần Xuân An, trieuxuan.iníb) đều đã có những đánh giá nhận xét sắc sảo về tiểu thuyết Minh sư của Thái Bá Lợi trên các
phương diện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật
Như vậy, do độ lùi thời gian chưa nhiều, số lượng bài viết về Thái BáLợi không phải là ít nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu và bạn đọc chủyếu nghiêng về thâm định, đánh giá, phán xét về các tác phấm cụ thê hoặcmột phương diện nội dung, nghệ thuật trong sáng tác của tác giả Việc nghiêncứu một cách đầy đủ, có tính hệ thống về những tìm tòi nghệ thuật trong tiếuthuyết Thái Bá Lợi vẫn còn nhiều vấn đề mở ngỏ Kết quả nghiên cứu củanhững người đi trước là những gợi ý quý báu đối với chúng tôi trong quátrình thực hiện đề tài
3 Đối tuong nghiên cứu, pham vi tư liêu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tìm tòi nghệ thuật trong tiểuthuyết Thái Bá Lợi
3.2 Pham vi tư liệu khảo sát, bao gồm các tác phẩm:
Trang 14- Họ củng thời với những ai (1980)
- Bán đảo (1981)
- Trùng tu (2002)
- Khê ma ma ( 2004)
Những tác phâm trên được tập họp lại và in chung trong Tiếu thuyết
Thái Bả Lợi, Nxb Hội Nhà văn, 2008.
- Thung lũng thử thách, Nxb Tác phàm mới, 1978
- Minh sư, Nxb Hội Nhà văn, 2010
Ngoài ra luận văn còn khảo sát các truyện ngắn của Thái Bá Lợi và tiểuthuyết của một số nhà văn cùng thời để so sánh, đối chiếu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm tìm hiểu:
- Tiểu thuyết Thái Bá Lợi trong những tìm tòi chung của tiểu thuyết
Việt Nam đương đại
- Những tìm tòi nghệ thuật trong tiếu thuyết Thái Bá Lợi trên một số
yếu tố thuộc phương diện nội dung
- Những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết của Thái Bá Lợi trên phương diện
nghệ thuật
5 Phương pháp nghiên cứu
Đế thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai qua 3 chương:
Chương 1 Tiếu thuyết Thái Bá Lợi trong nliững tìm tòi chung của tiêu thuyết Việt Nam sau 1975
Trang 15Chương 2 Những tìm tòi của tiêu thuyết Thái Bá Lợi trên phương
diện nội dung Chương 3 Những nỗ lực đoi mới tiêu thuyết Thái Bá Lợi trên
phương diện nghệ thuật
Trang 16Chương 1 TIẺƯ THUYẾT THÁI BÁ LỢI TRONG NHỮNG TÌM TÒI CHƯNG CỦA TIỂU THƯYÉT VIỆT NAM
SAU 1975 1.1 Một số vấn đề về tiếu thuyết
1.1.1 Khái niệm tiếu thuyết
Tiểu thuyết là một thế loại quan trọng trong hệ thống loại hình vănxuôi nghệ thuật Hiện nay đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, thậm chítrái ngược nhau về tiểu thuyết Nhìn chung trong thời gian khá dài, cả ởphương Đông và phương Tây, đã có nhiều nhà nghiên cứu cố gắng đưa ramột định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết đê có thế ứng dụng cho mọi trường hợptrong thực tế văn học Đó không phải là việc đơn giản
Cho đến nay, những định nghĩa, khái niệm tiểu thuyết toàn diện và cóluận chứng, dẫn giải xác đáng, đầy đủ hơn có lẽ vẫn tồn tại trong các côngtrình ở dạng từ điển thuật ngữ văn học, trong đó đáng chú ý nhất là công trìnhcủa Lại Nguyên Ân và nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi Trong 150 thuật ngữ vãn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, tiểu thuyết
được định nghĩa là “tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào sốphận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trầnthuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức
đủ đê truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách [3, 313] Từ đỉến thuật ngữ văn học
do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)định nghĩa tiểu thuyết “Là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiệnthực đời sống của mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thểphản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xãhội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng[27, 328]
Như vậy, đi tìm một định nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh về tiếu thuyết cókhả năng ôm trọn mọi thực tế sáng tác văn học là điều khó làm được Các nhà
lý luận tùy theo từng khía cạnh, góc độ khác nhau, nhấn mạnh đặc điểm này
Trang 17hay đặc điểm kia của tiểu thuyết mà đua ra quan điểm khác nhau về tiểuthuyết Song cũng dễ dàng nhận thấy các định nghĩa trên có những chỗ gặpnhau, nếu lựa chọn những điếm chung nhất ấy có thể diễn đạt một cách kháiquát: Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự có dung lượng tương đối dài về một câuchuyên được hư cấu “như thật” dựa trên sự hiểu biết, từng trải của nhà văn vềcuộc sống Tiểu thuyết có khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn, bao quátnhiều tính cách, số phận trong những không gian, thời gian không hạn chế.
Đê viết tiểu thuyết, tác giả phải là người có kiến thức rộng và biết vận dụngnhiều lối văn khác nhau Chính những đặc điểm đó làm nên sự hấp dẫn, lôicuốn độc giả từ đầu đến cuối mỗi tác phẩm Vì vậy, tiểu thuyết được coi là
“máy cái của văn học” (Dan theo Bùi Việt Thắng , [52, 7]), và là thể loại chonhiều tác giả thành danh trên văn đàn, trong đó có Thái Bá Lợi
1.1.2 Đặc trung cơ bản của tiếu thuyết
Đề cập đến đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết nghĩa ra chỉ ra những tiêuchí để phân biệt thể loại này với các thể loại khác Tuy nhiên tiểu thuyết làmột thể loại “đang biến chuyến và còn chưa định hình” nên những đặc trưngcủa tiểu thuyết không phải là chân lý “nhất thành bất biến” mà có sự vậnđộng thay đổi theo thòi gian Cho đến nay, người ta vẫn thống nhất tiểuthuyết có những đặc trưng cơ bản sau:
Tiêu thuyết nhìn nhận cuộc sổng dưới góc độ đời tư Trong sự đối sánh
với sử thi, M.Bakhtin cho rằng đây là biêu hiện của tinh thần dân chủ, yếu tốđời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng gia tăng Nếu sử thi tiếp cậncon người dưới góc độ cộng đồng với cảm hứng ngợi ca thì tiểu thuyết tiếpcận con người dưới góc độ cá nhân, soi chiếu hiện thực dưới lăng kính của sựthật, tâm thế của tiểu thuyết là “giải thiêng” là “suồng sã” hóa cuộc đời đếphát hiện ra “chất Người” đích thực trong mỗi con người Mỗi cuốn tiêuthuyết là một thông điệp gửi đến độc giả “sự thật ở đòi phức tạp hơn anhtưởng” Vì thế người ta tìm đến với tiểu thuyết như tìm về với chính mìnhhay tìm về với lòng người và trường đời Trong tiểu thuyết, những góc tối
Trang 18nhất của cuộc đời và con người không phải được tổng kết bằng những kháiniệm khô khan mà nó hiện ra thật tươi mát, sống động như cuộc đời.
