1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ

113 604 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 829,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng tại các Ban quản lý đã có những đổi mới, phát huy tác dụng trong công tác quản l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN DIỆU THÚY

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY LỢI, NƯỚC SINH HOẠT VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN DIỆU THÚY

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY LỢI, NƯỚC SINH HOẠT VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN CÔNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin xam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Diệu Thúy

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể các bộ phận tại Ban quản lý dự án nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Tác giả luận văn

Nguyễn Diệu Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

5 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 4

1.1 Dự án đầu tư 4

1.1.1 Đầu tư và dự án đầu tư 4

1.1.2 Phân loại dự án đầu tư 8

1.2 Quản lý dự án đầu tư 10

1.2.1 Vai trò và mục tiêu quản lý dự án đầu tư 10

1.2.2 Hình thức quản lý dự án đầu tư 15

1.2.3 Nội dung quản lý dự án đầu tư 17

1.2.4 Phương pháp quản lý dự án đầu tư 21

1.2.5 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 22

1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng 24

1.3 Kinh nghiệm quản lý dự án đầu tư xây dựng ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm 26

1.3.1 Kinh nghiệm tại các nước 26

1.3.2 Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam và Ban quản lý dự án Thủy lợi, nước sinh hoạt và VSMT nông thôn Phú Thọ 31

Trang 6

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 34

2.3 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư 35

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY LỢI, NƯỚC SINH HOẠT VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN PHÚ THỌ 38

3.1 Tổng quan về Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 38

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 38

3.1.2 Đặc điểm hoạt động 40

3.1.3 Định hướng phát triển 42

3.2 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 43

3.2.1 Cơ cấu tổ chức 43

3.2.2 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý điều hành dự án 49

3.2.3 Công tác quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 51

3.2.4 Công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện đầu tư 58

3.2.5 Công tác quản lý chi phí dự án 72

3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 75

3.3.1 Những thành tựu đạt được 75

3.3.2 Những tồn tại và hạn chế 76

3.3.3 Nguyên nhân 77

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY LỢI, NƯỚC SINH HOẠT VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN PHÚ THỌ 79

Trang 7

4.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển của Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 79 4.1.1 Quan điểm phát triển 79 4.1.2 Mục tiêu phát triển 81 4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý

Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 85 4.2.1 Cải tiến tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng 85 4.2.2 Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý điều hành

dự án 87 4.2.3 Nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án cho từng giai đoạn 88 4.2.4 Xây dựng đội ngũ, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý điều hành dự án 94 4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 98 4.3.1 Kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan 98 4.3.2 Kiến nghị đối với Ban Quản lý Dự án Thủy lợi, Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ 99

KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

NSNN: Ngân sách Nhà nước CNVC: Công nhân viên chức NQ: Nghị quyết

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam QLDA Quản lý dự án

TDT Tổng dự toán TTg Thủ tướng

TW Trung ương

WB Ngân hàng thế giới UBND Ủy ban nhân dân ODA Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức PTNT Phát triển nông thôn

VSMT Vệ sinh môi trường GPMB Giải phóng mặt bằng

NT Nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý 11

Bảng 3.1: Kết quả phê duyệt dự án đầu tư xây dựng giai đoạn 2010 - 2014 55

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả thẩm tra dự toán các dự án đầu tưgiai đoạn 2010 - 2014 56

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả lựa chọn nhà thầu 62

Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả thanh toán khối lượng xây dựng hoàn thành 69

Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả quyết toán dự án đầu tư xây dựng hoàn thành 71

Bảng 3.6: Tổng hợp chi phí quản lý dự án giai đoạn 2010 - 2014 75

Bảng 4.1: Kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trong tương lai 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa ba mục tiêu: Thời gian, chi phí và kết quả 14

Hình 1.2 Quá trình phát triển của các mục tiêu quản lý dự án 14

Hình 1.3 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 16

Hình 1.4 Mô hình tổ chức chủ nhiệm điều hành dự án 16

Hình 1.5 Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay 17

Hình 1.6 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng 17

Hình 3.1 Bản đồ tỉnh Phú Thọ 38

Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức Ban quản lý dự án Thủy lợi, nước SH và VSMT 43

Hình 3.3 Trình độ chuyên môn cán bộ ban quản lý 50

Hình 3.4 Độ tuổi cán bộ ban quản lý 50

Hình 3.5 Quy trình thực hiện công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 54

Hình 3.6 Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức chỉ định thầu 59

Hình 3.7 Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi và chào hàng cạnh tranh 60

Hình 3.8 Quy trình quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng 65

Hình 3.9 Quy trình trình phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành 70

Hình 3.10 Quy trình thanh toán khối lượng cho nhà thầu 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đầu tư xây dựng là một lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Muốn đầu tư xây dựng có hiệu quả thì công tác quản lý có vai trò quyết định Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác quản lý chất lượng đầu tư xây dựng

Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng tại các Ban quản lý đã có những đổi mới, phát huy tác dụng trong công tác quản lý các hoạt động xây dựng theo định hướng nền kinh

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng ngày càng được hoàn thiện có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của hoạt động đầu tư xây dựng Những thay đổi trên đã mang lại cho hoạt động đầu tư xây dựng những diện mạo mới và thành tựu rất đáng kể

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý dự án đầu tư của các ban quản lý dự án cũng còn nhiều vấn đề bất cập, tồn đọng, đặc biệt là hiệu quả trong công tác đầu tư xây dựng còn thấp và thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng ở các khâu vẫn diễn ra Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, song nguyên nhân chính vẫn là do công tác quản lý dự án của các ban quản lý dự án đầu

tư xây dựng còn nhiều yếu kém

Ban quản lý dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn cũng như các ban quản lý dự án khác, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đã có những kết quả, thành công nhất định, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh

đã đạt khá cao só với các năm trước Tuy vậy, hiệu quả của công tác đầu tư xây dựng chưa đạt được mục tiêu đề ra, tồn tại hạn chế còn xảy ra, thất thoát trong đầu

tư chưa được khắc phục

Để tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực Thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi

trường nông thôn, nơi tôi công tác Với lý do như vậy, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn

thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý dự án Thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ" làm luận văn nghiên

cứu của mình

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng trên cơ

sở đó đề xuất các giải pháp thích hợp để hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề liên quan đến công tác quản lý dự án Từ đó đưa ra một số giải pháp quản lý dự án nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ giai đoạn quy hoạch đến giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, đưa công trình vào khai thác sử dụng

