Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới Những công trình đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập cổ đại cách đây hơn3.000 năm TCN [theo 12] và Trung Quốc cổ đại 2.200 năm TCN sau đó là ở Hy Lạp
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các nguồn tài nguyên mà trái đất cung cấp có vai trò vô cùng quan trọngđối với cuộc sống của con ngirời, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng Rừngkhông những đem lại cho con người những nguồn lợi vô giá như cung cấp gỗ,củi, dược liệu, động, thực vật Rừng còn giữ vai trò rất to lớn trong việc điềuhoà khí hậu, góp phần ngăn chặn lũ lụt, hạn hán, thiên tai, giữ vững sự cânbằng sinh thái Hiện nay, diện tích rìmg ngày càng giảm suốt một cách nhanhchóng, chỉ tính trong giai đoạn 1990-1995 ở các nước đang phát triển đã có hơn
65 triệu ha rừng bi mất đi, đến năm 1995 diện tích rừng trên thế giới chỉ còn3,454 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn khoảng 35% Ngày nay, mỗi tuần trên thế giới
có khoảng 500.000 ha rừng tự nhiên bị mất do con người phá hoại
Viêt Nam được đánh giá là nước có tài nguyên sinh học rất đa dạng vàphong phú Hệ thực vật Việt Nam có ý nghĩa rất to lớn về măt kinh tế, vănhóa, xã hội Cho nên, việc điều tra cơ bản là hết sức cần thiết để bảo tồn vàkhai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, có hiệu quả
Vườn Quốc gia Pù mát với tổng diện tích tự nhiên là 94.275 ha, vùngđệm của Vườn quốc gia Pù Mát có diện tích 100.000 ha Hiện nay, công tácđiều tra đánh giá tính đa dạng thực vật ở Nghệ An nói chung và Pù Mát nóiriêng còn ít ỏi và chưa mang tính hệ thống Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Thành phần loài thực vật lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) ở khu vực Thác kèm, vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định thành phần loài thực vật của lớp Ngọc lan tại vườn Quốc gia
Pù Mát, tỉnh Nghệ An
- Tạo cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát trién bền vững các loàithực vật trong khu vực nghiên cứu
Trang 2Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới
Những công trình đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập cổ đại cách đây hơn(3.000 năm TCN) [theo 12] và Trung Quốc cổ đại (2.200 năm TCN) sau đó là
ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật
Théophraste (371 - 286 TCN) [theo 12] là người đầu tiên đề xướng raphương pháp phân loại thực vật và phân biệt một số tính chất cơ bản trongcấu tạo cơ thể thực vật Trong hai tác phẩm "Lịch sử thực vật" (HistoriaPlantarum) và "Cơ sở thực vật" ông mô tả được khoảng 500 loài cây Sau đónhà bác học La Mã Plinus (79 - 24 TCN) viết bộ "Lịch sử tự nhiên" (Historianaturalis) [theo 12] Ông đã mô tả gần 1.000 loài cây Cùng thời này cóDioseoride (20 -60) [theo 12] một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã viết cuốnsách "Dược liệu học" chủ yếu nói về cây thuốc Ông nêu được hơn 500 loàicây và xếp chúng vào các họ
Sau một thời gian dài, vào thời kỳ Phục Hưng thế kỷ (XV - XVI) với sựphát triển của các ngành khoa học kỹ thuật kéo theo sự phát triển của thực vậthọc Thời kỳ này xảy ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của thựcvật học đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI [theo 12] thànhlập vườn bách thảo (Thế kỷ XV - XVI) và biên soạn cuốn "Bách khoa toànthư về thực vật” Từ đây xuất hiện các công trình như: Andrea Caesalpino(1519 - 1603) [theo 12] ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên và được đánh giácao: Theo Aubre rilleA (1628 -1705) [41] mô tả được gần 18.000 loài thựcvật trong cuốn "Lịch sử thực vật” Tiếp sau đó Linnée (1707-1778) [theo 12]với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật Ong
đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày naychúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới,Ngành, Lớp, Bộ, Họ, Chi, Loài
Trang 33Cho đến thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự pháttriển mạnh mẽ với nhiều công trình có giá trị được công bố như: Thực vật chíHồng Công, thực vật chí Anh (1869), thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872-1897,thực vật Vân Nam (1977), thực vật chí Malayxia, thực vật chí Trung Quốc,thực vật chí Liên Xô, thực vật Australia, thực vật chí Thái Lan, [theo 33].
