TAI CO CAU KINH TẾ Tai cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhộp trung bình đối với nền kinh tế Việt Nam NGÔ TUẤN NGHĨA K inh tế Việt Nam đê đạt tới trình độ một nước có thu
Trang 1TAI CO CAU KINH TẾ
Tai cấu trúc mô hình tăng trưởng nhằm vượt bẫy
thu nhộp trung bình đối với nền kinh tế Việt Nam
NGÔ TUẤN NGHĨA
K inh tế Việt Nam đê đạt tới trình độ một nước có thu nhập trung bình (thấp) thể hiện
ở chỉ số GDP bình quđn đầu người đạt mức 1000 USD Để Uượt qua được mức thu nhập trung bình năy uò tăng tốc trong giai đoạn tới, đòi hỏi sự tâi cấu trúc toằn điện nín binh
tế theo mô hình tăng trưởng mới thay thế mô hình dựa uăo tăi nguyín uă nhđn công rẻ như giai
doan vita qua Bai viĩt phan tích một số nghịch lý trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay uă gợi ý một số giải phâp để uượt “bẫy thu nhập trung bình ” trong những năm tới
1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam -
trạng thâi lớn lín về lượng với
chất lượng tăng trưởng thấp
Với tâc động của đường lối Đổi mới của
Đảng, cùng với sự nỗ lực của toăn dđn, trong
25 năm (1986-2010), mặc dù chịu tâc động
không nhỏ của câc cuộc khủng hoảng tăi
chính tiển tệ, khủng hoảng kinh tế khu vực vă thế giới, song nhìn chung tốc độ tăng trưởng
GDP của nền kinh tế Việt Nam đạt được những thănh tựu đâng tự hăo Đó lă tỷ lệ tăng trưởng khâ trong suốt hơn hai thập kỷ
HÌNH 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới
12 ¬
1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
T T T T T T T T T T T
Nguồn: Tổng cục Thống kí- Niín giâm Thống kí năm 2009
Nhờ tốc độ tăng trưởng GDP như vậy đê
đem lại một sự cải thiện khâ ngoạn mục
trong thu nhập tính theo tiíu chí GDP bình
quđn đầu người Với khoảng thời gian 20
năm thu nhập bình quđn đầu người của Việt
Nam tăng hơn mười lần từ mức 86
USD/ngườ/năm thời điểm 1988 lín 1.056-
USD/người/năm thời điểm 2009 Năm 2010
38
dự kiến sẽ đạt mức 1.110 USD, với mức năy, Việt Nam có thể ghi nhận đê vượt qua mức quy ước lă một nền kinh tế có thu nhập thấp, trở thănh một quốc gia có thu
nhập trung bình (thấp)
Ngô Tuấn Nghĩa, TS., Học viện Chính trị - Hănh
chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 2Tái cấu trúc mô hình
HÌNH 2: GDP bình quân đầu người
của Việt Nam thời kỳ 1988-2009 (USD)
1200-
4.0341 056 1000-
834 800-
600-
#8 8 85 8858$8b5ẼÊ8 ae rere FENN S NNN oo oo NN NON ON 2& & &
Nguồn: Tông cục Thống kê, 2010
Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia
khác thì tốc độ tăng trưởng như vậy thật sự
chưa thể nói là đạt yêu cầu Chẳng hạn so
với Trung Quốc, trong 30 năm từ 1978 đến
2008 có tới 16 năm nền kinh tế của nước này
tăng trưởng từ 10% -15%/năm (là tốc độ
tăng trưởng chưa bao giờ chúng ta đạt được),
13 năm tăng trưởng từ 8% -10%/năm, duy
chỉ có 3 năm là tăng trưởng dưới 8% Tương
tự như vậy, so với Hàn Quốc, trong thời gian
34 năm từ 1963 đến 1997, có 11 năm tăng
trưởng kinh tế mức 10%-14%/năm; 15 năm
tốc độ tăng trưởng từ 7% - 10%/năm và chỉ
có 8 năm là tốc độ tăng trưởng từ 4% -
7%Inăm Đối với Việt Nam thì trong 20 năm
kể từ 1988 đến 2008 chỉ có 9 năm (tức từ