Trang 13

nông thôn tại Ban quản lý dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng Phân tích những luận cứ khoa học mang tính lý luận, thực tiễn về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng nói cung và công tác quản lý dự án tại Ban quản lý

dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ nói riêng

Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động quản lý dự án đầu tư xây dựng, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại ban quản lý dự án Thủy lợi, nước sinh hoạt và VSMT nông thôn Phú Thọ

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dự án đầu tư xây dựng Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản

lý dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại

Ban quản lý dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN

ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

1.1 Dự án đầu tư

1.1.1 Đầu tư và dự án đầu tư

Đầu tư đó là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư, (thường gọi là đầu tư cho các đối tượng vật chất) cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi (thường gọi là đầu tư tài chính), mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai (thường gọi là vòng

đời dự án đầu tư) (Nguyễn Văn Chọn, 2006)

Theo Luật Đầu tư năm 2005: "Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư

theo quy định của Luật và các quy định khác của Pháp luật có liên quan" (Quốc hội

nước CHXHCN Việt Nam, 2005)

Nhà đầu là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của Pháp luật Việt Nam, bao gồm:

Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác; Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi luật này có hiệu lực; Hộ kinh doanh, cá nhân; Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 15

Hoạt động đầu tư nói chung là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để thu được lợi ích dưới hình thức khác nhau Hay có thể bằng các cách khác:

Hoạt động đầu tư là hy sinh lợi ích trước mắt để thu được lợi ích lớn hơn sau này hoặc hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai

Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn mọi hoạt động có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư Khái niệm này được coi là chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình lập và thẩm định dự án

Đầu tư có nhiều loại, để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư, có thể phân theo một số tiêu thức:

Theo đối tượng đầu tư: Đầu tư có các đối tượng vật chất để khai thác cho sản xuất và cho các lĩnh vực hoạt động khác; đầu tư cho tài chính (mua cổ phiếu, cho vay)

Theo chủ đầu tư: Chủ đầu tư là nhà nước (đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội do vốn của Nhà nước ); Chủ đầu tư là các doanh nghiệp (các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước, độc lập và liên doanh, trong nước và ngoài nước); Chủ đầu tư là các cá thể riêng lẻ

Theo nguồn vốn: Vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vốn tín dụng thương mại; Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước; Vốn đóng góp của nhân dân vào các công trình phúc lợi công cộng; Vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh và của dân; Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài; Các nguồn vốn

khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn (Đỗ Đình

Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Theo nghĩa chung nhất, Dự án là đối tượng của quản lý và là tập hợp của những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một lô gíc, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định

Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án là những nổ lực có thời hạn nhằm tạo ra những sản phẩm/dịch vụ duy nhất Nỗ lực có thời hạn có nghĩa là một dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định Một số đặc trưng cơ bản

của dự án như sau (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012):

Trang 16

- Dự án diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định;

- Nhiệm vụ đặc biệt chỉ thực hiện một lần;

- Công cụ quản lý đặc biệt;

- Nguồn lực bị giới hạn;

- Nhân lực dự án là tạm thời, đến từ nhiều nguồn;

- Tập hợp các hoạt động tương đối độc lập;

- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Để thực hiện thành công mục tiêu của dự

án, các nhà quản lý dự án cần phải duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác

Để hiểu một cách đúng đắn ý nghĩa của từ "dự án", phải lấy của cả hai mặt: ý tưởng và hành động Do đó chúng ta có thể định nghĩa thực hiện dự án là xác định

và dẫn dắt đến thành công một tổ hợp các hành động, quyết định và hàng loạt các công việc phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi liên kết nhằm: Đáp ứng nhu cầu đề ra; Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực; thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn

Chúng ta nói dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đã đề ra bởi vì dự án được xuất phát từ một ý tưởng, ý tưởng bắt nguồn từ một cơ hội Cơ hội này có thể trở thành hiện thực hay không thì quá trình thực hiện dự án phải được tiến hành Nếu không có một nhu cầu cụ thể thì sẽ không có dự án

Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn vì mỗi mục tiêu mỗi nhu cầu đều chỉ xuất hiện theo từng thời điểm Có thể trong giai đoạn trước mắt tồn tại mục tiêu đó song nếu dự án chỉ được hoàn thành sau một thời điểm dự kiến thì có thể mục tiêu đó đã không còn hoặc giảm giá trị hiệu quả Bất kỳ sự trậm trễ nào cũng kéo theo nhiều biến cố bất lợi như bội chi, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tư không đáp ứng được nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự án ban đầu

Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực vì khi nhắc đến dự án, người ta nhìn thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phương tiện, dụng cụ, thời gian, trí tuệ Các nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuôn khổ của dự án Vì khối

Trang 17

lượng chi phí nguồn lực cho dự án là một thông số then chốt phản ánh mức độ thành công của dự án đối với những dự án có quy mô lớn Hầu hết các dự án có quy

mô lớn đầu phải trải qua những thời kỳ khó khăn vì bất kỳ một quyết định nào cũng

bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ: Chủ đầu tư, nhà tư vấn và các nhà thầu bên cạnh các đối tác cung cấp vốn, nhân lực, vật tư và các tổ hợp công nghệ, kỹ thuật

Vấn đề ràng buộc cuối cùng của dự án là dự án luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn Tất cả các loại dự án quy mô nhỏ hay quy mô lớn đều được triển khai trong một môi trường luôn biến đổi Công tác điều hành dự án do vậy phải tính đến hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa giải pháp cho một tương lai bất định, đảm nhận và dự kiến những bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và phản ứng kịp thời đảm bảo cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu

Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới,

mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng

về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm/dịch vụ nào đó

trong một thời gian xác định (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Hay Luật xây dựng ghi "dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/dịch vụ trong một thời gian nhất định" Cụ thể là, phát hiện ra một cơ hội đầu tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trước hết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác định điều kiện và khả năng, xác định phương án tối ưu để xây dựng bản dự án đầu tư mang tính khả thi được gọi tắt

là dự án đầu tư (luận chứng kinh tế kỹ thuật)

Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng "Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định"

Nói một cách tổng quát "dự án đầu tư" là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định

Trang 18

Tính chung của định nghĩa này vẫn nằm trong khuôn khổ các yếu tố: mục đích, nguồn lực và thời gian Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về mục tiêu hay phương tiện cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của bản chất dự án

Một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh

Hùng, 2012):

- Mục tiêu của dự án: Thể hiện ở hai mức là mục tiêu phát triển và mục tiêu trước mắt Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án

- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án

- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong

dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án

- Các nguồn lực: Về vật chất, Tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án

Như vậy, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một ý định hay phác thảo,

mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng, hay lặp lại, mà phải tạo nên một thực tế mới, một thực tế mà trước đó chưa từng tồn tại

1.1.2 Phân loại dự án đầu tư

Dự án đầu tư được phân loại theo 6 tiêu chí sau (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2012):

* Theo cơ cấu tái sản xuất: Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu Trong đó dự án đầu tư chiều rộng thường đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạọ hiểm cao Còn dự án đầu tư theo chiều sâu thường đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng

Trang 19

* Theo lĩnh vực hoạt động xã hội: Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự

án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kĩ thuật và xã hội) , hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác

* Theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội: Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành

dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất

Dự án đầu tư thương mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quản đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao

Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài (5,10,20 năm hoặc lâu hơn) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá

cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị, )

* Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra:

Ta có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng )

* Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư: Phân theo nhóm

A, B, C theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng

Tùy theo tầm quan trọng và quy mô của dự án, dự án đầu tư được chia làm 4 nhóm: dự án quan trọng quốc gia (do quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, dự án nhóm

A, dự án nhóm B, dự án nhóm C Đối với các dự án đầu tư nước ngoài được chia thành 3 nhóm: dự án nhóm A, dự án nhóm B và các dự án phân cấp cho các địa phương

Trang 20

* Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát tiênr của Nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; Dự án đầu tư bằng nguồn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác.; Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hônc hợp

Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn vốn, vai trò của mỗi nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế cũng như có các giải pháp thích hợp đối với việc quản lý các dự án đối với từng nguồn vốn huy động

1.2 Quản lý dự án đầu tư

1.2.1 Vai trò và mục tiêu quản lý dự án đầu tư

Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra

Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý dự án, có thể hiểu một cách chung nhất: Quản lý dự án là sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ

và phương tiện kỹ thuật trong các hoạt động của dự án nhằm đáp ứng các yêu cầu của Chủ đầu tư và những mục tiêu của dự án trong các ràng buộc về thời gian, nguồn nhân lực, vật tư và xe máy Tất cả các công việc trong hoạt động dự án đều

cần có sự giám sát (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Công việc của quản lý dự án bao gồm:

- Định ra mục tiêu của dự án;

- Xác định các phương tiện cần huy động;

- Đánh giá các rủi ro có thể xảy ra, đề xuất các biện pháp theo dõi và hành động;

- Động viên nhân lực tham gia và kết hợp các hoạt động của họ;

- Theo dõi dự án, thông báo cho ban chỉ đạo dự án thông tin về tiến trình thực hiện dự án và tất cả những gì có thể dẫn tới sự thay đổi mục tiêu hoặc chương trình dự án

Vậy, quản lý dự án không thể chỉ đơn thuần là thực hiện công việc đã được hoạch định sẵn, mà nhiều khi chính lại là việc hình thành lên khối công việc đó Điều này có nghĩa là không thể quan niệm đơn giản quản lý dự án chỉ là theo dõi thực hiện dự án

Trang 21

Để thực hiện công việc có hiệu quả, các nhà quản lý dự án phải biết và có khả năng vận dụng các lý luận khoa học, các công cụ khoa học, các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý Quản lý dự án cũng như các lĩnh vực quản lý khác luôn đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực ứng xử và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ con người, vì thế có thể thấy rằng quản lý dự án phải trở thành một nghệ thuật ứng xử

Quản lý dự án có những khác biệt so với quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do dự án có những nhược điểm mang tính đặc thù so với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Mục tiêu cần đạt được của các dự án đã được xác định trước trong sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực để thực hiện mục tiêu ấy; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của dự án được xác định cụ thể; địa điểm thực hiện dự án đã được lựa chọn;

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý

dự án đầu tư (Từ Quang Phương, 2010)

Quản lý sản xuất kinh doanh Quản lý dự án đầu tư

Nhiệm vụ có tính lặp lại, liên tục Nhiệm vụ không có tính lặp lại, liên tục

mà có tính chất mới mẻ

Tỉ lệ sử dụng nguồn lực thấp Tỷ lệ sử dụng nguồn lực cao

Một khối lượng lớn hàng hóa dịch vụ

được sản xuất trong một thời kỳ

Tập trung vào một loại hay một số lượng nhất định hàng hóa hoặc dịch vụ Thời gian tồn tại của các công ty,

doanh nghiệp lâu dài Thời gian tồn tại của dự án có giới hạn Các số liệu thống kê sẵn có và hữu ích

đối với việc ra quyết định

Các số liệu thống kê ít có nên không sử dụng nhiều trong các quyết định về dự án Không quá tốn kém khi chuộc lại

lỗi lầm Phải trả giá đắt cho các quyết định sai lầm

Tổ chức theo tổ nhóm là hình thức

phổ biến Nhân sự mới cho mỗi dự án Trách nhiệm rõ ràng và được điều

chỉnh qua thời gian

Phân chia trách nhiệm thay đổi tùy thuộc vào tính chất của tường dự án Môi trường làm việc tương

đối ổn định

Môi trường làm việc thường xuyên

thay đổi

Trang 22

* Vai trò của quản lý dự án đầu tư thể hiện các mặt sau:

Bảo đảm sự liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án một cách trình

Đảm bảo tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn (Từ Quang Phương, 2010)

* Mục tiêu của quản lý dự án:

Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự

án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt

và theo tiến độ thời gian cho phép Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên quan chặt chẽ với nhau và có thể biểu diễn theo công thức sau:

C = f(P,T,S) Trong đó: C: Chi phí

P: Mức độ hoàn thành công việc (kết quả) T: Yếu tố thời gian

S: Phạm vi dự án

Phương trình trên cho thấy, chi phí là một hàm các yếu tố: mức độ hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án Nói chung, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm và phạm vi dự án được mở rộng Nếu thời gian thực hiện dự án kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh tăng chi phí một số khoản mục nguyên vật liệu Mặt khác, thời gian kéo dài dẫn đến tình trạng làm việc kém hiệu quả do

Trang 23

công nhân mệt mỏi, do chờ đợi và thời gian máy chết tăng theo làm phát sinh tăng một số khoản mục chi phí Thời gian thực hiện dự án kéo dài, chi phí lãi vay ngân hàng, bộ phận chi phí gián tiếp tăng theo thời gian và nhiều trường hợp, phát sinh tăng khoản tiền phạt do không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong hợp đồng

