1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng lãnh đạo liên minh chiến đấu việt nam với lào chống đế quốc mỹ xâm lược từ năm 1954 1965

137 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 839,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quan hệ đoàn kết chiến đấu keo sơn đó, Việt Nam luôn tỏ rõ trách nhiệm của mình, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, làm hết sức mình để củng cố, xây dựng liên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HẠNH

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HẠNH

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Mai Hoa

Hà Nội-2013

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI

LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO ĐẤU TRANH THỰC

HIỆN HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC

LƯỢNG CÁCH MẠNG (1954-1960)

6

1.1 Khái quát về liên minh chiến đấu Việt – Lào thời kỳ chống thực dân Pháp

xâm lược (1945-1954)

1.1.1 Yêu cầu khách quan hình thành liên minh chiến đấu Việt – Lào

1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào

1.3.2 Củng cố liên minh chiến đấu, giúp đỡ Lào phát triển lực lượng, căn cứ

địa và cùng xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn

25

25

31

Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LIÊN MINH

CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO GIAI ĐOẠN CHỐNG CHIẾN

LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

(1961-1965)

51

2.1 Tình hình Đông Dương và chủ trương của Đảng đối với liên minh

chiến đấu Việt – Lào

2.1.1 Tình hình Việt Nam và Lào

2.1.2 Chủ trương của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt – Lào

51

51

55

Trang 4

2.2 Chỉ đạo phát triển và hoạt động của liên minh chiến đấu Việt – Lào

2.2.1 Phát triển liên minh chiến đấu Lào – Việt, bảo vệ, mở rộng vùng

giải phóng

2.2.2 Phát triển liên minh chiến đấu Lào – Việt, đảm bảo tuyến vận tải chiến

lược, phối hợp giữa chiến trường hai nước

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Có chung đường biên giới, có vị trị địa lý kề cận, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, lại có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam, Lào đã có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt Tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào không chỉ có từ rất sớm, mà còn rất bền chặt Quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt – Lào luôn được Đảng Lao động Việt Nam coi trọng, coi đó là quan hệ chiến lược, có ý nghĩa sống còn với cách mạng mỗi nước Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển Trước những âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt – Lào cùng nhau đoàn kết chiến đấu giành và giữ vững nền độc lập dân tộc Trong quan hệ đoàn kết chiến đấu keo sơn đó, Việt Nam luôn tỏ rõ trách nhiệm của mình, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, làm hết sức mình để củng cố, xây dựng liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc; ngược lại, cách mạng Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng và nhân dân Lào, nhân dân Lào sẵn sàng nhường cơm sẻ áo giúp đỡ quân và dân Việt Nam Liên minh chiến đấu Việt – Lào đã mang sức mạnh to lớn cho mỗi dân tộc để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn

Như vậy, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương là một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của hai dân tộc và hiện nay là một trong những trục quan hệ quan trọng trong hệ thống quan

hệ quốc tế của Việt Nam – một mối quan hệ đặc biệt mà ở giai đoạn hiện tại tiếp tục cần được củng cố, phát triển mạnh mẽ Trên những ý nghĩa ấy, việc nghiên cứu về

sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình củng cố, xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào những năm 1954-1965, nhận thức khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, lấy đó làm cơ sở đúc rút một số kinh nghiệm quan trọng phục vụ hiện tại là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực

tiễn Với cách tiếp cận đó, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo liên

Trang 8

minh chiến đấu Việt Nam với Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1965” làm đề tài luận văn Thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Qua khảo cứu, sưu tầm tài liệu, có thể nhận thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp, hoặc về vấn đề nghiên cứu Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau:

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập

2, 1954-1975, , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975, từ tập 1 đến tập 5,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996-2000

Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999

Ba công trình trên chủ yếu đề cập đến liên minh Việt – Lào trên lĩnh vực quân sự Đồng thời, các cuốn sách đó trình bày những vấn đề về những hoạt động chủ yếu của quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm

vụ quốc tế trên chiến trường Lào, xây dựng, phát triển lực lượng quân sự, chính trị, xây dựng căn cứ kháng chiến; phối hợp với chiến trường Lào chiến đấu giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995

Lịch sử Đảng nhân dân cách mạng Lào, Ban chỉ đạo Nghiên cứu lý luận và

thực tiễn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (bản Tiếng Việt), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995

Các tác phẩm trên đề cập chủ yếu đến những bài học lớn về liên minh chiến đấu Lào – Campuchia, những sự kiện lớn về Đảng nhân dân cách mạng Lào

Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 1930-2007, Biên

soạn Trịnh Nhu, Trần Trọng Thức, Trần Văn Thức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2011 Cuốn sách được chia làm bốn phần: Phần thứ nhất: Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD,

Trang 9

nhân dân hai nước Việt Nam và Lào phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, đấu tranh giành độc lập tự do (1930-1945); Phần thứ hai: Liên minh Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975); Phần thứ ba: Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ năm

1976 đến năm 2007; Phần thứ tư: Thành quả, bài học và triển vọng Với những nội dung trên công trình có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước

Liên minh chiến đấu Việt – Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) – Lịch sử và kinh nghiệm, đề tài cấp Bộ do Viện Lịch sử Đảng,

Học viện chính trị Quốc gia chủ trì Đề tài chủ yếu trình bày các sự kiện lịch sử về liên minh Việt Nam và Lào trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổng kết những bài học kinh nghiệm về mối quan hệ này trong giai đoạn mới

Ngoài ra, những tư liệu về liên minh Việt Nam – Lào cũng được đề cập trong những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Lịch sử quân sự,…theo nhiều hướng

đề cập khác nhau Tuy nhiên, đề cập đến liên minh chiến đấu Việt – Lào dưới góc

độ Lịch sử Đảng thì chưa có một công trình nào được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt - Lào qua hai giai đoạn: 1954-1960 và 1961-1965

- Chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào những năm 1954-1965

Trang 10

- Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo từ quá trình Đảng lãnh đạo liên minh chiến đấu Việt – Lào từ năm 1954 đến năm 1965

4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo xây dựng, củng cố và phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các chủ trương, biện pháp cơ bản, quan trọng của Đảng trong lãnh đạo liên minh chiến đấu Việt – Lào; những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong quá trình phát triển của liên minh chiến đấu Việt - Lào

từ năm 1954 (khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Lào bắt đầu) đến 1965 (dấu mốc đánh bại một bước chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ) với phạm vi không gian là một số địa bàn chiến lược quan trọng thuộc lãnh thổ Việt Nam và Lào

* Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, hệ thống hoá

- Phương pháp đối chiếu, thống kê…

5 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo liên minh Việt - Lào những năm

1954-1965 với những thành công, tồn tại

- Đúc rút một số kinh nghiệm có cơ sở khoa học và thực tiễn

- Luận văn có thể sử dụng trong giảng dạy môn học lịch sử, lịch sử Đảng, một số môn học có liên quan, hoặc làm tài liệu tham khảo nghiên cứu quan hệ Việt – Lào

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

có 3 chương và 6 tiết:

Trang 11

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt – Lào đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng (1954-1960)

Khái quát tình hình cách mạng Lào và Việt Nam sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sự lãnh đạo của Đảng trong củng cố, xây dựng liên minh chiến đấu Việt – Lào giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, củng cố

và phát triển lực lượng cách mạng của hai nước

Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào giai đoạn chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ (1961-1965)

Phân tích những chủ trương, biện pháp của Đảng trong việc củng cố liên minh chiến đấu Việt – Lào giai đoạn đấu tranh chống chiến tranh đặc biệt của Mỹ, phát triển lực lượng, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Trên cơ sở những nhận xét, đánh giá về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với củng cố, xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào, đúc rút một số kinh nghiệm quan trọng có cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO TRONG ĐẤU TRANH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG

(1954-1960) 1.1 Khái quát về liên minh chiến đấu Việt – Lào thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

1.1.1 Yêu cầu khách quan hình thành liên minh chiến đấu Việt – Lào

Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương Gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, hai dân tộc đã gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Đặc biệt từ khi có sự lãnh đạo của ĐCSĐD (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) và ĐNDCM Lào, hai dân tộc đã đắp xây nên tình đoàn kết chiến đấu và mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, một truyền thống quý báu tạo nên sức mạnh vô địch đánh thắng kẻ thù xâm lược

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, để tiến hành xâm lược bán đảo Đông Dương, Pháp đã tiến đánh Việt Nam, sau đó chiếm toàn bộ Campuchia vào năm 1863, đánh chiếm Lào năm 1867 Đến năm 1893, Pháp thành lập Đông Dương thuộc Pháp và chia thành năm

xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia), thực hiện chính sách “chia để trị”

Do cùng chung một kẻ thù và chung cảnh ngộ bị xâm lược, nhân dân Việt Nam

và nhân dân Lào đã tự nguyện liên kết nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp với những hình thức khác nhau1 Đứng trước một kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh như Pháp, muốn giành được thắng lợi, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào cần phải phối hợp, phát huy sức mạnh nội lực, kết hợp với sức mạnh ngoại lực, gắn cuộc đấu

1

Ở Việt Nam, có phong trào Cần Vương (1885-1895) – phong trào xây dựng nhiều căn cứ ở vùng núi giáp biên giới Việt – Lào Ở Lào, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do ông Khi Volảlạt lãnh đạo (1900-1901) hòa chung với phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phò Càđuột (1901-1902) và cuộc khởi nghĩa ở Hạ Lào do ông Kẹo, ông Cômmađăm lãnh đạo (1901-1937) Các cuộc khởi nghĩa đã có sự liên kết với các cuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc

Xơ đăng ở Kon Tum năm 1918, của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chậu Phạpắtchây lãnh đạo, lan rộng ra ở nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam Mặc dù phát triển khá mạnh mẽ, nhưng cuối cùng những cuộc khởi nghĩa

Trang 13

tranh giải phóng dân tộc mỗi nước với sự nghiệp chung của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Ngay từ rất sớm, trong những bài báo đầu tiên viết về Đông Dương vào năm

