1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam

14 161 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TAI CO CAU KINH TẾ Tai cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhộp trung bình đối với nền kinh tế Việt Nam NGÔ TUẤN NGHĨA K inh tế Việt Nam đê đạt tới trình độ một nước có thu

Trang 1

TAI CO CAU KINH TẾ

Tai cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy

thu nhộp trung bình đối với nền kinh tế Việt Nam

NGÔ TUẤN NGHĨA

K inh tế Việt Nam đê đạt tới trình độ một nước có thu nhập trung bình (thấp) thể hiện

ở chỉ số GDP bình quđn đầu người đạt mức 1000 USD Để Uượt qua được mức thu nhập trung bình năy uò tăng tốc trong giai đoạn tới, đòi hỏi sự tâi cấu trúc toằn điện nín binh

tế theo mô hình tăng trưởng mới thay thế mô hình dựa uăo tăi nguyín uă nhđn công rẻ như giai

doan vita qua Bai viĩt phan tích một số nghịch lý trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay uă gợi ý một số giải phâp để uượt “bẫy thu nhập trung bình ” trong những năm tới

1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam -

trạng thâi lớn lín về lượng với

chất lượng tăng trưởng thấp

Với tâc động của đường lối Đổi mới của

Đảng, cùng với sự nỗ lực của toăn dđn, trong

25 năm (1986-2010), mặc dù chịu tâc động

không nhỏ của câc cuộc khủng hoảng tăi

chính tiển tệ, khủng hoảng kinh tế khu vực vă thế giới, song nhìn chung tốc độ tăng trưởng

GDP của nền kinh tế Việt Nam đạt được những thănh tựu đâng tự hăo Đó lă tỷ lệ tăng trưởng khâ trong suốt hơn hai thập kỷ

HÌNH 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới

12 ¬

1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

T T T T T T T T T T T

Nguồn: Tổng cục Thống kí- Niín giâm Thống kí năm 2009

Nhờ tốc độ tăng trưởng GDP như vậy đê

đem lại một sự cải thiện khâ ngoạn mục

trong thu nhập tính theo tiíu chí GDP bình

quđn đầu người Với khoảng thời gian 20

năm thu nhập bình quđn đầu người của Việt

Nam tăng hơn mười lần từ mức 86

USD/ngườ/năm thời điểm 1988 lín 1.056-

USD/người/năm thời điểm 2009 Năm 2010

38

dự kiến sẽ đạt mức 1.110 USD, với mức năy, Việt Nam có thể ghi nhận đê vượt qua mức quy ước lă một nền kinh tế có thu nhập thấp, trở thănh một quốc gia có thu

nhập trung bình (thấp)

Ngô Tuấn Nghĩa, TS., Học viện Chính trị - Hănh

chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 2

Tái cấu trúc mô hình

HÌNH 2: GDP bình quân đầu người

của Việt Nam thời kỳ 1988-2009 (USD)

1200-

4.0341 056 1000-

834 800-

600-

#8 8 85 8858$8b5ẼÊ8 ae rere FENN S NNN oo oo NN NON ON 2& & &

Nguồn: Tông cục Thống kê, 2010

Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia

khác thì tốc độ tăng trưởng như vậy thật sự

chưa thể nói là đạt yêu cầu Chẳng hạn so

với Trung Quốc, trong 30 năm từ 1978 đến

2008 có tới 16 năm nền kinh tế của nước này

tăng trưởng từ 10% -15%/năm (là tốc độ

tăng trưởng chưa bao giờ chúng ta đạt được),

13 năm tăng trưởng từ 8% -10%/năm, duy

chỉ có 3 năm là tăng trưởng dưới 8% Tương

tự như vậy, so với Hàn Quốc, trong thời gian

34 năm từ 1963 đến 1997, có 11 năm tăng

trưởng kinh tế mức 10%-14%/năm; 15 năm

tốc độ tăng trưởng từ 7% - 10%/năm và chỉ

có 8 năm là tốc độ tăng trưởng từ 4% -

7%Inăm Đối với Việt Nam thì trong 20 năm

kể từ 1988 đến 2008 chỉ có 9 năm (tức từ

1991 -2000) là tốc độ tăng trưởng đạt trung bình 7,ð%/năm, năm cao nhất 1995 chi dat mức 9,ð%, còn giai đoạn 10 năm từ 2000 đến

2010, tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ đạt

71,2%/năm Nếu theo chiến lược kinh tế xã

hội 10 năm tới thì tốc độ tăng trưởng trung

bình của Việt Nam chỉ đạt khoảng 7%/năm'