Chat văn xuôi là đặc trimg nổi bật của tiểu thuyết Theo Bakhtin, nếu
thơ ca đi vào phản ánh thế giới nội tâm với xu hướng trữ tình hóa với ngônngữ đơn thanh thì tiểu thuyết thê hiện đời sống trong trạng thái văn xuôi.Chất văn xuôi cho phép các nhà tiểu thuyết tái hiện đời sống một cáchnguyên dạng với đầy đủ các sắc thái thẩm mỹ Chúng ta có thể bắt gặp tất cảtrong tiểu thuyết, từ những cuộc đời thật xù xỉ, thô ráp, góc cạnh đến nhữngbức tranh tâm trạng đầy ẩn ức, những tâm tư khó nói, những suy nghĩ sâu xa
về cuộc đời, từ những khát vọng cao cả, thánh thiện đến những dục vọng ích
kỷ, thấp hèn Tiểu thuyết là bức tranh cuộc đời với mọi cung bậc cảm xúc: hỉ,
nộ, ái, ố Tiểu thuyết phơi bày cuộc đòi trong sự ngổn ngang phức tạp đầybiến động mà trong đó cái vĩ đại lẫn cái tầm thường, cái nghiêm túc lẫn cái lốbịch, cái bi lẫn cái hài, cái thiện lẫn cái ác “cuộc sống hiện ra dường ô hợpvới tất cả sự trần truồng xấu xí, ghê tởm của nó đồng thời với tất cả vẻ đẹptrang nghiêm của nó, trong đó người ta mổ xẻ cuộc sống bằng con dao giảiphẫu” (Biêlinxki) Chất văn xuôi thế hiện rất rõ trong các tiểu thuyết củaBanzac, Xtandan, Phlobe, Đoxtoiepxki, Seekhop, Vũ Trọng Phụng, NamCao, Nguyễn Khải Chính chất văn xuôi tạo ra một vùng tiếp xúc tối đa vớithời hiện tại đang sinh thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn nào trongnội dung phản ánh
Nhân vật trong tiếu thuyết thường là con người “nếm trải Nhân vật
của sử thi, của truyện trung cổ là kiểu nhân vật hành động, sức hấp dẫn củanhân vật thế hiện ở chỗ nhân vật làm gì, nghĩ gì, nói gì Nhân vật của tiêuthuyết cũng hành động nhưng không phải hành động trong một loạt móc xíchcác sự kiện mà trong sự nếm trải tư duy, với những đau khố dằn vặt ở đời.Tiểu thuyết mô tả con người trong hoàn cảnh, gắn với hoàn cảnh, không côlập nó nhưng cũng không cường điệu sức mạnh của nó Con người “nếm trải”(Bakhtin) là con người có sự lớn lên, trưởng thành trong ý thức, trong tư duy,con người trưởng thành, biến đổi và lớn khôn do sự dạy bảo của cuộc đời
Trang 19Những nhân vật như Juylieng Xoren, Gorio, Anna Karenina, Long, Thứ đều
là những con người nếm trải và tư duy Vì vậy mà tiểu thuyết thường tìm mọicách thâm nhập, khám phá thế giói bên trong của con người, nhìn thấy được
sự biện chứng loogic của tính cách cũng như mối quan hệ giữa con người vàhoàn cảnh Có thể nói, không một loại hình nghệ thuật nào bỏ qua được khíacạnh tâm lý nhưng phân tích tâm lý vẫn là một đặc trưng của tiếu thuyết
Sự gia tăng vai trò của các yếu tổ ngoài cốt truyện là một đặc trưng nổi
bật của tiểu thuyết Ngoài hệ thống sự kiện tạo nên cốt truyện, các chi tiếttính cách , tiểu thuyết có rất nhiều yếu tố “thừa”: những suy tư của nhân vật
về thế giới, về đời người, sự miêu tả môi trường, đồ vật, sự phân tích cặn kẽdiễn biến tình cảm, những bình luận của người trần thuật, những yếu tố triết
lý về cuộc đời, con người Chính yếu tố “thừa” này làm cho chất tiểu thuyếtgia tăng, chất cuộc đời đậm đặc khiến cho chúng ta cảm nhận đọc tiểu thuyết
là khám phá cuộc đời, là trải nghiệm cuộc đời Yếu tố “thừa” còn chi phốilàm “biến dạng” cốt truyện nên có hiện tượng cốt truyện lỏng, cốt truyệnbiến mất, phi cốt truyện Những yếu tố “thừa” ấy tưởng như vụn vặt, rời rạc,lộn xộn nhưng lại chứa đựng một góc nhìn, một thông điệp mà nhà văn muốngửi gắm cho cuộc đời Vì vậy, đọc truyện hiện đại cần đọc hài hòa giữa cốttruyện và các yếu tố ngoài cốt truyện
Tiểu thuyết có sự rút ngắn khoảng cách trần thuật Theo Bakhtin, trong
sử thi giữa người trần thuật và nội dung trần thuật luôn tồn tại một khoảngcách, đó là khoảng cách về giá trị dẫn đến lý tưởng hóa của anh hùng ca, đócũng là khoảng cách để tác giả ngợi ca ngưỡng mộ Tiểu thuyết phá bỏkhoảng cách ấy để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đưong thời của ngườitrần thuật Tiểu thuyết cho phép người trần thuật nhìn nhận nhân vật gần gũinhư những người bình thường, nhà văn có thê “suồng sã hóa”, “lật ngượcnhân vật”, hiểu nhân vật bàng kinh nghiệm của chính mình Chính khoảngcách gần gũi này làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, có thểnhìn sự vật từ nhiều chiều, sử dụng nhiều giọng nói, tạo nên sự đối thoại giữacác giọng khác nhau
Trang 20Tiếu thuyết có sự tông hợp của nhiều thế loại, theo Bakhtin, tiểu thuyết
có khả năng thu hút các đặc điểm của các loại hình văn học khác, đó là khảnăng tự phê phán Sự thu hút, tổng hợp của tiêu thuyết rất phong phú, đadạng Nó có thể du nhập chất thơ (tiểu thuyết trữ tình), chất ký (tiểu thuyếtphóng sự, tiểu thuyết tư liệu), yếu tố kịch (tiêu thuyết kịch), yếu tố khoa học(tiểu thuyết viễn tưởng), yếu tố hình sự (tiểu thuyết trinh thám), yếu tố võthuật (tiểu thuyết kiếm hiệp), yếu tố chính luận (tiểu thuyết chínhluận) Chính sự tổng hợp phong phú đa dạng này mà tiểu thuyết được coi làmột thể loại gần với đời, phản ánh được những bề bộn, phức tạp của đời
1.2 Sự phát triên của tiêu thuyêt trong văn học Việt Nam sau 1975
1.2.1 Tiền để xã hội, văn hóa, thâm mỹ
Văn học là một bộ môn nghệ thuật lấy hiện thực cuộc sống làm đốitượng phản ánh Đó là một nguyên lý vững chắc Ngòi bút của nhà văn nếukhông bắt rễ từ đời sống cũng giống như thần Ăng - tê bị nhấc bổng khỏi mẹĐất, không thể có sức sống bền bỉ, lâu dài Dĩ nhiên, bám rễ vào hiện thực đờisống nhưng văn học không phản ánh cuộc sống một cách rập khuôn máymóc vẫn giữ nguyên hơi thở, sắc màu tươi rói của đời nhưng bức tranh vănhọc qua mỗi thời kỳ có sự đối màu linh hoạt làm nên sức hấp dẫn cho ngườiđọc Những tiền đề xã hội, văn hóa, thấm mỹ của mỗi giai đoạn là cơ sở đêtạo nên sự thay đổi trong sắc màu của văn học
Hơi thở cuộc sống những năm 1954 — 1975 là dồn dập, gấp gáp trongnhững bước chân ra chiến trường, là trĩu nặng những nỗi niềm của tình quândân, tình đồng chí, đồng bào là đau đáu nỗi chia ly, chia cách, là mạnh mẽ
dữ dội trong những trận chiến một mất một còn giữa ta và địch, sắc màu cuộcsống những năm tháng này “chói ngời sắc đỏ, tươi như ánh nhạn lai hồng”(Nguyễn Mỹ) Đó là màu đỏ của đau thương, của ý chí, của lý tưởng cáchmạng là nét tươi của niềm tin, niêm lạc quan yêu đời Những sắc màu, hơithở ấy của cuộc sống đã được văn học 1945 - 1975 nói chung và tiểu thuyếtnói riêng phản ánh đầy đủ với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Chất sử thi trong văn học giai đoạn này được thể hiện trên nhiều phương
Trang 21diện: đề tài, kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu Cụ thể, đó là việcphản ánh những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng đại của cộng đồng, được
cả cộng đồng quan tâm, là xây dựng những nhân vật kết tinh vẻ đẹp, phấmchất, trí tuệ của dân tộc, ngôn ngữ, giọng điệu mang tính ngợi ca, tôn vinh,ngưỡng vọng Chất lãng mạn cách mạng bao trùm toàn bộ các sáng tác thời
kỳ này, đó là trong đau thương mất mát, trong gian khổ vất vả vẫn lạc quanyêu đời, vẫn tin tưởng vào tương lai tươi sáng, vẫn một lòng theo Đảng, theocách mạng Các tiểu thuyết trong giai đoạn này cơ bản tái hiện cuộc đấu tranhbền bỉ của quân dân ta trên hai mặt trận: chống giặc ngoại xâm nơi tiền tuyến
và xây dựng hậu phương chủ nghĩa xã hội vững mạnh Từ Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Dẩn chân người lính (Nguyễn Minh Châu), đến Đất trang (Nguyễn Trọng Oánh), Tháng ba ở Tây Ngưyên (Nguyễn Khải) đều rừng
rực một khí thế tiến công “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chíchung câu quân hành” (Tố Hữu) Việc tập trung tái hiện bức tranh rộng lớncủa cuộc chiến tranh nhân dân lúc bấy giờ được xem là một lẽ tất yếu, phùhợp với yêu cầu cách mạng và mục đích, nhiệm vụ, quy luật phát triển vănhọc của dân tộc nói chung
Từ những năm 1975 — 1985, dù chiến tranh đã kết thúc, hòa bình đãđược lập lại trên hai miền Nam, Bắc nhưng những âm vang của chiến trận,màu hồng của chiến thắng vẫn làm cho con người ngây ngất, say sưa.Khuynh hướng sử thi vẫn là nổi bật trong văn học do quán tính vận động củamột kiểu tư duy nghệ thuật đã tồn tại khá lâu trong diễn trình ba mươi nămtrước đó Kiêu tư duy ấy đã ăn sâu vào trong tâm thức của người nghệ sĩ màmuốn thay đổi phải có một quá trình chạy tiếp sức bền bỉ kiên trì của nhiềuthế hệ nhà văn Tiêu biểu cho khuynh hướng trên, tiểu thuyết Việt Nam có
Miền chảy ( Nguyễn Minh Châu), Trong con giỏ ỉoc (Khuất Quang Thụy), Đồng bạc trắng hoa xòe (Ma Văn Kháng) Các tác phẩm này vẫn phản ánh
cuộc sống với cảm hứng ngợi ca nhưng không bảo lưu toàn vẹn những đặcđiểm của văn học 1945 -1975 trước đây Các nhà văn đang cố gắng gỡ mình
Trang 22ra khỏi những quan niệm đơn giản, những cái nhìn đơn chiều, những cáchviết truyền thống.