1.2 Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam
Từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, đó là
bộ thực vật chí Đông Dương do Lecomte H chủ biên (1907 - 1951) Trongcông trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tảcác loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [theo 12]
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đãthống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ Ngành Hạtkín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) NgànhDương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ (14,5%) Ngành Hạttrần 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%) [30]
về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việcđánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kế đến bộ Thực vậtchí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên(1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác Đen nay đã công bố 29 tập nhỏgồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có [41]
Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kêđược ở Miền Bắc có 5.190 loài [43] và năm 1969 Phan Ke Lộc thống kê và bổsung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệthống Engler), trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc cácngành còn lại [23] Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc từ 1969 - 1976,nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách "Cây cỏ thường thấy
ở Việt Nam" gồm 6 tập do Lê Khả Ke chủ biên [18] và ở miền Nam PhạmHoàng Hộ công bố hai tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326
Trang 44loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loàithực vật có mạch [15].
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên viện Điều tra Qui hoạchRừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) giới thiệu kháchi tiết cùng vói hình vẽ minh hoạ [40] Trần Đình Lý (1993) công bố “1.900loài cây có ích ở Việt Nam” [25] Đế phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn genthực vật năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn "Sách
Đỏ Việt Nam" phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam
có nguy cơ tuyệt chủng và được bổ sung sữa chữa năm 2007 [6], [5]; Võ VănChi (1997) công bố từ điển cây thuốc Việt Nam [10], Võ Văn Chi (2012) bổsung cho cây thuốc Việt Nam gần 4700 loài cây thuốc [11]
Trong thời gian gần đây hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởicác nhà thực vật Liên Xô và Việt Nam và đăng trong Kỷ yếu cây có mạch củathực vật Việt Nam - Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora tập 1 - 2(1996) và Tạp chí Sinh học số 4 (chuyên đề) 1994 và 1995 [29],[30]
Đáng chú ý nhất phải kế đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng
Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bố sung tại ViệtNam trong những năm gần đây [14], [16] Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và
dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam Bêncạnh đó một số họ riêng biệt đã được công bố như: Annonaceae của NguyễnTiến Bân (2000) [1], Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2002) [27],Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002) [21], Apocynaceae của Trần Đình
Lý (2005) [26], Verbenaceae (2005) của Vũ Xuân Phương [28] Đây là nhữngtài liệu quan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thựcvật Việt Nam
Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước hay ít ramột nửa đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùngđược công bố chính thức như “Danh lục thực vật Tây Nguyên” đã công bố3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế
Trang 55Lộc chủ biên (1984) [3]; “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ(1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km2 [15];
Lê Trần Chấn, Phan Ke Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về
hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hoà Bình) [9], [7]; Nguyễn Nghĩa Thìn vàNguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi,
200 họ thuộc ố ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan [35]
Trên cơ sở các bộ thực vật chí, các danh lục thực vật của từng vùng,việc đánh giá tính đa dạng hệ thực vật của cả nước hay từng vùng cũng đãđược các tác giả đề cập đến dưới các mức độ khác nhau, trên những nhận địnhkhác nhau