Rõ ràng là không thể có sự đột phá trong chu kỳ 10 năm tới nếu không có sự thay đổi căn bản về cấu trúc mô hình tăng trưởng

Nghiên cứu sâu vào cấu trúc của mô

hình tăng trưởng hiện nay của nước ta cho thấy còn rất nhiều yếu kém Dễ nhận thấy

nhất là tình trạng nền kinh tế mới đạt

trình độ tăng về quy mô theo chiều rộng, còn chất lượng tăng trưởng lại rất thấp

Đặc điểm này thể hiện rất rõ trên các phương diện, cụ thể là:

1.1 Cơ cấu lạc hậu trên toàn bộ nền binh tế cũng như cơ cấu nội bộ từng

ngành kinh tế chuyển dịch cơ cấu

binh tế chậm

HINH 3: Cơ cấu (%GDP) và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2009

50 ¬

40 4

30 +

20 +

; ° 1990 | 1995 | 1997 | 2000 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 2008 | 2009

—— Nông nghiệp | 37.74 27,18 | 25,53 | 23,24 | 23.03 | 2254 | 21,08 | 20,9 204 | 20,23 | 21,99 | 20,66

—O— Công nghiệp | 23,63 28,76 | 32,08 | 36,73 | 38,49 | 39,47 | 40,2 412 | 4156 | 4161 | 39.91 | 40,24

—fH— Dich vu 38,59 | 44,06 | 42,15 | 36,63 | 38,48 | 37,99 | 38,2 38,1 381 | 3814 | 381 39,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 16-9-2010, tr 42

39

Trang 3

Tái cấu trúc mô hình

Hình 3 cho thấy, hiện nay tỷ trọng nông

nghiệp trong GDP của Việt Nam vẫn còn

rất cao (trên 20%), trong khi công nghiệp

chưa đạt hoặc giao động ở mức 40% và

ngành dịch vụ cũng chỉ đạt mức xấp xi

40% GDP Sự lạc hậu này có thể nhận ra

ngay khi so với một số nước xung quanh

Việt Nam, chẳng hạn Thái Lan, tỷ trọng

nông nghiệp trong GDP của nước này hiện

chỉ dao động mức 10%, công nghiệp và

dịch vụ xấp xỉ 90% GDP trong đó, dịch vụ

chiếm 46% GDP; hoặc so với Trung Quốc

cũng vậy, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP

của nước này hơn 12% còn công nghiệp và

dịch vụ xấp xỉ 88% GDP Nếu xét về tỷ

trọng cơ cấu kinh tế trong suốt hơn 20

năm qua và đặc biệt là quan sát đồ thị xu

hướng phản ánh sự biến đổi về tỷ trọng cơ

cấu giữa các ngành công nghiệp, nông

nghiệp và dịch vụ thì có thể thấy tốc độ

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam

là đặc biệt chậm, đường xu hướng gần như

đi ngang (công nghiệp và dịch vụ), nông

nghiệp giảm không đáng kể Trong 5 năm

gần đây nhất 2005-2009 tốc độ chuyển

dịch cơ cấu nông nghiệp trong GDP chỉ đạt

0,2%, mỗi năm trung bình chỉ chuyển dịch

0,04% Về mặt số học tỷ lệ chuyển dịch này

coi như không thay đổi Xét riêng trong

ngành dịch vụ thì cấu trúc nội bộ ngành của khu vực dịch vụ Việt Nam đang tập

trung chủ yếu vào dịch vụ truyền thống”

Đó là dịch vụ về phân phối thương mại chiếm tỷ trọng lớn (14,32%), các ngành dịch vụ có tác dụng lan tỏa và thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế như tín dụng ngân hàng (1,92%), dịch vụ chuyển giao công

nghệ còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,65%) HÌNH 4: Cấu trúc tỷ trọng (%) nội ngành dịch vụ của Việt Nam năm 2009 (tỷ

trọng toàn ngành 39,1% GDP)

Văn hóa thể thao 0,41

Y tế 1,28

Giáo dục đào tạo 2,66

Quản lý nhà nước 2,86

Kinh doanh tư vấn 3,66

Khoa học và công nghệ

0,64

Tai chinh, tin dung 1,92 Vận tải, bưu điện 4,45

Đảng, đoàn thể 0,13

Phục vụ cộng đồng 2,06

Làm thuê tại hộ 0,18

Thương mại 14,32

SS

Khach san, nha hang

Nguồn: Báo cáo kinh

Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp Việt

Nam dựa chủ yếu vào các sản phẩm của

các ngành khai thác tài nguyên thiên

nhiên như dầu mỏ, than đá, khai thác

quặng và xuất khẩu sản phẩm thô, tỷ

trọng sản phẩm công nghiệp trong nhóm

hàng xuất khẩu hầu như không có sự tăng

trưởng đột phá (luôn dao động xung quanh

40

tế xã hội năm 2009

mức 53% giá trị xuất khẩu?) Trong cơ cấu giá trị hàng công nghiệp của Việt Nam thì