1991 -2000) là tốc độ tăng trưởng đạt trung bình 7,ð%/năm, năm cao nhất 1995 chi dat mức 9,ð%, còn giai đoạn 10 năm từ 2000 đến
2010, tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ đạt
71,2%/năm Nếu theo chiến lược kinh tế xã
hội 10 năm tới thì tốc độ tăng trưởng trung
bình của Việt Nam chỉ đạt khoảng 7%/năm'
Rõ ràng là không thể có sự đột phá trong chu kỳ 10 năm tới nếu không có sự thay đổi căn bản về cấu trúc mô hình tăng trưởng
Nghiên cứu sâu vào cấu trúc của mô
hình tăng trưởng hiện nay của nước ta cho thấy còn rất nhiều yếu kém Dễ nhận thấy
nhất là tình trạng nền kinh tế mới đạt
trình độ tăng về quy mô theo chiều rộng, còn chất lượng tăng trưởng lại rất thấp
Đặc điểm này thể hiện rất rõ trên các phương diện, cụ thể là:
1.1 Cơ cấu lạc hậu trên toàn bộ nền binh tế cũng như cơ cấu nội bộ từng
ngành kinh tế chuyển dịch cơ cấu
binh tế chậm
HINH 3: Cơ cấu (%GDP) và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2009
50 ¬
40 4
30 +
20 +
; ° 1990 | 1995 | 1997 | 2000 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 2008 | 2009
—— Nông nghiệp | 37.74 27,18 | 25,53 | 23,24 | 23.03 | 2254 | 21,08 | 20,9 204 | 20,23 | 21,99 | 20,66
—O— Công nghiệp | 23,63 28,76 | 32,08 | 36,73 | 38,49 | 39,47 | 40,2 412 | 4156 | 4161 | 39.91 | 40,24
—fH— Dich vu 38,59 | 44,06 | 42,15 | 36,63 | 38,48 | 37,99 | 38,2 38,1 381 | 3814 | 381 39,1
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 16-9-2010, tr 42
39
Trang 3Tái cấu trúc mô hình
Hình 3 cho thấy, hiện nay tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP của Việt Nam vẫn còn
rất cao (trên 20%), trong khi công nghiệp
chưa đạt hoặc giao động ở mức 40% và
ngành dịch vụ cũng chỉ đạt mức xấp xi
40% GDP Sự lạc hậu này có thể nhận ra
ngay khi so với một số nước xung quanh
Việt Nam, chẳng hạn Thái Lan, tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP của nước này hiện
chỉ dao động mức 10%, công nghiệp và
dịch vụ xấp xỉ 90% GDP trong đó, dịch vụ
chiếm 46% GDP; hoặc so với Trung Quốc
cũng vậy, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
của nước này hơn 12% còn công nghiệp và
dịch vụ xấp xỉ 88% GDP Nếu xét về tỷ
trọng cơ cấu kinh tế trong suốt hơn 20
năm qua và đặc biệt là quan sát đồ thị xu
hướng phản ánh sự biến đổi về tỷ trọng cơ
cấu giữa các ngành công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ thì có thể thấy tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam
là đặc biệt chậm, đường xu hướng gần như
đi ngang (công nghiệp và dịch vụ), nông
nghiệp giảm không đáng kể Trong 5 năm
gần đây nhất 2005-2009 tốc độ chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp trong GDP chỉ đạt
0,2%, mỗi năm trung bình chỉ chuyển dịch
0,04% Về mặt số học tỷ lệ chuyển dịch này
coi như không thay đổi Xét riêng trong
ngành dịch vụ thì cấu trúc nội bộ ngành của khu vực dịch vụ Việt Nam đang tập
trung chủ yếu vào dịch vụ truyền thống”
Đó là dịch vụ về phân phối thương mại chiếm tỷ trọng lớn (14,32%), các ngành dịch vụ có tác dụng lan tỏa và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế như tín dụng ngân hàng (1,92%), dịch vụ chuyển giao công