về đa dạng các đơn vị phân loại: Trên phạm vi cả nước Phan Kế Lộc(1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch,2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số loài lên tới 10.361 loài,2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thếgiới Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài; 92,48% tổng số chi và85,57% tổng số họ Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ 6,45%,6,27%, 9,97% về loài Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngànhHạt trần (0,47%) hai ngành còn lại không đáng kế về họ, chi và loài [22].Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thốngBrummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loàichiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật [31] Lê Trần Chấn (1999) với côngtrình "Một số đặc điếm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam" đã công bố 10.440loài thực vật [8] Gần đây tập thê các nhà thực vật Việt Nam đã công bố
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” từ bậc thấp đến bậc cao Có thể nóiđây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất từ trước tới nay và cũng là tài liệu cậpnhật nhất Cuốn sách đã giới thiệu 368 loài Vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm,2.176 loài Tảo, 461 loài Rêu, 1 loài Quyết lá thông, 53 loài thông đất, 2 loài
Trang 6Cỏ tháp bút, 691 loài Dương xỉ, 69 loài Hạt trần, và 13.000 thực vật Hạt kínđưa tống số các loài thực vật Việt Nam lên trên 20.000 loài [2]
Ngoài ra Nguyễn Nghĩa Thìn, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ đã công
bố cuốn sách "Tính đa dạng thực vật Cúc Phương" (1996) [20] và NguyễnNghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời công bố cuốn "Đa dạng thực vật có mạch vùngnúi cao Sa Pa - Phan Si Pan" (1998) [35], Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phôcông bố cuốn "Đa dạng sinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc giaBạch Mã" (2003) [36]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004) [37]
đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Pù Mát” Nguyễn NghĩaThìn (2006) công bố cuốn Đa dạng hệ thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên Nahang [34] Đó là những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của các tác giả,nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồnThiên nhiên ở Việt Nam
1.3 Đa dạng thực vật vườn quốc gia Pù Mát.
Qua kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và Quốc tế, hiệntại đã xác định được có 2.494 loài thực vật, 931 chi thuộc 202 họ [37] Trong
đó có 70 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam có nguy cơ bị tiêu diệt, chiếm2,81% tổng số loài của khu hệ Công thức các loài quí hiếm hệ thực vật PùMát theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) là:
Tổng số loài: 70 loài = 44 vu + 22EN + 4CR
- Các kiểu thảm thực vật của VQG Pù Mát:
+ Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim á ẩm nhiệt đói chiếm 29%.+ Rừng kín thường xanh mưa âm nhiệt đới 46,5%
+ Kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi 1,7%
+ Rừng phục hồi sau khai thác và sau nương rẫy 21 %
+ Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác 1,4%
+ Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 0,4%
Trang 71.4 Nghiên cứu đa dạng về phố dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điềukiện môi trường Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệchặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sựtác động của điều kiện sinh thái đối với từng loài thực vật
Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer(1934) [44] về phố dạng sống, thông qua dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đấttrong thời gian bất lợi của năm Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống
5- Cây chồi một năm (Th)
ơ Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tácgiả Pócs Tamás (1965) [43] đã đưa ra một số kết quả như sau :
- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me) 3,80%
- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na) 8,02%
- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep) 6,45%
Trang 8SB = 48Ph + 9 Ch + 26Hm + 8Cr + 15Th
Richard [39] đưa ra phố dạng sống cho rừng mưa âm nhiệt đới:
SB = 88Ph + 12Ch + OHm + OCr + OTh
Đối với Vườn Quốc gia Cúc Phương, Phùng Ngọc Lan và các tác giả(1996) [20] đưa ra phổ dạng sống như sau:
SB = 57,78Ph + 10,46Ch + 12,38Hm + 8,37Cr + 1 l,01Th
Đối với Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô
(2003) [36] đã công bố dạng sống như sau:
SB = 75,7 lPh + 5,78Ch + 4,83Hm + 10,23Cr + 3,45Th
Còn ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn
(2004) [37], [32] đã lập được phổ dạng sống :
SB = 78,88Ph + 4,14 Ch + 5,76Hm + 5,97Cr + 5,25ThNăm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn đưa ra phố dạng sống ở Khu bảo tồn NaHang [34]
SB = 70,14Ph + 4,33Ch + 3,50Hm + 1 l,98Cr + 10,05 Th
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Vườn quốc gia Pù Mát
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện ConCuông)
Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)
Trang 99Khu vực Thác kèm nằm trong tiểu khu 796A, thuộc phân khu hànhchính (có diện tích 3.764,9ha, trong đó bao gồm 12,1 ha đất khác) của Vườnquốc gia Pù Mát.