tỷ trọng ngành dựa vào tài nguyên thô

luôn chiếm ưu thế tuyệt đối

2 Nguyễn Hồng Sơn, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số

tháng 9-2010

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

Trang 4

Tái cấu trúc mô hình

HÌNH 5: Cơ cấu (%) giá trị sản phẩm công nghiệp Việt Nam

100%

80%+

60%-

40%-

El Tổng ngành dựa vào tài nguyên thô

và sử dụng công nghệ thấp

Ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao

Ngành sử dụng công nghệ thấp

LINgành dựa vào tài nguyên thô

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 T 2009 Ý

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009

Hình 5 cho thấy ngành sản phẩm công

nghiệp dựa vào tài nguyên thô và dựa trên

công nghệ thấp của nước ta luôn chiếm trên

713% cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp

trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008

Tính riêng khu vực sản phẩm công nghiệp

dựa trên khai thác tài nguyên thô luôn Ở

mức trên 50% cơ cấu giá trị sản phẩm Số

giá trị sản phẩm dựa trên công nghệ trung

bình và cao ở Việt Nam mới chỉ chiếm chưa

đầy 25% trong suốt thập kỷ đầu thế kỷ XXI

1.9 Nghịch lý trong mô hình đầu tư cùng đầu tư nhiều hiệu quả càng

thấp

Trong suốt 10 năm từ 1998 đến 2009, tốc

độ cũng như quy mô đầu tư phát triển trên phạm vi toàn xã hội không ngừng tăng lên

Trong khi hiệu quả đầu tư thu được lại có

xu hướng giảm nhanh

HÌNH 6: Quy mô vốn đầu tư phát triển của Việt Nam (tỷ đồng)

800.0004"

700.000-

600.000-

500.000-

400.000-

300.000-

200.000-

100.000- 0.000-

1998 1999 2000 2001 2002

2003 2004 2005 2006 2007

708.800 616.700

532.093

404.712 343.135 290.927

2008 2009

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009-2010, 1" ———- tr 71

3 Tạp chí Tài chính, số tháng 9 năm 2010, tr 34

41

Trang 5

Tái cấu trúc mô hình

Xét về tỷ lệ quan hệ giữa tỷ lệ vốn đầu tư

so với GDP thì tỷ lệ này cũng không ngừng

HÌNH 7: Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%)

tăng lên theo thời gian trong suốt mười năm

từ 1998 -2009

32,8 35,4

1998 1999 2000 2001 2002 2003

T T T T T

2005 2006 2007 2008

—`

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009

HÌNH 8: Chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991-2009

— hìC?

1991-1996 1996-2000 2001-2003 2004-2006 2007-2008 2009

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009

Điều rất đáng quan ngại trong mô hình

đầu tư của Việt Nam là chỉ số ICOR toàn nền

kinh tế tăng dần đều trong các năm, xét

trong tổng thể 20 năm (từ 1991 đến 2009) thì

chỉ số ICOR của Việt Nam tăng gấp 2 lần

Xét riêng lĩnh vực công nghiệp — xây dựng thì

hiệu quả đầu tư cũng rất kém Bình quân chỉ

BANG 1: Hiệu quả đầu tư vào công nghiệp - xây dung

số ICOR khu vực này giai đoạn 2000-2008 là 7,49 tăng hơn gấp đôi trong 8 năm Số vốn

đầu tư/GDP cho khu vực công nghiệp xây

dựng có xu hướng tăng lên, trong khi GDP

thu được/vốn đầu tư có xu hướng giảm xuống, kết quả này không đi liền với tốc độ gia tăng

tỷ lệ vốn đầu tư/GDP cho khu vực này

Tốc độ tăng GDP | Tỷ lệ vốn đâu | Vốn đầu tưGDP GDP/Vốn đầu tư ICOR ngành (%) tu/GDP tang (déng/déng) (đồng/đồng)

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam — Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009 -2010, tr 49

