1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quá trinh thực hiện chính sách dân tộc của đảng ở tình hòa bình từ 2001 2010

155 560 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 11,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi đây là thời kỳ đánh dấu sự khởi đầu của một thế kỷ mới, thế kỷ XXI với nhiều vấn đề mới được đặt ra trên phương diện lý luận và thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Hòa Bình phải giải quyết, t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi của đề tài: 5

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 7

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và việc quán triệt thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình trước năm 2001 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình 7

1.1.2 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và quá trình thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trước năm 2001 14

1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2005 28

1.2.1 Chủ trương thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2005 28

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hòa Bình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005 34

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 65

2.1 Phương hướng, kế hoạch thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2006 - 2010 65

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện Chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2006 - 2010 68

Trang 4

2.2.1 Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 – 2010) 68

2.2.2 Thực hiện Chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ Dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2007 – 2010 80

2.2.3 Tiếp tục thực hiện Chương trình 134 83

2.2.4 Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số 87

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 95

3.1 Một số nhận xét 95

3.1.1 Ưu điểm 95

3.1.2 Hạn chế 99

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 104

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 0

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc trên thế giới nói chung và trong một quốc gia nói riêng là vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề dân tộc thường diễn ra dưới nhiều hình thức và rất quyết liệt

Do đó, từ khi xã hội loài người có sự phân hóa giai cấp đến nay trong suốt quá trình phát triển của thế giới, việc tìm kiếm con đường giải quyết vấn đề dân tộc được các nhà chính trị và khoa học quan tâm đặc biệt Đảng cộng sản Việt Nam cho rằng: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam

Vấn đề dân tộc và giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta được Đảng cộng sản Việt Nam xác định là một nội dung quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay

Nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân của Đảng và Nhà nước ta, liên quan đến sự ổn định và phát triển của đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tình hình phát triển các dân tộc

ở Việt Nam và trên thế giới đang đặt ra cho chúng ta nhiều suy nghĩ về vấn đề phát triển các dân tộc ở nước ta, đòi hỏi phải tiếp tục nhận thức đúng vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và sự cần thiết bổ sung chính sách dân tộc phù hợp với thực tế của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong giai đoạn tiến mạnh vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 6

Đối với Hòa Bình, một tỉnh có hơn 70% số dân là người dân tộc thiểu số, trong đó có 6 dân tộc chính là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông, Hoa Đảng bộ tỉnh đã luôn quan tâm lãnh đạo giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh Thành công đó của Đảng bộ

là do đã thực hiện nghiêm túc, sáng tạo chính sách dân tộc của Đảng

Tuy nhiên, hiện nay ở Hòa Bình cũng có nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu nhằm rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tế

Nghiên cứu việc Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010 giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng vững vàng của Đảng nói chung, của Đảng bộ Hòa Bình nói riêng, đồng thời góp phần đánh giá đúng đắn những thành tựu và hạn chế cũng như những thuận lợi và khó khăn trong tổ chức thực hiện đường lối dân tộc thời kỳ lịch sử này Bởi đây là thời kỳ đánh dấu sự khởi đầu của một thế kỷ mới, thế kỷ XXI với nhiều vấn đề mới được đặt ra trên phương diện lý luận và thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Hòa Bình phải giải quyết, trong đó có lĩnh vực phát triển của các dân tộc thiểu số Việc nhận thức đúng đắn những đặc điểm và quy luật phát triển của các dân tộc thiểu số

và miền núi ở Hòa Bình là cơ sở khách quan có ý nghĩa quyết định để Đảng xác định chủ trương và chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Thực tiễn cuộc sống đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm túc, khoa học theo quan điểm lịch sử để nhận thức đúng đắn vấn đề dân tộc và đường lối chính sách dân tộc của Đảng trong những năm cả nước thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là những lý do thôi thúc tôi chọn đề tài:

“Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình từ

năm 2001 đến năm 2010” làm Luận văn Thạc sĩ của mình Đây là một đề tài

Trang 7

vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, mang tính thời sự đối với sự phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay nói chung, ở Hòa Bình nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Mỗi thời kỳ lịch sử, trước yêu cầu và nhiệm vụ chính trị mới đòi hỏi Đảng lại có chủ trương, chính sách, giải pháp mới phù hợp Chính vì vậy, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng luôn được giới lý luận và các nhà lãnh đạo quan tâm nghiên cứu Trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau Nhìn một cách tổng thể, các công trình liên quan có thể chia thành những nhóm chủ yếu:

- Nhóm 1: Những nghiên cứu tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt

Nam Đáng chú ý là: “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội

ở miền núi” của Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

“Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay – Thực trạng

và giải pháp” của Hà Quế Lâm, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội; “Mấy vấn

đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”

của Phan Hữu Dật, Nxb Chính tri Quốc gia, Hà Nội; Có thể thống kê nhiều hơn nữa những công trình loại này, song đây là những nghiên cứu tổng hợp nên chỉ mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm địa lý, văn hóa – xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Từ

đó rút ra một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn về đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời đóng góp cơ sở khoa học cho việc thực hiện tôt hơn chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam

- Nhóm 2: Những nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và nhà

nước ta, tiêu biểu trong số này có các công trình: “Vấn đề dân tộc và Chính

sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam” (Ban tư tưởng - văn hóa Trung

Trang 8

ương), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; “Hệ thống các văn bản chính sách

dân tộc và miền núi, tập 2: Về kinh tế - xã hội” (Ủy ban dân tộc và miền núi),

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội… Nhìn chung, đây là những tài liệu cơ bản cung cấp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng, hiểu được những nội dung cơ bản nhất về dân tộc và quan hệ dân tộc cũng như những chính sách dân tộc đúng đắn, nhất quán của Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

- Nhóm 3: Một số Luận văn Thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp ngành Lịch

sử Trong đó có các công trình: “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực

hiện chính sách dân tộc từ năm 1997 đến năm 2005” của Hoàng Thu Thủy,

Luận văn Thạc sĩ, 2007; “Đảng bộ Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng thời kỳ 1991 – 2000” của Hà Minh Huân, Khóa luận tốt

nghiệp, 2001 Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến giải quyết vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới

Các công trình nghiên cứu trên nhìn chung đều khẳng định vai trò to lớn

và sự đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay Những công trình báo cáo nêu trên là những nguồn tư liệu quý cung cấp cơ sở thực tiễn và cách tiếp cận về chính sách dân tộc và tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta

Tuy nhiên đến năm 2010, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy

đủ, có hệ thống vấn đề “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến năm 2010” dưới góc độ tiếp cận của khoa học Lịch sử Đảng

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Mục đích của khóa luận nhằm làm rõ chủ trương và biện pháp của Đảng Bộ tỉnh Hòa Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010 Khẳng định ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm

- Nhiệm vụ của đề tài:

+ Hệ thống hóa và trình bày các chủ trương, kế hoạch của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình nhằm thực hiện chính sách dân tộc trên địa bản tỉnh từ năm 2001 đến 2010

+ Mô tả khách quan, toàn diện quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến 2010

+ Đánh giá ưu điểm, hạn chế và rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010

4 Đối tượng và phạm vi của đề tài:

- Đối tượng của đề tài: Các chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến năm 2010

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010 Năm 2001 là năm diễn ra Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII, năm 2010 là năm kết thúc 2 Nhiệm kỳ: Nhiệm kỳ 5 năm (2001 – 2005) và Nhiệm kỳ 5 năm (2006 – 2010) Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