Phía Bắc giáp rừng tự nhiên vùng đệm thuộc địa giới hành chính xã Châu Khê
+ DỊa hình - địa mạo
Khu vực có địa hình phức tạp, chia cắt lOOOm, địa-Hnạnh Các đỉnhdông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800 hình hiểm trở Phía TâyNam của vườn quốc gia là nơi có địa hình tương đối bằng, thấp và là nơi sinhsống trước đây cũng như hiện nay của một số cộng đồng người dân tộc Ở đónhiều hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã và đang diễn ra Nằm trong khuvực còn có khoảng 7.057ha núi đá sỏi và phần lớn diện tích nằm ở vùng đệmcủa vườn quốc gia, chỉ có khoảng 150ha nằm trong vùng lõi
+ Đất đai, thố nhưỡng
- Đất đai
Có 4 dạng địa mạo chủ yếu sau:
- Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên2000m (Phulaileng cao 271 lm, Rào cỏ cao 2286m), địa hình vùng này rấthiểm trở, đi lại cực kỳ khó khăn
- Kiếu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lỏn diện tích của miền
và có độ cao từ lOOOm trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạobởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
- Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ
Trang 10TT Các nhân tố khí hậu
Tương Dương
Con Cuông
Anh Sơn
2 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối 42,7° C/5 42,°C/5 42,l°C/5
3 Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối l,7°c/l 2,0°c/l 5°c/l
Trang 115 Số ngày mưa/ năm (Ngày) 133 153 138
số liệu bảng trên cho thấy:
Chế độ nhiệt:
- Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°c, tổng nhiệt năng 8500 - 8700°c
- Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2, do chịu ảnh hưởng của gió inùađông bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống dưứi 20°c vànhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 18°c (tháng giêng)
- Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiếtrất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bìnhmùa hè lên trên 25°c, nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 29°c.
Nhiệt độ tối cao lên tới 42°c ở Con Cuông và 42,7°c ở Tưong Dương vàotháng 4 và 5, độ ấm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%
Chế độ mưa am:
- Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nướctập trung trong mùa mưa Lượng mưa lớn nhất là tháng 9,10 và thường kèmtheo lũ lụt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Các tháng 2,3,4 có mưaphùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc Tháng 5,6,7 là những thángnóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất
Trang 138 Dân tộc khác 9 53 0,067
Trang 14* Nguồn: (Cục thống kê tỉnh Nghệ An (2004), Niên giám thống kê)
I Dân số và lao động
Tổng dân số 16 xã là 16.945 hộ với 93.235 nhân khẩu Phần lớn dân cưphân bố trong 7 xã ở huyện Con Cuông (39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ) và 5 xãthuộc huyện Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ) còn lại thuộc 4 xã củahuyện Tương Dương (15.753 nhân khẩu, 2.849 hộ), trung bình mỗi hộ giađình có từ 3 - 6 người, tăng dân số là áp lực lớn đối với rừng Dân số trongkhu vực phân bố không đều giữa các xã, một số xã có dân số rất thấp như xãTam Hợp huyện Tương Dương (7 người/km2), xã Châu Khê huyện ConCuông (13 người/km2) có xã mật độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495người/km2), xã cẩm Sơn (421 người/km2) thuộc huyện Anh Sơn