nghệ còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,65%) HÌNH 4: Cấu trúc tỷ trọng (%) nội ngành dịch vụ của Việt Nam năm 2009 (tỷ
trọng toàn ngành 39,1% GDP)
Văn hóa thể thao 0,41
Y tế 1,28
Giáo dục đào tạo 2,66
Quản lý nhà nước 2,86
Kinh doanh tư vấn 3,66
Khoa học và công nghệ
0,64
Tai chinh, tin dung 1,92 Vận tải, bưu điện 4,45
Đảng, đoàn thể 0,13
Phục vụ cộng đồng 2,06
Làm thuê tại hộ 0,18
Thương mại 14,32
SS
Khach san, nha hang
Nguồn: Báo cáo kinh
Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp Việt
Nam dựa chủ yếu vào các sản phẩm của
các ngành khai thác tài nguyên thiên
nhiên như dầu mỏ, than đá, khai thác
quặng và xuất khẩu sản phẩm thô, tỷ
trọng sản phẩm công nghiệp trong nhóm
hàng xuất khẩu hầu như không có sự tăng
trưởng đột phá (luôn dao động xung quanh
40
tế xã hội năm 2009
mức 53% giá trị xuất khẩu?) Trong cơ cấu giá trị hàng công nghiệp của Việt Nam thì
tỷ trọng ngành dựa vào tài nguyên thô
luôn chiếm ưu thế tuyệt đối
2 Nguyễn Hồng Sơn, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số
tháng 9-2010
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
Trang 4Tái cấu trúc mô hình
HÌNH 5: Cơ cấu (%) giá trị sản phẩm công nghiệp Việt Nam
100%
80%+
60%-
40%-
El Tổng ngành dựa vào tài nguyên thô
và sử dụng công nghệ thấp
Ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao
Ngành sử dụng công nghệ thấp
LINgành dựa vào tài nguyên thô
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 T 2009 Ý
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009
Hình 5 cho thấy ngành sản phẩm công
nghiệp dựa vào tài nguyên thô và dựa trên
công nghệ thấp của nước ta luôn chiếm trên
713% cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008
Tính riêng khu vực sản phẩm công nghiệp
dựa trên khai thác tài nguyên thô luôn Ở
mức trên 50% cơ cấu giá trị sản phẩm Số
giá trị sản phẩm dựa trên công nghệ trung
bình và cao ở Việt Nam mới chỉ chiếm chưa
đầy 25% trong suốt thập kỷ đầu thế kỷ XXI
1.9 Nghịch lý trong mô hình đầu tư cùng đầu tư nhiều hiệu quả càng
thấp
Trong suốt 10 năm từ 1998 đến 2009, tốc
độ cũng như quy mô đầu tư phát triển trên phạm vi toàn xã hội không ngừng tăng lên
Trong khi hiệu quả đầu tư thu được lại có
xu hướng giảm nhanh
HÌNH 6: Quy mô vốn đầu tư phát triển của Việt Nam (tỷ đồng)
800.0004"
700.000-
600.000-
500.000-
400.000-
300.000-
200.000-
100.000- 0.000-
1998 1999 2000 2001 2002
2003 2004 2005 2006 2007
708.800 616.700
532.093
404.712 343.135 290.927
2008 2009
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009-2010, 1" ———- tr 71
3 Tạp chí Tài chính, số tháng 9 năm 2010, tr 34
41
Trang 5Tái cấu trúc mô hình
Xét về tỷ lệ quan hệ giữa tỷ lệ vốn đầu tư
so với GDP thì tỷ lệ này cũng không ngừng
HÌNH 7: Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%)
tăng lên theo thời gian trong suốt mười năm
từ 1998 -2009
32,8 35,4
1998 1999 2000 2001 2002 2003
T T T T T
2005 2006 2007 2008
—`
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009
HÌNH 8: Chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991-2009
— hìC?