+ Không gian: Nghiên cứu sự vận dụng, cụ thể hóa chính sách dân tộc và

tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh Hòa Bình

+ Nội dung: Chính sách dân tộc có nội dung rất rộng, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Đề tài

Trang 10

giới hạn ở những nhóm chính sách chủ yếu sau: Chính sách kinh tế (Phát triển kinh tế, Xóa đói giảm nghèo, 135); Chính sách chăm lo trí lực và thể lực (Giáo dục – đào tạo, y tế, nâng cao đời sống vật chất); Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tài liệu:

+ Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

+ Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, Báo cáo của các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh liên quan đến chính sách dân tộc

+ Các công trình đã công bố liên quan đến nội dung đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu

là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh… để đối chiếu, bảo đảm

độ chính xác, tin cậy của các dữ liệu trong khóa luận

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc giai đoạn 2001 - 2005

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách

dân tộc giai đoạn 2006 – 2010

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 11

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2001 - 2005

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và việc quán triệt thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình trước năm 2001

1.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Hòa Bình

Hoà Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong tỉnh không những cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, mà còn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất với những chiến tích hào hùng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

Ngày 22/6/1886 sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp với chính sách

“chia để trị” đã giao cho quyền kinh lược Bắc Kỳ ký Nghị định cắt những vùng đất đai có đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây,

Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh Mường

Tỉnh Mường đầu tiên gồm bốn Phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn và Chợ Bờ Từ năm 1886 đến năm 1896, tỉnh lỵ có nhiều lần di chuyển, lúc đầu

ở Chợ Bờ rồi chuyển về Phương Lâm nhưng ở đây thường bị ngập lụt nên lại chuyển lên Chợ Bờ Sau cuộc tiến công bất ngờ của nghĩa quân Đốc Ngữ vào Chợ Bờ đêm ngày 29 rạng sáng ngày 30 tháng 01 năm 1891, giết chết tên phó

sứ Ru – Giơ – Ri, thực dân Pháp hoảng sợ chuyển lỵ sở đi nơi khác Ngày mùng 5/9/1896, tỉnh lỵ Mường chuyển về đóng lại làng Vũ Diệu, xã Hoà Bình, phía tả ngạn sông Đà đối diện với Phương Lâm, từ đó tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hoà Bình

Trang 12

Lúc này tỉnh Hoà Bình có bốn châu là: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và Mai Đà Lạc Thuỷ thuộc châu Lạc Sơn đến tháng 10 năm 1908 thì chuyển về tỉnh Hà Nam

Từ năm 1896 địa giới hành chính tỉnh Hoà Bình về cơ bản ổn định Đến tháng 01 năm 1953 châu Lạc Thuỷ cùng một số xã của Nho Quan – Ninh Bình được chuyển về Hoà Bình

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, các Châu được chuyển gọi thành huyện và tổ chức hành chính của một số huyện có thay đổi: Tháng 10/1957 huyện Mai Đà được tách thành hai huyện mới: Mai Châu và

Đà Bắc; huyện Lạc Sơn tách thành hai huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc, đến tháng 8/1964 huyện Lạc Thuỷ tách thành hai huyện: Yên Thuỷ và Lạc Thuỷ

Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong tiến trình đó, ngày 27/12/1976, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V, tại kỳ họp thứ hai ra Nghị quyết hợp nhất một số tỉnh, trong đó có tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây hợp thành một tỉnh mới gọi là tỉnh Hà Sơn Bình Trong 15 năm hợp nhất, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã chung sức, chung lòng xây dựng tỉnh mới ngày một phát triển

Ngày 01/10/1991 theo Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII (kỳ họp thứ 9) tỉnh Hoà Bình được tái lập Đây là sự kiện đánh dấu một thời kỳ mới trong tiến trình cách mạng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng

Tỉnh Hoà Bình có tổng diện tích là 4749 km2 gồm 10 huyện, thị: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Cao phong, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc và một thành phố trực thuộc tỉnh Phía Bắc giáp với tỉnh

Trang 13

Sơn La và tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội điểm gần nhất là 30km Phía Nam và Tây Nam giáp các tỉnh: Hà Nam, Ninh Bình và Thanh Hoá Chính vì vậy, Hoà Bình có vị trí quan trọng chiến lược ở Bắc Bộ, là cửa ngõ ra vào vùng Tây Bắc, là bản lề giữa vùng đồng bằng Bắc

Bộ, khu Bốn cũ với Tây Bắc, Việt Bắc, là cửa ngõ thông sang Thượng Lào Địa phận Hoà Bình có nhiều con đường giao thông huyết mạch đi qua như: Quốc lộ 6, 12, 15, 21… Đặc biệt là con sông Đà chảy từ Tây Bắc qua Hoà Bình nối với sông Hồng ở Việt Trì, sông Bôi từ Kim Bôi qua Lạc Thuỷ chảy vào sông Hoàng Long nối với sông Đáy tại cửa Gián (Phủ Lý) Những con đường thuỷ, bộ này là mạch máu giao thông quan trọng nối Hoà Bình với các tỉnh xung quanh

Núi rừng Hoà Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành hai tiểu vùng: Tiểu vùng 1, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối với miền Thượng du Thanh Hoá Đó là vùng núi cao nối tiếp giữa dãy Hoàng Liên Sơn và dải Trường Sơn, có độ cao trung bình 400 – 500 mét với nhiều đồi núi cao, rừng rậm Tiểu vùng thứ 2, bao gồm các huyện Kỳ Sơn, Lương Sơn xuống tới Lạc Thuỷ Đây là vùng núi thấp, có độ cao trung bình trên 100 mét, chủ yếu là núi đá vôi, nhiều hang động, rừng thứ sinh và đồng cỏ Địa hình rừng núi trong tỉnh bị chia cắt bởi nhiều thung lũng, hàng trăm con suối lớn, nhỏ Xen giữa các rặng núi có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền bãi ven sông

Trên dải cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ - Lai Châu đến bờ biển tỉnh Ninh Bình, hoạt động cacxtơ hoá đã tạo ra các bồn địa giữa núi có điều kiện cư trú thuận lợi (địa hình thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nguồn nước…), hình thành nên các xứ Mường trù phú, thường được người Mường ca tụng: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (nay thuộc địa phận các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong và Kim Bôi)

Trang 14

Ở địa bàn miền núi, Nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp Trong tổng số 395.300 ha đất đai nông – lâm nghiệp thì đất lâm nghiệp chiếm tới 367.300

ha, bằng gần 80% [52; 9] Rừng là tài nguyên quý giá nhất của Hoà Bình với nhiều loại gỗ qúy có giá trị về mặt kinh tế và giá trị sử dụng cao như lim, vàng hương, sến… các loại hương dược liệu: quế, nấm linh chi, thông đỏ…

và các loại đặc sản rừng như nấm hương, măng, mộc nhĩ…

Trong lòng đất Hoà Bình tiềm ẩn một số loại khoáng sản như than, kẽm, amiăng, vàng… Hoà Bình có nhiều sông, suối nên nguồn thuỷ điện rất phong phú, có điều kiện phát triển thuỷ điện nhỏ trên phạm vi rộng Đặc biệt là nguồn năng lượng của sông Đà rất lớn Năm 1979, được sự giúp đỡ của Liên

Xô, công trình thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà được khởi công xây dựng Đây là công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á với 8 tổ máy có tổng công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ kw/giờ