Sau màu hồng của chiến thắng, âm vang niềm vui ngày hội ngộ, đấtnirớc ta đối mặt với những tổn thất nặng nề do chiến tranh gây nên, với nhữngsắc màu xám xịt của hiện thực đời sống đầy thiếu thốn, những va đập, đổ vỡcủa các giá trị sống Từ những năm 1980 trở đi, tình hình kinh tế xã hội nuớc
ta gặp nhiều khó khăn và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Trướctình hình đó, tháng 12 năm 1986, đại hội Đảng lần thứ VI đã diễn ra và xácđịnh phải đổi mới toàn diện “đổi mới là nhu cầu bức thiết của sự nghiệp cáchmạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tưduy, chúng ta mới có thế vượt qua khó khăn” [13, 15] Từ thời điểm đó, đấtnước thực sự mở cửa, nền kinh tế - chính trị được cải tổ, cái nhìn đối với hiệnthực được thay đổi Theo đó, đời sống văn chương cũng được hưởng mộtkhông khí dân chủ và cởi mở Nghị quyết 05 của Bộ chính trị chỉ rõ “Thái độcủa Đảng ta trong việc đánh giá tình tình là nhìn thắng vào sự thật, đánh giáđúng sự thật, nói rõ sự thật” Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ có những tìmtòi, những thể nghiệm rộng rãi và mạnh bạo trong lao động nghệ thuật Trên
tuần báo Văn nghệ, Nguyễn Minh Châu phát biểu “hãy đọc lời ai điếu cho
một giai đoạn văn nghệ minh họa”, ông đánh giá một cách công bằng “Tôikhông hề nghĩ rằng, mấy chục năm qua, nền văn học cách mạng không cónhững cái hay, không đê lại những tác phấm chân thực Nhưng cũng phải nóithật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viếtminh họa, đối với những cây bút chì quen cài hoa kết lá, vờn mây cho nhữngkhuôn khố có sẵn ( )mà chúng ta quy cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đadạng và rộng lớn [9, 130] Trạng thái tinh thần mới giúp nhà văn tự tin hơntrong những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật khi viết về các vấn đề phức tạp củađời sông, mạnh dạn đưa ra những kiên giải trước các tình huống vấn đề đượcxây dựng trong tác phấm Ngòi bút nhà văn phải chạm vào tầng sâu của mảnhđất hiện thực, phải thấy được những mảng màu tối sáng của xã hội, phải bướcvào chốn gai góc, thâm u của cuộc đời, phải xông vào những “mắt bão” của
Trang 23bão táp thời đại Đó là nhiệm vụ của các nhà văn Văn học đang đi trên conđường đổi mới rộng thênh thang nhưng cũng lắm chông gai bởi chính sự đachiều, đa diện của hiện thực cuộc sống.
Ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình, các nhà văn sau 1975 đã nỗlực hết mình trong lao động sáng tạo nghệ thuật đê dệt nên một trang văn mớimang được hơi thở, sức sống của thời đại Điểm qua diện mạo tiểu thuyết sau
1975 ta thật sự sửng sốt trước sự lớn mạnh không ngừng của thể loại này
1.2.2 Một so tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Được coi là chiếc “máy cái” trong nền văn học hiện đại, những thànhtựu của tiểu thuyết có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triểncủa văn học theo hướng hiện đại Ở nước ta, tiểu thuyết chỉ thực sự đượckhẳng định nhờ tài năng của các cây bút Tự lực Văn đoàn và các nhà văn hiệnthực giai đoạn 1930 — 1945 Trên những kinh nghiệm khá phong phú nhưng ítnhiều còn mới mẻ đó, tiểu thuyết Việt Nam sau 1945 tự điều chỉnh hướng đi
để trở thành một vũ khí đa dụng trước yêu cầu phục vụ kháng chiến và côngcuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Từ sau 1975 tiểu thuyết đã có những tìm tòiđổi mới và bước đầu đã khẳng định được vị thế trung tâm của mình
Quá trình đối mới tiêu thuyết Việt Nam sau 1975 bắt đầu khá sớm
nhưng thầm lặng với những tín hiệu có tính dự báo trong Miền Cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và Con và
(1979) của Nguyễn Khải, Đất trắng (Tập I - 1979) của Nguyễn Trọng Oánh, Năm 75 họ đã sổng như thế (1979) của Nguyễn Trí Huân, Trong con gió ỉoc
(1980) của Khuất Quang Thụy, Họ củng thời với những ai (1980) của Thái
Bá Lợi Những tác phâm này cho thấy ý thức khắc phục cái nhìn lý tưởng hoámột chiều về hiện thực Nếu nói theo Nguyễn Minh Châu thì cái “lớp men trữtình hơi dày” mà các nhà văn thường “tráng lên” hiện thực đang được cố
gắng gột tẩy Nguyễn Trọng Oánh cho thấy qua Đắt trắng thời điểm khốc liệt
nhất của chiến tranh là khi con người dao động, biến chất, niềm tin hao hụt.Nguyễn Minh Châu đưa ra những dự cảm về một thời hậu chiến nhiều phức
tạp trong lòng người (Miền Cháy), hay tình trạng những người lính anh hùng
Trang 24nhưng gắn với chiến trận quá lâu đang trở thành xa lạ với văn hoá thời bình
{Lửa từ những ngôi nhà) Cha và Con và cúa Nguyễn Khải đánh dấu một
sự “lưỡng lự” trước vấn đề nhìn nhận nhu cầu tôn giáo và tâm linh của conngười
Mấy năm sau đó, tiểu thuyết vừa mở rộng đề tài, vừa cố cưỡng lại “từtrường” của tư duy sử thi để gia tăng chất “đời tư”, “thế sự” Chân dung nhânvật tích cực và những mối quan hệ đa chiều của nó đã có thêm nhiều nét mới
Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải — 1983) là cuộc đối thoại của nhiều luồng tư
tưởng, nhiều quan niệm giá trị, ở đó chân lý cách mạng bị đặt dưới sự phán
xét của những người “phía bên kia” Thời gian của người (Nguyễn Khải
-1985) là phép “tương chiếu” những lựa chọn khác nhau: một ông linh mục,một ông giám đốc nông trường cao su, một chiến sĩ tỉnh báo, một nữ chiến sĩbiệt động năm xưa hôm nay là bí thư huyện uỷ Hoàn cảnh xuất thân của họkhác nhau, con đường đi của họ không giống nhau, nhưng họ lại gặp nhau ởchỗ đều có tính cách mạnh mẽ, đều tôn thờ một cách sống: sống say mê,
“sống hết mình” cho một niềm tin tốt đẹp nên đều có khả năng đế lại “dấu
vết” trong thời gian miên viễn Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng - 1982), Mủa lá rụng trong vưòn (Ma Văn Kháng - 1985), Đứng trước biến (Nguyễn Mạnh Tuấn - 1982), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn - 1985) khẳng định nhân
cách của những người “đi trước thời đại”, biết “phản biện” lại chân lý cũ, chỉ
ra cái lỗi thời của cơ chế kinh tế bao cấp và cái bất cập, bất ổn trong nhữngtiêu chí đánh giá con người nặng về ý thức hệ Ở các tác phẩm này bên cạnhcảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc độquan sát, đánh giá con người dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt.Trong định hướng thế sự, đời tư, nhiều chủ đề mới được nhấn mạnh: giáo dụcgia đình, bản lĩnh cá nhân, cái ngẫu nhiên may rủi trong đời sống, khả năngthích ứng với thời thế là những yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với quátrình hình thành giá trị của một con người, số phận riêng của nó Nhân vật do
đó bắt đầu có hình thức tồn tại phố biến của kiểu nhân vật tiểu thuyết Đó làmột số dấu hiệu cho thấy ý thức đổi mới thê loại đang rõ