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

Trang 6

Tái cấu trúc mô hình

Số liệu bảng 1 cho thấy hiệu quả đầu tư

vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng của Việt

Nam là có vấn để Trong khi tốc độ tăng tỷ

trọng đầu tư/GDP ngày càng cao thì hiệu quả

GDP/xốn đầu tư lại càng thấp và chỉ số ICOR

ngày càng cao Đây thực sự là một nghịch lý

Xét chung toàn bộ nền kinh tế thì hiệu

quả của đầu tư phát triển toàn xã hội (bao

gồm cả khu vực công và tư) cũng phản ánh

xu hướng giảm dần đều, tức tỷ lệ nghịch với

sự gia tăng về quy mô đầu tư cũng như tỷ trọng đầu tư/GDP

HÌNH 9: Hiệu quả đầu tư của Việt Nam

2,46

0,5 +

—@— Dé ting I đồng GDP phai dau tu (đông)

~- Một đồng vốn đầu tư tạo ra

GDP (đông)

0 T T T T T T T

4998 1999 2000 2001 2002 , 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, đd, tr.71

Quan sát hình 9 cho thấy, trong khi chúng

ta phải mất nhiều đồng vốn đầu tư hơn để đầu

tư, thì giá trị sản lượng thu được GDP lại

giảm dần đều Điều nay có nhiều người cho

rằng do trong thời gian gần đây chúng ta phải

đầu tư nhiều vào các công trình trọng điểm,

vào hạ tầng nên hiệu quả vốn đầu tư chưa

phát huy ngay được, nên suất đầu tư cao mà

hiệu quả đầu tư thấp Cách hiểu như vậy thực

chất là ngụy biện và tự lừa dối mình Bởi lẽ

trong một hai năm thì có thể được, song trong

cả thời gian 10 năm thì lập luận đó là không

chấp nhận được

1.8 Càng hội nhập sâu còng xa mục

tiêu mong đợi

Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới

2010 (WEF) thi chi s@ canh tranh của Việt

Nam năm 2010, vị trí xếp hạng của Việt Nam

được cải thiện từ vị trí thứ 7ð lên vị trí 59

trong tổng số 139 quốc gia được đưa vào bảng

xếp hạng Các nhân tố chi tiết Việt Nam được

xếp ở vị trí khá gồm: tiền lương: và năm năng

suất hạng 4; ty lệ tiết kiệm quốc gia 17; mức

độ tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

động (20); quy mô thị trường nước ngoài (29); đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ (31); quy mô thị trường nội địa (89) Tuy nhién diéu đáng bàn ở chỗ chỉ số cạnh

tranh tăng bậc, song về chỉ số môi trường kinh doanh quan trọng hơn lại tụt bậc, một số tiêu chí Việt Nam được đánh giá rất thấp như:

mức độ bảo vệ các nhà đầu tư (133); gánh

nặng thủ tục hành chính (120); chất lượng cơ

sở hạ tầng (123); năng lực kiểm toán và tiêu

chuẩn báo cáo (119); thời gian thành lập doanh nghiệp (118); mức độ sẵn có của công

nghệ tiên tiến (102) Trong đó có những rào

cản căn bản hàng đầu về năng lực cạnh tranh là: khả năng tiếp cận vốn, lạm phát, mức độ

ổn định thấp của chính sách, lực lượng lao

động chưa được đào tạo đầy đủ và cơ sở hạ tầng hạn chế Điều rất đáng chú ý là môi trường kinh doanh của Việt Nam chỉ được

đánh giá là khá hơn một số ít quốc gia nghèo

khó ở Châu Phi, Nam Mỹ hay Cămpuchia'

4 Tạp chí Hồ sơ và sự kiện, chuyên san của Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 17-9-2010, tr 37

43

Trang 7

Tái cấu trúc mô hình

Trong cơ cấu FDI vào Việt Nam có tới

70% -7ð% kim ngạch xuất khẩu là khoáng sản thô, sản phẩm gia công, lắp ráp giản đơn, hàm lượng giá trị gia tăng thấp

HÌNH 10: Xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong kim ngạch xuất khẩu (%)