Ba yếu tố: Thời gian, chi phí và mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ chặt chẽ với nhau Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, nhưng nói chung, đạt được kết quả tốt đối với mục tiêu này thường phải "hi sinh" một hoặc hai mục tiêu kia Trong quá trình quản lý dự án thường diễn ra hoạt động đánh đổi mục tiêu Đánh đổi mục tiêu dự án là việc hi sinh một mục tiêu nào đó để thực hiện tốt hơn mục tiêu kia trong điều kiện thời gian và không gia cho phép, nhằm thực hiện tốt nhất tất cả cácmục tiêu dài hạn của quá trình quản lý dự án Nếu công việc quản lý dự án diễn ra theo đúng kế hoạch thì không phải đánh đổi mục tiêu Tuy nhiên, kế hoạch thực thi công việc dự án thường có những thay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên đánh đổi là một kỹ năng quan trọng của nhà quản lý dự án Việc đánh đổi mục tiêu diễn ra trong suốt quá trình quản lý, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án Ở mỗi giai đoạn của quá trình quản lý dự án, có thể một mục tiêu nào đó trở thành yếu tố quan trọng nhất cần phải tuân thủ, trong khi các mục tiêu khác có thể thay đổi, do đó, việc đánh đổi mục tiêu đều có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các mục tiêu khác

Trong quá trình quản lý dự án, các nhà quản lý mong muốn đạt được một cách tốt nhất tất cả các mục tiêu đặt ra Tuy nhiên, thực tế không đơn giản Dù phải đánh đổi hay không đánh đổi mục tiêu, các nhà quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của quản lý dự án như thể hiện trong hình 1.1

Trang 24

Thời gian cho phép

Thời gian (tiến độ)

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa ba mục tiêu: Thời gian, chi phí và kết quả

Cùng với sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý

dự án, mục tiêu của quản lý dự án cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng về lượng

và thay đổi về chất Từ ba mục tiêu ban đầu với sự tham gia của các chủ thể gồm chủ đầu tư, nhà thầu và nhà tư vấn đã phát triển thành tứ giác, ngũ giác mục tiêu với

sự tham gia quản lý của Nhà nước như thể hiện trong hình 1.2

Hình 1.2 Quá trình phát triển của các mục tiêu quản lý dự án (Từ Quang Phương, 2010)

- Chủ đầu tư

- Nhà thầu

- Nhà tư vấn

- Nhà nước

Trang 25

1.2.2 Hình thức quản lý dự án đầu tư

Theo các quy định hiện hành của Việt Nam và thông lệ quốc tế thì, căn cứ vào điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự án đầu tư,

có thể chia thành tổ chức quản lý dự án đầu tư thành hai nhóm chính là hình thức Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án và hình thức thuê tư vấn quản lý dự án (gồm mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và mô hình chìa khóa trao tay)

* Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án:

Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý dự

án đầu tư mà Chủ đầu tư tự thực hiện dự án khi có đủ khả năng hoạt động sản xuất xây dựng phù hợp với yêu cầu hoặc Chủ đầu tư lập ra Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án Ban quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của Chủ đầu tư Ban quản lý dự án

có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà ban quản lý dự án không

có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của Chủ đầu tư

Mô hình này được thể hiện trong sơ đồ 1.3

- Hình thức tự thực hiện dự án: Chủ đầu tư có đủ khả năng hoạt động sản xuất xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án thì được áp dụng hình thức tự thực hiện dự án

Hình thức Chủ đầu tư tự thực hiện dự án thường áp dụng cho dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, gần với chuyên môn của Chủ đầu tư, Chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý Trường hợp Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án thì Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về nhiệm vụ và quyền hạn được giao Ban quản lý dự án được đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ năng lực và được Chủ đầu tư cho phép, nhưng không được thành lập các Ban trực thuộc

Trang 26

Hình 1.3 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án

(Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

* Mô hình thuê tư vấn quản lý dự án

- Mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án: là mô hình tổ chức quản lý trong đó Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý

có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm Chủ nhiệm điều hành, quản lý thực hiện dự án Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật

về toàn bộ quá trình thực hiện dự án Mọi quyết định chủ đầu tư liên quan đến quá trình thực hiện dự án sẽ được triển khai thông qua tổ chức quản lý dự án Mô hình tổ chức này

áp dụng cho những dự án quy mô lớn, kỹ thuật sâu, như sơ đồ 1.4

Hình 1.4 Mô hình tổ chức chủ nhiệm điều hành dự án

(Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Chủ đầu tư

Tổ chức thực hiện dự án I Tổ chức thực hiện dự án II

Tổ chức thực hiện dự án III

Chủ đầu tư Chủ nhiệm điều hành

Tổ chức thực

hiện dự án I

Tổ chức thực hiện dự án I

Thuê tư

vấn

Thuê nhà thầu A

Thuê nhà thầu B

Trang 27

- Mô hình chìa khóa trao tay: Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay

là hình tổ chức, trong đó Ban quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của Chủ đầu tư mà còn là "chủ" của dự án Hình thức tổ chức quản lý dự án dạng chìa khóa trao tay cho phép tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà tổng thầu để thực hiện toàn

bộ dự án Khác với hình thức Chủ nhiệm điều hành dự án, giờ đây mọi trách nhiệm thực hiện dự án được giao cho Ban quản lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với việc quản lý dự án Ngoài ra, là tổng thầu, Ban quản lý dự án không chỉ được giao toàn quyền thực hiện dự án mà còn được phép thuê thầu phụ

để thực hiện từng phần việc trong dự án đã trúng thầu Trường hợp này bên nhận thầu không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp Mô hình tổ chức dự án chìa khóa trao tay được thể hiện trên sơ đồ 1.5

Hình 1.5 Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay

(Đinh Tuấn Hải, 2010)

1.2.3 Nội dung quản lý dự án đầu tư

Trong xây dựng, các thành phần của quản lý dự án được mô tả như sơ đồ sau:

Hình 1.6 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng

(Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Chủ đầu tư

Tổng thầu thực hiện toàn bộ dự án

Nghiệm thu Thi công

Đấu thầu Thiết kế

Lập báo cáo đầu

tư, Dự án đầu tư

Chuẩn bị

đầu tư

Kết thúc dự án xây dựng Thực hiện đầu tư

Trang 28

a Quản lý dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn của dự án: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư

* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

Giai đoạn này gồm hai công việc chính đó là xây dựng ý tưởng và phát triển

dự án

- Xây dựng ý tưởng dự án: là việc xác định bức tranh toàn cảnh về mục tiêu, kết quả cuối cùng và phương pháp thực hiện kết quả đó Xây dựng ý tưởng dự án được bắt đầu ngay khi dự án bắt đầu hình thành Tập hợp số liệu, xác định nhu cầu, đánh giá độ rủi ro, dự tính nguồn lực, so sánh lựa chọn dự án là những công việc được triển khai và cần quản lý trong giai đoạn này Quyết định lựa chọn dự án là những quyết định chiến lược dựa trên mục đích, nhu cầu và các mục tiêu lâu dài của

tổ chức, doanh nghiệp Trong giai đoạn này, những nội dung được xét đến là mục đích yêu cầu của dự án, tính khả thi, lợi nhuận tiềm năng, mức độ chi phí, độ rủi ro

và ước tính nguồn lực cần thiết Đồng thời cũng làm rõ hơn nữa ý tưởng dự án bằng cách phác thảo những kết quả và phương pháp thực hiện trong điều kiện hạn chế về nguồn lực Phát triển ý tưởng dự án không cần thiết phải lượng hóa hết bằng các chỉ tiêu nhưng nó phải ngắn gọn, được diễn đạt trên cơ sở thực tế

- Phát triển dự án: là giai đoạn chi tiết xem dự án cần được thực hiện như thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất của một dự án

Nội dung của giai đoạn này bao gồm những công việc sau: Thành lập nhóm

dự án, xác định cấu trúc tổ chức dự án; Lập kế hoạch tổng quan; Phân tích công việc của dự án; lập kế hoạch tiến độ thời gian; Lập kế hoạch ngân sách; Thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất; Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết; Lập kế hoạch chi phí

và dự báo dòng tiền thu; xin phê duyệt thực hiện (Từ Quang Phương, 2010)

Đối với một dự án lớn, để thưc hiện giai đoạn này một cách đầy đủ, đồng thời để tránh những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hình thành dự án và tiết kiệm nguồn lực, cần phải thực hiện các bước sau:

+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;

Trang 29

+ Tiến hành tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc nước ngoài để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết

bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;

+ Lập dự án đầu tư;

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu

tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư (Đỗ Đình Đức và

Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Trong tất cả các giai đoạn từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác vận hành thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là quan trọng nhất,

nó tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặc biệt

là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư

* Giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng công trình:

Sau khi có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, dự án chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư Trong giai đoạn này, chủ đầu tư tổ chức lập

và đánh giá hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu, đàm phán ký kết hợp đồng, giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết bị, quản lý tiền độ, chất lượng thi công xây dựng công trình

Nội dung thực hiện dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm (Đỗ Đình

Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012):

- Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất);

- Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng;

- Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu yêu cầu phải có giấy phép);

- Thẩm định phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình;

- Phát hành hồ sơ mời thầu (nếu cần), lựa chọn nhà thầu, hợp đồng thực hiện

dự án;

- Thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cơ

và phục hồi (đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có);

Trang 30

- Mua sắm thiết bị và công nghệ;

- Tiến hành thi công xây lắp;

- Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng (tạm ứng, thanh toán hợp đồng);

- Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng;

- Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán hợp đồng, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm

* Giai đoạn kết thúc dự án đầu tư xây dựng: là giai đoạn kết thúc của chu kỳ

dự án, cần thực hiện những công việc còn lại như hàn thành công trình, bàn giao

công trình và những tài liệu liên quan, đánh giá dự án, giải phóng nguồn lực (Từ

Quang Phương, 2010)

Một số công việc của giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thức

sử dụng gồm (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng (2012):

- Nghiệm thu bàn giao công trình;

- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;

- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;

- Bảo hành công trình;

- Quyết toán vốn đầu tư;

- Phê duyệt quyết toán dự án đầu tư

Một số dự án sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả Dự án mới bước vào giai đoạn vận hành người tiếp nhận (khách hàng hay còn gọi là người ủy quyền dự án) có thể thiếu nhân lực quản lý, chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án, vì thế cần có sự hỗ trợ của đơn vị thi công dự án, giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này Quản

lý giao - nhận dự án cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án, tức là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bên giao và nhận, như vậy mới tránh được tình trạng dự án tốt nhưng hiệu hiểu kém, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp

b Nội dung công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình gồm:

- Quản lý việc thiết kế kỹ thuật và lập dự toán, tổng dự toán công trình;

Trang 31

- Quản lý việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và lập dự toán, tổng dự toán công trình;

- Quản lý việc xin giấy phép xây dựng công trình;

- Quản lý việc tuyển chọn nhà thầu và hợp đồng thực hiện dự án;

- Quản lý thi công xây dựng công trình (quản lý về chất lượng; quản lý về tiến độ; quản lý về khối lượng; quản lý an toàn lao động; quản lý vệ sinh môi trường; quản lý nhân lực và quản lý thông tin)

- Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình;

- Quản lý rủi ro;

- Các nội dung quản lý khác (nếu có)

1.2.4 Phương pháp quản lý dự án đầu tư

Trong quản lý dự án nói chung, quản lý dự án đầu tư xây dựng nói riêng, có các phương pháp quản lý sau đây:

- Phương pháp kinh tế: Là chủ thể quản lý chỉ tác động gián tiếp vào đối tượng quản lý nhằm tạo ra một cơ chế hướng dẫn đối tượng quản lý hoạt động mà không cần có sự tham gia trực tiếp của phương pháp hành chính và cơ quan hành

chính (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)

Khác với phương pháp hành chính dựa vào mệnh lệnh, phương pháp kinh tế thông qua các chính sách và đòn bảy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện đầu tư theo mục tiêu nhất định của nền kinh tế xã hội Như vậy, phương pháp kinh tế trong quản lý đầu tư chủ yếu dựa vào lợi ích kinh tế của đối tượng tham gia vào quá trình đầu tư với kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước, xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân người lao động trong lĩnh vực đầu tư

- Phương pháp hành chính: Là phương pháp tác động của cơ quan quản lý lên đối tượng quản lý thông qua những quyết định trực tiếp, dứt khoát mang tính pháp lệnh cao Tính bắt buộc của phương pháp hành chính đòi hỏi mọi quyết định hành chính phải có luận cứ khoa học Việc sử dụng các phương pháp này không phải là ý muốn chủ quan của người này hay người khác Các phương pháp này chỉ phát huy tác dụng khi đã xác định được đầy đủ và chính xác quyền hạn, trách nhiệm

của mỗi thành viên mỗi cấp trong hệ thống quản lý

Trang 32

Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản

lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định về tổ ch ức Ưu điểm của phương pháp này là góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể, nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng quan liêu máy móc, bộ máy hành chính cồng kềnh và độc đoán