1991-1996 1996-2000 2001-2003 2004-2006 2007-2008 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009
Điều rất đáng quan ngại trong mô hình
đầu tư của Việt Nam là chỉ số ICOR toàn nền
kinh tế tăng dần đều trong các năm, xét
trong tổng thể 20 năm (từ 1991 đến 2009) thì
chỉ số ICOR của Việt Nam tăng gấp 2 lần
Xét riêng lĩnh vực công nghiệp — xây dựng thì
hiệu quả đầu tư cũng rất kém Bình quân chỉ
BANG 1: Hiệu quả đầu tư vào công nghiệp - xây dung
số ICOR khu vực này giai đoạn 2000-2008 là 7,49 tăng hơn gấp đôi trong 8 năm Số vốn
đầu tư/GDP cho khu vực công nghiệp xây
dựng có xu hướng tăng lên, trong khi GDP
thu được/vốn đầu tư có xu hướng giảm xuống, kết quả này không đi liền với tốc độ gia tăng
tỷ lệ vốn đầu tư/GDP cho khu vực này
Tốc độ tăng GDP | Tỷ lệ vốn đâu | Vốn đầu tưGDP GDP/Vốn đầu tư ICOR ngành (%) tu/GDP tang (déng/déng) (đồng/đồng)
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam — Kinh tế Việt Nam và thế giới 2009 -2010, tr 49
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
Trang 6Tái cấu trúc mô hình
Số liệu bảng 1 cho thấy hiệu quả đầu tư
vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng của Việt
Nam là có vấn để Trong khi tốc độ tăng tỷ
trọng đầu tư/GDP ngày càng cao thì hiệu quả
GDP/xốn đầu tư lại càng thấp và chỉ số ICOR
ngày càng cao Đây thực sự là một nghịch lý
Xét chung toàn bộ nền kinh tế thì hiệu
quả của đầu tư phát triển toàn xã hội (bao
gồm cả khu vực công và tư) cũng phản ánh
xu hướng giảm dần đều, tức tỷ lệ nghịch với
sự gia tăng về quy mô đầu tư cũng như tỷ trọng đầu tư/GDP
HÌNH 9: Hiệu quả đầu tư của Việt Nam
2,46
0,5 +
—@— Dé ting I đồng GDP phai dau tu (đông)
~- Một đồng vốn đầu tư tạo ra
GDP (đông)
0 T T T T T T T
4998 1999 2000 2001 2002 , 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, đd, tr.71
Quan sát hình 9 cho thấy, trong khi chúng
ta phải mất nhiều đồng vốn đầu tư hơn để đầu
tư, thì giá trị sản lượng thu được GDP lại
giảm dần đều Điều nay có nhiều người cho
rằng do trong thời gian gần đây chúng ta phải
đầu tư nhiều vào các công trình trọng điểm,
vào hạ tầng nên hiệu quả vốn đầu tư chưa
phát huy ngay được, nên suất đầu tư cao mà
hiệu quả đầu tư thấp Cách hiểu như vậy thực
chất là ngụy biện và tự lừa dối mình Bởi lẽ
trong một hai năm thì có thể được, song trong
cả thời gian 10 năm thì lập luận đó là không
chấp nhận được
1.8 Càng hội nhập sâu còng xa mục
tiêu mong đợi
Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới
2010 (WEF) thi chi s@ canh tranh của Việt
Nam năm 2010, vị trí xếp hạng của Việt Nam
được cải thiện từ vị trí thứ 7ð lên vị trí 59
trong tổng số 139 quốc gia được đưa vào bảng
xếp hạng Các nhân tố chi tiết Việt Nam được
xếp ở vị trí khá gồm: tiền lương: và năm năng
suất hạng 4; ty lệ tiết kiệm quốc gia 17; mức
độ tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
động (20); quy mô thị trường nước ngoài (29); đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ (31); quy mô thị trường nội địa (89) Tuy nhién diéu đáng bàn ở chỗ chỉ số cạnh
tranh tăng bậc, song về chỉ số môi trường kinh doanh quan trọng hơn lại tụt bậc, một số tiêu chí Việt Nam được đánh giá rất thấp như:
mức độ bảo vệ các nhà đầu tư (133); gánh
nặng thủ tục hành chính (120); chất lượng cơ
sở hạ tầng (123); năng lực kiểm toán và tiêu