Trang 25Từ thời điểm cao trào đổi mới (1986) đến cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết
nở rộ, đội ngũ người viết ngày càng đông, số lượng tác phẩm dồi dào, nhiềucuốn nhận được giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội
Nhà văn, có cuốn không được giải nhưng làm xôn xao dư luận: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Đám cưới không có giấy giá thủ, Ngược dòng nước lũ, Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bẻ tỷ (Nguyễn Khải), Ông co vấn — hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), Sao đôi ngôi (Chu Văn), Những ngày thường đã chảy lên (Xuân Cang), Ac mộng (Ngô Ngọc Bội), Chim ẻn bay (Nguyễn Trí Huân), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Ouãng đời xưa
in bóng (Dũng Hà), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Phổ, Ăn mày dì vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Lời ngiỉyền hai trăm năm (Khôi Vũ), Miền hoang tưởng (Đào Nguyễn), Ngoại tình, Nen móng (Nguyễn Mạnh Tuấn), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Người và xe chạy dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái), Những người ở khác cung đường (Hoàng Minh Tường), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Không phải trò đùa, Góc tăm toi cuối củng (Khuất Quang Thuỵ), Những mảnh đòi den trang (Nguyễn Quang Lập), Ngày thường (Phùng Khắc Bắc), Hồ Ouỷ Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Miền thơ ẩu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Tuoi thơ im lặng (Duy Khán) Có thể
nói tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu phổ biến làcác giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới làtrung tâm chú ý Chính những câu hỏi về con người (trạng thái tồn tại của nó,
ý nghĩa cuộc sống của nó) là nơi giao hội nhiều cảm hứng, nhiều chủ đề, làmnảy sinh nhiều loại nhân vật, nhiều sắc thái ngôn ngữ, nhiều cảm thức vănhọc Sự phân biệt đề tài chiến tranh, đề tài sản xuất, đề tài tình yêu thực rachỉ có ý nghĩa hình thức vì mối bận tâm của cá nhân sáng tác lẫn người đọcnằm ở cái nhìn hiện thực, ở quan niệm nghệ thuật về con người mà mỗi tácphẩm đề xuất Nỗ lực đổi mới chặng đường này chủ yếu dồn vào cách xử lý
Trang 26chất liệu hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện thục vừa có tính tất định,vừa đáng ngờ, vừa hữu lý vừa phi lý, vừa trật tự vừa hỗn loạn, vừa thuộc vềcái rành rõ lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ấn huyền hồ đó là sự nớirộng đáng kể biên độ hiện thực so với tiểu thuyết trước 1975 Soi qua “tấmgương” tiểu thuyết, có thể thấy các mối quan hệ giữa văn chương với hiệnthực, nhà văn với bạn đọc đều được dân chủ hoá mạnh mẽ Nhà văn có quyềnxem hiện thực là mục đích phản ánh hay chỉ là phương tiện để công bố tưtưởng riêng, do vậy anh ta không còn bị lệ thuộc vào hiện thực Người đọc từ
bỏ dần thói quen đối chiếu những điều tác phấm kế lại vói cuộc sống có thựcngoài tác phẩm để suy tư về những gì được nhà văn gửi gắm qua cái hiệnthực được lựa chọn có khi đầy tính chủ quan, cá biệt Người đọc có quyền tinhay không tin câu chuyện được kể bằng kinh nghiệm cá nhân như thế
Điều đáng lưu ý là dù nhu cầu đổi mói văn chương đã trở thành phốbiến và cấp thiết trong toàn bộ đời sống văn học nhưng văn xuôi (trong đó cótiểu thuyết) cho tới chặng cao trào vẫn tập trung vào sự đổi mới nội dung hiệnthực của tác phấm, nghĩa là câu hỏi “viết về cái gì” luôn được ưu tiên hơn hăncâu hỏi “viết như thế nào?” Những biến đổi ở nghệ thuật trần thuật như:diêm nhìn di động, người kể chuyện, bút pháp huyền thoại hoá, bút pháp hàihước giễu nhại, ngôn ngữ suồng sã bụi bặm, v.v vẫn không đủ tạo ra một
bước ngoặt trong tư duy thể loại Trong tình hình chung đó Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh/, Chinatoim, Paris 11 thảng 8, T mất tích của Thuận, Người sông Mê của Châu Diên, Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Chiryện của thiên tài của
Nguyễn Thế Hoàng Linh đã có những sáng tạo, cách tân đáng chú ý Ở cáctác phẩm này, hình thức của tiểu thuyết đã thành một nội dung của chính nó(nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến gọi đấy là cách “viết nội dung”), chúng lái
hứng thú của người đọc tiểu thuyết chuyển dần từ câu chuyện sang các
nguyên tắc tạo lập văn bản, sang “hành ngôn”
Trang 27Nhìn một cách đại thế, cho đến thời điêm hiện tại, tiểu thuyết viết theo
mô hình truyền thống hoặc làm mới trên cái khung truyền thống vẫn chiếm đa
số và đạt đuợc thành tựu Chang hạn các tác phâm Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Dòng sông mía của Đào Thắng, Gia đình bẻ mọn của Dạ Ngân, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Ba người khác của Tô Hoài, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Mau thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Thời của những tiên tri giả của Nguyễn Viện, Luật đòi và cha con của Nguyễn Bắc Sơn, Chuyện lan man đầu thế kỷ của Vũ Phương Nghi, Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh Phượng ít nhiều đều có “thêm vào” cho
nghệ thuật trần thuật truyền thống những cái mới
Như vậy, tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã đi qua mộtchặng đường gần 30 năm “thay da đổi thịt” Trong suốt quãng đường ấy, tuy
có lúc dòng chảy tung phá ào ạt, có lúc chùng xuống nhưng tiểu thuyết vẫnđang không ngừng tìm cách tiến về phía trước Trong 30 năm ấy tiểu thuyết
đã nỗ lực tìm tòi cách tân đổi mới nghệ thuật trên cả hai phương diện nộidung và hình thức thể hiện
1.2.3 Những tìm tòi trong tiếu thuyết Việt Nam sau 1975
1.2.3.1 Tìm tòi trong cách nhìn hiện thực
Văn học nghệ thuật tự thân nó không thể xa rời hiện thực đời sống.Nhưng hiện thực cuộc sống là những gì, phản ánh hiện thực như thế nào thìkhông phải là câu hỏi dễ trả lời Văn học 1945 - 1975 quan niệm hiện thực làđời sống cách mạng gắn với chiến trường ác liệt, là công cuộc xây dựng cuộcsống mới, con người mới gắn với Chủ nghĩa xã hội Một thời gian dài người
ta đánh giá giá trị tác phẩm theo nội dung hiện thực, hiện thực được xem làthước đo của sự tiến bộ nghệ thuật Hiện thực ở đây là những xung đột khốcliệt giữa ta và địch, giữa cũ và mới và phản ánh đúng hiện thực là ta thắngđịch thua, cái mới của cách mạng lấn át cái cũ của xã hội xưa Nguyễn MinhChâu đã nhìn nhận “mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viếtminh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây
Trang 28cho những khuôn khổ có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn màchúng ta quy cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn”[9,130].
