1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của đảng bộ tỉnh yên báo tu nam 1996 den nam 2010

136 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng bộ Yên Bái đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển ngành kinh tế nông nghiệp như: hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi cho hộ nghèo; hỗ trợ thực hiện chương trình cải tạo và trồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, với những biến động to lớn của tình hình thế giới: sự bùng nổ như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, sự vươn lên phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế của các quốc gia và xu thế toàn cầu hoá đã tạo ra những thời cơ mới cho các nước đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho mọi quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Đại hội VI (12/1986) là đại hội đổi mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong toàn Đảng và nhân dân Việt Nam Tại đại hội nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát của những năm còn lại chặng đường đầu tiên là: “Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [23, tr 42]

Sau năm năm bước đầu thực hiện đổi mới đất nước, tổng kết những thành tựu, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 đề ra phương hướng

cơ bản về xây dựng kinh tế là: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước” [9, tr 317]

Yên Bái là một tỉnh miền núi, trong giai đoạn đầu phát triển gặp nhiều khó khăn: nền kinh tế đi lên từ điểm xuất phát thấp, lực lượng sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân chưa được cải thiện… Trong bối cảnh chung đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Yên Bái bước vào thời kì xây dựng kinh tế, từng bước ổn định xã hội (1991 - 1995) tạo tiền đề cho giai đoạn sau

Trang 3

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định: “Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [9, tr 466] Với sự vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn các địa phương trong tỉnh từ năm 1991 –

1995, Đảng bộ Yên Bái cơ bản đề ra các chủ trương, giải pháp đẩy mạnh phát triển trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến văn hoá, giáo dục đào tạo Giai đoạn 1996 – 2010 được xem là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của tỉnh Yên Bái trên nền tảng sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội trong những năm 1991 – 1995

Điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp cho Yên Bái phát triển kinh tế nông nghiệp: trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dược liệu và cây lương thực, đẩy mạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nuôi và đánh bắt thủy sản Với trên 80% dân số tham gia sản xuất trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành kinh tế nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Đảng bộ Yên Bái đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển ngành kinh tế nông nghiệp như: hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi cho hộ nghèo; hỗ trợ thực hiện chương trình cải tạo và trồng mới cây chè, sắn cao sản do đó sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển, đời sống người nông dân ngày càng cải thiện Với những thành tựu đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Yên Bái đã và đang tiếp tục vượt qua khó khăn, thử thách đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá góp phần vào thắng lợi chung trong sự nghiệp phát triển đất nước

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:“Quá trình lãnh đạo kinh tế

nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010” làm Luận

Trang 4

văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam với hi vọng hệ thống hoá chủ trương của Đảng bộ Yên Bái về phát triển kinh tế nông nghiệp; đồng thời tìm hiểu sự phát triển kinh tế nông nghiệp Yên Bái giai đoạn 1996 -

2010 từ đó rút ra những nhận xét và một số kiến nghị về lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam, trong lúc đất nước bước vào thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển nền kinh tế thị trường thì vấn đề kinh tế được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Đã có rất nhiều những nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về kinh tế trong thời kỳ đổi mới như: Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang

Việt, Trần Vân (2002), Kinh tế Việt Nam đổi mới: những phân tích và đánh

giá quan trọng, Nxb Thống kê, Hà Nội; Ngô Đình Dao (chủ biên), (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Võ Đại Lược (2007), Kinh

tế Việt Nam đổi mới và phát triển, Nxb Thế giới, Hà Nội; Võ Đại Luận, Đào

Lê Minh, Nguyễn Trần Quế (1995), Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách

kinh tế đối ngoại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội…

Những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái đối với kinh tế như: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái

(2005), Đảng bộ tỉnh Yên Bái 60 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội; Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2007), Lịch sử

Đảng bộ tỉnh Yên Bái tập 1 (1930 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2007), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái

tập 2 (1975 - 2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Phùng Quốc Hiền,

Hoàng Xuân Lộc (2006), Yên Bái - đất và người trên hành trình phát triển, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội; Vũ Sửu (chủ biên), (2002), Nông nghiệp

nông thôn Yên Bái trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, Nxb

Trang 5

Thống kê, Hà Nội….ngoài ra còn có những đánh giá, bình luận trên báo chí, các phương tiện nghe nhìn

Tuy nhiên các công trình nêu trên mới đề cập đến những khái quát chung nhất về đường lối kinh tế, sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái hay những lĩnh vực kinh tế riêng biệt Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái với xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn

1996 – 2010 Vì vậy thực hiện đề tài này, tôi tập trung vào vấn đề hệ thống những chủ trương của Đảng bộ Yên Bái về phát triển kinh tế nông nghiệp với

hi vọng góp một phần nhỏ vào những nghiên cứu về Yên Bái nói riêng và kinh tế cả nước nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở thực tiễn kết quả đạt được và hạn chế về kinh tế nông nghiệp, đưa ra những bài học kinh nghiệm mang tính giải pháp góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp Yên Bái phát triển trong giai đoạn tiếp theo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Yên Bái

Trang 6

+ Những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn tiếp theo

- Phạm vi nghiên cứu:

Kinh tế bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…Luận văn chỉ tập trung vào sự chỉ đạo chung nhất về phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Yên Bái, những kết quả, kinh nghiệm chung

Về thời gian: nghiên cứu sự lãnh đạo, kết quả và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp 1996 - 2010