- Phương pháp giáo dục: Giáo dục về thái độ lao động, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện các biện pháp kích thích sự say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm lao động, về giữ gìn

uy tín Các vấn đề này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực đầu tư do những đặc điểm của hoạt động đầu tư (lao động vất vả, khó khăn, di động, căng thẳng, nguy hiểm luôn đòi hỏi tính tự giác trong lao động cao để đảm bảo chất lượng công trình tránh tình trạng phá đi làm lại gây thất thoát lãng phí, )

- Phương pháp kết hợp: Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý trên đây trong quản lý dự án đầu tư xây dựng Việc áp dụng phương pháp tổng hợp sẽ cho phép nâng cao hiệu quả của quản lý trong quản lý dự án đầu tư

1.2.5 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng

Ở Việt Nam cùng với sự phát triển các mục tiêu quản lý dự án thì các chủ thể tham gia vào quản lý dự án cũng phát triển theo Chủ thể tham gia quản lý đầu tư xây dựng gồm có quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng và quản lý xã hội về đầu tư xây dựng

* Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng:

Ở Việt Nam, quản lý nhà nước về xây dựng được quy định như sau: Chính Phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng trong phạm vi cả nước; Bộ xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng; Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Xây dựng để thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng; UBND các cấp

có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính Phủ

Công cụ quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng bao gồm: Chiến lược định hướng và các kế hoạch về đầu tư; quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội tổng thể và

Trang 33

quy hoạch đầu tư xây dựng tổng thể theo các địa phương và vùng lãnh thổ; hệ thống

tổ chức quản lý bộ máy đầu tư từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là các tổ chức quản lý đầu tư và phát triển, tổ chức kế hoạch, ngân hàng, tài chính, tổ chức quản lý xây lắp; Hệ thống chính sách có liên quan đến đầu tư như chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách giá cả, chính sách huy động các nguồn vốn, các chính sách ưu đãi trong đầu tư; Hệ thống tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan đến đầu tư và xây dựng; Thông tin, dự báo hướng dẫn thị trường và các hoạt động đầu tư; Các biện pháp khác của Nhà nước để tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động đầu tư trong khuân khổ pháp luật

Tùy theo trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước, trình độ dân trí, đặc điểm của địa phương, mà mỗi một tỉnh, thành phố có những cách quản lý và mức độ quản lý khác nhau Tuy nhiên có một điểm chung là việc quản lý Nhà nước về xây dựng đều tập trung vào hai nội dung như: quản lý về con người và quản lý sản phẩm trong hoạt động xây dựng

* Quản lý xã hội về đầu tư xây dựng:

Quản lý xã hội về xây dựng được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế trong hoạt động xây dựng Các chủ thể này đều chịu trách nhiệm với nhau qua các quy định, các thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật

Các tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng là các tổ chức chuyên làm các công việc lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, quản lý việc thực hiện dự án đầu tư Các tổ chức này làm việc theo chế độ hợp đồng với chủ đầu tư

Nhà thầu xây dựng là các doanh nghiệp xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng và lắp đặt máy móc vào công trình theo hợp đồng đã ký với chủ đầu tư

Các tổ chức xã hội có liên quan đến đầu tư, nhất là hội xây dựng, hội kinh tế,

hội bảo vệ môi trường và nhân dân địa phương đặt dự án (Nguyễn Văn Chọn, 2006)

Trang 34

1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng

* Quy mô và độ phức tạp của dự án:

Việc thực hiện dự án cần có sự tham gia của nhiều bên tùy thuộc vào quy mô

và độ phức tạp của dự án Mối quan hệ giữa các bên tham gia khá phức tạp, họ thường liên hệ với nhau bằng hình thức hợp đồng hoặc đàm phán Bên thực hiện dự

án thường phải thành lập tổ quản lý dự án chuyên môn để làm chức năng quản lý

* Tính ổn định của nền kinh tế:

Trong giai đoạn quá độ của sự chuyển đổi cơ chế, chương trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước là vấn đề phức tạp và không kém phần khó khăn Nhiều doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đứng trước sức ép cải cách, một mặt vẫn phải lo công an việc làm để tồn tại, mặt khác vẫn phải duy trì chỗ đứng trong guồng máy quản lý nhà nước Cơ chế bao cấp vẫn chưa được xóa bỏ triệt để Trong khi đó, chế độ kế toán, kiểm toán, báo cáo thống kê, thanh tra, kiểm tra lại không được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả; chế độ trách nhiệm đối với đội ngũ Giám đốc doanh nghiệp chưa chặt chẽ Hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước cả một thời gian dài theo một luật riêng, bao cấp dưới nhiều hình thức còn phổ biến Các chính sách tạo lập môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng chưa kịp thời, đồng bộ Rõ ràng, khi khu vực daonh nghiệp Nhà nước được cải cách, cùng với môi trường kinh doanh và cơ chế quản lý doanh nghiệp được hoàn thiện theo một luật chung phù hợp với cơ chế thị trường, chắc chắn tình trạng thất thoát, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cũng sẽ giảm thiểu

Thời gian qua, nền kinh tế nước ta thiếu ổn định, lạm phát cao, thị trường xây dựng có sự biến động lớn về giá cả nguyên vật liệu, tỷ giá, tiền lương nhân công, ca máy nên việc quản lý chi phí gặp nhiều khó khăn Dự toán thay đổi, dự

án vượt tổng mức đầu ta là nguyên nhân khiến công trình chậm tiến độ

* Năng lực và các chủ thể tham gia dự án: Năng lực của các chủ thể tham gia quản lý dự án ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác quản lý dự án

- Điều kiện năng lực của giám đốc quản lý dự án:

Trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án thì giám đốc băn lý dự

án phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp, có chứng nhận nghiệp vụ về quản lý dự án và có kinh nghiệm làm việc chuyên môn tối thiểu 3