1921, Nguyễn Ái Quốc đã đặt niềm tin vào sức mạnh quật khởi của quần chúng nhân dân1, nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc Đông Dương chính là sự biệt lập, dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau trong việc phối hợp hành động đấu tranh chống kẻ thù chung Từ đó, Hồ Chí Minh dành mối quan tâm đặc biệt đến Lào – người láng giềng thân thiết của Việt Nam, xác lập nguyên tắc căn bản và nhất quán trong phương pháp xử lý mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào cũng như quan hệ giữa cách mạng ba nước Đông Dương Theo Hồ Chí Minh, do có mối quan hệ khăng khít về địa lý, hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng thì cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam mới chắc chắn hoàn toàn; nhiệm vụ của Việt Nam là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn vì giúp nhân dân nước bạn tức là tự giúp mình Nghị quyết Hội nghị tháng 10/1930 xác định đường lối cách mạng của

ba nước Đông Dương là: ba nước đều là thuộc địa của Pháp cho nên cần đoàn kết chống ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc Nhiệm vụ của Đảng

là phải khuếch trương phong trào đấu tranh cho đều khắp các xứ Đông Dương Hội nghị cũng quyết nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành ĐCSĐD, mở rộng phạm vi lãnh đạo của Đảng ra toàn cõi Đông Dương

Theo Điều lệ Đảng, Đảng sẽ xây dựng tổ chức đều khắp ở Đông Dương Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, nhiều chi bộ cộng sản đã được xây dựng ở Lào và Campuchia2 Những sự kiện trên đã đánh dấu mốc lịch sử đấu tranh trong liên minh giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào, mở ra thời kỳ phát triển về chất trong mối quan hệ đoàn kết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của một chính đảng

1 Hồ Chí Minh cho rằng, đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi

2 Ở Lào, những năm 1930-1933 đã xây dựng được các chi bộ ở Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa vẳn na khệt, Pắc Xế

Trang 14

Trong những năm 1939-1945, nhân dân Đông Dương bị cả thực dân Pháp và phát xít Nhật thống trị Lúc này vấn đề đấu tranh không phải là giải phóng riêng rẽ từng xứ, mà các dân tộc Đông Dương phải thành lập các đoàn thể phản đế để đi đến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) khẳng định: “cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”; quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh) đồng thời chủ trương hết sức giúp đỡ các dân tộc Campuchia và Lào tổ chức Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh

Tháng 3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ĐCSĐD ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn

nhau và hành động của chúng ta”, chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước

làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa Cao trào kháng Nhật cứu nước ở Việt Nam đã tác động

và cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Lào đấu tranh giành độc lập Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, tháng 8/1945, Việt Nam Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cùng thời gian đó, nhân dân Lào có sự tham gia của Việt kiều tại Lào dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đã tiến hành khởi nghĩa cướp chính quyền ở một số thành phố, thị xã: Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa vẳn na khệt, Sầm Nưa, Luông Pha băng Sau đó, tháng 9/1945, tổ chức Lào Ítxalạ và Việt kiều yêu nước

đã nhất trí thành lập Liên quân Lào – Việt đặt dưới sự chỉ huy của một bộ tham mưu chung do Quản Xỉng và Vũ Hữu Bỉnh đứng đầu, các Ủy ban phòng thủ Lào – Việt cũng được tổ chức ở các địa phương

Ngày 10/10/1945, Chính phủ Lào Ítxalạ được thành lập do Hoàng thân Phết xa rạt đứng đầu, ông Khăm Mạo Vilay làm Thủ tướng, đến ngày 12/10/1945 Đại hội dân chúng Lào bầu ra Chính phủ Lào độc lập, thông quan Hiến pháp, tuyên bố nền độc lập của Lào

Sau khi nước VNDCCH ra đời (2/9/1945) không bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn Tiếp đó, chúng tiến sang đánh chiếm Phnôm pênh đưa Xihanúc lên cầm quyền, đồng thời xúc tiến việc xâm lược Lào, mở

Trang 15

rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương Một lần nữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong điều kiện quốc tế và tình hình hai nước có nhiều biến động với những thuận lợi và khó khăn

Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân loại bước vào thời kỳ mới: sự hình thành hai hệ thống xã hội (chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đối lập nhau), tương quan lực lượng thế giới thay đổi có lợi cho xu hướng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng, những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới

Tuy nhiên, tình hình quốc tế cũng có những phức tạp mà biểu hiện ra là đối đầu giữa hai khối: các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ - đế quốc ngày càng lớn mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai, chi phối các nước tư bản chủ nghĩa khác

và ráo riết theo đuổi chiến lược toàn cầu phản cách mạng với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu là hệ thống tiêu biểu cho những xu hướng dân chủ, cho lợi ích của các tầng lớp cần lao, cho ý chí của các dân tộc bị áp bức, của số đông loài người Dù là đối đầu nhưng cả hai phe Liên Xô và Mỹ vẫn tìm cách để nhân nhượng nhau Trong Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), Trung ương ĐCSĐD cho rằng: quan hệ giữa Liên Xô với Mỹ, Anh khá căng thẳng: Liên Xô tập trung xây dựng đất nước, cải thiện đời sống nhân dân; còn Mỹ, Anh và Canađa định lập khối Anglo-Saxon để chống lại Liên Xô, nhưng thái độ bình tĩnh của Liên Xô lại làm Anh, Mỹ phải dè chừng

Trước năm 1945, Mỹ luôn tìm cách gạt Pháp ra khỏi Đông Dương Sau khi Tổng thống dơ-ven qua đời (4/1945), quan điểm của Mỹ về Đông Dương có sự thay đổi, mặc dù

Ru-Mỹ giữ thái độ trung lập nhưng vẫn ngầm tạo cơ hội cho Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương

Sự ra đời của nước VNDCCH và nước Lào tuyên bố độc lập đã khiến cho kẻ thù của ba nước Đông Dương, của nhân dân tiến bộ trên thế giới phải câu kết lại với nhau, nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam,

Trang 16

Lào; ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam và Lào trong khu vực cũng như trên trường quốc tế, khôi phục ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc

Cuối tháng 8/1945, gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc chia thành nhiều hướng khác nhau tiến vào bắc vĩ tuyến 16 của Việt Nam, Lào với sự hậu thuẫn của

Mỹ Sau khi đưa quân chiếm đóng các thành phố, thị xã và các địa bàn trọng yếu, những kẻ cầm đầu quân Trung Hoa dân quốc tuyên bố thời gian có mặt của chúng tại Bắc vĩ tuyến 16 là không hạn định và thực hiện âm mưu tiêu diệt ĐCSĐD, giúp bọn tay sai chống phá cách mạng Việt Nam và Lào

Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, Pháp bị gạt ra ngoài lề vấn đề Đông Dương, nhưng trên thực tế việc để quân Anh vào giải giáp quân Nhật ở nam vĩ tuyến 16, vô hình chung đã tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược bán đảo này Mặt khác, lợi dụng tình thế lúc bấy giờ, số quân Pháp dạt khỏi Đông Dương trong cuộc đảo chính của quân Nhật cũng đang tìm cách trở lại bắc vĩ tuyến 16 Việt Nam

và Lào

Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm một số công sở

ở thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai; đồng thời, mở rộng chiến tranh ra toàn bộ Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sang Campuchia Đầu tháng 9/1945, Pháp đưa quân vào nam vĩ tuyến 16 của Lào, thành lập Bộ Tổng tham mưu của Pháp tại Lào Trong khi đó, Sư đoàn 23 thuộc Quân đoàn 60 quân Trung Hoa dân quốc tiến vào phía Bắc vĩ tuyến 16 của Lào chiếm đóng các thị xã, thị trấn dọc sông Mê Kông, từ Phong Xa Lỳ đến Xa vẳn na khệt

Như vậy, trước âm mưu từng bước mở rộng chiến tranh dùng lãnh thổ nước này

để xâm chiếm nước kia, biến Đông Dương thành thuộc địa của Pháp đã đặt ra yêu cầu cho ba nước Việt Nam, Lào phải đoàn kết liên minh, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc

1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào

Sự trở lại xâm lược và thống trị của Pháp ở Đông Dương đã đưa hai dân tộc Việt Nam và Lào cùng sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung là thực dân Pháp Nhu cầu hợp tác, giúp đỡ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của hai

Trang 17

nước xuất phát từ hai phía: Lào cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ của Việt Nam và ngược lại Việt Nam cũng vậy Cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của nhân dân mỗi nước cũng chính là cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung của toàn bán đảo trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, đưa sự nghiệp cách mạng vững chắc tiến lên

Trên thực tế, cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược đã bắt đầu ngay trong quá trình tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào Bước vào cuộc chiến đấu mới, nhân dân Lào cũng như nhân dân các nước Đông Dương có những điều kiện thuận lợi: ĐCSĐD vẫn là người chỉ huy chung cách mạng ba nước Đông Dương; sự ra đời của nước VNDCCH; sự ra đời của Chính phủ lâm thời Lào Ítxalạ;

sự ủng hộ của nhân dân Campuchia Khi thực dân Pháp triển khai kế hoạch xâm chiếm toàn Đông Dương vào tháng 9/1945, cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân Lào, nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã hợp thành một chiến trường Đông Dương thống nhất

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công song Việt Nam đang phải đối diện với nhiều khó khăn thử thách Để bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh và Nhà nước Việt Nam đã có đường lối ngoại giao phù hợp với từng đối

tượng kẻ thù và với hai nước láng giềng Thông cáo về chính sách ngoại giao của

Chính phủ lâm thời nước VNDCCH, xác định với Lào và Campuchia thì phải lấy

dân tộc tự quyết làm nền tảng, giúp đỡ lẫn nhau và sánh vai ngang hàng mà tiến hóa

Sau khi Chính phủ lâm thời Ítxalạ được thành lập, tuyên bố Lào độc lập do Hoàng thân Phết Xa Rạt làm Quốc trưởng, ngày 14/10/1945, VNDCCH chính thức công nhận Chính phủ độc lập Lào, thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước Lào Tiếp đó, ngày 16/10/1945, hai nước đã ký kết Hiệp ước tương trợ Việt Nam – Lào, đến ngày 30/10/1945, Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Lào ký Hiệp định thành lập Liên quân Lào – Việt Nam do Hoàng thân Xuphanuvông làm Tổng chỉ huy Việc ký kết các Hiệp định giữa hai Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý để hai nước hợp tác, liên minh chiến đấu chống quân xâm lược Trong tháng 10/1945, Hoàng thân Xuphanuvông đã tuyên bố Lào và Việt Nam cùng chung một nguyện vọng duy nhất