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lí luận:

Cơ sở lí luận của việc thực hiện luận văn dựa vào những chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở đó Đảng bộ Yên Bái đề ra đường lối kinh

tế nông nghiệp phù hợp

- Nguồn tư liệu:

Tài liệu mà luận văn sử dụng gồm: các văn kiện, nghị quyết của Đảng; các báo cáo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và một số tài liệu tham khảo đã nêu

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh kết hợp với thống kê nhằm đánh giá trung thực và khách quan nhất đối với những số liệu đã nêu

6 Đóng góp của luận văn

- Trình bày sự chỉ đạo của Đảng bộ Yên Bái về phát triển kinh tế nông nghiệp

- Nêu bật được tình hình kinh tế nông nghiệp Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 7

- Rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa vận dụng trong thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Kinh tế nông nghiệp “chuyển mình” dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái (1996 - 2000)

Chương 2: Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo đẩy mạnh kinh tế nông nghiệp theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng (2001 - 2010)

Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu

Trang 8

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội

Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc Bộ Phía Đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây nam giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 689.949,05 ha gồm: 1 thành phố (Yên Bái), 1 thị xã (Nghĩa Lộ), 7 huyện (Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình)

Địa hình Yên Bái có cấu tạo đa dạng và phức tạp với trên 70% diện tích đất là địa hình đồi núi và cao nguyên Đây là vùng tiếp giáp giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, là địa bàn chuyển tiếp từ địa hình vùng trung du Phú Thọ lên vùng cao Lào Cai Địa hình Yên Bái cao dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc Xét theo độ cao, có thể chia địa hình Yên Bái thành hai vùng: vùng cao và vùng thấp

Vùng cao Yên Bái có độ cao trên 600m gồm 70 xã trên tổng số 159 xã của tỉnh và chiếm tới 67,4% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Đó là vùng địa hình nằm ở hữu ngạn sông Hồng và các cao nguyên nằm ở giữa sông Hồng và sông Đà, có nhiều dãy núi cao chạy liên tục theo hướng Tây bắc – Đông Nam Địa hình này góp phần tạo nên vô số những thung lũng sông và bồn địa được phù sa bồi đắp khá rộng rãi ở Tú Lệ, Gia Hội và nhất là đồng bằng Mường Lò

Trang 9

rộng 2.300 ha lớn thứ 2 Tây Bắc (sau đồng bằng Mường Thanh – Điện Biên Phủ) Đặc điểm địa hình núi cao khiến Yên Bái hàng năm xuất hiện sương muối và băng giá Cư dân ở đây chủ yếu là đồng bào các tộc ít người: H’mông, Dao, Khơ Mú…chiếm khoảng 30,17% tổng số dân Điều kiện phát triển kinh tế vùng cao rất khó khăn Sản xuất nông nghiệp còn mang tính thuần nông, một bộ phận dân cư sống theo phương thức du canh, du cư Đời sống vật chất và tinh thần người dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp Vùng thấp có độ cao trung bình dưới 600m gồm vùng đồi núi thấp nằm ở

tả ngạn lưu vực sông Hồng, lưu vực sông Chảy mang những đặc điểm của vùng trung du với những thung lũng bằng phẳng và những cánh đồng chạy dọc triền sông Dân cư sống tập trung ở vùng này chủ yếu là người Kinh, Tày, Thái, Nùng Điều kiện phát triển kinh tế, đời sống vật chất tinh thần tương đối cao

Những đặc điểm về địa hình đã tạo cho Yên Bái phát triển nhiều chủng loại rừng khác nhau: nhiệt đới, Á nhiệt đới và ôn đới trên chủng núi cao Bên cạnh các loại gỗ quý (Nghiến, Táu, Lát, Hoa, Pơ mu ), cây thuốc quý (sơn tra, hà thủ ô, sa nhân) vùng còn có động vật quý hiếm (hổ, báo, cầy hương, lợn rừng, sơn dương…) và có nhiều đặc sản (cọ, măng, song, móc, nấm hương, mộc nhĩ, trẩu, quế, chè) Xen kẽ các khu rừng lớn là các mặt bằng với nhiều bãi cỏ rộng có khả năng phát triển chăn nuôi đại gia súc và mở mang du lịch sinh thái

Đặc trưng của khí hậu Yên Bái là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều với nền nhiệt cao, tổng bức xạ lên tới 100 – 140 kcal/cm2 Lượng mưa trung bình khá lớn từ 1800 – 2000mm/năm nhưng phân bố không đều Lượng bức xạ phong phú và nền nhiệt lượng cao là những thuận lợi đối với việc tạo ra sinh khối lớn giúp cho cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày quay vòng nhanh; các ngành khai thác và chế biến có nhiều thuận lợi Khí hậu mát mẻ ở vùng cao tạo điều kiện cho trồng cây dược

Trang 10

liệu, chăn nuôi gia súc có sừng (bò, dê, hươu) Tuy nhiên đặc điểm khí hậu đó cũng gây ra những bất lợi trong sản xuất và con người Mùa đông khí hậu lạnh gây sương muối Mùa hè những đợt gió tây nóng tràn sang gây tổn hại đến sức khỏe con người, súc vật và cây trồng