Trang 35

năm Riêng đối với các dự án nhóm C ở vùng sâu, vùng xa thì Giám đốc quản lý dự

án có thể là người có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp thuộc chuyên ngành phù hợp

và có kinh nghiệm làm việc chuyên môn tối thiểu 3 năm Chủ đầu tư có thể cử người thuộc bộ máy của mình hoặc thuê người đáp ứng các điều kiện nêu trên làm Giám đốc quản lý dự án

- Năng lực của các chủ thể khác tham gia dự án: Ngoài các chủ thể tham ra

dự án gồm kiến trúc sư, kỹ sư, kỹ sư kinh tế phù hợp với yêu cầu của dự án Trong

dự án còn có các chủ thể tham gia dự án từ các ngành luật, quản lý, tài chính, môi trường, điều hành, giám sát kỹ thuật theo các vai trò thích hợp

Từ 3 nhóm trên có thể phân thành 7 nhân tố tác động trực tiếp tới công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng:

Nguồn tài trợ và chương trình gồm: Nguồn tài chính do nhà tài trợ và chủ dự

án cung cấp, kết quả mong đợi và thời gian "hoàn" vốn

Ảnh hưởng bên ngoài như: Tác động cơ chế chính sách tiền lương, nhân công, ca máy thay đổi liên tục đã ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện dự

án Môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện xong vẫn chưa đủ sức hấp dẫn trong cạnh tranh, thu hút, đầu tư Cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư thiếu đồng bộ, thủ tục đầu tư chưa thông thoáng, chưa thu hút được vốn đầu tư của các doanh nghiệp và nguồn lực trong dân; bên cạnh đó hạ tầng kỹ thuật đã từng bước được đầu tư nhưng vẫn chưa đồng bộ nên tiến độ triển khai các dự án còn chậm hoặc bị kéo dài so với

kế hoạch Giá nguyên, nhiên, vật liệu xây dựng tăng mạnh, trong khi thông báo giá

Trang 36

1.3 Kinh nghiệm quản lý dự án đầu tư xây dựng ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm

1.3.1 Kinh nghiệm tại các nước

- Cộng hòa Pháp:

Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Pháp luật của nước Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động,

độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200m và độ sâu của móng trên 30m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được chính Phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình

Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là "Ngăn ngừa là chính" Do đó, để quản lý chất lượng các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra để được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không sẽ bị cương chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng

- Hoa Kỳ:

Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của Pháp Luật Mỹ rất đơn giản vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công Tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm

có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục

vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính

Trang 37

phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính Phủ

- Liên bang Nga:

Luật xây dựng đô thị của Liên bang Nga quy định cụ thể về quản lý chất lượng công trình xây dựng Theo đó, tại điều 53 của Luật này, giám sát xây dựng được tiến hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng

cơ bản nhằm kiểm tra sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết

kế, với các quy định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ đồ mặt bằng xây dựng của khu đất

Giám sát xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng Chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra sự phù hợp các công việc đã hoàn thành với hồ sơ thiết kế Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho cá cơ quan giám sát xây dựng nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xây dựng

Việc giám sát phải được tiến hành ngày trong quá trình xây dựng công trình, căn cứ vào công nghệ kỹ thuật xây dựng và trên cơ sở đánh giá xem công trình đó

có bảo đảm án toàn hay không Việc giám sát không thể diễn ra sau khi hoàn thành công trình Khi phát hiện thấy những sai phạm về công việc kết cấu, các khu vực kỹ thuật công trình, chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể yêu cầu giám sát lại sự an toàn các kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình sau khi loại

bỏ những sai phạm đã có Các biên bản kiểm tra các công việc, kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình được lập chỉ sau khi đã khắc phục được các sai phạm

Việc giám sát xây dựng của cơ quan nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình xây dựng cơ bản mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các

cơ quan nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mầu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồ sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan nhà nước thẩm định; xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người có chức trách thực hiện giám sát xây dựng nhà nước có quyền tư do ra vào đi lại tại các công trình xây dựng cơ bản trong thời gian hiệu lực giám sát xây dựng nhà nước

Trang 38

- Trung Quốc:

Bắt đầu thực hiện giám sát trong lĩnh vực xây dựng công trình từ những năm

1988 Vấn đề quản lý chất lượng công trình được quy định trong luật xây dựng Trung Quốc Phạm vi giám sát xây dựng các hạng mục công trình của Trung Quốc rất rộng, thực hiện ở các giai đoạn, như: Giai đoạn nghiên cứu tính khả thi thời kỳ trước khi xây dựng , giai đoạn thiết kế công trình, thi công công trình và bảo hành công trình - giám sát các công trình xây dựng, kiến trúc Người phụ trách đơn vị giám sát đều không được kiêm nhiệm làm việc ở cơ quan nhà nước Các đơn vị thiết

kế và thi công, đơn vị chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư của công trình đều chịu sự giám sát

Quy định chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công công trình phải phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn Nhà nước, Nhà nước chứng nhận hệ thống chất lượng đối với đơn vị hoạt động xây dựng Tổng thầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng trước chủ đầu tư Đơn vị khảo sát thiết kế, thi công chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình thực hiện; chỉ được bàn giao công trình đưa vào sử dụng sau khi đã nghiệm thu Quy định về bảo hành, duy tu công trình, thời gian bảo hành do Chính Phủ quy định

Đối với hai chủ thể quan trọng nhất là Chính quyền và các tổ chức cá nhân làm

ra sản phẩm xây dựng, quan điểm của Trung Quốc thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật xây dựng là "Chính quyền không phải là cầu thủ và cũng không là chỉ đạo viên của cuộc chơi Chính quyền viết luật chơi, tạo sân chơi và giám sát cuộc chơi"

- Singapore:

Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thoản mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt

Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện

Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả

02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đầu bắt buộc phải thực hiện

Trang 39

giám sát Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng

Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát

Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề

ở các cơ quan có thẩm quyền do nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và

kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc (Thảo Trang, 2013)

- Việt Nam

Việc quản lý giá trong xây dựng còn bị động, chưa đầy đủ, chưa kịp thời và chưa thống nhất, giá xây dựng chưa theo kịp với biến động của thi trường nên gây rất nhiều khó khăn cho việc triển khai thực hiện của các dự án, đặc biệt là những dự

án có vốn lớn và thời gian kéo dài Việc ban hành chỉ số giá trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình chưa phản ánh được biến động giá của tất cả các vùng, khu vực trong phạm vi cả nước gây ra những khó khăn cho chủ đầu tư có dự án thực hiện tại những khu vực chưa được công bố chỉ số giá xây dựng Hiện nay, chỉ số giá được công bố theo quý hoặc theo năm, điều này làm cho một số chủ đầu tư, nhà thầu gặp khó khăn và bị động, thực tế, nhiều nhà thầu phải bù lỗ nhiều