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ hoàn toàn thắng lợi, hòa bìnhđược lập lại Đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình Con người phải
đối mặt với những hậu quả ghê gớm do chiến tranh gây nên “Khăn tang bay người song trang mái đầu/ Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ/ Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu ”( Nguyễn Trọng Tạo) Rồi những thiếu
thốn về vật chất, những trì trệ do cơ chế quan liêu bao cấp Sự xâm nhập của
cơ chế thị trường với những mặt trái của làm đối lộn những giá trị đã trởthành chuẩn mực cuộc sống Nếu cứ phản ánh hiện thực là một màu hồngtheo kiểu phiến diện như trước đây thì không thể đi vào lòng độc giả Ý thứcđược điều đó, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã có những tìm tòi
đổi mới trong cách nhìn hiện thực Từ Mùa lá nmg trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, rồi Gặp gỡ cuốn năm, Thời gian của người
của Nguyễn Khải đã có một cái nhìn nhiều chiều, thẻ hiện quan niệm mớicủa nhà văn về hiện thực Từ đề tài lịch sử, dân tộc vốn chi phối mạnh mẽmọi bình diện của hiện thực, văn học chuyên sang đề tài thế sự đời tư Với xuhướng nhìn thắng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực ởthòi hiện tại, đang hình thành, chưa ốn định; ở chính “tiêu điểm” của đờisống “Trong tác phâm của họ, ý thức “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình,lột trần mặt đời” và cao hon là “bóc trần thế giới”, đồng thòi với ý thứchướng tới “chất lượng cuộc sống”, sống sao cho đúng với cuộc sống của conngười đã thâm thấu các tầng ngữ nghĩa, mang đậm tính nhân văn” [58,2]
Thời xa vắng, Hai nhà (Lê Lựu), Đám cưới không cỏ giấy giá thủ, Ngược dòng mrớc lũ (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bẻ tý (Nguyễn Khải), Đi
về noi hoang dã (Nhật Tuấn), Những mảnh đời đen trắng (Nguyên Quang Lập), Một thời hoa mẫu đon, Ngoài khơi miền đất hứa (Nguyễn Quang Thân), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Trả giá, Sóng lừng, Cõi mê (Triệu Xuân), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Trang 29Bến khôngchồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dì vãng, Phổ, Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Ngày hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Một ngày và một đời, Con giông (Lê Văn Thảo), Lạc rìmg (Trung Trung Đỉnh), Cuốn gia phả đế lại (Đoàn Lê), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Trùng tu (Thái Bá Lợi), Luật đòi và cha con (Nguyễn Bắc Sơn), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Gia đình
bẻ mọn (Dạ Ngân) đã có những tìm tòi đối mới nhất định Trong số đó Đi
về nơi hoang dã, Ngoài khoi miền đất hứa, Sóng lừng, Con giông, Luật đòi
và cha con đã từng được đương thời và hôm nay nhận định là những tác
phẩm mang tính “dự báo của lương tri” trước một xã hội hiện đại còn nhiềubất an và khiếm khuyết Hiện thực cuộc sống là vô cùng phong phú vô tận,cái quan trọng là nhà văn phát hiện ra một hiện thực như thế nào và biểu đạt
nó ra sao Sự lựa chọn hiện thực không quan trọng bằng cách nhìn nhận, đánhgiá về hiện thực ấy Tiểu thuyết sau 1975 không chỉ phản ánh hiện thực vớinhững mảng màu trắng đen lẫn lộn, với những khoảng sáng tối phân tranh màcòn thế hiện một cách “nghiền ngẫm hiện thực” của nhà văn Lê Ngọc Trànêu quan niệm văn chương dùng để “suy ngẫm hiện thực” Từ những suyngẫm của nhà văn, người đọc rút ra những thông điệp về cuộc đời cho bảnthân mình Đây là sự đổi mới tích cực và đúng đắn trong quan niệm về hiệnthực của văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và thể loại tiểu thuyết ViệtNam sau 1975 nói riêng
1.2.3.2 Đôi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
“Văn học là nhân học”, là khoa học đặc thù về thế giới tâm hồn tưtưởng của con người Lịch sử văn học, nhìn theo một góc độ nào đó là lịch sửcủa những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người Cùng với sự thayđổi của thời đại văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã cónhững tìm tòi đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
Từ quan niệm con người lịch sử, con người cộng đồng, tiểu thuyết sau 1975 nhìn nhận con ngưòi là một thực thế cả nhân phức tạp và bỉ
ân Không còn kiểu con người được “tắm rửa sạch sẽ”, được “bao bọc trong
Trang 30một bầu không khí vô trùng” mà xuất hiện trong các tác phấm là con ngườinhư một “nhân vị” độc lập, “con người không trùng khít với chính mình”,con người phức tạp nhiều chiều Nguyễn Khải triết lý “cái thế giới tinh thầncon người là vô cùng phức tạp vỉ sự vận động của nó luôn nhắm tới cái thậtcao và thật xa” Hình tượng con người trong văn học xuất hiện như một tiểu
vũ trụ đầy bí ẩn, không thể biết trước, không thể biết hết, có những đột biếntâm lý, tính cách, những hành động bất ngờ không thể đoán trước Con ngườihành động có khi theo sự chỉ huy của ý thức, của lý trí tỉnh táo, có khi bị chiphối bởi tiếng nói của tâm linh, của vô thức, bản năng “Rất khó có thể “địnhtính” hay “định lượng” cho con người mà không làm tổn thương đến bản chấtngười của nó Con người vốn phức tạp như thế nên không thẻ dùng một tiêuchí, giá trị cố định mà đo đếm nó Mọi sự lý tưởng hóa con người sẽ làm cho
nó trở nên giả dối, không thật” [5,76] Phát hiện con người phức tạp, conngười lưỡng diện, con người không nhất quán với mình, tiểu thuyết sau 1975
có vẻ đã đi đúng quỹ đạo tư tưởng của những nhà khoa học nhân văn nổitiếng trên thế giới L.Tônxtoi từng ví “con người như một dòng sông”, “nướctrong mọi con sông như nhau và ở đâu cũng thế cả nhưng mỗi con sông thìkhi hẹp, khi chảy xiết, khi thì rộng, khi thì êm, khi thì trong veo, khi thì lạnh,khi thì đục, khi thì ấm Con người cũng vậy” Bakhtin cho rằng “Con ngườikhông thể hóa thân đến cùng vào cái thân xác xã hội - lịch sử hiện hữu”,nghĩa là con người vừa có tính nhân loại vừa phong phú phức tạp với tư cáchcủa một cá nhân
Từ sự phức tạp và bí ẩn của con người, tiểu thuyết sau 1975 nhìn con người qua nhiều bình diện, nhiều góc độ khác nhau Nhiều tác giả như
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trí Huân,Thái Bá Lợi, Nguyễn Mạnh Tuấn, Chu Văn, Bảo Ninh, Chu Lai nhìn nhận
con người có sự “lệch pha” với cộng đông, con người phản tỉnh, sám hôi.
Họ xuất hiện trong trạng thái thường xuyên phải tự phán xét, tự nhận thứcmình Họ thuộc về một cộng đồng, một cơ chế nhưng bắt đầu thấy được sựbất ổn của cơ chế và mối quan hệ cộng đồng trở nên phức tạp hơn như Ba
Trang 31Đức (Đứng íritức biền), Năm Trà {Củ lao Tràm), Hai Hùng (Ẩn mày dĩ
vữftg) MỘt phương diện khác cũng được các nhà văn quan tâm là nhìn nhận
con người ở mặt đời sổng tâm linh Xã hội càng hiện đại thỉ sự hụt hẫng
chống chếnh của con người khi phải đối diện với nó càng cao Khi không tìmđược sự an bằng với cuộc đời, con người thường tìm đến cõi tâm linh Nhiều
cây bút đã khơi sâu vào vùng chập chờn hư ảo ấy như Ẩn mày dĩ vãng (Chu Lai), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mảnh đất lam người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh) Yếu tố
tâm linh trong các tiểu thuyết là linh tính, mộng mị, hoang tưởng, là thế giớicõi âm, hồn ma, .Qua đó các tác gải muốn bày tỏ quan niệm cuộc sống còn
là miền vô thức, là những điều bất khả giải, những cảm nhận bằng trực giác,linh cảm của con người có khi lại chi phối cuộc sống của họ “Việc đào sâuvào thế giới tâm linh của tiểu thuyết hiện nay là phát hiện một năng lực nhântính thiêng liêng, phù hợp với cái đẹp, cái thiện Nó đem lại sự phong phútrong cấu trúc nhân cách nhân vật và góp phần xây dựng một quan niệm toàndiện về con người, đối lập với lối tư duy cằn cỗi, máy móc, hoặc chỉ biết sùngbái lý tính [5,109] Một phương diện khác được tiểu thuyết sau 1975 quan
tâm là con người bản năng, con người như một sản phẩm của tự nhiên.