30 4 24,4

20 4

40 4

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 215 (3151), ngày 8-9-2010

Nhìn vào tốc độ tăng xuất khẩu trong

hình 10, về hình thức có thể phấn khởi, tuy

nhiên khi phân tích thực chất cấu trúc thu

nhập trong nguồn thu thực tế đóng góp cho

ngân sách thì vấn đề lại cần được nhìn nhận

tinh táo hơn Đó là 50% -ð5 % giá trị hàng

hóa xuất khẩu là nguyên liệu nhập khẩu, lợi

nhuận chuyển ra nước ngoài của nhà đầu tư

30% -35%, còn lại khoảng 10 -15% là các chi

phí, thu nhập nằm lại Việt Nam Một mức

đóng góp còn rất thấp so với yêu cầu của

chúng ta Thực chất các doanh nghiệp nước

ngoài đầu tư vào Việt Nam cần trước hết là

lợi nhuận chứ không phải giúp đỡ Việt Nam

thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa Đây

là điều cần nhận thức cho đúng Ví dụ minh

chứng cho thực tế này là chúng ta đã phải

hy sinh hai thập kỹ với rất nhiều ưu đãi cho

hơn mười hãng ô tô nước ngoài thực hiện

kinh doanh ở Việt Nam, ngõ hầu xây dựng

được một nền sản xuất công nghiệp phụ trợ

và tiếp thu công nghệ sản xuất ô tô để thúc

đẩy sản xuất trong nước, tuy nhiên kết quả

trong thời gian ấy hãng ô tô nào có tỷ lệ nội

địa hóa cao nhất mới đạt 7% (Toyota) giá trị

xe so với tỷ lệ cam kết là sau 10 năm phải

đạt tỷ lệ nội địa hóa là 30%, còn lại rất

nhiều hãng ô tô khác mới chỉ đạt 2% - 3%

Nghĩa là phần Việt Nam thu được cơ bản chỉ

có thu nhập cho người lao động và thuế Xét

trong mối tương quan với các khu vực doanh

nghiệp khác thì mức đóng góp của khu vực

FDI vào thu ngân sách cũng chỉ ở mức độ

44

trung bình Theo bảng xếp hạng V1000 của các chuyên gia nghiên cứu của Vietnam report công bố ngày 23-9-2010 thì Top 1000

doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất

Việt Nam chủ yếu vẫn là các tập đoàn và

tổng công ty nhà nước Top 10 doanh nghiệp nhà nước đứng đầu bảng đóng góp 25.000 tỷ đồng cho ngân sách, trong khi

Top 10 doanh nghiệp tư nhân đóng góp hơn

5.500 tỷ đồng và 10 doanh nghiệp hàng đầu

khu vực FDI đóng góp chỉ đạt 7.300 tỷ

đồng”, tức chưa bằng 1/3 so với 10 doanh nghiệp nhà nước hàng đầu và chưa bằng 1⁄4

so với khu vực doanh nghiệp trong nước Hơn nữa, xét về quan hệ lợi ích với người lao động thì khu vực FDI hiện là bộ phận thực

hiện ký kết thỏa ước lao động tập thể với

người lao động ở mức trung bình thấp, chỉ có

40% tổng số doanh nghiệp FDI thực hiện ký kết thỏa ước với người lao động chỉ nhỉnh hơn 15% so với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong khi đó so với doanh nghiệp nhà

nước la 96%°

Về mức độ tập trung vốn của các dự an FDI

vào Việt Nam trong hai thập kỹ qua, số vốn đổ

dồn vào lĩnh vực bất động sản chiếm phần lớn

và với số lượng vốn trung bình/1 dự án lón

nhất

5 Thời báo kinh tế Việt Nam số 229 ngày 24 -9-

6 Báo cáo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,

2009

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

Trang 8

Tái cấu trú ¡ 6âu trúc mö ninh ô hình

BANG 2: Trinh độ tích tụ vốn trong các dự án FDI giai đoạn 1988 -2009

- Vốn trung bình/dự án ở Xoêy Tổng vốn dau tu dan

Lĩnh vực (triệu USD) iii ký (tỷ USD) °

_ Công nghiệp chế biến, chế tạo 13/2 6718 | —_ 88,6

Thong tin va truyén thong 85 7 545 fl 4, 65_ ¬

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư, 2009

Số liệu bảng 2 cho thấy, trong hơn hai

mươi năm qua số vốn đầu tư nước ngoài

(FDI) vao lĩnh vực bất động sản có mức

trung bình dự án cao nhất 123 triệu USD/dự

án Với số lượng 312 dự án nhưng lĩnh vực

bất động sản chiếm tới 23,6% tổng số vốn

đầu tư nước ngoài Trong khi số dự án vào

lĩnh vực công nghiệp sản xuất là hơn 6718

dự án (tức gấp 20 lần so với số lượng dự án

đầu tư vào bất động sản) song số vốn chỉ

chiếm xấp xi 50% tổng số vốn đầu tư nước

ngoài vào Việt Nam (xét về tỷ trọng chỉ gấp

đôi so với lĩnh vực bất động sản) và mức vốn

trung bình dự án chỉ bằng 1/10 so với mức

trung bình dự án đầu tư vào bất động sản

Điều này thể hiện rằng hiện nay số vốn FDI

vào Việt Nam cơ bản nhằm khai thác nguồn

tài nguyên đất đai, hàm lượng đầu tư vào

lĩnh vực công nghiệp không đáp ứng mong

đợi của chúng ta Lãnh vực mà chúng ta

mong muốn nhiều như nông nghiệp hay

khoa học công nghệ, giáo dục thì số vốn tích

tụ cũng như số dự án lại nằm ở cuối cùng

bảng tổng sắp Số vốn và số dự án đầu tư

vào các lĩnh vực này là không đáng kể

Chẳng hạn vốn vào lĩnh vực khoa học công

nghệ chỉ chưa đầy 600 triệu USD, lĩnh vực

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

nông nghiệp trong hơn hai mươi năm mới đạt mức 3 tỷ USD, một son số quá thấp so với