Trang 18

là có nền độc lập và quyền dân chủ thực sự dưới sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSĐD Tuy nhiên, điểm yếu của cách mạng Lào trong giai đoạn này là thiếu cơ sở ở vùng nông thôn và vùng rừng núi - là những địa bàn chiến lược quan trọng Sau những cuộc chiến đấu oanh liệt của liên quân Lào – Việt diễn ra trong đô thị và vùng phụ cận, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD chỉ thị cho xứ ủy Lào: “Phải tăng gia công việc võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê làm cho Mặt trận thống nhất kháng Pháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy

nở ở thôn quê đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” [45, tr.32] Tiếp đó, Chỉ thị tháng 3/1948 về phương châm, phương hướng hoạt động trên các mặt trận Lào, Miên của Bộ Tổng chỉ huy cũng nhấn mạnh công tác trước mắt là giúp các lực lượng kháng chiến của hai nước xây dựng cơ sở chính trị; coi trọng việc bảo tồn lực lượng; cử cán bộ chính trị, vũ trang tuyên truyền hoạt động sâu trong vùng địch tạm chiếm, nếu có điều kiện thì thành lập căn cứ địa và khu giải phóng

Theo yêu cầu của cuộc kháng chiến ở Lào, để đối phó với các kế hoạch đánh chiếm các cứ điểm trên các trục đường chính, các thị xã như Xa ra van, Pạc Xế, các tỉnh Trung và Thượng Lào của Pháp, Liên quân Lào – Việt đã được tổ chức ở nhiều nơi Các đơn vị bộ đội địa phương (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) được điều động lên hoạt động tại vùng giáp biên giới Việt – Lào; xây dựng lực lượng ở các thành phố, thị xã ở Lào Tại Viêng Chăn, tập hợp được hơn 600 người

tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 3 đại đội Việt kiều và một đại đội Lào Ítxalạ

Xa vẳn na khệt tập hợp được hơn 200 quân tổ chức thành hai đại đội chiến đấu của Lào Ítxalạ và Việt kiều giải phóng quân Thà Khẹc tập hợp được hơn 800 quân tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 2 đại đội Lào Ítxalạ và 2 đại đội Việt kiều giải phóng quân Với sự giúp đỡ của Liên quân Lào – Việt, quân dân Lào đã chiến đấu

và bảo vệ các thành phố, thị trấn: Viêng Chăn, Khăm Cợt, Na Pê, đường 9, Bản Cơn, làm thất bại một bước kế hoạch tấn công lấn chiếm của địch, buộc chúng phải

co về phòng thủ, giữ các địa bàn đang chiếm đóng Ngoài ra, Ban Chỉ huy liên quân Lào – Việt còn mở các lớp huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ, các lớp bồi

Trang 19

dưỡng ngắn ngày cho cán bộ trung đội, tiểu đội Mặc dù Chính phủ VNDCCH chưa

có điều kiện để đặt quan hệ với Chính phủ Hoàng gia Lào và Chính phủ Hoàng gia Campuchia nhưng lại có điều kiện thắt chặt mối quan hệ hữu nghị với nhân dân hai nước Đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng Lào, đầu năm 1947, nhiều tỉnh thuộc chiến khu IV Việt Nam đã tổ chức Ban Biên chính để liên hệ, phối hợp và giúp đỡ các địa phương Lào kề cận đẩy mạnh đấu tranh Các lực lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào, tăng cường hoạt động gây cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở biên giới tạo chỗ đứng chân để tuyên truyền, vận động nhân dân các bộ tộc Lào tham gia kháng chiến Đến năm 1948, phong trào kháng chiến ở Lào đã bám rễ ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, các khối đoàn kết nhân dân được củng cố, nhiều căn cứ địa kháng chiến được thành lập1 Đầu năm 1948, Trung ương Đảng đã phân công Tổng

tư lệnh quân đội Võ Nguyên Giáp chỉ đạo công tác giúp cách mạng Lào và theo dõi giúp cách mạng Campuchia Trung ương Đảng chỉ rõ một trong những yêu cầu quan trọng để phát triển phong trào cách mạng ở Lào và Campuchia lúc này là phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện ĐCSĐD đang phải hoạt động

bí mật, chưa có điều kiện thành lập ở mỗi nước một chính đảng riêng ĐCSĐD có trách nhiệm lãnh đạo phối hợp cuộc kháng kháng chiến của ba dân tộc Tháng

3/1948, Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam đã ra Chỉ thị số 1LV/TCU về Phương

châm – phương hướng hoạt động cho các cấp chỉ huy và bộ đội hoạt động trên mặt trận Lào – Miên Chỉ thị đã đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Mặt trận Lào –

Miên đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phải “ngăn cản không cho phép quân Pháp trút hết lực lượng để tiến công ta” [14, tr.193] và “sẽ có tác dụng rất lớn trong giai đoạn tổng phản công sau này” [14, tr.194] Vì vậy, trong điều kiện lịch sử mới, ĐCSĐD phải đề ra chủ trương phù hợp để lãnh đạo liên minh Việt – Lào phối hợp chiến đấu giữa chiến trường hai nước

1 Như ở Sầm Nưa, Viêng Chăn, phía Bắc, Tây bắc vùng Mường Phương, Nậm Tồn, Bản Hẹ, Na phô, Noọng Sua, Xay Nha Bu Li…Phía Đông Lào giáp với biên giới Việt Nam cũng hình thành những căn cứ kháng chiến bám trụ trên đất Lào như khu đường 9, đường 8, đường 7; phía Nam Lào, phía Tây Bắc Lào (Nam

Trang 20

Trước những chuyển biến mới của cách mạng hai nước, ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam được cử sang chiến đấu giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng lấy danh nghĩa

là Quân tình nguyện Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển và trưởng thành của các lực lượng quân sự Việt Nam giúp Lào trên chiến trường Lào

Từ sau khi chiến dịch Việt Bắc giành thắng lợi năm 1947 đến đầu năm 1949, tương quan so sánh lực lượng đã cho phép cách mạng Việt Nam chuyển sang thế tổng phản công trên toàn chiến trường Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương ĐCSĐD họp từ ngày 21/1 đến 3/2/1950 nhận định: “Đông Dương là một chiến trường duy nhất, chiến lược tổng phản công bao trùm cả Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên” Hội nghị cũng chỉ rõ vị trí của mặt trận Lào và Campuchia là hai “mặt trận sơ hở của địch”, có tác dụng “kiềm chế quân địch và phối hợp với mặt trận chính trị ở Việt Nam” Hội nghị đã đề ra phương châm xây dựng và phát triển Đảng

bộ Miên, Lào: Lấy việc kết nạp đảng viên người Miên, Lào làm cốt yếu

Từ ngày 13-15/8/1950, Đại hội quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) được tổ chức tại Tuyên Quang – Việt Nam Đại hội quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất tức Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ kháng chiến Lào Đại hội quốc dân Lào đã đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình phát triển của cách mạng Lào, đồng thời mở ra một giai đoạn mới của quan hệ đoàn kết chiến lược Việt - Lào

Trên cơ sở những thắng lợi quân sự đã đạt được trong những năm

1945-1950, tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II ĐCSĐD tổ chức tại Tuyên Quang - Việt Nam Đại hội chỉ rõ phải “tích cực giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào đẩy mạnh kháng chiến, đặng phối hợp chặt chẽ với cuộc kháng chiến của Việt Nam Giúp đỡ cách mạng Miên và Lào về vật chất và tinh thần, đặc biệt giúp đỡ đào tạo cán bộ và kinh nghiệm tổ chức và đấu tranh” [12, tr 148] Để sự lãnh đạo cách mạng dân tộc giải phóng của Lào và Campuchia thích hợp với tình hình hai nước và tình hình thế giới hiện tại, Đại hội đã quyết nghị giúp đỡ những người cách mạng tiên tiến Lào, Campuchia thành lập ở mỗi nước một chính Đảng nhân dân cách mạng

Trang 21

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, những đảng viên cộng sản Lào và Campuchia đã xúc tiến thành lập ĐND Lào và ĐND cách mạng Khơ Me

Tháng 3/1951, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương đã được tổ chức tại Việt Bắc – Việt Nam, quyết định thành lập khối Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập Sự kiện này đánh dấu sự phối hợp liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới Đoàn kết Đông Dương tạo ra một nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợi cho cuộc kháng chiến của mỗi nước

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia, cán bộ và quân tình nguyện Việt Nam được cử sang đã giúp đỡ cán bộ, nhân dân và chiến sĩ nước Lào xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang quần chúng, phát động chiến tranh du kích rộng khắp Trong năm 1951, Chính phủ nước VNDCCH đã chủ trương đẩy mạnh chi viện quân sự cho các chiến trường Lào, lực lượng cán bộ và bộ đội tăng lên

12000 quân gồm Thượng Lào hơn 6000 quân, Trung Lào hơn 3000 quân và Hạ Lào hơn 2000 quân

Tháng 4/1951, Trung ương ĐLĐVN quyết định thành lập Ban cán sự Đảng ở Mặt trận Thượng Lào do Mai Côn làm Bí thư; các Ban cán sự ở Trung và Hạ Lào cũng được bổ sung, kiện toàn Trong hai năm 1951-1952, ĐLĐVN đã ra hoạt động công khai và thành lập Ủy ban hành động Việt – Miên – Lào củng cố khối đoàn kết thống nhất và liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước

Do Thượng Lào lại đang là chỗ yếu và sơ hở của địch, nên ngày 3/2/1953 Chính phủ nước VNDCCH và Chính phủ kháng chiến Lào quyết định phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng tỉnh Sầm Nưa Chiến dịch Thượng Lào thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nối thông hậu phương kháng chiến của cách mạng Lào với vùng tự do của cách mạng Việt Nam, tạo thế phối hợp chiến lược giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào

Trang 22

Những thất bại liên tiếp ở Tây Bắc và Thượng Lào đã làm cho Pháp gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn cố kéo dài chiến tranh xâm lược Nhằm đánh một đòn quyết định tiêu diệt sinh lực định, kết thúc chiến tranh, Đảng, Quân ủy Trung ương đưa ra kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu và giải phóng Tây Bắc, phối hợp với quân dân Lào giải phóng Phong Xa Lỳ, đánh địch ở Trung và Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia; mở rộng vùng giải phóng sau lưng Sài Gòn; đánh thông đường chiến lược Bắc – Nam Đông Dương; giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá âm mưu bình định miền Nam của địch

Sau hơn 2 tháng chiến đấu, liên quân Lào – Việt đã giải phóng Trung và Hạ Lào, góp phần làm phá sản kế hoạch Nava của Pháp, buộc Pháp phải rút về cố thủ tại Điện Biên Phủ và xây dựng thành một pháo đài kiên cố Điện Biên Phủ trở thành điểm trung tâm của kế hoạch Nava Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị Trung ương ĐLĐVN quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ Sau 55 ngày đêm chiến đấu, chiến dịch kết thúc thắng lợi Đây là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân

ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia trong đó Việt Nam làm trụ cột Thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi để ba nước Đông Dương đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Ngày 21/7/1954, Pháp buộc phải ký Hiệp nghị Giơnevơ về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương, thừa nhận nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, buộc quân đội viễn chinh Pháp phải rút khỏi toàn bộ Đông Dương, chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn bán đảo Đông Dương Với việc ký kết hiệp định Giơnevơ, cách mạng hai nước Việt Nam và Lào bước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng để giữ vững hòa bình, giành độc lập thống nhất ở mỗi nước

1.2 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương đối với liên minh chiến đấu Việt – Lào của Đảng

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Việc ký kết hiệp định đình chiến ở Đông Dương là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia Đó là kết quả của cuộc đấu

Trang 23

tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc gần một thế kỷ của nhân dân Đông Dương Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng chính là thất bại của chủ nghĩa thực dân xâm lược muốn nô dịch nhân dân Đông Dương; thất bại của đế quốc Mỹ đang âm mưu biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến lược của Mỹ, thất bại của lực lượng tay sai đế quốc Mỹ và thực dân hiếu chiến Pháp, cam tâm bán nước Nhưng ký kết Hiệp định đình chiến chưa phải là đã thực hiện đình chiến, bởi mặc

dù có tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng Chính phủ Mỹ đã tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định này và ra sức cản trở việc thực hiện Hiệp định cũng như tìm cách thay thế Pháp ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương Mỹ đang đẩy mạnh tiến tới việc thành lập “khối phòng thủ Đông Nam Á” Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt – Miên – Lào

Ngay sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính sách của Mỹ ở Lào và Nam Việt Nam, Campuchia là chính sách can thiệp và xâm lược dưới những hình thức và thủ đoạn khác nhau

Ở Việt Nam, Mỹ vừa gây áp lực buộc Pháp phải rời khỏi miền Nam, đồng thời đưa thêm cố vấn, chuyên gia quân sự, vũ khí đạn dược để xây dựng chính quyền Sài Gòn, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta Mỹ còn đe dọa các lực lượng cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á

Tại Lào, cách mạng Lào đã chuyển giai đoạn từ đấu tranh vũ trang là chủ yếu sang đấu tranh chính trị là chủ yếu kết hợp với đấu tranh vũ trang Đối mặt với nhân dân Lào, với cách mạng Lào không phải là thực dân Pháp đã suy yếu mà là đế quốc

Mỹ - một kẻ thù có lực lượng và tiềm năng lớn, đứng đầu phe đế quốc Từ năm

1954 trở đi, đế quốc Mỹ trở thành đối tượng chủ yếu của cách mạng Lào Âm mưu

cơ bản của Mỹ là tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào biến Lào thànhthuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á, bảo vệ những căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan Mỹ không tổ chức ngay phái đoàn cố vấn quân sự, mà lập một cơ quan gọi là “Cơ quan đánh giá chương trình viện trợ” trực thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ có nhiệm vụ thảo kế hoạch viện trợ

Trang 24

quân sự, đảm nhiệm việc phân phối trang bị vũ khí và huấn luyện các lực lượng vũ trang

Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính sách của Mỹ ở Lào và Nam Việt Nam là chính sách can thiệp và xâm lược dưới những hình thức và thủ đoạn tinh vi của chủ nghĩa thực dân mới Sau Hiệp định Giơnevơ, lực lượng kháng chiến Lào tập kết về hai tỉnh Hủa-phăn (căn cứ Sầm Nưa) và Phong Xa Lỳ1 Chính quyền Viêng Chăn vẫn giành quyền kiểm soát đại bộ phận lãnh thổ Lào (10 tỉnh) Thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến Lào, Mỹ ồ ạt viện trợ kinh tế, quân sự2

cho chính quyền, quân đội Viêng Chăn3, từng bước chi phối mọi mặt ở Lào

Để mở rộng xâm lược ba nước Đông Dương, Mỹ đã lôi kéo một số nước đồng minh và chư hầu thành lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt Việt Nam, Lào, Campuchia trong sự bảo trợ của khối xâm lược này Bộ Chính trị đã nhận định, trong điều kiện hiện nay “việc thi hành hiệp định đình chiến là việc mới, là một cuộc đấu tranh gay go với địch” Trong tình hình mới, khẩu hiệu mới của cách mạng Việt Nam là

“hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ” thay cho khẩu hiệu “kháng chiến đến cùng” trước kia Mặc dù, sau Hiệp nghị Giơnevơ, lực lượng cách mạng của ba nước Đông Dương ngày càng phát triển và có những thuận lợi đáng kể nhất là việc mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, nhưng để đối phó với âm mưu mới của Mỹ đòi hỏi nhân dân Việt

sự trả giá của những người nộp thuế của nước Mỹ” (Nguồn: Pi-tơ A Pu-lơ, Nước Mỹ và Đông Dương từ

Ru-dơ-ven đến Ních-xơn, Nxb Thông tin lí luận, Hà Nội, 1986, tr.79) Đến năm 1955, quân số đạt 25.000, cuối

Trang 25

Nam, Lào và Campuchia phải tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ Vấn đề đấu tranh ngoại giao Việt Nam tiến hành trên cả hai mặt trận: trong nước và ở Hội nghị Giơnevơ Cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi lớn ở Điện Biên Phủ cũng như trên chiến trường toàn quốc; các nước Liên Xô và Trung Quốc, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới luôn ủng hộ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Vì những lẽ đó mà mặc dù đế quốc Mỹ và thực dân Pháp ra sức phá hoại nhưng Hiệp nghị Giơnevơ vẫn giành được những thành tích nhất định Tuy nhiên, như vậy thì Mỹ

và Pháp cũng sẽ vẫn tiếp tục phá hoại và sẽ tiếp tục phá hoại ráo riết hơn nữa

Thực hiện điều khoản trong Hiệp định Giơnevơ, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam sẽ rút khỏi Lào trong vòng 120 ngày, lực lượng Pa thét Lào hoàn thành việc chuyển quân tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ Trong thời gian này, Mỹ đã lập Chính phủ thân Mỹ có nhiều phần tử phản động do Cà tày cầm đầu Chính phủ này đã ráo riết tiến hành các hành động chống phá Hiệp định Giơnevơ, vu cáo Pa thét Lào, vu cáo VNDCCH, chuẩn bị gây lại chiến tranh Đông Dương Mỹ còn đẩy mạnh chuẩn bị lực lượng vũ trang để tấn công quân sự hai tỉnh tập kết nhằm tiêu diệt lực lượng Pa thét Lào Trong khi đó, quân tình nguyện Việt Nam đã rút về nước, đòi hỏi ĐND Lào và ĐLĐVN cần có đường lối cách mạng kịp thời

1.2.2 Chủ trương đối với liên minh chiến đấu Việt - Lào

Trong Báo cáo Về tình hình mới và nhiệm vụ mới tại Hội nghị Ban Chấp hành

Trung ương Đảng lần thứ 6 (mở rộng) tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt – Miên – Lào” Tình hình mới định ra ba nhiệm vụ mới là:

“1- Tranh thủ và củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc

2- Tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, xây dựng một QĐND mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình thế mới

3- Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng; ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà” [78]

Trang 26

Nguyên tắc cơ bản về đấu tranh ngoại giao của Việt Nam được Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN đưa ra là:

“1- Kết hợp nguyên tắc tính rất cao với linh động tính đúng mức

2- Yêu cầu của ta chủ yếu là căn cứ vào lực lượng so sánh giữa ta và địch mà định

3- Đặt vấn đề Đông Dương vào trong vấn đề bảo vệ hòa bình và dân chủ thế giới đặng giải quyết một cách thỏa đáng

Muốn ủng hộ cho cuộc đấu tranh ngoại giao mau thắng lợi, phải động viên nhân dân toàn quốc đẩy mạnh mọi mặt công tác để làm hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao của ta” [49, tr.185-186]

Đế quốc Mỹ hiện đang can thiệp trắng trợn vào Cao Miên và Lào với việc xúi giục bọn quân phiệt Thái Lan tìm mọi cơ hội can thiệp quân sự vào hai nước đó

Âm mưu mô đế quốc Mỹ là muốn tách vấn đề Cao Miên và Lào ra khỏi vấn đề Việt Nam, và nếu Pháp ký hiệp định đình chiến với VNDCCH thì ở Lào và Cao Miên chiến tranh vẫn cứ tiếp tục, để cho Mỹ có cơ hội biến hai nước đó thành căn cứ chiến lược của Mỹ và hiếu chiến Pháp có bàn dạp tiến chiếm lại Việt Nam một lần nữa Trước tình hình ấy, Việt Nam cần phải đoàn kết với nhân dân Lào, Campuchia, đấu tranh đòi lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ba dân tộc Nếu hòa bình lập lại

ở một nước trên bán đảo Đông Dương mà hai nước kia chưa có hòa bình thì hòa bình ở một nước đó cũng không đảm bảo

Chính sách ngoại giao của VNDCCH là xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên đều có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau:

Phương châm chính sách ngoại giao của ta là chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á, củng cố hòa bình

ở Đông Dương, bảo vệ hòa bình Đông Nam Á và toàn thế giới, tìm mọi cách tăng cường tình hữu nghị giữa nước ta và hai nước Lào và Cao Miên, tăng cường đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam, Khơ me và Lào Ta xây dựng mối quan hệ hòa hoãn