chuẩn báo cáo (119); thời gian thành lập doanh nghiệp (118); mức độ sẵn có của công
nghệ tiên tiến (102) Trong đó có những rào
cản căn bản hàng đầu về năng lực cạnh tranh là: khả năng tiếp cận vốn, lạm phát, mức độ
ổn định thấp của chính sách, lực lượng lao
động chưa được đào tạo đầy đủ và cơ sở hạ tầng hạn chế Điều rất đáng chú ý là môi trường kinh doanh của Việt Nam chỉ được
đánh giá là khá hơn một số ít quốc gia nghèo
khó ở Châu Phi, Nam Mỹ hay Cămpuchia'
4 Tạp chí Hồ sơ và sự kiện, chuyên san của Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 17-9-2010, tr 37
43
Trang 7Tái cấu trúc mô hình
Trong cơ cấu FDI vào Việt Nam có tới
70% -7ð% kim ngạch xuất khẩu là khoáng sản thô, sản phẩm gia công, lắp ráp giản đơn, hàm lượng giá trị gia tăng thấp
HÌNH 10: Xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong kim ngạch xuất khẩu (%)
30 4 24,4
20 4
40 4
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 215 (3151), ngày 8-9-2010
Nhìn vào tốc độ tăng xuất khẩu trong
hình 10, về hình thức có thể phấn khởi, tuy
nhiên khi phân tích thực chất cấu trúc thu
nhập trong nguồn thu thực tế đóng góp cho
ngân sách thì vấn đề lại cần được nhìn nhận
tinh táo hơn Đó là 50% -ð5 % giá trị hàng
hóa xuất khẩu là nguyên liệu nhập khẩu, lợi
nhuận chuyển ra nước ngoài của nhà đầu tư
30% -35%, còn lại khoảng 10 -15% là các chi
phí, thu nhập nằm lại Việt Nam Một mức
đóng góp còn rất thấp so với yêu cầu của
chúng ta Thực chất các doanh nghiệp nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam cần trước hết là
lợi nhuận chứ không phải giúp đỡ Việt Nam
thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa Đây
là điều cần nhận thức cho đúng Ví dụ minh
chứng cho thực tế này là chúng ta đã phải
hy sinh hai thập kỹ với rất nhiều ưu đãi cho
hơn mười hãng ô tô nước ngoài thực hiện
kinh doanh ở Việt Nam, ngõ hầu xây dựng
được một nền sản xuất công nghiệp phụ trợ
và tiếp thu công nghệ sản xuất ô tô để thúc
đẩy sản xuất trong nước, tuy nhiên kết quả
trong thời gian ấy hãng ô tô nào có tỷ lệ nội
địa hóa cao nhất mới đạt 7% (Toyota) giá trị
xe so với tỷ lệ cam kết là sau 10 năm phải
đạt tỷ lệ nội địa hóa là 30%, còn lại rất
nhiều hãng ô tô khác mới chỉ đạt 2% - 3%
Nghĩa là phần Việt Nam thu được cơ bản chỉ
có thu nhập cho người lao động và thuế Xét
trong mối tương quan với các khu vực doanh
nghiệp khác thì mức đóng góp của khu vực
FDI vào thu ngân sách cũng chỉ ở mức độ
44
trung bình Theo bảng xếp hạng V1000 của các chuyên gia nghiên cứu của Vietnam report công bố ngày 23-9-2010 thì Top 1000
doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất
Việt Nam chủ yếu vẫn là các tập đoàn và
tổng công ty nhà nước Top 10 doanh nghiệp nhà nước đứng đầu bảng đóng góp 25.000 tỷ đồng cho ngân sách, trong khi
Top 10 doanh nghiệp tư nhân đóng góp hơn
5.500 tỷ đồng và 10 doanh nghiệp hàng đầu
khu vực FDI đóng góp chỉ đạt 7.300 tỷ
đồng”, tức chưa bằng 1/3 so với 10 doanh nghiệp nhà nước hàng đầu và chưa bằng 1⁄4
so với khu vực doanh nghiệp trong nước Hơn nữa, xét về quan hệ lợi ích với người lao động thì khu vực FDI hiện là bộ phận thực
hiện ký kết thỏa ước lao động tập thể với
người lao động ở mức trung bình thấp, chỉ có
40% tổng số doanh nghiệp FDI thực hiện ký kết thỏa ước với người lao động chỉ nhỉnh hơn 15% so với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong khi đó so với doanh nghiệp nhà