Chế độ thủy văn Yên Bái rất phong phú nhờ hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy cùng với khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ cùng một hệ thống hồ, đầm trong đó lớn nhất là hồ Thác Bà Nguồn nước sông Hồng và sông Chảy chứa nhiều phù sa màu mỡ đồng thời còn tạo ra nguồn thủy năng lớn Hồ Thác Bà có diện tích 23.400 ha trong đó diện tích mặt nước là 19.000

ha, còn lại là các đảo với chiều dài 80km, chiều rộng từ 5 – 15 km Đổ vào hồ Thác Bà là sông Chảy cùng hàng trăm suối nhỏ chứa một lượng phù sa và thức ăn cho thủy sinh vật phát triển Ở đây có trên 130 loại cá tự nhiên có giá trị kinh tế cao (cá trôi, chép, măng, ngão, quả, bống tượng…) Hồ Thác Bà góp phần rất lớn vào bảo vệ và cải tạo môi trường, giúp cho nhiệt độ trong mùa hè giảm từ 1 – 20C, tăng độ ẩm mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1700 – 2000mm/năm, tạo điều kiện cho thảm thực vật xanh tốt đặc biệt thích nghi với trồng chè năng suất lớn [66, tr 21]

Ngoài ra Yên Bái là tỉnh có trữ lượng khoáng sản tương đối lớn với kim loại quý hiếm: vàng ở Xuân Ái (Văn Yên), Kiên Thành (Trấn Yên), mỏ bạc ở

Tú Lệ…kim loại màu: đồng, chì, kẽm, sắt và các mỏ nhiên liệu: mỏ than đá ở Minh Quân, Bái Dương (Trấn Yên), mỏ Than mỡ ở Hồng Quang (Lục Yên) Đây là điều kiện để Yên Bái đẩy mạnh khai thác ngành công nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế trong tỉnh [66, tr 26]

Về tài nguyên đất, Yên Bái có thể phân ra 2 hệ đất chính: đất phù sa hình thành trên trầm tích sông suối bồi đắp và đất feralit phát triển trên nền địa chất

đa dạng Yên Bái có 549.104,31ha đất nông nghiệp chiếm 79,59% tổng diện tích đất tự nhiên trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 77.618,58 ha; đất lâm

Trang 11

nghiệp là 469.968,24 ha; đất nuôi trồng thủy sản 1.420,04 ha; đất nông nghiệp khác 97,45 ha [66, tr 27]

Xét theo đặc điểm địa hình lãnh thổ Yên Bái với ¾ diện tích là đồi núi thì diện tích đất canh tác được tận dụng gần như tối đa Ngoài việc đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, phương hướng trọng tâm phát triển kinh tế nông nghiệp Yên Bái là chuyển mạnh sang kinh tế trang trại và vườn đồi gia đình

Về dân số và lao động: sau khi tái lập tỉnh Yên Bái có số dân là 604.162 người trong đó 109.283 người sống ở khu vực thành thị Tính đến năm 2008, Yên Bái có tổng số dân 750.243 người với 429.002 người trong độ tuổi lao động Tỷ lệ gia tăng dân số khá cao vào khoảng 1.5 – 1.7%/năm, nhất là ở các vùng cao Yên Bái có 30 tộc người cùng chung sống trong đó: tộc người Kinh chiếm 54%; tộc người Tày chiếm 17%; tộc người Dao chiếm 9,1%, tộc người Mông chiếm 8,1%, tộc người Thái chiếm 6,1%, một số tộc người: Hoa, Phù

Lá, Sán Chay… chiếm 5,7% dân số [66, tr 37]

Những tộc người ở Yên Bái sống xen kẽ với nhau Tuy nhiên mỗi tộc người đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình Tại các vùng này, dân

số của tộc người đó chiếm tỷ lệ cao hơn so với tộc người khác cùng cư trú Tiêu biểu như người Mông cư trú tập trung ở Trạm Tấu và Mù Cang Chải; người Thái, người Mường ở Văn Chấn; người Dao ở Văn Yên, Văn Chấn; người Sán Chay ở Yên Bình, người Kinh ở thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ…

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào các tộc người ở Yên Bái đã có những đóng góp to lớn về sức người, sức của góp phần vào thắng lợi chung của đất nước Sau khi đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái, nhân dân tập trung vào phát triển sản xuất kinh tế và đạt được những thành tựu to lớn Sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị, mức sống người dân nâng cao vừa góp phần đưa Yên Bái trở thành một tỉnh giàu mạnh đồng thời là nhân tố tích cực đối với phát triển

Trang 12

kinh tế - xã hội của cả nước, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh quốc gia

1.1.2 Kinh tế nông nghiệp Yên Bái (1991 - 1995)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những thay đổi lớn và tác động sâu sắc đến nước ta Quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng trong đó quan hệ với một số nước được cải thiện rõ rệt tạo thêm cơ hội Việt Nam mở rộng thị trường, thu hút nguồn vốn đầu tư kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm thế giới xây dựng đất nước Tuy nhiên tình hình chính trị thế giới cũng có những mặt phức tạp tác động tới Việt Nam Tình hình trong nước khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn chưa chấm dứt trong đó khó khăn lớn nhất là tạo ra nguồn cân đối về vật chất, tài chính mở rộng thị trường tiêu thụ, đáp ứng mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế khắc phục lạm phát đang ở mức cao

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá thành tựu, ưu điểm và hạn chế qua 5 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước (1986 - 2000), Đại hội Đảng lần thứ VII

đã đưa ra phương hướng về kinh tế: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế -

xã hội” [24, tr 270] Trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt nhấn mạnh tới:

“Đặt trọng tâm vào chương trình lương thực – thực phẩm nhằm bảo đảm vững chắc nhu cầu trong nước và có khối lượng xuất khẩu lớn, nhất là gạo và sản phẩm chăn nuôi; phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày trên quy

mô lớn” [24, tr 270]

Từ ngày 27/07 đến 12/08/1991, kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa VIII quyết định tách tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai Cùng với việc tái lập tỉnh, Đảng bộ Yên Bái được tái lập và đi vào hoạt động

Ngày 15 – 17/01/1992, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã được tổ chức tại thị xã Yên Bái Quán triệt quan điểm, đường lối của Đại hội

Trang 13

Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác định nhiệm vụ tổng quát trong 5 năm là: “Giữ vững ổn định chính trị, ổn định và phát triển kinh tế

- xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, đẩy lùi tiêu cực và bảo đảm công bằng xã hội Phấn đấu đến năm 1995 tăng thu nhập lên 50%, đến năm

2000 lên 150% để cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, mở mang dân trí

và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đưa tỉnh Yên Bái từng bước vượt qua khó khăn” [5, tr 136]

Mục tiêu trong 5 năm tới là phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân các dân tộc trong tỉnh để khai thác các thế mạnh nông – lâm – công nghiệp, chế biến, dịch vụ và xuất khẩu Đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm tại chỗ, coi trọng cả lúa và hoa màu nhất là ngô Phát huy toàn diện thế mạnh chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế quan trọng theo hướng đi lên sản xuất hàng hóa Từng bước phủ xanh đất trống đồi núi trọc Phấn đấu đến năm 1995 đưa tổng sản lượng lương thực lên 160.000 tấn, thực hiện công tác định canh, định cư ổn định đời sống nhân dân

Để những quyết định của đại hội được phù hợp với điều kiện từng cấp, từng ngành và nhanh chóng đi vào thực tiễn, Đảng bộ Yên Bái đã chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội, xây dựng chương trình hành động nhằm đảm bảo tính toàn diện, đồng thời tập trung giải quyết những vấn đề then chốt thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Tháng 3/1993, Ban chấp hành Đảng

bộ ra Nghị quyết 03: “Về tiếp tục đổi mới và phát triển nông – lâm nghiệp toàn diện, xây dựng nông thôn mới đến năm 2000” Đây là nghị quyết đi trước một bước và phù hợp với Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, là cơ sở để Tỉnh ủy Yên Bái chỉ đạo xây dựng 6 chương trình kinh tế - xã hội trình Chính phủ phê duyệt:

1 Chương trình phủ xanh 374.000 ha đất trống, đồi núi trọc Mục tiêu đến năm 2000 đưa tỷ lệ rừng che phủ lên đến 45% diện tích đất tự nhiên của

Trang 14

tỉnh Thực hiện chương trình này nhằm góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho 46 vạn dân, trong đó có 16 vạn dân ở vùng cao

2 Chương trình khai thác tổng hợp 2 vạn ha đất đảo hồ Thác Bà Tổ chức đưa 4.000 hộ dân ra các đảo lập nghiệp trồng rừng, trồng các cây công nghiệp, nuôi cá lồng nhằm biến hồ Thác Bà thành trung tâm kinh tế, du lịch quan trọng

3 Chương trình định canh, định cư, tập trung giải quyết dứt điểm 15 xã còn lại, củng cố 4 xã đã định canh nhưng còn du cư, ổn định đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao Gắn chương trình này với việc củng cố hệ thống chính trị, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng

hạ tầng kinh tế - xã hội vùng cao

4 Chương trình giải quyết nước cho sản xuất và cho sinh hoạt Đầu tư sửa chữa 390/710 công trình thủy lợi đã có, xây dựng một số công trình thủy lợi mới, xây dựng nhà máy nước, lấy nước từ hồ Thác Bà cung cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Yên Bình và thị xã Yên Bái

5 Chương trình phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – khoáng sản Đầu tư tăng công suất chế biến chè từ 100 tấn/ngày lên 200 tấn/ngày; đổi mới công nghệ sản xuất sứ, xi măng, vật liệu xây dựng, phát triển ngành công nghiệp chế biến hoa quả

6 Chương trình phát triển giao thông, bưu điện, cung cấp điện Nâng cấp đường quốc lộ 70, 37 và 32; Cổ Phúc đi Văn Yên; làm mới và sửa chữa 2.200km đường nông thôn, mở đường ô tô đến 18/38 xã còn lại; nối liền mạng lưới thông tin lên 2 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải; đưa điện quốc gia lên Trạm Tấu nghiên cứu xây dựng thủy điện Nậm Kim để cung cấp điện cho

Mù Cang Chải [5, tr 138]

Nội dung của chương trình kinh tế - xã hội đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ Yên Bái trong phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp nhằm đẩy mạnh các thành phần kinh tế trong nông nghiệp đồng thời tiến hành giao quyền sử

Trang 15

dụng đất lâu dài cho hộ nông dân, thực hiện chính sách nông – lâm nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới, nâng cao sự lãnh đạo của đảng, vai trò quản lý của chính quyền cơ sở và đoàn thể nông thôn