Trang 27

với Cao Miên, Lào và tranh thủ trao đổi với đại biểu hai nước đó là điều kiện quan trọng để củng cố hòa bình ở Đông Dương và tranh thủ độc lập, thống nhất của nước

ta [49, tr.304-305]

Từ cuối năm 1954, Mỹ ngày càng ráo riết tìm cách thâm nhập vào Lào (nhất

là từ khi Chính phủ Cà tày được thành lập), tìm cách để cán bộ Việt Nam phải rút

về nước, đồng thời chia rẽ nội bộ quan hệ Lào – Việt, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước Báo cáo chính trị tại Hội nghị trung ương lần 7 mở rộng (3/1955) Đảng LĐVN xác định phương châm ngoại giao của Việt Nam: “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân Trong hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao, thực hiện phối hợp chặt chẽ với các nước anh em” [50, tr.158-159]; trên tinh thần đó, “giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta công nhận 5 nguyên tắc chung sống hòa bình Dùng cách thương lượng để giải quyết mọi vấn đề xung đột quốc tế Đồng thời tranh thủ đặt quan hệ ngoại giao bình thường với Chính phủ Nhà vua Lào, Cao Miên, với nước Pháp và các nước Đông Nam Á” [50, tr.158-159]

Tiếp đó, ngày 19/10/1954, Bộ Chính trị BCH Trung ương ĐLĐVN ra Nghị quyết về việc giúp đỡ cách mạng Lào Sau khi phân tích tình hình Lào, Nghị quyết

đề ra phương châm đấu tranh của cách mạng Lào là phải xây dựng lực lượng của thật vững chắc làm cơ sở quyết định thắng lợi Về sách lược, Nghị quyết chỉ rõ phải tranh thủ Pháp và Ấn Độ để cô lập và đả kích đế quốc Mỹ và bọn tay sai Mỹ Trước mắt, Nghị quyết đề ra một số chủ trương cụ thể về chính quyền ở hai tỉnh tập kết, về các đơn vị quân đội nhà vua đang đóng ở hai tỉnh tập kết; về quan hệ với chính phủ nhà vua1 Cuối cùng, Nghị quyết nhấn mạnh: Vô luận tình hình phát triển như thế

1 Cụ thể là: 1 Về chính quyền ở hai tỉnh tập kết, trước hết phải tranh thủ được sự uỷ nhiệm của Chính phủ nhà vua trong việc để cán bộ Pathét Lào tạm thời phụ trách, hai tỉnh vẫn nằm trong phạm vi chung của Chính phủ nhà vua, nhưng không có đại diện nhà vua ở đó Nếu đấu tranh mà không giải quyết được thì có thể đến nhà vua cử đại diện ở hai tỉnh cùng với sự uỷ nhiệm để Pathét Lào phụ trách hai tỉnh 2 Về các đơn vị quân đội nhà vua đang đóng ở hai tỉnh tập kết: quân đội nhà vua tập trung ở hai khu vực giáp giới giữa hai bên Theo nguyên tắc khu vực đóng quân của quân đội nhà vua càng hẹp càng có lợi cho ta Nếu phía họ không chịu thì vẫn giữ nguyên trạng rồi sẽ giải quyết sau Hai bên cam kết không gây ra xung đột 3 Đối với chính phủ nhà vua: Nếu chính phủ Phu-ma vẫn đứng vững thì một mặt ta gửi điện hẹn ngày gặp chính thức; đồng thời Thủ tướng Xu Pha Nu Vông sẽ ra tuyên bố với đại ý Chính phủ kháng chiến Pathét Lào sẽ hợp tác chặt

Trang 28

nào, cũng phải hết sức tăng cường công tác củng cố hai tỉnh, xây dựng quân đội, gây dựng cơ sở nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong toàn quốc, nhất là vùng mới rút quân

Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền, cách mạng Việt Nam phải tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: CMXHCN ở miền Bắc và CMDTDCND ở miền Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 15 mở rộng (tháng 1/1959) xác định cuộc đấu tranh giữa dân tộc Việt Nam chống đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn cũng đồng thời là cuộc đấu tranh giữa phe XHCN và phe đế quốc chủ nghĩa Chủ trương của Đảng “là giữ vững hòa bình ở Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hòa bình, chủ trương ấy gắn liền với chủ trương chung của phe

xã hội chủ nghĩa” Đó là nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta và nhân dân ta, và cũng là bảo đảm chắc chắn cho việc hoàn thành nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [54, tr.66-67] Đối với cách mạng Lào và Campuchia, nhân dân Việt Nam đồng tình sâu sắc và hết sức ủng hộ phong trào đấu tranh chống thực dân và bảo vệ độc lập dân tộc của hai nước vì Việt Nam, Lào, Campuchia đều là láng giềng của nhau, cùng nhau ký kết Hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dương, đều có trách nhiệm bảo vệ Hiệp nghị Giơnevơ, bảo vệ hòa bình và an ninh ở Đông Dương Vì vậy, “cần tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình với các nước Á – Phi, trước hết là với các nước láng giềng, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất Việt Nam” [54, tr.67]

Sau khi Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến ở Lào ngừng hoạt động, Mỹ và Chính quyền Vương quốc Lào đã có những hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định Viêng Chăn Trước sự đàn áp khủng bố của Mỹ và quân đội tay sai, nhiều cán bộ Pa thét Lào và nhân dân Lào đã chạy sang biên giới Việt Nam, chủ yếu ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh

Để giúp Trung ương ĐND Lào kịp thời đấu tranh chống địch đàn áp, khủng

bố, ngày 30/1/1959, Trung ương ĐLĐVN đã gửi thư trao đổi ý kiến với Trung ương ĐND Lào về phương hướng đấu tranh của cách mạng Lào, nhấn mạnh việc phải rút

Trang 29

ngay một bộ phận bí mật chuyển ra vùng căn cứ để lãnh đạo phong trào đấu tranh, kiên quyết bảo vệ cho được lực lượng cách mạng Lào Đến đầu tháng 5/1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐLĐVN họp bàn về cách mạng Lào, nhận định về tình hình cách mạng Lào và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào Bộ Chính trị ĐLĐVN chủ trương: kiên quyết đẩy mạnh sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam và tích cực chi viện cho cách mạng Lào thắng lợi Coi việc giúp cách mạng Lào là nhiệm vụ quốc tế quan trọng của ĐLĐVN trên nguyên tắc: giúp Lào nhưng để Lào tự lực là chính, giúp tận lực để nhân dân Lào đảm nhiệm được sự nghiệp cách mạng của mình Trung ương Đảng và Quân ủy QĐND Việt Nam đã chỉ định Thiếu tướng Lê Chưởng phụ trách Trưởng đoàn cán

bộ Việt Nam giúp Lào bên cạnh Trung ương ĐND Lào

Đầu tháng 7/1959, Bộ Chính trị ĐLĐVN và Bộ Chính trị ĐND Lào đã trao đổi thống nhất quyết định mở đợt hoạt động quân sự trong mùa mưa 1959, lấy Tiểu đoàn 2 làm nòng cốt chiến đấu, chuyển từ đấu tranh công khai hợp pháp sang đấu tranh vũ trang trên toàn quốc, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giành lại chính quyền

ở thôn xã, vận động thanh niên tòng quân, xây dựng bộ đội chủ lực và phát triển lực lượng vũ trang địa phương, chuẩn bị chiến đấu lâu dài Đồng thời liên hệ đón số binh sĩ của Tiểu đoàn 1 Pa thét Lào phân tán ở khu Xiêng Ngân ra vùng căn cứ, bổ sung quân số, khôi phục lại tiểu đoàn

Cuối tháng 5/1960, Trung ương ĐLĐVN và Trung ương ĐND Lào đã có cuộc tọa đàm bàn về cách mạng Lào, xác định mục tiêu trước mắt của cách mạng Lào là giành độc lập dân tộc, dân chủ, tự do và hòa bình trung lập Tại cuộc tọa đàm cũng đã xác định sự giúp đỡ của Việt Nam là phụ còn cuộc cách mạng của Lào là tự lực cánh sinh, trường kỳ gian khổ; tương quan lực lượng giữa Lào và địch thì chưa đủ điều kiện để giành được chính quyền, vì vậy phải xây dựng lực lượng vũ trang; xây dựng Đảng Mác – Lênin vững mạnh; đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế

Từ ngày 5 đến 10/9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III ĐLĐVN diễn ra tại Hà Nội Đoàn đại biểu ĐND Lào do đồng chí Cayxỏn Phômvihản dẫn đầu đã dự đại hội Nghị quyết Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng

Trang 30

Việt Nam, chỉ rõ Đông Dương là một chiến trường, nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia phải sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược

Đại hội nhận định đế quốc Mỹ và các thế lực gây chiến do Mỹ cầm đầu đang phải tìm mọi cách để duy trì tình trạng căng thẳng ở Châu Á Chúng ra sức tăng cường các căn cứ quân sự, củng cố khối quân sự xâm lược Đông Nam Á, ngang nhiên đặt Việt Nam, Lào và Campuchia vào khu vực bảo hộ của khối này Đế quốc

Mỹ đang là kẻ thù hung ác nhất của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới cũng như của nhân dân Đông Dương Mỹ ra sức tăng cường lực lượng vũ trang Đến nay, tổng số quân thường trực ở miền Nam đã lên đến hơn 25 vạn rưởi người, bao gồm

15 vạn quân chính quy, 4 vạn rưởi cảnh sát vũ trang và 6 vạn bảo an; còn có trên 10 vạn dân vệ Cộng với 11 vạn rưởi quân dự bị đã đăng ký và được huấn luyện, thì số quân mà Mỹ - Diệm có thể động viên vào lúc cần thiết đã lên tới 47 vạn người So với năm 1954, số lượng của phái đoàn đã tăng gấp 10 lần, số sĩ quan cao cấp trong phái đoàn đã tăng gấp 14 lần [55, tr.514-515] Đứng trước những âm mưu gây chiến

và xâm lược của đế quốc Mỹ, Việt Namm có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để duy trì và củng cố hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á, góp phần tăng cường phong trào độc lập dân tộc và củng cố phe xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 (9/1960) của ĐLĐVN đã xác định nhiệm vụ quốc tế quan trọng của Đảng là “ra sức góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế, kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu và hành động phá hoại sự đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân” Chính sách ngoại giao của Đảng và Chính phủ Việt Nam là: “Đối với các nước láng giềng, chúng ta mong muốn xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Chúng ta hoan nghênh đường lối hòa bình trung lập hiện nay của Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia Chúng ta ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Lào để thực hiện đường lối hòa bình trung lập, hòa hợp dân tộc, và mong sẽ xây dựng được quan hệ hữu nghị lâu dài và bền chặt với Vương quốc Lào” [55, tr.626]