nước la 96%°
Về mức độ tập trung vốn của các dự an FDI
vào Việt Nam trong hai thập kỹ qua, số vốn đổ
dồn vào lĩnh vực bất động sản chiếm phần lớn
và với số lượng vốn trung bình/1 dự án lón
nhất
5 Thời báo kinh tế Việt Nam số 229 ngày 24 -9-
6 Báo cáo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,
2009
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
Trang 8Tái cấu trú ¡ 6âu trúc mö ninh ô hình
BANG 2: Trinh độ tích tụ vốn trong các dự án FDI giai đoạn 1988 -2009
- Vốn trung bình/dự án ở Xoêy Tổng vốn dau tu dan
Lĩnh vực (triệu USD) iii ký (tỷ USD) °
_ Công nghiệp chế biến, chế tạo 13/2 6718 | —_ 88,6
Thong tin va truyén thong 85 7 545 fl 4, 65_ ¬
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư, 2009
Số liệu bảng 2 cho thấy, trong hơn hai
mươi năm qua số vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) vao lĩnh vực bất động sản có mức
trung bình dự án cao nhất 123 triệu USD/dự
án Với số lượng 312 dự án nhưng lĩnh vực
bất động sản chiếm tới 23,6% tổng số vốn
đầu tư nước ngoài Trong khi số dự án vào
lĩnh vực công nghiệp sản xuất là hơn 6718
dự án (tức gấp 20 lần so với số lượng dự án
đầu tư vào bất động sản) song số vốn chỉ
chiếm xấp xi 50% tổng số vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam (xét về tỷ trọng chỉ gấp
đôi so với lĩnh vực bất động sản) và mức vốn
trung bình dự án chỉ bằng 1/10 so với mức
trung bình dự án đầu tư vào bất động sản
Điều này thể hiện rằng hiện nay số vốn FDI
vào Việt Nam cơ bản nhằm khai thác nguồn
tài nguyên đất đai, hàm lượng đầu tư vào
lĩnh vực công nghiệp không đáp ứng mong
đợi của chúng ta Lãnh vực mà chúng ta
mong muốn nhiều như nông nghiệp hay
khoa học công nghệ, giáo dục thì số vốn tích
tụ cũng như số dự án lại nằm ở cuối cùng
bảng tổng sắp Số vốn và số dự án đầu tư
vào các lĩnh vực này là không đáng kể
Chẳng hạn vốn vào lĩnh vực khoa học công
nghệ chỉ chưa đầy 600 triệu USD, lĩnh vực
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
nông nghiệp trong hơn hai mươi năm mới đạt mức 3 tỷ USD, một son số quá thấp so với
mong đợi Đây là vấn đề rất đáng quan tâm nếu không có chiến lược tái cơ cấu thu hút đầu
tư tốt thông Hán các chính sách ưu đãi một cách có chủ ý”, thì rốt cuộc mục tiêu tiếp thu
thành tựu lực lượng sản xuất thế giới để nâng
cao trình độ lực lượng sản xuất trong nước sẽ thất bại Rất nhiều doanh nghiệp FDI khai
thác triệt để yếu tố lao động rẻ và sự “lang man trong quan ly nguồn lực đất đa?” để sản xuất và xuất khẩu bằng công nghệ kém hiện
đại, các doanh nghiệp chẳng những thu lãi
trong thị trường Việt Nam mà khai thác triệt
để cơ hội cho các công ty mẹ ở chính quốc khi tính phí thiết kế cao, sở hữu bản quyền, tư làm cho đóng góp thực vào GDP nước ta đang bị méo mó, có tới hơn 50% doanh nghiệp
FDI thông báo thua lỗ, tại Thành phố Hồ Chí
Minh có tới 68% doanh nghiệp FDI trong tổng
số 9.730 doanh nghiệp báo cáo thua lỗ, thậm
7 Trên thực tế, trong thời gian qua chúng ta đã ưu đãi tràn lan và tính định hướng trong ưu đãi cơ bản nhằm vào khu vực bất động sản và công nghiệp gia công
và đang làm biến dạng nền nông nghiệp bền vững do phải hy sinh quá nhiều đất nông nghiệp màu mỡ cho những dự án lắp ráp này!
45
Trang 9Tái cấu trúc mô hình
chí thua lỗ nhiều năm liền, song trên thực tế
họ vẫn mở rộng sản xuất và lợi nhuận vẫn
chảy về chính quốc!