Nhiều tác phẩm khi phê phán sự băng hoại về đạo đức nhưng vẫn đề cao khát
vọng làm giàu, mơ ước được sống sung sướng, được ăn ngon mặc đẹp (Mùa
lá rụng trong vườn, đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng; Gặp
gỡ cuối năm, Một cõi nhân gian bẻ tí của Nguyễn Khải) Bản năng tình dục
được các tác giả nhìn nhận như một vấn đề hiến nhiên trong tính cách Người
Vạn, một chiến sĩ Điện Biên trong Ben không chồng của Dương Hướng, bà
Lý, vợ của liệt sĩ trong Đùa của tạo hỏa của Phạm Hoa, những nữ thanh niên xung phong trong Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo hiện lên thật
ám ảnh bởi những dày vò giữa lý trí và bản năng, giữa con người đạo lý vớicon người tự nhiên, giữa cái cao cả và nhục dục thấp hèn Rất nhiều nhà văn
đi vào khai thác con người bản năng không chỉ trong vấn đền sinh lý mà còn
Trang 32trong nhiều khía cạnh khác nữa như háo danh, hám quyền, hiếu thắng Vìnhững dục vọng cá nhân ấy mà họ sẵn sàng chà đạp lên những chuẩn mựcđạo đức truyền thống Những nhân vật này được khắc họa méo mó, xẹo xọ vềnhân tính bởi đồng tiền, cơ hội, dục vọng Cảm hứng phê phán, nhìn thắngvào mặt trái của xã hội khá nối bật trong nhiều trang viết của các nhà văn:
Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình
Phương) Những cái xấu, cái Ac của xã hội được nhà văn phơi bày trêntrang viết đế vừa phản ánh hiện thực vừa thức tỉnh lương tri con người vàgióng lên hồi chuông cảnh tỉnh trước sự băng hoại nhân tính của con ngườiđương đại
Những tìm tòi đổi mới trong quan niệm về con người của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 đã đưa văn học về gần với đời sống xã hội hơn, từ đó cácnhà văn bước đầu đã xác lập được một hệ thống tiêu chí giá trị phù hợp vớicon người trong thời đại mới, phù hợp với tinh thần nhân bản, dân chủ củavăn học thời hiện đại Những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật đã kéotheo những đổi mới trong thi pháp thể loại như kết cấu, nhân vật, phươngthức trần thuật
1.2.3.3 Đôi mói trong kết cẩu, nhân vật, phương thức trần thuật.
Khi mô hình tiểu thuyết cũ không còn hữu hiệu trong việc minh giảicác mâu thuẫn trong cuộc sống đương đại, yêu cầu đối mới nghệ thuật đượcđặt lên hàng đầu “Mỗi cuốn tiểu thuyết phải chọn hình thức đặc thù chomình, mỗi câu chuyên có thê tìm kiếm - và tìm thấy - cơ thể thích hợp củanó” [41,27]
Tiểu thuyết sau 1975 phá vỡ đặc điểm “tính cách lớn” của tiểu thuyếttruyền thống Với cách viết tự do, gần gũi, xóa nhòa khoảng cách giũa tácphẩm với độc giả mà tiểu thuyết sau 1975 thường có dung lượng ngắn, nhânvật, sự kiện ít, cốt truyện lỏng lẻo nhiều khi không tóm tắt được Kiêu viếtnày là một minh chứng cho những tìm tòi đối mới nghệ thuật của các nhà vănđương đại và “minh chứng cho một quan niệm về tính toàn thể của thế giới
Trang 33chỉ có thể được thể hiện và nhìn nhận ra trong phân mảnh của thực tại vàtham vọng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phâm tiểuthuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được Qua các trang viếtcác tác giả gửi đến cho độc giả thông điệp về cuộc sống vốn dĩ bấp bênh,phức tạp đang chuyên động dưới nhiều vỉa tầng của những mối quan hệchồng chéo Có rất nhiều tác giả thành công trong loại tiểu thuyết ngắn nàynhư Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Viện
Những đối mới trong quan niệm về thể loại kéo theo đối mới về kếtcấu Trong tiểu thuyết hiện đại, “mỗi tác phẩm văn học là một trò choi kếtcấu của nhà văn” [42, 174] Sự lắp ghép thời gian, đặc biệt là thời gian tâm lýlàm cho cấu trúc tác phâm chỉ là sự kéo sát lại của những mảnh ghép “đóng”hay “mở”, “đơn” hoặc “kép” hoặc “lồng” (Đặng Anh Đào) “Cấu trúc tiểuthuyết là sự trà trộn nhanh chóng, hỗn độn và chuyên đối đột ngột nhờ cácpha đảo lộn có sử dụng kỹ xảo của nhiếp ảnh và điện ảnh” [15, 24] cấu trúcphân mảnh là kiểu cấu trúc chủ yếu trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Vớiphương pháp chia tác phâm ra thành các phân đoạn, kết hợp với việc sử dụngnhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự trong tác phẩm tạo nên tính đa thanh, phứcđiệu Mỗi chương của tiểu thuyết là một mạch đoạn được triển khai bằng ýthức của người kẻ chuyện, tạo ra kiếu cấu trúc lắp ghép xáo trộn về khônggian và thời gian Mạch văn bản của tác phẩm bố trí theo phương thức phituyến tính, phi nhân quả làm cho tác phâm biến hóa linh hoạt
Cốt truyện là một phương diện quan trọng của kết cấu Trong cái nhìncủa nhiều nhà tiểu thuyết hiện nay, vai trò của cốt truyện khá mờ nhạt Thậmchí nhiều nhà văn không quan tâm đến cốt truyện Có sự xuất hiện kiêu cốttruyện phân rã, cốt truyện 1Ĩ1Ở, cốt truyện tâm lý Những tìm tòi ấy đã làmmói tiểu thuyết và thê hiện được nỗ lực sáng tạo hết mình của các nhà vănhiện đại
Những tìm tòi đối mới trong kết cấu đã kéo theo quan niệm mới vềnhân vật Kiểu nhân vật khép kín, được định sẵn về số phận không còn màluôn mang tính bất ngờ và có sự phân rã về tính cách Nhân vật hiện lên như
Trang 34một trạng thái đời sống, một dòng chảy tư tưởng, một tiếng nói, một cái nhìn.
Sự mở rộng trường nhìn của nhà văn đã khiến cho nhân vật trong tiểu thuyếtsau 1975 đa dạng phong phú trong kiểu loại Kiêu nhân vật tự ý thức cá nhân,nhận thức lại lịch sử, nhân vật “tự thú” và “sám hối” xuất hiện nhiều trongcác tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Ma văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Thái BáLợi, Hồ Anh Thái, Trung Trung Đỉnh, Tạ Duy Anh, Nguyễn BìnhPhương Kiểu nhân vật bi kịch bởi nạn nhân của hoàn cảnh, bị cái Ác vùidập, không vượt lên được chính mình trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu,Nguyễn Việt Hà, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn Kiểu nhânvật tha hóa và bị tha hóa bởi môi trường, hoàn cảnh, bởi lòng tham và quyềnlực trong tiểu thuyết của Tô Hoài, Chu Lai, Thuận Kiểu nhân vật dị biệt, bấtbình thường về cấu trúc tâm lý, nhân vật huyền thoại, kỳ ảo trong sáng táccủa Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng, Phạm ThịHoài, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Võ Thị Hảo Xây dựng các kiểunhân vật khác nhau dẫn đến nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết sau
1975 khá linh động Ngoài việc tả tính cách qua xung đột, miêu tả dòng ýthức của nhân vật các nhà văn còn vận dụng kỹ thuật dòng ý thức, sử dụngyếu tố phi lý, tượng trưng, siêu thực, huyền ảo đế tái hiện Đây là những cáchtân nghệ thuật cần được ghi nhận
Một trong những phương diện hết sức quan trọng cho thấy tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 có những bứt phá mạnh mẽ theo hướng hiện đại là nhữngtìm tòi đổi mới về phương thức tổ chức trần thuật như điểm nhìn trần thuật,ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật
Diêm nhìn trần thuật là góc nhìn của người trần thuật khi quan sát,miêu tả, đánh giá đối tượng Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới có sự dịch chuyểnđiểm nhìn từ bên ngoài vào bên trong hoặc ngược lại, từ điểm nhìn nhân vậtsang điểm nhìn người trần thuật, có sự gấp bội, chồng chéo điểm nhìn mộtcách linh hoạt Việc dịch chuyển, phối hợp các điếm nhìn giúp nhà văn trổnhiều ô cửa để khám phá đời sống dưới nhiều góc độ khác nhau Từ đó có thêđào sâu cả vào tầng vô thức và vẽ ra được những đường quành tâm trạng tinh
Trang 35vi của nhân vật Đây cũng là cách thức tạo nên tính phức điệu của tiểu thuyết,làm cho tác phẩm trở thành một cấu trúc đa tầng cùng vang lên nhiều tiếngnói khác nhau.
Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới có sự cách tântrong nỗ lực gia tăng chất “văn xuôi” như Bakhtin đã nói Tính đối thoạitrong ngôn ngữ tiểu thuyết được triển khai trên nhiều cấp độ khác nhau: đốithoại giữa các nhân vật, đối thoại trong độc thoại, đối thoại giữa các chiềuvăn hóa “Tính đối thoại của tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết cho phépnhà văn biểu hiện tính đa nguyên của văn hóa từ cái nhìn hiện đại Tại đấy,mỗi nhân vật là một giọng nói, một chủ thể độc lập, bình đẳng với tác giả”.[42, 249] Ngoài ngôn ngữ đối thoại, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại còn sửdụng ngôn ngữ nhại - khôi hài và nhại — chế nhạo Sự đổi mới này không chỉtạo ra “khoái cảm văn bản” mà còn cho thấy sự thay đổi mang tính văn hóa
Nó khiến cho ngôn ngữ tiểu thuyết không quá “trong suốt” mà trở nên mờđục hơn, thông tục hơn, dễ “gây sự” với người đọc hơn Ngôn ngữ độc thoạinội tâm được các tác giả viết tiểu thuyết theo dòng ý thức chú ý Đây là kiêungôn ngữ mang tính hướng nội cao “là phát ngôn hướng tới chính mình gắnvới những chập chờn của CÕI vô thức là gắn liền với những ký ức miên mannên bất định, đứt nối, đầu Ngô mình Sở là ngôn ngữ giàu chất thơ gắn vớinhững trạng thái tâm lý mong manh mơ hồ hư ảo” [42, 254]
Giọng điệu trần thuật của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 có sự đa dạng
và táo bạo trong kỹ thuật xử lý “vật liệu” (chữ của Shklovxki) Khi coi cuộcsống là một dòng chảy bất tận và mỗi tác phấm tiếu thuyết là một góc nhìndòng chảy ấy thì giọng điệu tiểu thuyết cũng có sự biến hóa linh hoạt Ta bắtgặp giọng phân tích lý giải trong tiểu thuyết tự vấn, nhận thức lại lịch sử của
Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Xuân Khánh, Lê Lựu, Hồ Anh Thái,Châu Diên, Bảo Ninh Giọng điệu chất vấn, đối thoại, tranh biện, hoài nghitrong sáng tác của Chu Lai, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bắc Sơn, Tạ Duy Anh,
Hồ Anh Thái Giọng điệu châm biếm giễu nhại đậm chất suồng sã, thê hiệntinh thần dân chủ trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Thuận
Trang 36Những đổi mới về phương thức trần thuật đã làm cho tiểu thuyết ngàycàng vươn tới tư duy hiện đại Việc xây dựng hệ thống điếm nhìn mới mẻlinh hoạt, soi chiếu hòa trộn nhau làm cho cấu trúc tiểu thuyết trở nên uyênchuyển, có sức biểu đạt lớn Việc biến ngôn ngữ tiểu thuyết thành ngôn ngữsong điệu, đa nghĩa có khả năng biẻu đạt được tốc độ đời sống hiện đại cũngnhư chiều sâu thẳm của tâm linh đã đưa tiểu thuyết trở thành “tiếng gợi củatrò choi” Sự đa dạng trong ngôn ngữ đã khiến cho tiểu thuyết trở thành bảnhòa âm của nhiều cung bậc cuộc sống khác nhau.
Những tìm tòi đổi mói của tiểu thuyết sau 1975 đã góp phần đưa vănxuôi nói riêng và văn học Việt Nam nói chung hòa nhập vào quỹ đạo tư duynghệ thuật hiện đại của thế giới Tiêu thuyết sau 1975 không chỉ là vũ khítinh thần mà còn là một “trò chơi” đầy tính sáng tạo, một “bản hòa tấu củanhiều giọng điệu”, một “tổ hợp đa tầng với sự có mặt của nhiều bút phápnghệ thuật khác nhau”, trong đó “con người hiện lên đầy đặn và phongphú”[42, 288], cuộc sống thật đa dạng, phức tạp, mới mẻ, hiện đại Gópchung vào những nỗ lực tìm tòi, đổi mói ấy, nhà văn Thái Bá Lợi như mộtcon ong cần mẫn, thầm lặng, bền bi hút nhụy cuộc đòi để cho ra những tácphâm đẫm vị ngọt nồng hơi thở của cuộc sống và ám ảnh lòng người
1.3 Thái Bá Lợi và những đóng góp cho tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.3.1 Thái Bá Lợi - con người, cuộc đời và sự nghiệp
1.3.1.1 Thải Bá Lợi, một nhà vãn — chiến sĩ
Nhà văn Thái Bá Lợi sinh năm 1945, quê xã Son Hải, huyện QuỳnhLưu, tỉnh Nghệ An, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên hội nhàvăn Việt Nam, tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa I Ông thuộc thế
hệ nhà văn xuất hiện vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước và được bạn đọc biết đến như một cây bút xuất sắc của văn xuôiViệt Nam viết về chiến tranh sau chiến tranh Ồng cũng là một trong nhữngtác giả sớm có những đóng góp báo hiệu cho xu hướng vận động của văn họcnước nhà thời kỳ đầu đổi mói
Trang 37Thái Bá Lợi nhập ngũ năm 1965 và tham gia chiến đấu ở đường 9, ởLào, năm 1969 vào Huế sau đó thì gắn bó với mảnh đất Quảng Nam - ĐàNang Ông đến với văn chương vào những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khinhập ngũ chưa đầy dăm năm, cũng là khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vàogiai đoạn cuối với những gay go ác liệt nhất Là một quân y sĩ, đội trưởng độiphẫu thuật tiền phương, ông đã có dịp in dấu chân qua nhiều chiến trườngnhư Đường Chín, Nam Lào, Khe Sanh, Đông Hà, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế Nhưng phải đến với chiến trường Khu V, với xứ Quảng mới thực sự lànơi khơi nguồn những trang viết đầu tiên, và cũng là nơi từ bấy đến nay, ông
đã quen thuộc, gắn bó với nhiều nỗi buồn vui của đời mình
Cũng như nhiều người, Thái Bá Lợi thử bút đầu tiên qua những truyện
ngắn: Những người đánh giáp la cà, Vùng chân Hòn Tàu, Đồng đội của Phú, Rừng quế, Quê hương viết trong chiến tranh, sau này tập hợp lại thành tập sách đầu tay Vùng chân Hòn Tàu ( Nxb QĐND, 1978) Những truyện ngắn
này được người đọc quan tâm, bởi sự giàu có về vốn sống, những hiểu biếtcặn kẽ về vùng đất và con người, chiến trường và người lính, được kế lạibằng một giọng điệu thô mộc, thật thà Những “thử bút” này, cũng có thể là
do đòi hỏi của đời sống chiến tranh, cũng có thể là do hiện thực dồn nénchoán chật tâm hồn buộc phải tìm cách kế ra, mà cũng có thể là do một tácđộng khách quan nào đó đánh thức khiếu văn chương trong Thái Bá Lợi Hơnmột năm sau ngày chiến thắng, giữa lúc luồng gió đổi mới chưa thối tới, Thái
Bá Lợi đã làm cho độc giả lẫn thế hệ nhà văn cùng thời sửng sốt bởi cách
viết, cách nhìn nhận cuộc sống, con người, nhìn nhận chiến tranh trong Hai người trở lại trung đoàn (in lần đầu trên tạp chí văn nghệ quân đội, số tháng
4 - 1977)) “Bằng cảm quan của người nghệ sĩ từng lăn lộn ở chiến trường,bằng vốn sống trực tiếp thông qua sự sàng lọc của ký ức, Thái Bá Lợi đãhướng ngòi bút của mình về cuộc chiến đã qua với cái nhìn nghiêm cẩn hơn,
đa diện hơn Ông không chỉ ca ngợi tôn vinh những phẩm chất tốt đẹp, cao cảcủa con người trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, mà còn pháthiện ra cả những mặt khuất lấp đằng sau tấm huân chương và gợi lên những
Trang 38suy ngẫm đầy tính dự báo về đạo đức, thế sự” [51, 1] Là một truyện ngắn,
nhưng Hai người trở lại trung đoàn báo hiệu cho một kiểu tư duy hình tượng
đậm đặc thế giới hiện thực ký ức giàu chất tiểu thuyết Ngoài ra ông còn có
tập truyện ngắn Đội hành quyết (1994) cũng viết về đề tài chiến tranh, người
lính
Từ những truyện ngắn ngồn ngộn chất liệu hiện thực này, Thái Bá Lợi
đã chứng tỏ được trường lực thẩm mỹ của mình Với một vốn sống dồi dào,một bút lực mạnh mẽ ông đã thể hiện những phâm chất của người viết tiểuthuyết: biết tự làm chủ vốn liếng của mình, biết lựa chọn và khai thác vốnsống đó một cách đúng mực Các tiểu thuyết của ông chủ yếu xoay quanh đề
tài chiến tranh, từ Thung lũng thử thách (1978), Họ cùng thời với những ai (1978) đến Bán đảo (1983), Còn lại với thời gian (1989), Trừng tu (2003).