Về mặt chính sách ban hành còn chưa sát với thực tế, chẳng hạn, đối với việc

dự thầu, giá dự thầu được xây dựng trên hệ thống giá được tính toán dựa vào đơn giá do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành (cũng như các định mức chi phí đều tính theo tỷ lệ được quy định đối với việc lập dự toán hạng mục công trình hay tổng dự toán công trình) Điều này dẫn đến việc giá dự thầu không phản ánh đúng thực tế chi phí xây dựng của nhà thầu, nhà thầu không thể vận dụng các khả năng cạnh tranh, thế mạnh, nên luôn phải bỏ giá thầu thấp hơn dự toán từ 10% đến 20% thậm chí thấp hơn nữa để hy vọng trúng thầu

Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB), theo quy định của Bộ tài chính được trích 2% tổng kinh phí đền bù GPMB Đối với dự án chi phí bồi thường,

hỗ trợ tái định cư lớn, thì chi phí để thực hiện là rất lớn, nhưng ngược lại với các dự án chỉ vài tỷ đồng thì số tiền để chi cho công tác tổ chức GPMB thật sự không đáng kể Trong khi đó tất cả các thủ tục quy trình vẫn phải đảm bảo, vẫn phải thành lập ban đền bù GPMB

Trang 40

Công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình nhìn chung còn nhiều yếu kém, còn tiêu cực, gây ra lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng rất lớn, làm giảm hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước Tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả vẫn còn phổ biến, công tác đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập Lãng phí, thất thoát xảy ra trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng, từ khâu qui hoạch, chuẩn bị đầu tư, quyết định đầu tư, thực hiện đầu tư đến giải ngân, thanh quyết toán, Tồn tại bất cập xảy ra ở nhiều ngành, nhiều chủ thể đầu tư Những bất cập kéo dài nhiều năm và có xu hướng ngày càng trầm trọng trong xây dựng đang là vấn đề nóng được toàn xã hội đặc biệt quan tâm

Các vi phạm về quản lý dự án chủ yếu vẫn là không phù hợp với quy hoạch; phê duyệt không đúng thẩm quyền; không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự án; đấu thầu không đúng qui định; bỏ giá thầu không phù hợp; chất lượng xây dựng thấp; chậm tiến độ

Công tác quy hoạch chưa đi trước một bước, tầm nhìn thiếu tính chiến lược, chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan nên tính định hướng của qui hoạch còn yếu, chất lượng còn thấp, tính thực tế không cao, thiếu lộ trình thực hiện qui hoạch gắn với kế hoạch bố trí vốn Đa số các công trình đầu tư mang tính tình thế, cần đến đâu phát triển đến đó, trong khi nguồn vốn có hạn, nhu cầu phát triển lớn, bố trí đầu

tư dàn trải dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thi công các công trình

Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng chồng chéo: Cơ quan Kế hoạch đầu tư ban hành qui định về tổng mức đầu tư; cơ quan xây dựng ban hành tổng dự toán, trong khi việc thanh toán, quyết toán vốn đầu tư lại do cơ quan tài chính quản lý Như vậy

để thực hiện cơ chế (mở), cần trao đầy đủ trách nhiệm phê duyệt và thực hiện các chỉ tiêu về chi phí xây dựng (kể cả nhưng sai lệch do phát sinh hợp lý trong quá trình thực hiện) cho người quyết định đầu tư và kèm theo đó là các chế tài xử lý nghiêm theo pháp luật về các hành vi tham ô, tham nhũng hoặc lợi dụng chức vụ quyền, hạn mưu lợi cá nhân trong thực thi nhiệm vụ

Các thủ tục hành chính liên quan còn rườm rà: Dù đã có nhiều điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới cảu đất nước và điều kiện hội nhập với thế giới, song các văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý dự án vẫn không tránh khỏi những chồng chéo, chưa hợp lý, thiếu sự đồng bộ giữa các cơ quan quản lý thuộc cá lĩnh vực khác nhau gây khó khăn cho quá trình thực hiện quản lý dự án

Ngày đăng: 30/12/2015, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Quá trình phát triển của các mục tiêu quản lý dự án  (Từ Quang Phương, 2010) - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 1.2. Quá trình phát triển của các mục tiêu quản lý dự án (Từ Quang Phương, 2010) (Trang 24)
Hình 1.3. Mô hình Chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý dự án - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 1.3. Mô hình Chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý dự án (Trang 26)
Hình 1.5. Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 1.5. Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay (Trang 27)
Hình 3.1. Bản đồ tỉnh Phú Thọ - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.1. Bản đồ tỉnh Phú Thọ (Trang 48)
Hình 3.3. Trình độ chuyên môn cán bộ ban quản lý - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.3. Trình độ chuyên môn cán bộ ban quản lý (Trang 60)
Hình 3.4. Độ tuổi cán bộ ban quản lý - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.4. Độ tuổi cán bộ ban quản lý (Trang 60)
Hình 3.5. Quy trình thực hiện công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.5. Quy trình thực hiện công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ (Trang 64)
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả thẩm tra dự toán các dự án đầu tƣ - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thẩm tra dự toán các dự án đầu tƣ (Trang 66)
Hình 3.6. Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức chỉ định thầu - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.6. Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức chỉ định thầu (Trang 69)
Hình 3.7. Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi và - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.7. Quy trình lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi và (Trang 70)
Hình 3.8. Quy trình quản lý chất lƣợng dự án đầu tƣ xây dựng - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.8. Quy trình quản lý chất lƣợng dự án đầu tƣ xây dựng (Trang 75)
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả thanh toán khối lƣợng xây dựng hoàn thành - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả thanh toán khối lƣợng xây dựng hoàn thành (Trang 79)
Hình 3.9. Quy trình trình phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.9. Quy trình trình phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành (Trang 80)
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả quyết toán dự án đầu tƣ xây dựng hoàn thành - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả quyết toán dự án đầu tƣ xây dựng hoàn thành (Trang 81)
Hình 3.10. Quy trình thanh toán khối lƣợng cho nhà thầu - Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý Dự án thủy lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Phú Thọ
Hình 3.10. Quy trình thanh toán khối lƣợng cho nhà thầu (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w