Trang 31

1.3 Chỉ đạo củng cố, xây dựng và hoạt động của liên minh chiến đấu Việt – Lào

1.3.1 Củng cố liên minh chiến đấu Việt – Lào, đoàn kết đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ

Trước âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ, Trung ương Mặt trận Lào Ítxalạ và Chính phủ kháng chiến Lào đề ra nhiệm vụ của cách mạng Lào trong giai đoạn mới là “đoàn kết toàn dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, xây dựng hai tỉnh tập kết thành căn cứ đấu tranh của cả nước,…thương lượng hợp tác với Chỉnh phủ Vương quốc, tiến hành tổng tuyển cử tự do và thành lập Chính phủ Liên hiệp thống nhất, tiến tới xây dựng một nước Lào dân chủ và hoàn toàn độc lập [8, tr.12] Trung ương Mặt trận Lào Ítxalạ và Chính phủ kháng chiến Lào cũng nhấn mạnh việc “bảo vệ và xây dựng hai tỉnh thành căn cứ cách mạng cả nước và xây dựng, phát triển các lực lượng vũ trang vững mạnh… là công tác trung tâm mấu chốt trong giai đoạn này” [8, tr.12].Thi hành Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định đình chiến ở Lào, ngày 23/7/1954, Bộ Quốc phòng và Chính phủ kháng chiến Lào ra lệnh thực hiện Hiệp định đình chiến trên toàn chiến trường Lào Theo tinh thần đó, các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang Lào Ítxalạ khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, chuyển trọng tâm hoạt động phù hợp với tình hình cách mạng trong giai đoạn mới Theo yêu cầu của Lào, Ban cán sự và Ban chỉ huy quân tình nguyện các khu, tỉnh của Việt Nam đã giúp Lào và cùng với Lào tuyên truyền về thắng lợi của Hiệp nghị đình chiến; đồng thời quán triệt tình hình nhiệm vụ mới cho cán bộ Việt-Lào cấp tỉnh, huyện

Nhận định“việc thi hành hiệp định đình chiến là việc mới, là một cuộc đấu tranh

gay go với địch”, ngày 23/7/1954, Việt Nam cử một số cán bộ tham gia Uỷ ban Liên hiệp đình chiến ở Lào Cùng với cán bộ Lào, cán bộ Việt Nam giải thích về thắng lợi Hiệp nghị Giơnevơ và nội dung Hiệp định đình chiến trên chiến trường Đông Dương và Lào; đồng thời phổ biến tình hình nhiệm vụ mới, động viên bộ đội tình nguyện, bộ đội Lào Ítxalạ cùng nhân dân đoàn kết đấu tranh đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh những điều đã ký kết

Trang 32

Nhằm phát huy thắng lợi của Hiệp định Geneve, Ban Bí thư Trung ương

ĐLĐVN ra Chỉ thị “Tuyên truyền về những Hiệp định của Hội nghị Giơnevơ"

(27/7/1953), nêu rõ: Hội nghị Giơnevơ kết thúc ngày 21/7/1954 đã đi đến những hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Khơme và nước Pháp phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ba dân tộc ở Đông Dương Đó

là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào, Khơme và là một thất bại của đế quốc

Mỹ

Thực hiện Chỉ thị, đầu tháng 8/1954, Đoàn 83 quân Tình nguyện Việt Nam

tổ chức tuyên truyền về thắng lợi của Hiệp nghị Giơnevơ, động viên và tổ chức lực lượng Pa thét Lào tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa lỳ Thời điểm này, nhân dân các bộ tộc Lào chưa có đài để nghe, tin tức chủ yếu vẫn do truyền miệng Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Đoàn 83 tổ chức các lớp ngắn ngày (1 hoặc 2 ngày) cho cán bộ Lào - Việt cấp tỉnh Sau đó, cử nhiều cán bộ, chiến sĩ cùng với phía Lào toả xuống các địa phương tập hợp các đơn vị và nhân dân trong từng làng bản, tuyên truyền: thực dân Pháp đã thua phải rút quân về nước Ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia được quốc tế công nhận về nền độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước Lực lượng Lào Ítxalạ có hai tỉnh tập kết và Pa thét Lào đại diện đàm phán với Chính phủ vương quốc Lào về một giải pháp chính trị, tiến tới thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do Tuy nhiên, cuộc đấu tranh đòi đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp nghị Giơnevơ để thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất đất nước là rất phức tạp, gay gắt, quyết liệt, bởi đế quốc Mỹ không ký Hiệp nghị Giơnevơ và đang cùng bọn tay sai tìm mọi cách phá hoại Hiệp nghị Ở các vùng căn

cứ kháng chiến Lào, khí thế cách mạng của quần chúng rất cao Nhân dân làng xã tham gia các cuộc mít tinh, liên hoan ca múa lăm vông, nghe cán bộ Lào và bộ đội Việt Nam nói chuyện Ở các vùng đồng bằng, sát đồn địch, cán bộ, chiến sĩ Việt Nam cùng với bộ đội Lào đến tuyên truyền cho nhân dân biết Tại các huyện Tu la Khôm, Phôn Hùng, Văng Viêng, bộ đội Việt Nam liên hệ thẳng với tri huyện chao Mường tổ chức các cuộc nói chuyện, yêu cầu đối phương cam kết, tuyên bố ngừng

Trang 33

các cuộc hành quân, tuần tiễu vào vùng căn cứ kháng chiến, chấm dứt các hành động khủng bố, bắt bớ, cướp bóc nhân dân

Nhằm tăng cường sức mạnh cho cách mạng Lào, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, Đoàn cán bộ của ĐLĐVN đã giúp Lào lựa chọn các đại biểu xuất sắc để tham Đại hội thành lập Đảng, biên soạn các văn kiện của Đại hội Từ ngày 22/3 đến ngày 6/4/1955, Đại hội thành lập ĐND Lào được tiến hành tại Hủa phăn Sau khi thông qua Báo cáo chính trị, Chính sách cơ bản, Cương lĩnh hành động, Điều lệ Đảng, Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 10 đồng chí trong đó có 5 đồng chí ở Ban thường trực gồm: ông Cayxỏn Phômvihản – Tổng Bí thư; ông Xuphanuvông, ông Phumi Vôngvichit; ông Nủhắc Phumxavẳn; ông Khămtày Xivănđon Đại hội cũng thông qua Cương lĩnh 12 điểm của ĐND Lào đề ra nhiệm vụ cụ thể trước hết là xây dựng khối đoàn kết của nhân dân các bộ tộc Lào, chống đế quốc Mỹ, thực dân Pháp phá hoại Hiệp định đình chiến, đấu tranh đòi Chính phủ nhà vua phải thật thà hợp tác với lực lượng Pa thét Lào thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ hòa bình, xây dựng nước Lào độc lập, thống nhất, dân chủ và thịnh vượng Như vậy, Lào đã thành lập được chính đảng cách mạng của mình nên trong phương thức hợp tác giúp đỡ của Đảng và Nhà nước ta đối với Lào có sự thay đổi cho phù hợp đặc điểm của tình hình

Theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào, ĐLĐVN và Nhà nước VNDCCH quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào, chuyển từ chế độ quân tình nguyện sang chế độ cố vấn quân sự (từ năm 1959 được gọi là chuyên gia quân sự) bên cạnh các cấp ủy và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Lào từ Trung ương đến khu Tổng số chuyên gia gồm 964 người, trong đó

có 314 người thuộc đoàn chuyên gia quân sự, 650 cán bộ các ngành dân, chính, đảng Đây là lực lượng rất quan trọng đối với cách mạng Lào sau ngày đình chiến Triển khai nhiệm vụ giúp cách mạng Lào, được sự phối hợp của Ban cán sự miền Tây, Đoàn 100 (Đoàn cố vấn quân sự do đồng chí Chu Huy Mân làm Trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy) đã nghiên cứu, đề xuất phương án với quân đội Pa thét Lào

kế hoạch tác chiến và tổ chức chiến đấu bảo vệ hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ,

tổ chức hai tỉnh thành các khu chiến đấu liên hoàn

Trang 34

Trước đó, ngày 22/1/1955, Bộ Chính trị Trung ương ĐLĐVN thông qua “Đề

án đấu tranh về vấn đề hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ” ở Lào Đề án đã xác định “âm mưu của địch là dùng mọi thủ đoạn để thủ tiêu căn cứ hai tỉnh của cách mạng Lào nhất là từ khi Kà Tay lên cầm quyền thì âm mưu đó càng rõ rệt”, từ đó đề

ra “Chủ trương của ta là kiên trì đấu tranh, củng cố hai tỉnh, làm cơ sở lâu dài cho cách mạng Lào và dựa vào đó mà đưa phong trào nhân dân trong toàn quốc để đấu tranh trong hội nghị hiệp thương, đòi thực hiện các quyền tự do dân chủ trong toàn quốc, đi đến tổng tuyển cử” Đề án cũng đã xác định một số chủ trương đấu tranh cụ thể: cần phải nêu cao vai trò của Pa thét Lào, giúp Pa thét Lào chấn chỉnh sự chỉ đạo đấu tranh thi hành Hiệp định, phối hợp chặt chẽ với đồng chí Cayxỏn Phômvihản trong đấu tranh và thống nhất lãnh đạo toàn quốc với ông Xuphanuvông; lập trường

cụ thể là giữ vững hai tỉnh, nhân nhượng đúng mức,…Về phần biên giới với Việt Nam, cần củng cố Tây Bắc và miền Thượng du Thanh - Nghệ - Tĩnh; tăng cường binh lực một cách kín đáo lên biên giới, tăng cường vận động nhân dân và công tác tiễu phỉ…