Thực hiện chương trình kinh tế - xã hội, Đảng bộ tập trung chỉ đạo đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ chế kinh tế, cơ cấu đầu tư, mạnh dạn đưa khoa học công nghệ ứng dụng vào sản xuất Trong nông – lâm nghiệp, từng bước thực hiện giao quyền sử dụng đất đai lâu dài và ổn định cho nông dân; chuyển các hợp tác xã sang làm dịch vụ kỹ thuật, phân bón, đầu vào và đầu ra cho sản xuất Đến cuối năm 1993, 40% trong tổng số 316 hợp tác xã trong toàn tỉnh được chuyển sang cơ chế mới Các doanh nghiệp trong nông – lâm nghiệp từng bước đổi mới cơ chế quản lý, một phần đất đai được giao lại cho xã và cho hộ nông dân, số còn lại khoán cho công nhân Các doanh nghiệp công nghiệp, xây dựng thương mại chuyển sang khoán thầu đem lại hiệu quả rõ rệt Đảng bộ xác định phát triển ngành nông – lâm nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, trong đó sản xuất lương thực là quan trọng, trồng mới, bảo vệ, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả hướng phát triển lâu dài, tập trung đầu tư vào quảng canh thay cho thâm canh

Từ 1992 – 1993, nhà nước đầu tư gần 10 tỷ đồng sửa chữa và làm mới

270 công trình thủy lợi Toàn tỉnh đã cấp lúa giống cho trên 70% diện tích gieo cấy Nhiều giống mới có năng suất cao, kháng bệnh tốt được đưa vào sản xuất Năng suất lúa năm 1991 đạt 5 tấn/ha đến năm 1993 đạt 7 tấn/ha; sản lượng lương thực từ 136.000 tấn tăng lên 165.512 tấn, lương thực bình quân đầu người từ 224 kg/năm tăng 258kg/năm [5, tr 140]

Chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Ở vùng thấp, đàn lợn lai chiếm 70% tổng đàn, còn ở thị xã và thị trấn tỷ lệ là 100% Năm 1993, tổng đàn lợn có 195.000 con, đàn trâu, bò có 91.000 con, sản lượng thịt hàng hóa đạt gần 5.000 tấn, cung cấp cho miền xuôi gần 1.000 con trâu, bò cày kéo [5, tr 140]

Trang 16

Trong cây công nghiệp, chè được đặc biệt quan tâm Tỉnh ủy đã tập trung đầu tư thâm canh 5000 ha chè, đồng thời đẩy mạnh trồng mới một số giống chè nhập ngoại đáp ứng được yêu cầu của thị trường Cây quế là cây đặc sản được mở rộng trồng với diện tích gần 6.500ha Từ 1991 – 1993 đã giao trên 147.000 ha đất và rừng cho dân khoanh nuôi, bảo vệ và trồng được 22.600 ha rừng tập trung [5, tr 140]

Công nghiệp, thủ công nghiệp được điều chỉnh hướng vào các ngành chế biến nông – lâm – khoáng sản Trong hai năm (1992 – 1993), tỉnh đầu tư hơn

10 tỷ đồng vào đổi mới thiết bị chế biến chè, sản xuất đũa gỗ và chế biến gỗ Nhịp độ phát triển bình quân của công nghiệp địa phương đạt 13%/năm, năm

1993 giá trị sản lượng đạt 22.5 tỷ đồng tăng hơn 6 tỷ so với năm 1991 Xây dựng cơ bản phát triển mạnh Các công trình cầu Yên Bái, Tô Mậu, đường Yên Bình…được xây dựng và đưa vào sử dụng góp phần rất lớn đối với kinh

tế - xã hội của tỉnh [5, tr 140]

Trong hai năm (1992 - 1993), Nhà nước đầu tư 20 tỷ đồng phát triển kinh

tế - xã hội vùng cao, tạo điều kiện để cơ cấu kinh tế vùng cao có bước chuyển dịch từ sản xuất lương thực, phá rừng làm nương rẫy, chăn nuôi, trồng cây thuốc phiện từng bước chuyển sang khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng cây ăn quả, thâm canh hơn 4.000ha ruộng bậc thang, 11.000 ha nương rẫy kết hợp trồng cây chăn nuôi [5, tr 141]

Trên tinh thần nội dung của Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (01/1994) với quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kì đổi mới, nhằm phát huy hiệu quả mục tiêu kinh tế - xã hội trong những năm đầu tái lập tỉnh, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Yên Bái giữa nhiệm kỳ khóa 13 được diễn ra (24 – 31/0 3/1994) Hội nghị đã đánh giá việc thực hiện các nghị quyết của Đảng đặc biệt là thực hiện những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ Yên Bái đề ra Trên cơ sở đó, Hội nghị

đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế: thúc đẩy nhanh chóng sự chuyển dịch

Trang 17

cơ cấu kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp sang công nghiệp chế biến, dịch vụ

và xuất khẩu; tập trung vào 6 chương trình kinh tế - xã hội đã được chính phủ phê duyệt, đẩy tới 1 bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đạt mức tăng trưởng kinh tế 10%/năm trở lên Về nông – lâm nghiệp: hướng chỉ đạo đầu tư theo chiều sâu để chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành, trợ giá cho việc áp dụng giống lúa mới, giống ngô mới và vận chuyển phân bón Hoàn thành việc giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình Tỉnh vận động đồng bào vùng cao trồng vụ đông xuân, đẩy mạnh trồng chè, quế, nhất là cây chè đặc sản, trồng

cà phê Catimor Tăng cường chỉ đạo thực hiện 35 dự án của chương trình 327 Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ Yên Bái là một mốc đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy, phù hợp với hoàn cảnh, yêu cầu thực tế của địa phương Nội dung quan trọng của hội nghị là sự vận dụng đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng đặc biệt là Nghị quyết đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, thúc đẩy sự phát triển kinh