Do dân số không đều nên lực lượng lao đông phân bố cũng không đều và tậptrung chủ yếu ở các xã vùng thấp của huyện Anh Sơn Lực lượng lao động ởđịa phương rất lớn, nhưng cơ cấu các ngành nghề trong khu vực lại rất đơnđiệu Phần lớn là các hoạt động sản xuất Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Chănnuôi gia súc, gia cầm, một số ít người làm trong các lĩnh vực khác như Y tế,Giáo dục, Dịch vụ Việc dư thừa lao động, đời sống khó khăn khiến ngườidân đã vào vườn quốc gia Pù Mát đế khai thác lâm sản
+ Văn hoá truyền thống
Văn hoá dân tộc Thái qua điệu múa xoè, múa chăm và tiếng khèn cồngchiêng của họ và những thú vui uống rượu cần, múa lăm vông mang đậm dàbản sắc văn hoá dân tộc từ bao đời nay, hiện nay Bản Yên Thành với làngnghề dệt thố cẩm truyền thống, các cô gái Thái đã rất khéo léo dưới bàn taycủa mình dệt nên những chiếc váy, khăn, túi xách rất đẹp Tiếp giáp với xãLục Dạ là xã Môn Sơn nơi đây đã ghi nhiều di tích lịch sử Cách mạng caotrào Xô-Viết Nghệ -Tĩnh 1930-1931 và nơi đây chi bộ Đảng miền Tây đã rađời
14Văn hoá dân gian của các dân tộc ở Con Cuông là những di sản quýhoá, kết tinh qua bao đời, thể hiện sức sáng tạo của cha ông Nó phản ảnhcuộc sống một cách chân thực trong sáng, tế nhị, văn hoá dân gian gồm 2 bộphận cấu thành là: Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, phản ánh một cáchchân thực cuộc sống của nguời dân nơi đây Cuộc sống đấu tranh xây dựngvăn hoá vật chất văn hoá tinh thần của bà con trong quá trình phát triển Mỗimột dân tộc đều có vốn văn hoá riêng biệt, mang màu sắc riêng, ở dân tộcThái, có điệu khắp, điệu xên có thể nói vốn văn hoá dân gian rất phong phú và
đa dạng, không kể các làn điệu dân ca Còn có đủ các loại hình như: Tục ngữ,
ca dao, truyện thơ Nen văn hoá đó phản ánh chân thực cuộc sống lao động
và chiến đấu của nhân dân cùng tư tưởng tình cảm tâm hồn của đồng bàomiền núi, đặc biệt những cuộc vui khi uống rượu cần
Nét độc đáo của người Thái có những điệu khắp dành cho nam nữ thổ lộ tìnhcảm với nhau trong các ngày lễ hội
HỘI xăng khan còn là ngày hội thi tài của nam nữ thanh niên, trong cácngày đó, các chàng trai, cô gái cùng các cụ già vui bên chum rượu cần, cùnguống rượu cần và nhảy múa, những điệu múa dân tộc rất đặc trưng Bên cạnh
đó múa xăng khan thường tố chức 3 ngày 3 đêm vào cuối năm, cuộc vui trầngian do ông mo đứng ra tổ chức đóng các loại ma Nhằm mục đích cầu chomưa thuận, gió hoà dân làng làm ăn no đủ
+ Tình hình giao thông
- Trong vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát có quốc lộ 7, tuyến đườnghuyết mạch quan trọng nối miền xuôi với miền núi và đi sang nước Cộng hoàdân chủ nhân dân Lào Quốc lộ 7 góp phần tạo điều kiện rất thuận lợi để pháttriển nền kinh tế vùng Bên cạnh tuyến quốc lộ còn có một hệ thống đường dotỉnh, huyện xã, quản lý Tuy nhiên các tuyến đường nội huyện nhỏ, hẹp, độdốc lớn nên đi lại khó khăn
-về đường thuỷ: Các con sông lớn như sông Giăng, sông Cả là những
hệ thống giao thông thủy quan trọng Tuy nhiên, do địa hình phức tạp nên các
Trang 1515con sông này thường chảy quanh co uốn khúc và độ dốc lớn nên dòng chảymạnh, nhiều thác gềnh Việc vận chuyên thủy cũng gặp nhiều khó khăn, chỉ
áp dụng cho phương tiện cỡ nhỏ trên một số tuyến vào mùa nhất định