mong đợi Đây là vấn đề rất đáng quan tâm nếu không có chiến lược tái cơ cấu thu hút đầu

tư tốt thông Hán các chính sách ưu đãi một cách có chủ ý”, thì rốt cuộc mục tiêu tiếp thu

thành tựu lực lượng sản xuất thế giới để nâng

cao trình độ lực lượng sản xuất trong nước sẽ thất bại Rất nhiều doanh nghiệp FDI khai

thác triệt để yếu tố lao động rẻ và sự “lang man trong quan ly nguồn lực đất đa?” để sản xuất và xuất khẩu bằng công nghệ kém hiện

đại, các doanh nghiệp chẳng những thu lãi

trong thị trường Việt Nam mà khai thác triệt

để cơ hội cho các công ty mẹ ở chính quốc khi tính phí thiết kế cao, sở hữu bản quyền, tư làm cho đóng góp thực vào GDP nước ta đang bị méo mó, có tới hơn 50% doanh nghiệp

FDI thông báo thua lỗ, tại Thành phố Hồ Chí

Minh có tới 68% doanh nghiệp FDI trong tổng

số 9.730 doanh nghiệp báo cáo thua lỗ, thậm

7 Trên thực tế, trong thời gian qua chúng ta đã ưu đãi tràn lan và tính định hướng trong ưu đãi cơ bản nhằm vào khu vực bất động sản và công nghiệp gia công

và đang làm biến dạng nền nông nghiệp bền vững do phải hy sinh quá nhiều đất nông nghiệp màu mỡ cho những dự án lắp ráp này!

45

Trang 9

Tái cấu trúc mô hình

chí thua lỗ nhiều năm liền, song trên thực tế

họ vẫn mở rộng sản xuất và lợi nhuận vẫn

chảy về chính quốc!

Về thương mại quốc tế, trong suốt hơn 20

năm qua, Việt Nam luôn ở trong tình trạng

nhập siêu Đành rằng về mặt lý thuyết cũng

như thực tế, một nướè đang phát triển thì nhập

siêu có xu hướng tăng là dấu hiệu bình thường

Nhưng đối với Việt Nam đây lại là vấn đề không

bình thường Bởi lẽ, quy mô ngoại tệ dùng cho

nhập khẩu lại dành tuyệt đối vào các mặt hàng

tiêu thụ như: xăng dầu, ô tô, xe máy và nguyên liệu phục vụ gia công cho nước ngoài Điều này

cho thấy mô hình tăng trưởng của chúng ta thời gian qua là mô hình tiêu thụ hàng hóa của nước

ngoài, chứ không phải do năng lực sản xuất nội

sinh trong nước, nếu không sớm tái cấu trúc lại

thì ngưỡng giới hạn của sự kiệt quệ sẽ là điều báo trước dễ nhận thấy và mục tiêu cất cánh

trong chu kỳ 10 năm tới sẽ hết sức khó khăn BANG 3: Quy mô ngoại tệ cho các ngành hàng nhập khẩu cơ bản (tỷ USD)

Năm 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 _Máy móc thiết bị 2,00 | 2,57 | 2,70 | 3,79 | 5,40 | 5,24 | 5,28 | 6,63 | 10,37 | 13,10 | 12,36

“Xing dau ( (quy đi đối) - 14,8 16,9 | 18,1 | 19,8 | 19,9 | 22,1 | 22,8 | 22,5 | 264 | 258 | 254 Ngu anh da gidy | 1,09 | 1,42 | 1,59 | 1,71 | 2,03 | 2,25 | 2,28 | 195 | 2,15 | 2,35 | 1,93

Ö tô + Xe máy 0,51 | 115 | 1/68 | 127 | L67 | 1,35 | 1 62 1,26 | 2,17 | 3,53 | 3,05

Vai cho may gia ‘cong 0,71 | 0,76 | 0,88 | 1,52 | 1,80 | 2,06 | 2.47 | 2,94 | 399 | 445 | 422

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, đá, tr 77, và tính toán quy đổi (làm tròn) của tác giả