Rừng núi với bàn tay lao động của nhân dân các dân tộc đã tạo nên nhiều cảnh quan kỳ thú: Núi đá Cột cờ (Tân Lạc), Hang Can (Kỳ Sơn), Hang Trại (Lạc Sơn), Hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ)… với những dấu tích của nền văn hoá Hoà Bình nổi tiếng, với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (Bản Lác – Mai Châu), của đồng bào Mường (Bản Đầm - thị xã Hoà Bình)… suối nước khoáng Kim Bôi vừa là điểm du lịch, vừa là điểm điều dưỡng và là nguồn nguyên liệu phong phú để sản xuất nước giải khát có giá trị

Bên cạnh những tiềm năng lớn, đa dạng nói trên thì điều kiện tự nhiên cũng đem lại cho Hoà Bình không ít những khó khăn Trước hết là giao thông không thuận lợi, nhất là mùa mưa lũ, một số vùng cao, vùng sâu, việc đi lại và vận chuyển bằng xe cơ giới cũng gặp nhiều trắc trở Diện tích đất trồng cây lương thực, nhất là lúa nước rất ít, phần lớn là ruộng bậc thang hàng năm thường bị lũ quét trong mùa mưa bão, điều kiện để thâm canh tự túc về lương

Trang 15

thực là rất khó khăn Trong khi đó, trình độ sản xuất của nhân dân các dân tộc chưa cao Nhìn chung, Hoà Bình là một tỉnh miền núi còn nghèo nàn và hậu Những năm gần đây, do chính sách quản lý, sử dụng đất rừng và tài nguyên rừng còn thiếu xót, dân số tăng nhanh, cộng với phương hướng tự trang trải

về lương thực đã dẫn tới tình trạng chặt phá rừng với tốc độ nhanh Rừng bị suy kiệt, nhiều vùng trở thành đất trống, đồi trọc, môi trường sinh thái bị huỷ hoại đáng lo ngại làm cho hạn hán, lũ lụt thêm nghiêm trọng

1.1.1.2 Tình hình các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

Hòa Bình là một địa bàn sinh sống tập trung lâu đời của dân tộc Mường

và các dân tộc Thái, Kinh, Tày, Dao, Mông… Họ sống xen kẽ với nhau tạo thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Theo số liệu của cục thống kê tỉnh Hòa Bình tháng 12 năm 2009, toàn tỉnh có gần 79 vạn dân (trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 71,27%), người Mường chiếm tới hơn 63% tổng số dân toàn tỉnh và gần 10% là các dân tộc thiểu số khác: Thái, Tày, Dao, Mông… Họ có mặt hầu hết ở 10 huyện, thị, đông nhất là ở các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Kim Bôi Người Kinh sống tập trung chủ yếu ở thị xã, các thị trấn dọc đường giao thông lớn như Chợ Đồn, Chợ Bờ, Phương Lâm, Vụ Bản… chiếm tỷ lệ gần 30% tổng dân số toàn tỉnh Người Thái sống chủ yếu ở huyện Mai Châu; Người Tày, Dao sống chủ yếu ở các vùng núi cao của huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi; Người Mông sống tập trung ở hai xã Pà Cò và Hang Kia, huyện Mai Châu

Nhìn chung, địa bàn phân bố dân cư khá rõ nét, song trên bình diện toàn tỉnh không có một thành phần dân tộc thiểu số nào quần tụ và sinh sống tập trung trên một địa bàn có quy mô tương đối rộng Ngay cả dân tộc Mường, có

số người đông, cũng cư trú trải rộng trên nhiều vùng, nhiều đơn vị hành chính khác nhau Do sinh hoạt lâu đời trên các vùng có điều kiện địa lý khác nhau (thời tiết, khí hậu, địa hình) nên trong một số thành phần dân tộc cũng có sự

Trang 16

chênh lệch về trình độ phát triển kinhh tế và văn hóa, quyền lợi của họ gắn chặt với địa phương và nhân dân trong vùng đang cư trú

Hiện nay, hầu hết các dân tộc ở Hòa Bình đã sống định cư thành làng, bản, xóm với đủ các loại hình kinh tế như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp Hai dân tộc Kinh và Mường có tập quán cư trú ở vùng thấp, họ khai thác đất đai ở thung lũng để trồng lúa nước, tận dụng các sườn đồi để trồng cây lâm nghiệp, chăn thả gia súc và làm nương Người Dao và Mông có tập quán cư trú ở nơi có địa hình cao Trong sản xuất, trước kia họ làm nương theo phương pháp cổ truyền như chọc lỗ, tra hạt, sử dụng các sườn núi dốc để chăn thả gia súc và vào rừng thu lượm lâm thổ sản Ngày nay, họ đã biết kết hợp cả phương pháp canh tác cổ truyền với hiện đại như các dân tộc khác trong tỉnh

Trong đời sống văn hóa, mỗi dân tộc ở Hòa Bình đều có nền văn hóa và nghệ thuật phong phú, phản ánh cuộc sống của dân tộc mình một cách sâu sắc, độc đáo Người Mường nổi tiếng với kho tàng văn học dân gian gồm nhiều thể loại như: Tục ngữ, dân ca, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười… truyền thuyết “Đẻ đất đẻ nước” vẫn còn lưu truyền đến ngày nay Đó là kho tàng dân gian đồ sộ với nội dung phong phú, phản ánh đa dạng lịch sử của dân tộc Mường Những hình thức ví von, vần vè cũng chiếm một tỷ lệ lớn trong nền văn học dân gian Mường và thể hiện được tâm tư, ngôn ngữ, tình cảm cũng như các đặc điểm tự nhiên, nơi người Mường cư trú Các dân tộc Thái, Tày, Dao, Mông là các dân tộc ở những nơi khác đến sinh sống tập trung ở Mai Châu, Đà Bắc cũng có nét văn nghệ dân gian đặc trưng riêng Song tất cả đều phản ánh những đặc điểm xã hội, đời sống tình cảm cũng như tinh thần đấu tranh chống áp bức của mỗi dân tộc

Nhìn chung, quá trình cư trú xen kẽ đã tạo nên sự gần gũi, hòa hợp dân tộc một cách tự nhiên, làm cho các dân tộc học tập kinh nghiệm tiên tiến của

Trang 17

nhau, giúp nhau cùng phát triển Tuy nhiên, có nơi, có lúc cũng xảy ra những xích mích, va chạm Việc giải quyết mối quan hệ dân tộc phải là việc làm thường xuyên, tại chỗ của cơ sở, của các địa phương trên toàn tỉnh Hòa Bình, dựa trên nguyên tắc đoàn kết, đảm bảo bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, các dân tộc cùng làm chủ tập thể

Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình không những chiếm phần đa trên địa bàn toàn tỉnh mà còn sống xen kẽ với nhau, sống xen kẽ với người Kinh ở vùng thấp, trung du, miền núi dọc biên giới Việt Lào, những nơi có tiềm năng về đất đai, rừng, cây công nghiệp, khoáng sản… Địa bàn này luôn có vị trí quan trọng về mọi mặt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước cũng như sự nghiệp xây dựng “dân giàu, tỉnh mạnh” Do đó, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình phải nhận thức rõ đặc điểm này để tập trung lãnh đạo, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, tăng cường đầu tư cho các vùng miền núi và vùng các dân tộc ít người