tế nông nghiệp tạo nền tảng cho giai đoạn sau

Nhờ vận dụng đường lối quan điểm của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn địa phương, từ năm 1991 đến 1995, Đảng bộ Yên Bái cơ bản hoàn thành các chủ trương, giải pháp lớn, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, chính trị, kinh tế - xã hội, chuẩn bị một bước về chính trị, tư tưởng cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Qua năm năm (1991 - 1995), sản xuất nông – lâm nghiệp đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tiến bộ, từng bước khắc phục kinh tế thuần nông và chuyển dần sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, kinh doanh tổng hợp, sản xuất nông – lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7.5%/năm trong đó nông – lâm nghiệp tăng 5.6%/năm; dịch vụ thương mại tăng 10.6%/năm Cơ cấu kinh tế đạt một bước chuyển dịch quan trọng Năm 1991, giá trị nông - lâm nghiệp chiếm

Trang 18

68.8% GDP, công nghiệp và dịch vụ chiếm 31.2% đến năm 1995, nông – lâm nghiệp là 55.5%, công nghiệp và dịch vụ tăng lên 44.5% [5, tr 152]

Về sản xuất lương thực mỗi năm tỉnh đã đầu tư gần một tỷ đồng trợ giá giống lúa, ngô, cước vận chuyển phân bón, khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân…tổng sản lượng lương thực quy thóc vượt 6,9% mục tiêu Đại hội XIII đề ra (tăng thêm 3,5 vạn tấn lương thực Riêng năm 1995 năng suất lúa đạt 74,4 tạ/ha, sản lượng lương thực trên 171.000 tấn) bình quân lương thực đạt 255kg/người/năm tăng 3% Năm 1991, năng suất lúa chỉ đạt 5 tấn/ha (huyện Văn Yên đạt 7 tấn/ha) thì năm 1994 tăng lên 7.2 tấn/ha, 6 huyện thị đạt trên 7 tấn (Văn Yên đạt 8.7 tấn/ha) [5, tr.142]

Về cây công nghiệp: Cây chè mở rộng thêm diện tích và đẩy mạnh thâm canh, đã hình thành vùng chè 7.300 ha, diện tích chè trồng mới tăng thêm 1.000 ha, mỗi năm chế biến hơn 4.500 tấn chè thương phẩm, cây chè đặc sản vùng cao được chú ý đầu tư phát triển với gần 800 ha, góp phần ổn định đời sống đồng bào vùng cao Cây quế đang phát triển mạnh ở tất cả các huyện trong tỉnh, đến nay diện tích đã có 1,1 vạn ha tăng gấp gần 2 lần; cây cà phê Catimor mới được xác định và đã trồng được 460ha; cây mía phát triển và hình thành vùng tập trung phía Bắc huyện Văn Yên với hơn 800ha [5, tr 143]

Đảng bộ Yên Bái tập trung chỉ đạo phát triển vùng cây ăn quả, tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với sinh thái từng vùng với cây trồng phù hợp trên cơ sở cải tạo vườn tạp và trồng mới đã đưa diện tích cây ăn quả toàn tỉnh lên 3.500 ha, sản lượng quả tăng gần 1.000 tấn Cây ăn quả: cam, bưởi, nhãn, chuối, hồng, na đạt diện tích 3.500 ha, mỗi năm cho sản lượng

1000 tấn quả

Chăn nuôi có bước tiến bộ Đàn gia súc tăng 3,8% Năm 1995, bình quân mỗi hộ nông dân có 1.15 con trâu, bò; 2.5 con lợn, sản lượng thịt hàng hóa

Trang 19

tăng 5,85% đạt 6.000 tấn Phong trào chăn nuôi cá và các con đặc sản phát triển ở nhiều nơi [5, tr 153]

Về lâm nghiệp, những năm qua đã chuyển hướng mạnh lấy khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ rừng là chính kết hợp trồng mới, tăng nhanh vốn rừng Thực hiện giao đất, giao rừng cho hộ quản lý, bảo vệ chăm sóc và trồng mới gắn với đầu tư vốn theo các chương trình dự án và công tác khuyến lâm…Trong năm năm (1991 - 1995) diện tích rừng trồng mới đạt 39.051 ha tăng mỗi năm gần 8.000ha Đưa diện tích rừng trồng lên 47.000 ha, diện tích rừng tự nhiên được giao để bảo vệ 123.138 ha, diện tích khoanh nuôi rừng tái sinh, phục hồi 39.100ha Đưa tổng diện tích rừng hiện có lên 21 vạn ha, tốc độ tăng trưởng diện tích rừng hàng năm tăng 9,4%, đưa tỷ lệ che phủ của rừng hàng năm từ 17% năm 1990 lên 30,5% năm 1995 [5, tr 153] Công tác quản lý, khai thác lâm sản được chỉ đạo chặt chẽ Khai thác rừng đồng thời gắn với công nghiệp chế biến nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, vì vậy hạn chế được việc bán nguyên liệu thô ra ngoài tỉnh

Đồng thời với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế cũng thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 24,5%, giá trị sản lượng năm

1994 đạt 105 tỷ đồng, trong đó công nghiệp địa phương chiếm 35,6%, tăng bình quân 21,1%/năm Xuất khẩu tăng bình quân 12,8%, năm 1994 đạt 7,3 triệu USD, bình quân đầu người đạt 12USD Hoàn thành và đưa vào sử dụng một loạt công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội

ở địa phương như cầu Yên Bái, cây cầu lớn đầu tiên Yên Bái bắc qua sông Hồng, cầu Tô Mậu, cầu Ngòi Lâu 8/9 huyện, thị trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia Đó là những nỗ lực vượt bậc của các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh [5, tr 153]

Trang 20

Đảng bộ Yên Bái thực hiện một số chính sách xã hội và thu được những kết quả to lớn Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 170 USD/năm, 14% số

hộ giàu, số hộ nghèo đói từ 30% năm 1991 giảm xuống còn 18% Đã có 57%

số hộ dùng điện thắp sáng trong đó có 15.000 hộ dung điện thủy lợi nhỏ và cực nhỏ, 133 (74,2%) xã có đường ô tô đến trung tâm xã [5, tr 154]

Nền kinh tế nhiều thành phần được khuyến khích tạo đà phát triển mạnh Đến cuối năm 1995, toàn tỉnh có 22 doanh nghiệp tư nhân, 6 công ty trách nhiệm hữu hạn, 7.300 hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 5.900 hộ gia đình kinh doanh dịch vụ thương mại; 3.250 hộ làm kinh tế trang trại có từ 3ha đến 300ha đất [5, tr 154]

Kinh tế vùng cao có bước chuyển biến tích cực Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có kết quả bước đầu trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng Trước hết là tập trung vào việc xóa bỏ trên 1.500ha cây thuốc phiện và đầu tư có trọng điểm nhằm từng bước đưa kinh tế vùng cao thoát khỏi tình trạng tự nhiên, tự túc tự cấp Thông qua chương trình, dự án nhà nước đã đầu

tư gần 60 tỷ đồng và hàng chục tỷ đồng từ công sức của đồng bào cho xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vùng cao Tập trung vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như: Hỗ trợ việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất, bước đầu tăng thêm

vụ sản xuất, tăng năng suất và sản lượng cây lương thực, khai hoang mở rộng diện tích cấy lúa nước và nương bậc thang được 273 ha, trồng mới gần 100 ha chè, 6 vạn cây ăn quả, 2 vạn cây dược liệu Giao đất giao rừng để bảo vệ khoanh nuôi, tái sinh 59.515 ha; trồng mới 415 ha rừng phòng hộ, 1.603 ha quế Sửa chữa nâng cấp 750 công trình thủy lợi, đảm bảo tưới cho 76% diện tích lúa nước, đầu tư xây dựng 35 công trình thủy lợi vừa và nhỏ [25, tr 15] Như vậy từ 1991 – 1995, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ Yên Bái, công cuộc đổi mới diễn ra và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa về cơ bản hình thành và trở thành

Trang 21

nền tảng cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ chế quản lý mới được xác lập và dần đi vào hoàn chỉnh, các mô hình sản xuất kinh doanh năng động, có hiệu quả xuất hiện cả trong nông – lâm – công nghiệp – thương nghiệp, thủy sản và các thành phần kinh tế Nhịp

độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định; đời sống nhân dân nâng cao về vật chất

và tinh thần

1.2 Sự chuyển biến của kinh tế nông nghiệp Yên Bái (1996 - 2000)

1.2.1 Đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Đảng

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng đã đặt cơ sở cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn khi xác định phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội Những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế đã khẳng định sự đúng đắn về đường lối đồng thời là điều kiện để Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên từng lĩnh vực Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục hoàn chỉnh đường lối đổi mới đã quyết định chọn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn làm bước đi đầu tiên để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội đã xác định nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm còn lại của thập kỷ 90 trong đó đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với các nội dung chủ yếu:

- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong

và ngoài nước

- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa và sinh học hóa

Trang 22

- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị

- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại

- Hoàn thành việc cơ bản giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân Điều chỉnh việc phân bổ vốn và huy động thêm nhiều nguồn vốn cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn Có chính sách khuyến khích và trợ giúp nông dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển giao công nghệ, giải quyết khó khăn về vốn, về giá cả vật tư nông nghiệp và hàng nông sản, về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Đại hội VIII nêu ra những nội dung khái quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, đặt trong mối quan hệ với các nội dung cơ bản của đường lối công nghiệp hóa đất nước Đường lối đó đã phát huy nội lực nền kinh tế và quyết định mục tiêu, những bước đi phù hợp ngay từ đầu của nền kinh tế

Trước những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn trong quá trình thực hiện đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Hội nghị Trung ương 4 (12/1997) đã tập trung bàn sâu về kinh tế – xã hội Hội nghị đã nhận định về việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn: “đã làm được một bước nhưng còn lúng túng, khó khăn, rất chậm chạp” Từ sự phân tích tình hình thực tế đất nước, xác định những nguyên nhân hạn chế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Hội nghị đã đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng

Trang 23

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dân chủ hóa với nội dung chủ yếu trước tiên là: đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn; thực hiện tốt các chủ trương phát triển nông, lâm, ngư nghiệp đã được xác định trước đó Đẩy nhanh chương trình thủy lợi hóa, thoát lũ, củng cố hệ thống đê điều trong cả nước Đẩy mạnh công nghệ sinh học Triển khai dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, phủ xanh 40% diện tích đất

cả nước Triệt để giao đất, rừng, ổn định đời sống đồng bào định canh, định

cư, di dân Tổ chức lại công nghiệp chế biến thủy hải sản

Cuối năm 1998, đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đi vào thực hiện được hai năm Để có hệ thống chính sách, luật pháp hoàn chỉnh và xây dựng thành chương trình thực hiện đồng bộ, Bộ chính trị ra Nghị quyết riêng về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết 06 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 10/11/1998

là bước phát triển cao hơn, đầy đủ hơn về nội dung đường lối, chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông thôn