Về thương mại quốc tế, trong suốt hơn 20
năm qua, Việt Nam luôn ở trong tình trạng
nhập siêu Đành rằng về mặt lý thuyết cũng
như thực tế, một nướè đang phát triển thì nhập
siêu có xu hướng tăng là dấu hiệu bình thường
Nhưng đối với Việt Nam đây lại là vấn đề không
bình thường Bởi lẽ, quy mô ngoại tệ dùng cho
nhập khẩu lại dành tuyệt đối vào các mặt hàng
tiêu thụ như: xăng dầu, ô tô, xe máy và nguyên liệu phục vụ gia công cho nước ngoài Điều này
cho thấy mô hình tăng trưởng của chúng ta thời gian qua là mô hình tiêu thụ hàng hóa của nước
ngoài, chứ không phải do năng lực sản xuất nội
sinh trong nước, nếu không sớm tái cấu trúc lại
thì ngưỡng giới hạn của sự kiệt quệ sẽ là điều báo trước dễ nhận thấy và mục tiêu cất cánh
trong chu kỳ 10 năm tới sẽ hết sức khó khăn BANG 3: Quy mô ngoại tệ cho các ngành hàng nhập khẩu cơ bản (tỷ USD)
Năm 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 _Máy móc thiết bị 2,00 | 2,57 | 2,70 | 3,79 | 5,40 | 5,24 | 5,28 | 6,63 | 10,37 | 13,10 | 12,36
“Xing dau ( (quy đi đối) - 14,8 16,9 | 18,1 | 19,8 | 19,9 | 22,1 | 22,8 | 22,5 | 264 | 258 | 254 Ngu anh da gidy | 1,09 | 1,42 | 1,59 | 1,71 | 2,03 | 2,25 | 2,28 | 195 | 2,15 | 2,35 | 1,93
Ö tô + Xe máy 0,51 | 115 | 1/68 | 127 | L67 | 1,35 | 1 62 1,26 | 2,17 | 3,53 | 3,05
Vai cho may gia ‘cong 0,71 | 0,76 | 0,88 | 1,52 | 1,80 | 2,06 | 2.47 | 2,94 | 399 | 445 | 422
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, đá, tr 77, và tính toán quy đổi (làm tròn) của tác giả
Như vậy, xét về con số tuyệt đối, lượng
ngoại tệ dành cho nhập khẩu máy móc thiết
bị của toàn bộ nền kinh tế trong 10 năm qua
luôn chỉ chiếm chưa đầy 10% kim ngạch ngoại
tệ dành cho nhập khẩu các mặt hàng khác
như xăng dầu, nguyên liệu phục vụ gia công, ô
tô xe máy Riêng đối với ngành dệt may, năm
2009 xuất khẩu được 9,1 tỷ USD thì nguyên
liệu gồm bông, sợi, vải nhập đầu vào đã xấp xỉ
7 ty USD Nghia là kim ngạch ròng Việt Nam
chỉ thu được khoảng 2/7 tỷ USD từ xuất khẩu dệt may mà thôi Với cấu trúc mặt hàng nhập khẩu như trên, thâm hụt thương mại của Việt
Nam là vấn đề hết sức không bình thường và tiềm ẩn nhiều hiểm họa!
1.4 Tăng trưởng không kèm theo
giảm bất bình đẳng xã hội
Trên thực tế không khó nhận ra mức độ
giảm nghèo còn kém bền vững và sự chênh
lệch thu nhập ngày càng gia tăng
BANG 4: Tỷ lệ hộ nghèo (%) và khoảng cách giàu nghèo năm 2009
Năm | 2004 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009
| Cả nước [18,1 [15,47 [ 14.75 [ 13,40 | 12,30 Chia theo
Nông thôn 21/2 | 180 | 17,7 | 162 | 148
Đồng bằng sông Hồng 12.7 | 10.0 | 95 “77
_ Trung du va mién phia Bac 29,4 | 27,5 | 26,5 | 23,5
Bac Trung Bộ và duyên hải miễn Trung 25, 3 | 222 | 21,4 19, 2 17,6
Đồng bằng Sông Cửu Long 153 | 13,0 | 124 | 11,4 | 104
2 Chénh lệch thu nháp bình quán đầu người (khoảng cách giàu nghèo-số lần)
Thành thi/nông thôn 2,62 | 2,26 | 2,16 | 2 ,09 2 ray Vùng cao nhất/vùng thấp nhất - 2,12 | 3,15 314 2,86 | 2 70 Nhom thu nhdp cao nhat/thdp nhất 6,99 | 810 | 834 | 840 | 897
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2010
46
8 Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số tháng 5 năm 2010, tr 38
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
Trang 10Tái cấu trúc mô hình
Số liệu trong bảng 4 cho thấy tốc độ
giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành
thị và nông thôn diễn ra rất chậm trong
vòng 15 năm từ 1995 đến 2009 Trong
khoảng thời gian đó mức độ giảm khoảng
cách chênh lệch thu nhập bình quân đầu
người chỉ đạt 0,51 lần, trong khi chênh lệch