Hòa Bình là một tỉnh miền núi gồm nhiều thành phần dân tộc, có truyền thống đoàn kết từ lâu đời, trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng như trong quá trình xây dựng tỉnh mình, các dân tộc đã cố kết thành một cộng đồng dân tộc rộng lớn, đấu tranh xóa bỏ chế độ lang đạo, xây dựng tỉnh Hòa Bình ngày một giàu mạnh

Trong cộng đồng dân tộc tỉnh Hòa Bình, mỗi thành phần dân tộc đều có những sắc thái riêng, biểu hiện một cách phong phú, sinh động trên nhiều mặt, nhất là trong văn học, nghệ thuật, tâm lý và phong tục tập quán

Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trên thực

tế là nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc để làm sao đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc trong tỉnh Hòa Bình bình đẳng với nhau về mọi mặt, làm cho tất cả các dân tộc có cuộc sống

Trang 18

ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể tỉnh Hòa Bình cũng như làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và quá trình thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trước năm 2001

1.1.2.1 Khái quát chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trước năm 2001

Trong “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương biên soạn có nêu: “Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đa dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp nắm chính quyền Chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam là một hệ thống các chủ trương, giải pháp, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam” [9; 42]

Quan điểm trên về chính sách dân tộc cho thấy thực chất của chính sách dân tộc là chính sách phát triển quốc gia – dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử, là chính sách quốc gia nhằm phát triển dân tộc, là tập hợp mọi chủ trương, đường lối, luật pháp và hệ thống các chính sách của Nhà nước, là cơ sở tạo ra nội lực của phát triển dân tộc

Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các dân tộc và cả nước, chính sách dân tộc tác động đến cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Những chính sách dân tộc có

Trang 19

nội dung đúng theo quy luật phát triển xã hội và phù hợp với tình hình thực tế

sẽ xúc tiến quá trình phát triển của đất nước Vì chính sách dân tộc là một nội dung quan trọng của chính sách phát triển đất nước, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc sẽ thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Chính sách dân tộc là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó

có một nội dung lý luận và thực tiễn sâu sắc Trên cơ sở trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, ngay từ khi thành lập, cũng như qua mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng đã căn cứ vào các nhiệm vụ chiến lược và tình hình đặc điểm vấn đề dân tộc ở nước ta, đề ra chính sách dân tộc đúng đắn, được thử thách trong hơn 70 năm qua và đã đem lại những thắng lợi vẻ vang

Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu tháng 4/1946, Bác Hồ đã khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Êđê, Xêđăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta đều sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung của chúng ta vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, ủng hộ chính phủ ta Chúng ta phải thương yêu, kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững chính quyền tự do độc lập của chúng ta” [32; 217 + 218]

Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác dân tộc, chính sách dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta Sau cách mạng tháng Tám thành công,

Trang 20

ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58 về tổ chức bộ máy nội vụ, trong đó có Nha dân tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ, với nhiệm vụ là xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình hình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Ngày 9/9/1946, Chính phủ ban hành Nghị định số 359 thành lập Nha dân tộc thiểu số với chức năng, nhiệm vụ là nghiên cứu và giải quyết các vấn

đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trên toàn cõi Việt Nam để củng cố nguyên tắc bình đẳng, sự đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam

Trong các văn bản Hiến pháp của nước Việt Nam qua các thời kỳ cũng đều khẳng định các nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển Ngay từ Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa… Ngoài sự bảo đảm về quyền lợi, những công dân thiểu

số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung

Tư tưởng đó còn được thể hiện rõ nét trong chủ trương, chính sách của Đảng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951) đã viết: Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ giữa các dân tộc

Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chính sách dân tộc được Đảng thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III Nghị quyết nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các dân tộc đa số

và thiểu số có một truyền thống đoàn kết anh em, Đảng và Nhà nước cần phải

có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa

số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của

Trang 21

mình Trong cán bộ cũng như trong nhân dân, cần phải khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” [16; 192 – 193]

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng đã đưa ra quan điểm về vùng núi và vùng đồng bào dân tộc, chính sách dân tộc trong thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội chỉ rõ: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam, “chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đều phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa” [17; 164]

Như vậy, “đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc” là những vấn

đề quan trọng hàng đầu trong đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Ba nguyên tắc cơ bản này có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại với nhau hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển Có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; Có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính sách dân tộc đã thực sự trở thành Cương lĩnh hành động thu hút hàng chục triệu nhân dân thuộc các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, kết thành sức mạnh tổng hợp để đánh bại kẻ thù là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Ngày nay, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chính sách dân tộc của Đảng là một bộ phận quan trọng trong chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trang 22

Chính sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đề ra và tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc Chính sách dân tộc là một lĩnh vực quan trọng, mang nội dung nhiều mặt của đời sống xã hội Chính sách dân tộc nhằm phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phục vụ con người thuộc các tầng lớp nhân dân các dân tộc Chính vì vậy, chính sách dân tộc gắn liền với chiến lược con người, với việc đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ các dân tộc Chính sách dân tộc của Đảng phải tác động làm thay đổi thực sự bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của các vùng và các dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đưa các dân tộc còn ở trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trong nước trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tự nguyện, cùng làm chủ, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn mười năm thực hiện đường lối do Đại hội

IV, Đại hội V đề ra, nghiên cứu khảo nghiệm của các nước trên thế giới, Đại hội VI của Đảng đã đề ra những quyết sách đúng đắn Tại Đại hội VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm tình hình mọi mặt và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong quá trình đi lên của cách mạng Việt Nam

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chính sách dân tộc của Đảng nhằm hướng tới sự phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc Báo cáo chính trị của Đại hội VI khẳng định: “tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực nhạy cảm Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ trân trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người

Trang 23

Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi” [18; 97]

Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số: “đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tình thần tự lực, tực cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến” [18; 97]

Cụ thể hóa đường lối của Đại hội VI, ngày 27/11/1989, Bộ chính trị ra Nghị quyết 22 – NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh

tế - xã hội miền núi Ngày 13/3/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 72 - HĐBT về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế

- xã hội miền núi

Từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ chính trị và Quyết định 72 – HĐBT, Nhà nước đã dần tăng mức đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc ở miền núi, đặc biệt là vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng căn cứ cũ theo các chương trình, dự án Do đó, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương miền núi đã có bước chuyển mới

Tiếp tục thực hiện những quan điểm của Đại hội VI, Đại hội VII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” [19; 77]

Trang 24

Về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn và chỉ rõ: Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng Luật dân tộc Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; Xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; Xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh” [20; 125 – 126]

Có thể nói, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính tổng hợp, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Chính sách là cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng

Nó là các vấn đề như: Chính sách đầu tư, chính sách đào tạo cán bộ, y tế, giáo dục, hạ tầng cơ sở, xóa đói giảm nghèo… Song, mục đích cuối cùng của chính sách dân tộc chính là: thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi; vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1.2.2 Khái quát quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình từ khi tái lập tỉnh (1991) đến năm 2000

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc vào tình hình thực tế của địa phương, từ khi tái lập tỉnh (1991) đến

Trang 25

năm 2000, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm khắc phục khó khăn do thực tiễn đặt ra

Dưới sự chỉ đạo của Ban chấp hành trung ương Đảng, của Bộ chính trị

và của Ban tỉnh ủy lâm thời, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ

XI (vòng 2) được tiến hành từ ngày 18 đến ngày 20/3/1992 Sau 3 ngày làm việc với ý thức trách nhiệm cao và trên tinh thần của “Đại hội đổi mới, đoàn kết, tiến lên”, Đại hội đã bầu được Ban tỉnh ủy khóa XI, Đại hội đã tập trung trí tuệ, thực sự suy nghĩ trên mảnh đất quê hương của mình và tìm ra giải pháp để thực hiện mục tiêu trong một số năm xóa bỏ hẳn tình trạng đói nghèo, nhất là đối với các dân tộc thiểu số ở vùng cao, địa bàn khó khăn, thực hiện đoàn kết, bình đẳng giữa nhân dân các dân tộc trong tỉnh, trên cơ sở

tổ chức thực hiện tốt những giải pháp mới đồng bộ, có liên quan chặt chẽ với nhau: Đẩy mạnh sản xuất nông – lâm nghiệp toàn diện, bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi thời vụ, trong đó chú trọng phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả trên quy mô lớn, gắn với cây công nghiệp chế biến, đạt giá trị kinh tế cao, khắc phục tình trạng một chiều, chỉ chú trọng sản xuất lương thực tại chỗ Khai thác tốt hơn các cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có ở công trường thủy điện và tuyến giao thông đường thủy hồ Hòa Bình phục vụ các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương Khai thác vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, giao lưu giữa thủ đô Hà Nội, vùng đồng bằng Bắc bộ với vùng Tây Bắc

Hòa Bình là một tỉnh còn nghèo, do đó vấn đề đầu tiên quan trọng nhất được Đại hội chú ý là giải quyết vấn đề đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số Những năm đầu tách tỉnh, tình hình đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn: khoảng 60% số dân của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu ăn, 25% thiếu gay gắt Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có chủ trương giải quyết vấn đề đời sống bằng cách

Trang 26

phát triển kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ chính trị, Quyết định

72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) là: thay thế cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp, trước hết là cơ cấu cây trồng, vật nuôi vì: thực tế các gia đình

đã thực hiện chuyển đổi trước năm 1992 cho thấy “thay đổi cơ cấu cây trồng

và vật nuôi càng nhanh bao nhiêu thì đời sống càng được cải thiện bấy nhiêu”,

đó là cái mốc để phân biệt giữa lạc hậu và tiến bộ, giữa giàu có và nghèo đói

Từ ngày có nghị quyết 22 của Bộ chính trị (11/1989), Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (3/1990) và Chỉ thị 525 của Thủ tướng chính phủ (11/1993) về việc phát triển kinh tế - xã hội miền núi và dân tộc, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã sớm có những nghị quyết, chủ trương, giải pháp đồng bộ, phù hợp với địa phương và đã tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đặc biệt, sau 4 năm đổi mới (1991 – 1995), Đảng bộ đã lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh và đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… Nhờ vậy đời sống vật chất cũng như tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên từng bước, làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, miền núi của tỉnh

Nhằm tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc trong tỉnh, thực hiện có hiệu quả hơn nữa Nghị quyết 22, Quyết định 72, Chỉ thị 525, quán triệt Nghị quyết hội nghị lần thứ V của Trung ương Đảng (khóa VII) về “đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”, Đại hội đại biểu Đảng bộ Hòa Bình lần thứ XII họp từ 7 đến 10/5/1996 được coi là Đại hội

“Dân chủ - đoàn kết – trí tuệ” Là một tỉnh miền núi, đa dân tộc, để góp phần đưa Hòa Bình tiến vào thế kỷ XXI với thế và lực mới, Đảng bộ Hòa Bình đã chủ trương thực hiện chính sách dân tộc trong những năm cuối của thế kỷ XX là: “Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, lấy tình làng, nghĩa xóm, gia đình ấm no, hạnh phúc, xã hội đoàn kết, hòa hợp – để đại đoàn kết là động lực cho phát triển” [13; 49]

Trang 27

Như vậy, đến năm 2000, Đảng bộ Hòa Bình đã lãnh đạo thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ chính trị (11/1989), Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (3/1990), Chỉ thị 525 của Thủ tướng Chính phủ (11/1993) về phát triển kinh

tế - xã hội miền núi và dân tộc đã được 10 năm Đó là 10 năm tỉnh Hòa Bình được tái lập, 10 năm Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trực tiếp lãnh đạo đồng bào các dân tộc trong tỉnh mình cùng nhân dân cả nước thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Qua 10 năm đó Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình thực hiện các nhiệm vụ đề ra đạt được những kết quả đáng phấn khởi:

Kinh tế của đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình sau 10 năm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đã tăng trưởng khá, giá trị tổng sản phẩm (GDP) tăng trung bình 7,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 2,35 triệu đồng/năm Nhờ đó đời sống đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình từng bước được cải thiện

Về nông nghiệp: Sau 10 năm thực hiện chuyển đối cơ cấu cây trồng gắn với thâm canh tăng vụ, tỉnh Hòa Bình đã hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, vùng chuyên canh như: Mía 6530 ha, chè 3000 ha, cây ăn quả các loại 11.000 ha Chăn nuôi được đẩy mạnh, việc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cùng với chính sách trợ giá, trợ cước con giống, thuốc thú y phòng, chống dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm tăng trưởng khá về cả số lượng và chất lượng, mức tăng bình quân hàng năm từ 3 – 4%

Về lâm nghiệp, sau 10 năm triển khai thực hiện các chương trình và dự

án, công tác bảo vệ rừng và trồng rừng đạt được những kết quả quan trọng Diện tích trồng rừng mới đến năm 2000 đạt 50.400 ha, khoanh nuôi bảo vệ rừng 173.000 ha,… Không chỉ bảo vệ và trồng mới được rừng mà còn tạo ra

Trang 28

một nguồn thu nhập lớn góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định nơi ăn, ở cho đồng bào các dân tộc du canh, du cư

Cùng với việc lãnh đạo thực hiện các chính sách về phát triển kinh tế rừng ở vùng đồng bào các dân tộc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng được Đảng bộ Hòa Bình tập trung chỉ đạo, đầu tư, đặc biệt là hạ tầng cơ sở cho vùng cao, vùng sâu, vùng lòng hồ sông Đà

Phong trào làm đường giao thông nông thôn được đẩy mạnh, thực hiện tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Sau 10 năm, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư cứng hóa được 1661km đường, rải nhựa 122km, mở đường xe ôtô về trung tâm xã đạt 209/214 xã Về thủy lợi: Đảng bộ Hòa Bình đã rất quan tâm chỉ đạo tập trung vốn đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cho vùng cao: bể chứa nước sạch, đào giếng nước ăn cho vùng đồng bào các dân tộc ít người ở các huyện Mai Châu, Đà Bắc

Về điện: Phát triển lưới điện quốc gia đã được triển khai toàn tỉnh, đặc biệt vùng đồng bào các dân tộc, bảo đảm nhu cầu ánh sáng cho nhân dân Tính đến năm 2000, tỉnh Hòa Bình xây dựng được 481 trạm phân phối điện, 149/214 xã, phường có điện Mạng lưới thông tin liên lạc, Bưu chính viễn thông phát triển khá, tất cả các huyện, thị đều có điện thoại, toàn tỉnh có 8712 máy điện thoại, bình quân 1,1 máy/100 dân