Ngày 1/8/1955, Nhà vua Lào và Mỹ đã chủ trương tìm mọi cách để tiến đánh chiếm hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ; tiêu diệt lực lượng Pa thét Lào, phá hoại Hiệp định Giơnevơ Trước âm mưu đó, ngày 10/8/1955, Trung ương ĐLĐVN quyết định thành lập Ban cán sự Lào – Miên gồm 5 người do Lê Đức Thọ làm Trưởng ban Nhiệm vụ của Ban cán sự Lào – Miên là giúp cho Trung ương ĐLĐVN nghiên cứu diễn biến ở Lào, từ đó đề xuất và xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương trong công tác giúp Lào Tháng 8/1955, Trung ương Đảng Lào cũng họp nhận định tình hình và

đề ra nhiệm vụ mới cho cách mạng Lào: lãnh đạo nhân dân cả nước đấu tranh làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; đòi chúng phải tiếp tục thi hành Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Lào Bộ Tổng tham mưu của ta cũng ra chỉ thị về hoạt động quân sự ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phông

Xa Lỳ nhằm đối phó với mọi âm mưu mới của địch “Chủ trương của Nhà vua Lào

và đế quốc Mỹ là tìm mọi cách để đánh chiếm hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ, tiêu diệt lực lượng Pa thét Lào, phá hoại Hiệp định Giơnevơ”, “Chủ trương của ta là

Trang 35

kiên trì giữ vững hai tỉnh, củng cố bộ đội Pa thét Lào, nhất là về mặt chất lượng, đẩy mạnh hoạt động chính trị trong toàn quốc, chủ động nắm vững pháp lý của Hiệp định Giơnevơ đòi tổng tuyển cử có Pa thét Lào”

Ngày 15/12/1955, Ban Bí thư Trung ương ĐLĐVN chỉ thị cho Ban cán sự ở Lào giúp Lào ở các tỉnh kiên quyết phá cuộc tổng tuyển cử riêng rẽ trái với Hiệp nghị Giơnevơ của nhà cầm quyền Vương quốc Ngày 25/12/1955, Chính phủ Vương quốc đã tiến hành tổng tuyển cử riêng rẽ bất hợp pháp, ngang nhiên không thừa nhận bốn đại biểu của Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ do Chính phủ Vương quốc chỉ định Tháng 1/1956, Mặt trận Lào yêu nước được thành lập và ra tuyên bố chung về đường lối hòa bình trung lập của Lào Trước lời kêu gọi của Hoàng thân Xuphanuvông về việc nối lại các cuộc hiệp thương chính trị giữa Chính phủ kháng chiến và Chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt, tháng 12/1956, Hội nghị hiệp thương chính trị giữa Neo Lào Hắc Xạt và Chính phủ Vương quốc Lào đã họp tại Viêng Chăn thảo luận những vấn đề về hòa hợp dân tộc Khi Mỹ đang tìm cách phá hoại nền hòa bình trung lập ở Lào, Hoàng thân Xuphanuvông và Hoàng thân Xuvana Phuma ký tuyên bố quy định thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc Lào có Neo Lào Hắc Xạt tham gia và tăng số nghị sỹ quốc hội từ 39 lên 60 người

Còn ở Việt Nam, Mỹ - Diệm vẫn đang phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, phá hoại thống nhất Việt Nam với sự đồng tình phối hợp của Anh, Pháp nên ở Việt Nam chưa thể thực hiện tổng tuyển cử như Hiệp nghị đã quy định Ban Bí thư đã nhận định về tình hình đấu tranh trên mặt trận ngoại giao trong tình hình mới: Cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh hòa bình thế giới Do đó, cần phải có sự phố hợp chặt chẽ với các nước anh em trong phe ta, và tranh thủ sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, làm cho Mỹ-Diệm ngày càng bị cô lập “Chính sách ngoại giao của ta

là nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và phục vụ cuộc đấu tranh thống nhất Hoạt động ngoại giao phải bao gồm công tác ngoại giao của Chính phủ, hoạt động ngoại giao của nhân dân và công tác tuyên truyền đối ngoại Cần phải có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác ngoại giao, trước hết nhằm các nước Đông Nam Á,

Trang 36

nước Pháp và hai nước láng giềng Miên và Lào” [51, tr.593] “Ngoài việc tăng cường đoàn kết với các nước anh em là việc ta phải thường xuyên chú trọng, chúng ta cần hết sức phấn đấu để đặt quan hệ tốt với hai nước láng giềng Lào, Miên, tăng cường

và phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á, với nước Pháp” [51, tr.593]

Để tăng cường giúp Lào thực hiện Hiệp định, ngày 11/6/1957, Tổng Quân ủy

ra Quyết định số 110/TQU về tổ chức và xác định thêm nhiệm vụ mới của Đoàn

100 ở Lào do Đinh Văn Tuy làm Trưởng đoàn, với những nội dung chủ yếu:

1 Đoàn 100 vẫn là một đơn vị trực thuộc Tổng Quân ủy, các đồng chí Tổng cục có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn 100 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giúp bạn

2 Tổng Quân ủy giao cho Bộ Tổng tham mưu chịu trách nhiệm theo dõi chung, từng thời kỳ nghe báo cáo tình hình và giải quyết các công việc cho Đoàn

100, khi cần có thể triệu tập các đồng chí Tổng cục dự họp

Trên cơ sở chủ trương, kế hoạch đã thống nhất giữa Việt Nam và Lào, Đoàn

100 tiếp tục giúp đỡ các đơn vị bộ đội Pa thét Lào đẩy mạnh các hoạt động xây dựng lực lượng, huấn luyện quân sự, sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch, góp phần thúc đẩy cách mạng Lào phát triển

Ngày 13/1/1957 Trung ương ĐND Lào ra Nghị quyết về đấu tranh đòi thực hiện chính sách hòa bình trung lập, thành lập Chính phủ liên hiệp Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, âm mưu của Mỹ, Nghị quyết Trung ương xác định nhiệm vụ của cách mạng Lào như sau: Đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các dân tộc kiên trì đấu tranh giữ vững lực lượng, chống âm mưu phá hoại của đế quốc Mỹ; ủng hộ, thúc đẩy Chính phủ Phuma thi hành Hiệp nghị Giơnevơ và những điều

đã ký kết giữa hai bên, thành lập Chính phủ liên hiệp để làm cơ sở đưa nước Lào đi theo con đường hòa bình trung lập, tiến tới xây dựng một nước Lào hòa bình, dân chủ, thống nhất, độc lập và thịnh vượng,

Tháng 11/1957 cuộc đàm phán giữa Hoàng thân Xuphanuvông và Hoàng thân Phuma đã quyết định công bố những văn kiện cụ thể về giải quyết vấn đề hòa hợp dân tộc Cùng thời gian này, Hội nghị liên hiệp quân sự giữa Neo Lào Hắc Xạt

và Chính phủ Vương quốc Lào ký hiệp định giải quyết lực lượng vũ trang của Neo

Trang 37

Lào Hắc Xạt Theo Hiệp định, Chính phủ Vương quốc Lào bảo đảm sáp nhập tất cả quân đội, vũ khí của Neo Lào Hắc Xạt vào quân đội quốc gia; những người tình nguyện ở lại quân đội sẽ được đưa vào quân thường trực của Vương quốc Lào Các đơn vị quân đội của Neo Lào Hắc Xạt sáp nhập quân đội quốc gia sẽ được hưởng quyền lợi bình đẳng về mọi mặt Sau khi sáp nhập quân đội quốc gia, các đơn vị quân đội của Neo Lào Hắc Xạt sẽ đóng tại quân khu cũ của mình Thời hạn sáp nhập các đơn vị vũ trang của Neo Lào Hắc Xạt vào quân đội quốc gia là 60 ngày kể

từ ngày thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc

Thực hiện Nghị quyết tháng 11/1957, Đoàn cố vấn quân sự 100 đã có kế hoạch đưa các lực lượng Pa thét Lào về hòa hợp dân tộc, giúp làm các công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ, quán triệt lập trường chính trị và quyết tâm của ĐND Lào và Mặt trận Lào yêu nước Ngày 18/1/1958, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Pa thét Lào hoàn thành thủ tục sáp nhập quân đội Vương quốc Lào

Thực hiện hiệp định ký kết về tổng tuyển cử, ngày 4/5/1958, cả nước Lào đã tiến hành tổng tuyển cử bổ sung để bầu thêm nghị sỹ Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên tất cả cử tri có quyền bầu cử gồm người của các bộ tộc, các tầng lớp, tôn giáo, giai cấp đều có quyền đi bỏ phiếu Kết quả của cuộc bầu cử cùng với việc thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ nhất và sửa đổi hiến pháp là thắng lợi quan trọng của đường lối hòa bình trung lập, độc lập, dân chủ, thống nhất đúng đắn của ĐND Lào

Như vậy, sau 4 năm đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, được sự giúp đỡ của Đảng và nhân dân Việt Nam, ĐND Lào và Mặt trận Lào yêu nước đã giành được những thắng lợi to lớn Nhưng trong lúc này, trong Chính phủ Vương quốc Lào, Mỹ và lực lượng thân Mỹ vẫn đang tìm cách phá hoại để biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ

1.3.2 Củng cố liên minh chiến đấu, giúp đỡ Lào phát triển lực lượng, căn cứ địa và cùng xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn

Trang 38

Do vị trí chiến lược quan trọng trên bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á, với việc hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được

ký kết, Mỹ đã trực tiếp nhảy vào Lào, coi Lào như một vị trí chìa khóa trong chiến lược toàn cầu của Mỹ ở Đông Nam Á Chính sách của Mỹ với Lào cũng như Nam Việt Nam và Campuchia là nhằm biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân

sự bao vây, tiến công các nước XHCN, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á

Sau Hiệp nghị Giơnevơ 1954, Việt Nam và Lào đều được công nhận là các quốc gia có độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước chuyển sang thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị, nhằm củng cố hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc, đưa cách mạng mỗi nước tiến lên giành thắng lợi mới Đối với Lào, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, để đảm bảo trang thiết bị, cơ sở vật chất sẵn sàng chiến đấu, Lào vẫn chủ yếu dựa vào viện trợ của Việt Nam Căn cứ vào đặc điểm tình hình và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của Lào, Việt Nam đã có sự giúp đỡ Lào về nhiều mặt: xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ địa cũng như tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn

Củng cố liên minh chiến đấu, giúp đỡ Lào phát triển lực lượng, căn cứ địa cách mạng

Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, cuối tháng 11/1954, các đơn vị quân đội Pa thét Lào trong cả nước tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ gồm một số đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, đại bộ phận là dân quân du kích

và các nhóm thanh niên mới Các lực lượng tập kết về hai tỉnh gồm 8.183 người cộng với hai tỉnh là 9.138 người trong đó có 3.260 người Hạ Lào; 1.175 người Trung Lào; 584 người Luông Pha băng; 2.441 người Viêng Chăn và Xay Nha Bu Ly; 2.006 người Huội Sài và 670 người Xiêng Khoảng [9, tr.25]

Trước yêu cầu về việc xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt của cách

mạng Lào, từ giữa năm 1954, Mật điện đồng chí Giáp gửi các đồng chí Hai, Cầu và

Ban Cán sự về tình hình địch và nhiệm vụ ở Hạ Lào ngày 14/5/1954 nêu bật nhiệm

Trang 39

vụ của cách mạng Việt Nam là phải xây dựng lực lượng vũ trang Lào: “Cần giúp cán bộ Lào mạnh dạn phát triển, tiến tới một trung đoàn giải phóng Bộ đội tình nguyện cũng cần tập trung tiểu đoàn dần dần đến Trung đoàn tùy theo điều kiện và trong những thời kỳ nhất định” [17, tr.411] Về vấn đề cán bộ, “cần mạnh dạn đào tạo cán bộ địa phương, dìu dắt họ trong công tác, giúp đỡ họ liên hệ mật thiết với quần chúng, xây dựng uy tín và lòng tự tin của họ Công việc càng ngày càng nhiều, cán bộ Lào càng phải được đào tạo để kịp gánh vác mọi công tác và mọi địa phương” [17, tr.411]

Nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ và chuyên gia Việt Nam là giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang trở thành lực lượng nòng cốt Ngay từ giữa năm 1954, trước khi

ký Hiệp nghị Giơnevơ, Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào đã hạ quyết tâm “Bất kể tình huống nào, việc đẩy mạnh xây dựng bộ đội Lào Itxala là một nhiệm vụ hết sức cần thiết phải tập trung lực lượng kiên quyết thực hiện cho bằng được” [98, tr.12-13] Bộ Quốc phòng Lào đã bàn bạc với Bộ chỉ huy quân tình nguyện ở Thượng Lào, dự kiến phát triển bộ đội Lào Ítxalạ đến năm 1955 phải đạt quân số trên dưới 1 vạn, xây dựng thành 5 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo ở Thượng Lào, 2 tiểu đoàn bộ binh ở Trung Lào và Hạ Lào Bộ Quốc phòng Lào đề nghị Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam có chủ trương và kế hoạch để tiếp tục giúp Lào xây dựng củng cố lực lượng trong tình hình mới Đáp ứng yêu cầu của Lào, Đoàn 100 đã đề xuất phương án tổ chức xây dựng quân dội Pa thét Lào với quy mô cao nhất là cấp tiểu đoàn, gồm cả các đơn vị bộ binh và trợ chiến Theo phương án

đó, tổ chức cơ quan Bộ Quốc phòng Lào có ba cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị chuyên môn kỹ thuật trực thuộc Bộ; tổ chức các lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân: các tiểu đoàn chủ lực, các đơn vị bộ đội địa phương (đại đội tập trung ở tỉnh, trung đội tập trung ở huyện) và các đội du kích ở xã, bản; tự vệ chiến đấu ở các cơ quan, xí nghiệp, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng địa phương

Tháng 8/1954, Đại tướng Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam Võ Nguyên Giáp

đã gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Lào khẳng định

Trang 40

“Sau tám năm kháng vượt qua rất nhiều khó khăn gian khổ, chung lưng đấu cật, đoàn kết chiến đấu với quân đội và nhân dân Pa thét Lào để chống kẻ thù chung, các đồng chí đã giúp nước bạn xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ kháng chiến, góp một phần quan trọng vào việc xây dựng và củng cố mối tình hữu nghị bất diệt giữa nhân dân hai nước Việt – Lào” [17, tr.427] Đại tướng cũng khẳng định trong chiến dịch Sầm Nưa và trong chiến dịch Đông Xuân vừa qua, các cán bộ và chiến sỹ tình nguyện Việt Nam đã cùng quân đội Giải phóng Pa thét Lào tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng được nhiều vùng rộng lớn ở khắp Thượng Lào, Trung và Hạ Lào, đẩy cuộc kháng chiến của nhân dân Pa thét Lào tiến mạnh sang một thời kỳ mới Sau đó sẽ tập kết lại từng vùng, sẽ chuyển về nước và sẽ được xây dựng thành những trung đoàn, đại đoàn chủ lực, cùng các đơn vị khác của QĐND Việt Nam lãnh nhiệm vụ củng cố và bảo vệ hòa bình ở Việt Nam, góp phần vào việc bảo vệ hòa bình ở Đông Dương và trên thế giới phải nâng cao cảnh giác, luôn luôn chuẩn bị đề phòng mọi âm mưu phá hoại của bọn gây chiến, đồng thời phải hết sức giúp đỡ quân đội và nhân dân Pa thét Lào anh em giữ vững cơ sở, giữ vững căn cứ, bảo toàn lực lượng

Tháng 10/1954, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam đã lập đề án tổ chức

và bố trí bộ đội Pa thét Lào và chấn chỉnh bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào trước khi về nước Theo đề án, “bộ đội Pa thét Lào tổ chức xây dựng 11 tiểu đoàn

bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, các đơn vị thông tin, vận tải, quân báo, công binh và

cơ quan chỉ huy thuộc bộ đội chủ lực Bộ đội địa phương tổ chức thành từng đội ở cấp huyện… Với bộ đội tình nguyện Việt Nam, Bộ Tổng tham mưu chủ trương chấn chỉnh để hoạt động trước khi rút về nước Phương châm hoạt động trong điều kiện mới được xác định là: phối hợp với bộ đội Pa thét Lào củng cố và giữ vững vùng giải phóng, vùng tập kết theo quy định của Hiệp định,… chấn chỉnh bộ đội tình nguyện theo tinh thần không tổ chức thêm lực lượng mà chỉ kiện toàn các đơn

vị hiện có ở các địa bàn Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Luông Pha băng, Viêng Chăn”

Đề án đó đã được thông qua tại Hội nghị quân chính Lào tháng 12/1954 do đồng chí Cayxỏn Phômvihản chủ trì Hội nghị nêu rõ nhiệm vụ của bộ đội Pa thét

Ngày đăng: 29/12/2015, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
2. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2005), Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Tác giả: Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. On Đình Bảo (1989), Sức mạnh của khối đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia trong chống Mỹ (1954-1975), Luận văn sau Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của khối đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia trong chống Mỹ (1954-1975)
Tác giả: On Đình Bảo
Năm: 1989
5. Nguyễn Đình Bin (chủ biên) (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Nguyễn Đình Bin (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Bộ Chính trị thông qua “Đề án đấu tranh về vấn đề hai tỉnh Sầm Nưa và Phông xa lỳ” ở Lào, ngày 22 tháng 1 năm 1955 lưu Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông Cục tác chiến, HS94, phông QUTU, HS 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị thông qua “Đề án đấu tranh về vấn đề hai tỉnh Sầm Nưa và Phông xa lỳ” ở Lào
7. Bộ Chính trị chuẩn bị bản báo cáo trung ương Đảng về tình hình mới và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Lào, ngày 2/7/1959, trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông QUTU, HS 223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị chuẩn bị bản báo cáo trung ương Đảng về tình hình mới và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Lào
8. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân (2003), Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Tác giả: Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm: 2003
9. Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954, tập I (1945- 1948), Nxb Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954
Nhà XB: Nxb Bộ Tổng Tham mưu
10. Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954, tập II (1949-1950), Nxb Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954
Nhà XB: Nxb Bộ Tổng Tham mưu
11. Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954, tập III (1951-1952), Nxb Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954
Nhà XB: Nxb Bộ Tổng Tham mưu
12. Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954, tập IV (1953-1954), Nxb Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy từ năm 1945 đến năm 1954
Nhà XB: Nxb Bộ Tổng Tham mưu
13. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (2003), Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập I (tháng 7/1954-12/1960), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2003
14. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (2003), Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập II (1961- 1963), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2003
15. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (2003), Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập III (1964- 1965), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2003
16. Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị về hoạt động quân sự ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phông xa lỳ nhằm đối phó với âm mưu mới của địch, ngày 1 tháng 8 năm 1955, lưu Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông BTTM, HS 209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị về hoạt động quân sự ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phông xa lỳ nhằm đối phó với âm mưu mới của địch
17. Bộ Tổng tham mưu sự thảo Đề án xây dựng lực lượng Pa-thét Lào, đầu tháng 1 năm 1961, Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông BTTM, HS 577 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tổng tham mưu sự thảo Đề án xây dựng lực lượng Pa-thét Lào
18. Bộ Tổng tham mưu soạn thảo kế hoạch giúp Pa thét Lào củng cố lực lượng vũ trang sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp, ngày 17 tháng 7 năm 1962, Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông BTTM, HS 630 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tổng tham mưu soạn thảo kế hoạch giúp Pa thét Lào củng cố lực lượng vũ trang sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp
19. Bộ Tổng tham mưu dự thảo “tình hình và nhiệm vụ quân sự ở Lào từ năm 1964 đến 1965”, ngày 13 tháng 9 năm 1963, Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông BTTM, HS 768 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tổng tham mưu dự thảo “tình hình và nhiệm vụ quân sự ở Lào từ năm 1964 đến 1965”
20. Bộ Tổng tham mưu dự kiến kế hoạch chiến dịch tấn công địch ở Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, ngày 3 tháng 10 năm 1963, Trung tâm lưu trữ Quốc phòng, phông BTTM, HS 772 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tổng tham mưu dự kiến kế hoạch chiến dịch tấn công địch ở Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w