thu nhập bình quân đầu người giữa vùng
cao nhất và vùng thấp nhất lai tang 0,58
lần và chênh lệch giữa nhóm xã hội có thu
nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất
tăng 2 lần Số liệu phản ánh rằng trong
thời gian qua, tăng trưởng của chúng ta
chưa thực sự đi liền với giảm bất bình đẳng
xã hội
1.5 Tăng trưởng không nóng nhưng
cạn kiệt tài nguyên nhanh va 6
nhiễm môi trường nặng nề
Theo tính toán của các nhà nghiên cứu
khoa học thì nhìn chung trong vòng 20 năm
tăng trưởng vừa qua (mặc dù không cao và
chưa thể coi là tăng trưởng nóng) chúng ta
đã làm cạn kiệt tới hơn 50% tài nguyên
rừng, hơn 40% nguồn dầu mỏ, hơn 80%
nguồn khoáng sản than đá và hơn 85%
nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm,
hơn 20% quỹ đất nông nghiệp ở đồng bằng
Đây là một hiện thực hết sức báo động, cần
phải có cách tính toán lại ngay, nếu không
sẽ là hậu họa rất khó lường trong chu kỳ
phát triển 20 năm tới
Đối với vấn đề môi trường, Việt Nam đã
phải trả giá không phải bằng một hoặc hai
hệ thống hồ ao, vài kênh mương bị ô nhiễm,
mà bằng vô số ao hồ bị ô nhiễm do nước
thải công nghiệp và bằng cả hệ thống
những sông lớn bị “bức tử” gây ra sự thiệt
hại về kinh tế là không thể tính toán hết
được Đó còn chưa kể tới hiện quá nhiều
dòng sông “đang chết” và hậu họa cũng như
phí tổn sẽ khó tính toán được và các thế hệ
sau có lẽ vẫn còn phải chịu đựng
Tựu trung lại, bên cạnh một số thành
tựu đáng ghi nhận, song có thể khái quát
những nghịch lý trong mô hình tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam trong hơn hai mươi
năm qua là: mô hình tăng trưởng dựa trên
Nghiên cứu Kinh tế số 391 - Tháng 12/2010
nguồn lực nhân công rẻ, khai thác tài nguyên xuất khẩu sản phẩm thô, triệt để lợi dụng đất đai, kết cấu hạ tầng nói riêng
và trình độ lực lượng sản xuất nói chung
lạc hậu, năng suất lao động xã hội và sức cạnh tranh thấp, quan hệ sản xuất chưa
tiến bộ, mô hình tăng trưởng tự phát
chuyển biến thành xã hội tiêu thụ
Xét về nguyên nhân của những nghịch
lý trên có thể kể ra gồm rất nhiều, cả
nguyên nhân chủ quan, cả nguyên nhân
khách quan; trong đó nguyên nhân yếu kém từ phía chủ quan là cơ bản
Thứ nhất, thực hiện công nghiệp hóa,
thúc đẩy tăng trưởng theo kiểu phong trào
Chính vì chạy theo phong trào nên kết quả
là nguồn lực đầu tư của chúng ta bị xé vụn,
bị lãng phí, nên suất đầu tư cao và càng đẩy mạnh đầu tư càng kém hiệu quả
Tính phong trào còn thể hiện đậm nét
trong thu hút đầu tư nước ngoài Do thực hiện phân cấp đầu tư và dành quyền chủ động cho thu hút đầu tư tại các địa phương,
nên xảy ra phổ biến hiện tượng các địa
phương đua nhau “trải thảm đỏ mời gọi các nhà đầu tư”, ưu đãi đến mức khó có thể ưu đãi hơn được để mời gọi nhà đầu tư mà
không biết cụ thể nhà đầu tư đó thực sự có tiém lực hay không Hậu quả là có quá
nhiều dự án treo, trong khi đã lấy đi diện
tích đất của khu vực nông nghiệp mà không
có sản phẩm đầu ra, gây ra khoảng trống thu nhập xã hội và không có việc làm, nên
không đem lại sự cải thiện đột phá cho cu dan nông nghiệp cũng như làm tăng nguồn
của cải Chạy theo số lượng cho nên đã hy
sinh rất nhiều tiêu chuẩn về môi trường, về
trình độ công nghệ mục tiêu tiếp thu công nghệ và tỉnh hoa quản lý cho đến nay gần
như chưa với tới được
Thứ hai, lỗ hồng hệ thống trong thể chế quản lý đầu tư phát triển Lỗ hổng lớn nhất
có thể thấy là cơ chế chịu trách nhiệm
không cụ thể Chính vì quy trách nhiệm
không rõ ràng nên rất nhiều dự án được thực hiện song không hiệu quả nhưng chủ
thể thực hiện tổ chức, điều hành, triển khai
47