Về trường học: Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Nhà nước hỗ trợ vốn, nhân dân đóng góp công, nguyên liệu các tổ chức

xã hội, cá nhân hỗ trợ xây dựng trường học Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng học tập cũng được tỉnh đầu tư rất lớn đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Trong 5 năm (1996 – 2000) Hòa Bình đã xây dựng mới trên 2000 phòng học vững chắc, tính đến năm 2000 đã có 75% phòng học khối phổ thông trong vùng đồng bào các dân tộc được xây dựng vững chắc

Trang 29

Về xây dựng các trạm y tế xã và phòng khám đa khoa khu vực đạt được thành tựu quan trọng sau 10 năm cố gắng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình 100% trạm y tế xã, 24 phòng khám đa khoa khu vực được củng cố và xây dựng Đã trang bị 850 giường inox cho 100% số cơ sở điều trị, 100% trung tâm y tế huyện được trang bị xe cứu thương Chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc được nâng lên

Với sự nghiệp phát thanh – truyền hình, tỉnh đã hết sức quan tâm chú ý đầu tư xây dựng trang thiết bị hiện đại Đến năm 2000 sóng phát thanh đã phủ 95%, sóng truyền hình đã phủ 65% diện tích toàn tỉnh Tỷ lệ hộ có máy thu hình đạt 59%, máy thu thanh đạt 95%, đó là những chiếc cầu nối quan trọng giữa Đảng, Chính phủ với đồng bào các dân tộc, giữa miền xuôi với miền núi, giữa vùng cao với vùng thấp, và giữa các thành phần dân tộc với nhau

Những kết quả của sự tăng trưởng kinh tế, thành tựu về xây dựng cơ sở

hạ tầng đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình được cải thiện, bộ mặt xóm, làng, thị trấn và nông thôn tỉnh Hòa Bình có nhiều đổi mới

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, các lĩnh vực văn hóa – xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã thu được những thành tựu quan trọng

Về giáo dục – đào tạo: Hệ thống trường lớp phát triển rộng khắp tới các bản làng, thôn xóm Số học sinh dân tộc đến trường mỗi năm tăng 3 – 4% Đến năm 2000, 100% số xã, phường trong tỉnh Hòa Bình đã có trường, lớp tiểu học và trung học cơ sở, 100% huyện, thị có trường phổ thông trung học

và phổ thông cấp 2 + 3, hệ thống trường Dân tộc nội trú được xây dựng từ tỉnh đến huyện, liên xã, tuyển sinh đúng đối tượng là con em các dân tộc thiểu

số Tỉnh Hòa Bình có gần 50% số lượng giáo viên đang công tác tại vùng khó khăn và vùng đặc biệt khó khăn, đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ

Trang 30

giáo viên này còn nhiều thiếu thốn Ý thức được vấn đề này, ngành giáo dục

đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện điều kiện ăn, ở, sinh sống bù đắp nhu cầu tinh thần giúp giáo viên yên tâm công tác

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ Số người mắc bệnh sốt rét, bướu cổ giảm dần, tỷ lệ trẻ em dưới một tuổi được tiêm đủ 6 loại vacxin hàng năm đạt 90% trở lên Đội ngũ chuyên viên ngành y tế ngày càng được tăng cường tại các thôn, bản, bảo đảm nhu cầu khám và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc

Phong trào xấy dựng nếp sống văn hóa, phát triển và bảo tôn bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết trung ương V của Đảng được triển khai thực hiện rộng khắp các vùng Đến năm 2000 đã có 42,7% số hộ, 340 thôn bản, 232 trường học, 58 khu tập thể đạt tiêu chuẩn nếp sống văn hóa Có 700

tổ đội văn nghệ quần chúng đang hoạt động tại các cơ sở xóm, bản

Các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh – truyền hình đã có nhiều cố gắng, đáp ứng nhu cầu thông tin, nâng cao kiến thức và hưởng thụ văn hóa của các dân tộc tỉnh Hòa Bình, góp phần tuyên truyền rộng rãi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến vùng đồng bào đang cư trú

Công tác xóa đói giảm nghèo được các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Hòa Bình quan tâm chỉ đạo và thu được kết quả khá Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm

từ 36% năm 1996 xuống 14,5% năm 2000 Đời sống của đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình được nâng cao cả về tinh thần và vật chất

Bên cạnh những thành tựu đạt được sau 10 năm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng (1991 – 2000), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại một

số hạn chế như: Tăng trưởng kinh tế còn chậm, phát triển kinh tế chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh Hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, tích lũy

Trang 31

trong đồng bào các dân tộc còn thấp, thu chi ngân sách chưa cân đối Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm, manh mún và phân tán…; Công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao chưa được quan tâm thường xuyên Chất lượng giáo dục đại trà, nhất là vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn còn yếu kém Chất lượng dịch

vụ y tế chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cơ sở y tế ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn còn yếu kém; Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa vững chắc, chưa đồng đều, nhất là vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; Công tác xây dựng Đảng còn yếu, chưa được cấp Ủy quan tâm đúng mức Một số ít đảng viên bị sa sút, thoái hóa biến chất, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và làm giảm niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với sự lãnh đạo của Đảng

Mặc dù công tác dân tộc ở tỉnh Hòa Bình trong 10 năm qua còn tồn tại một số hạn chế, song tất cả những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đạt được trong 10 năm là vô cùng to lớn, khẳng định sự nỗ lực cao của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Những kết quả đạt được trong 10 năm (1991 – 2000) của đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng

Bộ tỉnh Hòa Bình, trước hết là có Nghị quyết 22 của Bộ chính trị, Quyết định

72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ), Chỉ thị 525 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội miền núi và dân tộc, có các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII về chính sách dân tộc, các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, XII là đúng đắn; Có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành

và phối hợp của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể; đã phát huy truyền thống đoàn kết nhân dân các dân tộc trong tỉnh để đại đoàn

Trang 32

kết thực sự là động lực phát triển, nhằm khắc phục khó khăn, thử thách về thiên tai, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra

1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2005

1.2.1 Chủ trương thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001 - 2005

Cụ thể hóa tư tưởng chiến lược của Đảng về vấn đề dân tộc và phát huy sức mạnh toàn dân tộc được ghi trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 7 (khóa IX) vào tháng 1/2003 Hội nghị thông qua Nghị quyết số 24 – NQ/TW về công tác dân tộc Nghị quyết khẳng định: Đảng ta dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là thực hiện bình đẳng giữa con người với con người trong xã hội, xóa bỏ áp bức, bóc lột, cùng nhau sống ấm no, hạnh phúc Điều này có nghĩa là: các dân tộc anh em trong đất nước ta đều được bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển Ở đất nước ta không có kỳ thị dân tộc, không có một dân tộc nào

áp bức, bóc lột dân tộc khác; không có dân tộc nào dù đông người hay

ít người bị coi là thấp kém… Tất cả mọi dân tộc, mọi người đều có quyền sống trong độc lập, tự do và vươn tới ấm no, hạnh phúc, có quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình Sự bình đẳng giữa các dân tộc bao hàm cả nghĩa vụ và quyền lợi, về vật chất cũng như về tinh thần Mỗi thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội…

Trang 33

của đất nước, các dân tộc đều được chung hưởng, và mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thiên tai, địch họa, các dân tộc đều cố kết thành một khối vững chắc, cùng chia sẻ, cùng nhau gánh vác, khắc phục và không hề

có sự phân biệt nào

Cơ sở quan trọng nhất để thực hiện sự bình đẳng và cùng tiến bộ giữa các dân tộc là đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đường lối và hệ thống pháp luật đó luôn được củng cố, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, được thực hiện nghiêm túc, triệt để