Chiến tranh, trong cái nhìn của người chiến sĩ Thái Bá Lợi cũng có mất mát
hy sinh, cũng có những nghịch lý, đau thương nhưng không khốc liệt, dữ dằn,nghiệt ngã, không ám ảnh đáng sợ như sáng tác của Chu Lai, Bảo Ninh Tácgiả không tập trung miêu tả hiện thực chiến tranh mà lấy đó làm phông nền
để đánh giá nhìn nhận về người lính, về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong
và sau cuộc chiến Các tác phẩm này đã “làm ánh lên lẽ sống của dân tộc và
phẩm giá của con người trong chiến tranh” (Hữu Thỉnh) Với Khê ma ma, dù
viết về đề tài thế sự - đời tư nhưng bóng dáng của chiến tranh, cách nghĩ của
người lính vẫn in đẫm trong từng câu chữ Đến Minh sư (2010), một tác phâm
viết về đề tài lịch sử về “chuyện Nguyễn Hoàng đi mở cõi” nhưng cũng dướigóc nhìn của nhân vật Đoàn Minh Thành - một nhà nghiên cứu về lịch sửchiến tranh - cũng là sự hóa thân của tác giả
Có thể nói chất chiến sĩ và chất nghệ sĩ hòa quyện vào nhau trongtừng trang viết của Thái Bá Lợi Cuộc đời ông dù nhiều biến động truânchuyên, nhiều đau thương thậm chí là bất hạnh nhưng Thái Bá Lợi đã ‘bìnhtĩnh chấp nhận mọi cú đánh của số phận” ( Hồng Thanh Quang) để làm tròn
sứ mệnh của một nhà văn “Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ông vẫn giữnguyên tâm tính của một người tử tế, thậm chí là một hiền nhân Ong không
Trang 39chao đảo theo thời cuộc và cũng không bị tác động từ những biến thiên xuthời của xung quanh” [50, 8] Dù viết với đề tài gì ông cũng thể hiện tư chấtngười lính của mình: điềm đạm, chín chắn mà trung thực, giản dị Đậm sâutrong những trang viết của ông là nhân dân anh hùng trong chiến tranh, ẩnchứa trong đó còn là niềm tự hào, nỗi day dứt khôn nguôi về quá khứ của mộtngười trong cuộc Thái Bá Lợi cho rang những trải nghiệm thực tế của đờilính trong chiến tranh đã cho ông vốn tư liệu đáng quý, vì thế mà ông rất trântrọng quá khứ, trân trọng những năm tháng ở chiến trường Ông luôn tâmniệm: trách nhiệm của một người lính là phải tìm ra cái Tốt trong những cáixấu xa, cơ hội, suy nghĩ của người lính là không nên nôn nóng bởi “nôn nóng
là ảo tưởng” (chữ của Thái Bá Lợi)
1.3 ỉ 2 Một tâm hòn gan bỏ với miền Trung
Là một người con của mảnh đất miền Trung đầy nắng gió, nhữngtrang văn của Thái Bá Lợi thể hiện một tâm hồn gắn bó với quê hương Chínhnhững năm tháng sống, chiến đấu, gắn bó sâu nặng ân tình với mảnh đất miềnTrung cằn khô mà anh dũng, kiên cường đã nuôi dưỡng nguồn cảm hứngtrong tâm hồn ông, để cho ra đòi những tác phẩm đậm chất miền Trung vàđọng lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Đất và Người miền Trung trongnhững trang viết của ông thật gần gũi, thân thương, ấm áp ân tình và làm xaoxuyến cõi lòng của bất cứ độc giả khó tính nào xuất thân từ mảnh đất này.Đất ấy, Người ấy đã xuất hiện trong nhiều trang viết của nhiều nhà văn nhưngđến với những tác phẩm của Thái Bá Lợi vẫn tươi rói, đậm đà và ánh lên cáiHồn, cái Chất, cái Khí riêng của vùng eo nối kết hai miền Đất Nước
Đất và Người miền Trung hiện lên trong Minh sư; thời Nguyễn Hoàng
mở cõi, với những tên đất, tên làng như Trà Bàn, Chiêm Thành, Hoài Nhơn,Ngũ Hương, Hương Quế, Hương Ly, Hương Yên, Hương Lộc, Trung Phước,Quảng Đợi, Giảng Hòa làm nao lòng người xa xứ Đó là một miền Đất “màngười Chiêm để lại vẫn hoang vu, vẫn trì trệ, vẫn không có sức sống mặc dùsông núi kỳ vĩ, sản vật dồi dào” [35,24] Tuy nhiên, trong cảm nhận củanhững người sinh ra và lớn lên ở đây như Phạm Dữ thì thật đẹp “Dòng Thu
Trang 40Bồn sau khi qua Hòn Kẽm chảy vào hai ngọn núi Cà Tang bên hữu ngạn,Nông Sơn bên tả ngạn, êm đềm về bến Trung Phước, đoạn sông này có khúccong như một cánh cung hoàng hôn đã buông trên sông mặt nước ánh lênmột vệt sáng dài về phía hạ lưu”[35,l 14] “Cứ hễ hết một vùng đất bằng, mộtcon sông thì lại đến một dãy núi, sau dãy núi đó lại là một vùng đồi, rồi lạinúi Vùng đất đó nằm kẹt giữa một bên là rừng đại ngàn, một bên là biểncả đất đai bị chia cắt ra thành từng khoảnh nhỏ bởi những dãy núi, ngọn đồi,sông suối” [35,112] Chỉ có sống, gắn bó, yêu thương với mảnh đất này thìmới cảm nhận được những vẻ đẹp riêng của địa hình, của màu sắc, dáng nétđến như vậy Đất ấy đã sinh ra những con người như như Phạm Dữ, Chế Mô,Nguyễn Thiệu họ yêu quê hương bằng một thứ tình yêu kỳ lạ “Chế Mô ngồiyên, thả lỏng cho hồn mình chế hợp với đất đai, núi non, khe suối, đền tháp ởđây Chế Mô ngồi như vậy rất lâu, tưởng như anh không đứng dậy nữa” [35,19] Đó cũng là mảnh đất đã lưu giữu hồn của những con người xa xứ.Nguyễn Hoàng, Đỗ Chiêu tưởng đi vào Thuận Hóa lánh nạn, nhưng khi đếnđây, những ân tình của mảnh đất này đã làm thay đổi suy nghĩ, họ đã coimảnh đất này là quê hương thứ hai để sinh cơ và làm nên nghiệp lớn.
Đất và Người ấy còn mang trong mình những vỉa tầng văn hóa đẫmcái Khí, cái Hồn của miền Trung Đó là “Phế đô hiện ra oai nghiêm dù chỉcòn lại nền đất Kinh thành Sư tử lẫm liệt mấy trăm năm trước giờ chỉ thấylác đác những bóng người đi trên các bờ ruộng lân quẩn dưới các chân thànhrêu phong Nắng vàng rải lên những gò đồi, nơi có những ngọn tháp bị sụpmột nửa hay bị phá đến móng” [35,16] Trong cảm nhận của Chế Mô - mộtngười con của đất Chiêm Thành - “Thánh địa Mỹ Sơn là nơi cội nguồn tâmlinh của cả một dân tộc” Đọc những trang văn này người đọc cảm nhận được
vẻ đẹp linh thiêng, huyền bí, u tịch của Tháp Chàm, của đất nước Chăm Pangàn xưa với “thánh địa hiện ra mờ ảo dưới ánh trăng các ngọn tháp nhấpnhô như ân như hiện, lúc sáng ra lúc mờ đi ngọn tháp cao nhất thánh địasừng sững như một tượng người bán thân in vào nền trời đêm” [35,19] Theonhân vật nhà sử học Đoàn Minh Thành — sự hóa thân của tác giả - “cái kinh