Như vậy, xét về con số tuyệt đối, lượng

ngoại tệ dành cho nhập khẩu máy móc thiết

bị của toàn bộ nền kinh tế trong 10 năm qua

luôn chỉ chiếm chưa đầy 10% kim ngạch ngoại

tệ dành cho nhập khẩu các mặt hàng khác

như xăng dầu, nguyên liệu phục vụ gia công, ô

tô xe máy Riêng đối với ngành dệt may, năm

2009 xuất khẩu được 9,1 tỷ USD thì nguyên

liệu gồm bông, sợi, vải nhập đầu vào đã xấp xỉ

7 ty USD Nghia là kim ngạch ròng Việt Nam

chỉ thu được khoảng 2/7 tỷ USD từ xuất khẩu dệt may mà thôi Với cấu trúc mặt hàng nhập khẩu như trên, thâm hụt thương mại của Việt

Nam là vấn đề hết sức không bình thường và tiềm ẩn nhiều hiểm họa!

1.4 Tăng trưởng không kèm theo

giảm bất bình đẳng xã hội

Trên thực tế không khó nhận ra mức độ

giảm nghèo còn kém bền vững và sự chênh

lệch thu nhập ngày càng gia tăng

BANG 4: Tỷ lệ hộ nghèo (%) và khoảng cách giàu nghèo năm 2009

Năm | 2004 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009

| Cả nước [18,1 [15,47 [ 14.75 [ 13,40 | 12,30 Chia theo

Nông thôn 21/2 | 180 | 17,7 | 162 | 148

Đồng bằng sông Hồng 12.7 | 10.0 | 95 “77

_ Trung du va mién phia Bac 29,4 | 27,5 | 26,5 | 23,5

Bac Trung Bộ và duyên hải miễn Trung 25, 3 | 222 | 21,4 19, 2 17,6

Đồng bằng Sông Cửu Long 153 | 13,0 | 124 | 11,4 | 104

2 Chénh lệch thu nháp bình quán đầu người (khoảng cách giàu nghèo-số lần)

Thành thi/nông thôn 2,62 | 2,26 | 2,16 | 2 ,09 2 ray Vùng cao nhất/vùng thấp nhất - 2,12 | 3,15 314 2,86 | 2 70 Nhom thu nhdp cao nhat/thdp nhất 6,99 | 810 | 834 | 840 | 897

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2010

46

8 Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số tháng 5 năm 2010, tr 38

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

Trang 10

Tái cấu trúc mô hình

Số liệu trong bảng 4 cho thấy tốc độ

giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành

thị và nông thôn diễn ra rất chậm trong

vòng 15 năm từ 1995 đến 2009 Trong

khoảng thời gian đó mức độ giảm khoảng

cách chênh lệch thu nhập bình quân đầu

người chỉ đạt 0,51 lần, trong khi chênh lệch

thu nhập bình quân đầu người giữa vùng

cao nhất và vùng thấp nhất lai tang 0,58

lần và chênh lệch giữa nhóm xã hội có thu

nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất

tăng 2 lần Số liệu phản ánh rằng trong

thời gian qua, tăng trưởng của chúng ta

chưa thực sự đi liền với giảm bất bình đẳng

xã hội

1.5 Tăng trưởng không nóng nhưng

cạn kiệt tài nguyên nhanh va 6

nhiễm môi trường nặng nề

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu

khoa học thì nhìn chung trong vòng 20 năm

tăng trưởng vừa qua (mặc dù không cao và

chưa thể coi là tăng trưởng nóng) chúng ta

đã làm cạn kiệt tới hơn 50% tài nguyên

rừng, hơn 40% nguồn dầu mỏ, hơn 80%

nguồn khoáng sản than đá và hơn 85%

nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm,

hơn 20% quỹ đất nông nghiệp ở đồng bằng

Đây là một hiện thực hết sức báo động, cần

phải có cách tính toán lại ngay, nếu không

sẽ là hậu họa rất khó lường trong chu kỳ

phát triển 20 năm tới

Đối với vấn đề môi trường, Việt Nam đã

phải trả giá không phải bằng một hoặc hai

hệ thống hồ ao, vài kênh mương bị ô nhiễm,

mà bằng vô số ao hồ bị ô nhiễm do nước

thải công nghiệp và bằng cả hệ thống

những sông lớn bị “bức tử” gây ra sự thiệt

hại về kinh tế là không thể tính toán hết

được Đó còn chưa kể tới hiện quá nhiều

dòng sông “đang chết” và hậu họa cũng như

phí tổn sẽ khó tính toán được và các thế hệ

sau có lẽ vẫn còn phải chịu đựng

Tựu trung lại, bên cạnh một số thành

tựu đáng ghi nhận, song có thể khái quát

những nghịch lý trong mô hình tăng trưởng

kinh tế của Việt Nam trong hơn hai mươi

năm qua là: mô hình tăng trưởng dựa trên

Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010

nguồn lực nhân công rẻ, khai thác tài nguyên xuất khẩu sản phẩm thô, triệt để lợi dụng đất đai, kết cấu hạ tầng nói riêng