Trang 16ĩ!:.- vf ' : Tỹ0jeõ<ỵ bụi gi- ại các ìbửiiah ahầaiic
: Dáicạabiaí Hừng oplu«p-ú aưooj Aj
«b Tram quÒQ ly bèo vẠ rỉrng
2090
2080
Ghi chú: Nơi thu mẫu (Khu vực Thác Kèm)
Bản đồ vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An
Trang 17Chương 2
ĐÓI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Địa điểm, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bao gồm toàn bộ các loài thực vật lớp Ngọc lan ở khu vực Thác kèmnằm trong tiểu khu 796A, thuộc phân khu hành chính (có diện tích 3.764,9ha,trong đó bao gồm 12,1 ha đất khác) của vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh NghệAn
2.2 Thời gian nghiên cứu
Trong đợt thu mẫu về thì chúng tôi phân tích và xác định tên khoa học
Số mẫu thu được cả 3 đợt nghiên cứu: 386 mẫu, chúng tôi đã xác địnhđược 245 loài Hiện nay số mẫu đã được lưu trữ tại phòng thực vật bậc caokhoa Sinh học, trường Đại học Vinh
2.3 Nội dung nghiên cúu
- Xây dựng bảng danh lục thực vật ở Thác Kèm, vườn Quốc gia PùMát, tỉnh Nghệ An
- Phân tích đa dạng thực vật về các mặt:
+ Thành phần loài
+ Dạng sống
+ Giá trị tài nguyên và mức độ đe doạ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 182.4.1 Thu thập số liệu ở thực địa
- Khi nghiên cứu tính đa dạng của một hệ thực vật thì việc thu thậpmẫu là nhiệm vụ quan trọng làm cơ sở đê xác định tên taxon và xây dụngbảng danh lục chính xác và đầy đủ Chúng tôi sử dụng phuơng pháp điều tratheo tuyến rộng 2m chạy qua tất cả các sinh cảnh nhằm thu kỹ hết các loàithục vật có ở trên đó
2.4.2 Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên
Thu mẫu theo nguyên tắc của Nguyễn Nghĩa Thìn [31] và Klein R.M.,Klein D.T [19]
- Đối với cây gỗ, cây bụi mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu, kích cỡ phảiđạt 29 X 41cm có thế tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết Đối với câythân thảo, cố gắng thu cả rễ, thân, lá
- Sau khi thu mẫu thì đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng cây thìđánh cùng một số hiệu Đặc biệt khi thu mẫu phải ghi ngay những đặc điếm
dễ nhận biết ngoài thiên nhiên vào phiếu ghi thực địa (phụ lục) vì những đặcđiếm này dễ bị mất khi mẫu khô: nhụa mũ, màu sắc, hoa, quả, lá
Khi thu và ghi nhãn xong, đính nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bóvào bao tải buộc lại sau đó mới đem về nhà xử lý
Trang 192.4.4 Xác định và kỉém tra tên khoa học
Đồng thời với việc xử lý mẫu thành những tiêu bản đạt yêu cầu, tiến hànhxác định tên loài, thực hiện theo trình tự gồm các bước như sau:
Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải
tuân theo các nguyên tắc:
+ Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến chi tiết bên trong
+ Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình
+ Phân tích đi đôi với việc tra khoá xác định
+ Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực
+ Khi tra khoá luôn đọc từng cặp đặc điểm đối nhau cùng một lúc đế dễphân định các cặp dấu hiệu
Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:
+ Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), (1999 - 2000) [16]
+ FloraofChma (1994 -2011) [45]