Tiếp tục sự nỗ lực đó, Đảng, Nhà nước ta từ nhiều năm nay đã vạch ra đường lối phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; coi trọng phát triển nguồn nhân lực của đồng bào; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số Đặc biệt chú

ý giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào trong nền văn hóa tiên tiến chung của đất nước

Nghị quyết số 24 – NQ/TW về công tác dân tộc nêu ra mục tiêu cụ thể đến năm 2010 là: phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc; Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu

số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi Nghị quyết đã xác định những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách để thực hiện mục tiêu đó:

+ Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa + Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình; thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các

Trang 34

chương trình giáo dục miền núi; tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y

Hòa Bình là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em (Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông, Hoa…) cùng chung sống từ lâu đời, có tinh thần đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương, đất nước Là một tỉnh nghèo, trên địa bàn toàn tỉnh có 102 xã đặc biệt khó khăn và ATK đang được Nhà nước đầu tư theo chương trình 135, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở những vùng này còn nhiều khó khăn

Trước năm 2001, công tác dân tộc của tỉnh bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều hạn chế yếu kém như: Kinh tế ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn chậm phát triển, đời sống đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, tập quán canh tác còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn, kinh tế lâm nghiệp chuyển biến chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thực sự bảo đảm cho đồng bào sống và gắn bó với nghề rừng; Chất lượng hiệu quả giáo dục và đào tạo ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp, việc đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở những vùng này còn gặp nhiều khó khăn Mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào còn thấp; Hệ thống chính trị cơ sở nhiều nơi còn yếu, đội ngũ cán bộ nhìn chung hạn chế nhiều mặt về trình độ, năng lực

Trang 35

Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, để tiếp tục giữ vững những thành quả đã đạt được, khắc phục những yếu kém, Tỉnh ủy Hòa Bình đã xây dựng Chương trình hành động số

212 – CTr/TU ngày 02/5/2003 về công tác dân tộc đến năm 2005 như sau:

 Chương trình 1: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn

 Chương trình 2: Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo với các giải pháp: Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nhất là vùng sâu, vùng cao theo hướng sản xuất hàng hóa; Tiếp tục duy trì và ổn định thành quả của công tác định canh, định cư, giúp bà con có cuộc sống tốt hơn; Thực hiện việc luân chuyển cán bộ, đưa cán bộ có năng lực, các sinh viên tốt nghiệp trung học, đại học về cơ sở, giúp cơ sở xây dựng mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, tạo điều kiện giúp bà con phát triển sản xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi;…

 Chương trình 3: Phát triển văn hóa – xã hội với các giải pháp: Tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết đến các tầng lớp nhân dân nhất là vùng sâu, vùng cao, vùng xa; Củng cố nâng cao chất lượng các trường dân tộc nội trú; Tăng cường dạy nghề, đào tạo nghề, dịch vụ y tế… cho vùng sâu, vùng cao; Đẩy mạnh thực hiện phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

 Chương trình 4: An ninh quốc phòng: Xây dựng phát triển sâu rộng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ vững và đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng của địch; Tăng cường công tác đào tạo cán bộ, giáo dục

ý thức quốc phòng cho vùng sâu, vùng cao, vùng dân tộc ít người

Trang 36

 Chương trình 5: Thực hiện dân chủ, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân Thực hiện xây dựng quy ước, hương ước ở thôn, bản, cơ quan, đơn vị, phát huy dân chủ trong nhân dân trong khuôn khổ pháp luật quy định [46]

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước bao giờ cũng xuất phát từ tình hình thực tiễn của cách mạng cả nước trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể Chính sách dân tộc chỉ mang lại hiệu quả thực sự khi được Đảng bộ các cấp địa phương quán triệt đầy đủ, sâu sắc, tạo nên sự nhất trí cao trong cán bộ, Đảng viên, nhân dân, đồng thời phải được cụ thể hóa bằng các chính sách và biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế của từng địa phương

Đảng bộ tỉnh đã luôn quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ các ngành, các giới, các cấp, đổi mới tư duy nhận thức về công tác dân tộc trước hết là cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp huyện trở lên Ngoài các lớp bổ túc văn hóa, Đảng bộ thường xuyên mở thêm các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn cho cán bộ cấp ủy, cán bộ lãnh đạo các ban, ngành

Tăng cường đội ngũ cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và quản

lý ở các cấp vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, có kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân

Trên cơ sở nâng cao nhận thức về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ đảng viên, từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ đã họp toàn thể, bàn bạc dân chủ và định ra nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cho phù hợp với thực tế địa phương

Để Nghị quyết của Đảng bộ đi vào cuộc sống, bên cạnh sự nỗ lực của các cấp ủy Đảng và đảng viên, cần phải đổi mới về công tác cổ động, tuyên truyền để mọi người dân, nhất là dân tộc thiểu số, dân cư sống ở vùng sâu,

Trang 37

vùng xa hiểu được những chủ trương, chính sách của Đảng, qua đó thực hiện tốt hơn chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Song song với đổi mới về công tác chính trị, tư tưởng, cần tiến hành đổi mới công tác tổ chức đảm bảo thực hiện chính sách dân tộc

Do đặc điểm kinh tế, trình độ dân trí thấp, bên cạnh đó các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; tác động tiêu cực của cơ chế thị trường nên đòi hỏi hệ thống chính trị trong vùng dân tộc cần phải được tăng cường mạnh mẽ hơn nữa

Tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng ở cơ sở có vai trò

to lớn trong việc thực hiện dân chủ và quyền làm chủ của quần chúng, điều hành và quản lý xã hội, phát huy vai trò chủ động và sáng tạo của nhân dân Việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ

sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu nhằm tăng cường năng lực thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, đặc biệt là các cơ quan chuyên trách như Chi cục định canh, định cư – kinh tế mới, Ban dân tộc, Bộ phận quản lý chương trình 135 Nếu Đảng, chính quyền cơ sở không đủ mạnh thì những chủ trương, kế hoạch, phương án phát triển tại vùng dân tộc sẽ ít phát huy tác dụng Giải pháp mang tính then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo

và sức chiến đấu của tổ chức Đảng trong vùng dân tộc thiểu số là phải xây dựng, củng cố tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng

và tổ chức, đảm bảo vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở địa phương, nâng cao trình độ văn hóa, lý luận cho đội ngũ Đảng viên

Trong công tác phát triển Đảng, hướng vào các đối tượng trẻ tuổi, có văn hóa, trưởng thành trong phong trào quần chúng, chú trọng các chức danh chủ chốt, kế cận công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể Chú trọng phát triển đảng viên ở vùng ít đảng viên nhằm phục vụ cho việc thực hiện chính sách dân tộc được tốt hơn Tổ chức Đảng và đảng viên phải sâu sát thực tiễn, bám

Trang 38

sát dân chủ, nắm chắc tình hình kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa bàn, hiểu sâu sắc tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu của đồng bào, biết xác định nhiệm vụ lãnh đạo, trọng tâm công tác trong từng thời điểm, tập trung các nguồn lực thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về chính sách dân tộc, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII và các Nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, quá trình thực hiện chính sách dân tộc trên điạ bàn tỉnh Hòa Bình đã được tiến hành một cách tích cực, có hiệu quả trên nhiều mặt

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hòa Bình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm

2001 đến năm 2005

1.2.2.1 Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc

Về sản xuất nông nghiệp: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình

lần thứ XIII xác định: “Phát huy lợi thế của từng vùng chuyển đổi mạnh mẽ

cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và phát triển bền vững gắn liền với thâm canh tăng vụ, thanh toán ruộng một vụ, mở rộng diện tích vụ đông Phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu Gắn sản xuất với thị trường, khai thác thị trường tại chỗ song song với việc vươn ra thị trường bên ngoài Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP nông, lâm, ngư nghiệp bình quân đạt 5 – 5,5%/năm” [14; 59]

Đối với cây lương thực: Đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ trên diện tích đảm bảo tưới tiêu, để ổn định diện tích trồng lúa khoảng 40.000 ha, mở rộng tăng

vụ màu Đến năm 2005, phấn đấu đạt 25 vạn tấn lương thực trở lên Bảo đảm

an ninh lương thực, xóa đói giáp hạt hàng năm

Trang 39

Đối với cây công nghiệp ngắn ngày, Văn kiện Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII chỉ rõ: Vùng mía mở rộng diện tích theo hướng khai thác đất đồi, đến năm

2005 lên 7.500 ha Đối với cây công nghiệp dài ngày: Mở rộng diện tích chè

3000 đến 3.500 ha tập trung ở các huyện Lương Sơn, Lạc Sơn, Yên Thủy và Lạc Thủy Hình thành vùng chè tuyết 500 ha tại hai huyện Mai Châu, Đà Bắc; Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng là một thế mạnh của tỉnh, Đảng bộ chủ trương: “Phát triển chăn nuôi, coi trọng cả về số lượng và chất lượng Đẩy mạnh nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt Trong những năm tới phát triển chăn nuôi bò sữa ở Lương Sơn, Kỳ Sơn và Thị xã Hòa Bình Nuôi dê sữa ở Lạc thủy và ở những nơi có điều kiện Quản lý khai thác, đánh bắt hợp lý nguồn thủy sản hồ Sông Đà và các hồ trong tỉnh” [14; 59 – 61]

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ được đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII về phát triển sản xuất nông nghiệp , trong giai đoạn 2001 – 2005, tốc đô ̣ tăng trưởng bình qu ân của ngành nông nghiê ̣p đạt 5,2%/năm, sản lượng lương thực cây (có hạt) tăng 9%/năm, đàn gia súc , gia cầm tăng 3 - 4%/năm Kết quả này đã tạo động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần mang lại diện mạo mới cho nông thôn Hoà Bình

Từ năm 2001 đến năm 2005, sản xuất lương thực trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước phát triển vượt bâ ̣c: tổng sản lượng lương thực (có hạt) năm 2005 tăng 43% so với năm 2001 Đạt được kết quả n ày trước hết là

do các địa phương đã tích cực chỉ đạo đồng bào các dân tộc gieo trồng đúng thời vụ, đẩy ma ̣nh pho ng trào thi đua thâm canh , tăng năng suất , phòng trừ sâu bê ̣nh, điển hình là vùng cao các xã : Kim Bôi, Lương Sơn, Lạc Sơn, Viê ̣c đưa những giống mới , giống có năng suất cao vào sản xuất được nông dân tích cực thực hiê ̣n Những địa phương có phong trào sử dụng giống lúa mới

đa ̣t khá như: Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Đà Bắc,

Trang 40

Bên ca ̣nh đó , viê ̣c thực hiê ̣n nhiều chính sách đồng bô ̣ hỗ trợ cho đồng bào dân tộc như trơ ̣ giá giống , cước vâ ̣n chuyển phân bón, cho người nghèo vay vốn với lãi suất thấp để đầu tư sản xuất , thâ ̣m chí các huyê ̣n Kim Bôi , Lạc Sơn, Lạc Thuỷ còn trích ngân sách trợ giá giống cây , con mới cho nông dân , hỗ trơ ̣ tiền xăng dầu chống ha ̣n , chống úng đ ã khích lệ nông dân phấn khởi thi đua lao đô ̣ng sản xuất

Công tác khuyến nông , khuyến lâm cũng được chú tro ̣ng Hệ thống khuyến nông đã phá t triển tới các xã , thôn, bản, khuyến khích đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực phát triển sản xuất Phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở vùng đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình có chuyển biến đáng kể, nhiều nơi đã chuyển ruộng 1 vụ lúa bấp bênh sang trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, có thu nhập cao hơn Cây mía, dưa hấu đã hình thành những vùng tập trung, cây mía tím đã trở thành cây đặc sản của tỉnh Hòa Bình

Trong chăn nuôi , nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã ma ̣nh da ̣n đưa những giống mới vào như chăn nuôi bò sữa , cải tạo đàn bò vàng ở Lương Sơn; nuôi dê lai hướng t hịt, sữa như dê Bách Thảo ở Lạc Thuỷ, Kim Bôi, Yên Thuỷ Mô ̣t số hô ̣ gia đình nhờ phát triển chăn nuôi đã có thu nhâ ̣p khá (60 -

70 triệu đồng /năm) như hô ̣ gia đình ông Thuâ ̣n (Yên Thượng - Cao Phong), chị Hương (Chiềng Châu - Mai Châu), ông Đi ̣nh (Tiến Sơn - Lương Sơn) Nhờ chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế , chuyển đổi cơ cấu cây trồng , vâ ̣t nuôi, nên giá tri ̣ sản xuất nông - lâm - ngư nghiê ̣p ngày càn g tăng, năm 2005 đa ̣t 1.284 tỷ đồng, tăng 16,8% so vớ i năm 2001 Đời sống của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình , nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn đươ ̣c cải thiê ̣n , góp phần thúc đẩy công cuộ c công nghiê ̣p hoá , hiê ̣n đại hoá của tỉnh

Về công tác bảo vệ rừng: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Hòa Bình lần thứ

XIII khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng trên

Ngày đăng: 29/12/2015, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ban dân tộc và Tôn giáo tỉnh Hòa Bình (2005), Báo cáo tổng kết Chương trình phối hợp “Đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát triển văn hóa thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2000 – 2005” và xây dựng kế hoạch phối hợp giai đoạn 2006 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát triển văn hóa thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2000 – 2005
Tác giả: Ban dân tộc và Tôn giáo tỉnh Hòa Bình
Năm: 2005
9. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
10. Bùi Đình Bôn (2010), “Thực hiện Chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam sau 25 năm đổi mới”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 15 – 01 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam sau 25 năm đổi mới”, "Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bùi Đình Bôn
Năm: 2010
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1960
17. Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1977
18. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1987
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1991
20. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
22. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
23. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
25. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
27. Đằng Thành Đạt (2007), Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Tác giả: Đằng Thành Đạt
Năm: 2007
28. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
29. Bế Viết Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
30. Hà Minh Huân (2001), Đảng bộ Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thời kỳ 1991 – 2000, Khóa luận tốt nghiệp Lịch sử Đảng, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thời kỳ 1991 – 2000
Tác giả: Hà Minh Huân
Năm: 2001
31. Hà Quế Lâm (2002), Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Hà Quế Lâm
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
32. Hồ Chí Minh Toàn Tập (1995), Tập 4 (1945 – 1946), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn Tập (1995), Tập 4 (1945 – 1946)
Tác giả: Hồ Chí Minh Toàn Tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
33. Lê Ngọc Thắng (2005), Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Nxb. Đại học văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb. Đại học văn hóa
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w