và trình độ lực lượng sản xuất nói chung

lạc hậu, năng suất lao động xã hội và sức cạnh tranh thấp, quan hệ sản xuất chưa

tiến bộ, mô hình tăng trưởng tự phát

chuyển biến thành xã hội tiêu thụ

Xét về nguyên nhân của những nghịch

lý trên có thể kể ra gồm rất nhiều, cả

nguyên nhân chủ quan, cả nguyên nhân

khách quan; trong đó nguyên nhân yếu kém từ phía chủ quan là cơ bản

Thứ nhất, thực hiện công nghiệp hóa,

thúc đẩy tăng trưởng theo kiểu phong trào

Chính vì chạy theo phong trào nên kết quả

là nguồn lực đầu tư của chúng ta bị xé vụn,

bị lãng phí, nên suất đầu tư cao và càng đẩy mạnh đầu tư càng kém hiệu quả

Tính phong trào còn thể hiện đậm nét

trong thu hút đầu tư nước ngoài Do thực hiện phân cấp đầu tư và dành quyền chủ động cho thu hút đầu tư tại các địa phương,

nên xảy ra phổ biến hiện tượng các địa

phương đua nhau “trải thảm đỏ mời gọi các nhà đầu tư”, ưu đãi đến mức khó có thể ưu đãi hơn được để mời gọi nhà đầu tư mà

không biết cụ thể nhà đầu tư đó thực sự có tiém lực hay không Hậu quả là có quá

nhiều dự án treo, trong khi đã lấy đi diện

tích đất của khu vực nông nghiệp mà không

có sản phẩm đầu ra, gây ra khoảng trống thu nhập xã hội và không có việc làm, nên

không đem lại sự cải thiện đột phá cho cu dan nông nghiệp cũng như làm tăng nguồn

của cải Chạy theo số lượng cho nên đã hy

sinh rất nhiều tiêu chuẩn về môi trường, về

trình độ công nghệ mục tiêu tiếp thu công nghệ và tỉnh hoa quản lý cho đến nay gần

như chưa với tới được

Thứ hai, lỗ hồng hệ thống trong thể chế quản lý đầu tư phát triển Lỗ hổng lớn nhất

có thể thấy là cơ chế chịu trách nhiệm

không cụ thể Chính vì quy trách nhiệm

không rõ ràng nên rất nhiều dự án được thực hiện song không hiệu quả nhưng chủ

thể thực hiện tổ chức, điều hành, triển khai

47

Ngày đăng: 30/12/2015, 01:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH  1:  Tốc  độ  tăng  GDP  của  Việt  Nam  trong  thời  kỳ  Đổi  mới - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
1 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới (Trang 1)
HÌNH  2:  GDP  bình  quân  đầu  người - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
2 GDP bình quân đầu người (Trang 2)
Hình  3  cho  thấy,  hiện  nay  tỷ  trọng  nông - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
nh 3 cho thấy, hiện nay tỷ trọng nông (Trang 3)
Hình  5  cho  thấy  ngành  sản  phẩm  công - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
nh 5 cho thấy ngành sản phẩm công (Trang 4)
HÌNH  5:  Cơ  cấu  (%)  giá  trị  sản  phẩm  công  nghiệp  Việt  Nam - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
5 Cơ cấu (%) giá trị sản phẩm công nghiệp Việt Nam (Trang 4)
HÌNH  7:  Tỷ  lệ  vốn  đầu  tư/GDP  (%) - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
7 Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%) (Trang 5)
HÌNH  8:  Chỉ  số  ICOR  của  Việt  Nam  giai  đoạn  1991-2009 - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
8 Chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991-2009 (Trang 5)
HÌNH  9:  Hiệu  quả  đầu  tư  của  Việt  Nam - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
9 Hiệu quả đầu tư của Việt Nam (Trang 6)
HÌNH  10:  Xuất  khẩu  của  khối  doanh  nghiệp  FDI  trong  kim  ngạch  xuất  khẩu  (%) - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
10 Xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong kim ngạch xuất khẩu (%) (Trang 7)
Bảng  tổng  sắp.  Số  vốn  và  số  dự  án  đầu  tư - Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế việt nam
ng tổng sắp. Số vốn và số dự án đầu tư (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w