+ Thực vật chí Việt Nam (The Flora of Vietnam): Họ Na - Annonaceae(Nguyễn Tiến Bân, 2000) [1], Họ Bạc hà - Lamiaceae (Vũ Xuân Phương,2000) [27], Họ Trúc đào - Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005) [26], Họ Đơnnem - Myrsinaceae (Nguyễn Thị Kiêm Liên, 2002) [21], Họ cỏ roi ngựaVerbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005) [28],
Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại
các tên khoa học đê đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Điềuchỉnh khối lượng họ và chi theo hệ thống của Brummitt trong "Vascular PlantFamilies and Genera" (1992) [42], điều chỉnh tên loài theo tài liệu "Danh lụccác loài thực vật Việt Nam" (2001 - 2005) [2]
Bo sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của
các loài về dạng sống, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồn, ngoài cáctài liệu trên, còn sử dụng các tài liệu khác như:
+ 1900 cây có ích (Trần Đình Lý, 1993) [25]
+ Sách Đỏ Việt Nam (2007) [6]
Trang 2020+ Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997) [10].[11]
+ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1999) [24]
+ Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp, tập 1-1999, tập 2002) [13]
II-+ Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam, 2004 [4]
+ Cây gỗ rừng Việt Nam (Trần Họp, 2002) [17]
2.4.5 Xây dụng bảng danh lục thục vật
Bảng danh lục thực vật đirợc xây dựng theo hệ thống phân loại củaBrummitt (1992) Danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt Nam của các loàicòn ghi tình trạng bảo tồn trong Sách Đỏ và các thông tin khác gồm: dạngsống và công dụng
2.4.6 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật
Đánh giá đa dạng loài của các họ
Xác định họ có nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ
số loài của cả hệ thực vật
Đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ sốloài của cả hệ thực vật
2.4.7 Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống
Căn cứ vào các thông tin thu thập từ các bộ thực vật chí tiến hành xácđịnh và phân loại dựa theo vị trí của chồi so vói mặt đất trong mùa bất lợi chosinh trưởng, theo Raukiaer, 1934 [44]
1 Phanérophytes (Ph) - Cây có chồi trên đất
2 Chaméphytes (Ch) - Cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (Hm) - Cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr) - Cây có chồi ẩn
Trang 215 Thérophytes (Th) - Cây chồi một năm
Nhóm cây chồi ân (Cr) bao gồm cả cây chồi ân trong đất (Ge Geophytes), cây chồi ẩn trong nước (He - Helophytes) và cây chồi dưới nước(Hy - Hydrophytes)
-Xây dụng phô dạng song Sau khi thống kê các loài theo các kiểu dạng
sống, chúng tôi tiến hành lập phổ dạng sống Dựa vào đó để đánh giá mức độ
đa dạng của điều kiện sống (nhân tố sinh thái) cũng như thấy được mức độ tácđộng của các nhân tố đối với hệ thực vật
2.4.8 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa
Dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam [6], Từ điển cây thuốc của VõVăn Chi [10] [11] đê phân tích thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
Trang 22TT Tên khoa học Tên Việt Nam Dạng
sống
Công dụng Magnoliopsida Lớp hai lá mầm
A
Fam.l Acanthaceae Họ o Rô
Strobỉlanthes anamỉticus Kuntze
Chuỳ hoa Trung bộ Hm
Hook.f et Thoms.) Hook.f et
Thomson
Fam.3 Apocynaceae Ho Trúc Đào
Woodson
Blume
Duby
Mp,
Trang 23R.Vig
Fam.5 Asclepiadaceae Họ Thiên Lý
Merr
Robyns
Fam 7 Begoniaceae Họ Thu Hải Đường
lecomte
Fam.ll Caesalpiniaceae Họ Vang