Nghị quyết đã đưa ra 4 quan điểm và 6 mục tiêu về nông nghiệp, nông thôn trong đó nhấn mạnh: phải coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn Đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề hình thành sự liên kết nông – công nghiệp – công nghiệp – dịch vụ và thị trường trên địa bàn nông thôn Phát huy lợi thế từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng luật, tạo điều kiện khuyến khích mạnh hộ nông dân đầu

Trang 24

tư phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ nông thôn

Quá trình thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị, của Trung ương Đảng

về công nghiệp hóa, hiện đại hóa hóa nông nghiệp, nông thôn diễn ra khẩn trương ở nhiều địa phương trong cả nước và đã thu được những kết quả quan trọng bước đầu về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh Sự phát triển kinh tế, xã hội nhất là nông nghiệp, xây dựng nông thôn năm 1999 và 2000 đã chứng minh đường lối đúng đắn của Đảng, đó là một bước chuyển quan trọng lớn lao trong thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước

1.2.2 Quá trình lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Yên Bái

Thực hiện chỉ thị số 51 ngày 09/03/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chỉ đạo đại hội các cấp, tiếp thu và vận dụng quan điểm chiến lược của Đảng trong các văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII vào điều kiện cụ thể của địa phương, Đảng bộ Yên Bái đã gấp rút hoàn thành về nội dung và tổ chức cho Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV

Trước tình hình thực tế trong tỉnh, nắm vững đường lối, sự chỉ đạo của Đảng đề ra tại đại hội VIII, Đại hội đại biểu Đảng bộ Yên Bái lần thứ XIV diễn ra từ ngày 02 – 04/05/1996 với tư tưởng chỉ đạo: Trí tuệ - đổi mới – dân chủ - kỷ cương – hành động Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV xác định mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ 1996 – 2000: khai thác mọi tiềm năng thế mạnh và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ khai thác nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao; kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu tiến bộ xã hội; bảo vệ

sự bền vững của môi trường sinh thái, giữ vững sự ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh Tăng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

Trang 25

đại hóa Phấn đấu đến năm 2000 đưa tỉnh Yên Bái ra khỏi đói nghèo, trở thành một tỉnh phát triển của khu vực miền núi Phấn đấu tăng gấp 2,5 lần GDP bình quân đầu người vào năm 2000, đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thời kỳ 1996 – 2000 là 11%; thời kỳ 2000 – 2010 là 12,5% và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2000: nông – lâm nghiệp 33%; công nghiệp – dịch vụ: 67% Đến năm 2010, tỷ trọng nông – lâm nghiệp 20%; công nghiệp – dịch vụ: 80%; xóa nạn đói giáp hạt, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo [25, tr

50 - 51]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và Đại hội đại biểu Đảng bộ Yên Bái XIV, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh xây dựng 5 nhiệm vụ, mục tiêu trong đó nhấn mạnh kinh tế nông nghiệp:

Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông – lâm – công nghiệp chế biến, dịch vụ và xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: phát triển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều vùng sản xuất luân canh, thâm canh và kinh doanh tổng hợp; chú trọng sản xuất lương thực, bố trí hợp lí cơ cấu mùa

vụ đưa 35 – 40% diện tích ruộng một vụ lên 2 vụ, phát triển mạnh cây màu lương thực, đưa tổng sản lượng lương thực lên 190.000 – 195.000 tấn đạt mức bình quân 270 – 280 kg/người; tập trung thâm canh có hiệu quả cây công nghiệp và cây ăn quả, đưa diện tích chè lên 1 vạn ha và cà phê lên 5000 ha vào năm 2000 Quy hoạch vùng và xác định tập đoàn cây ăn quả phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng của từng vùng, tập trung cải tạo cơ bản diện tích vườn tạp thành vườn hàng hóa Hình thành một số vùng sản xuất tập trung đối với một

số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao: nhãn, vải, cam…đến đầu năm 2000

có từ 5000 – 6000 ha và đạt 6000 – 7000 tấn quả Phấn đấu đưa tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả trong ngành trồng trọt từ 10,4% lên 20% năm 2000 [25, tr 55]

Trang 26

Về chăn nuôi: phát triển chăn nuôi đại gia súc, đẩy mạnh nuôi cá trên hồ Thác Bà, phát triển nuôi ong lấy mật, phấn đấu đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi

lên 35%

Sản xuất lâm nghiệp: Thực hiện tốt việc bảo vệ 123.000 ha rừng tự nhiên hiện có, đẩy mạnh việc khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng mới, thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc Cơ cấu cây trồng hợp lí, chú trọng cây bản địa, cây có giá trị kinh tế cao như: quế, dổi, lim, lát…đến năm

2000 có 93.000 ha đất trống được phủ xanh, 47.000 ha được trồng mới, tăng cường công tác quản lý, khai thác, hạn chế thấp nhất việc mua bán nguyên liệu thô ra ngoài tỉnh [25, tr 58]

Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Yên Bái trong những năm 1996 – 2000 được thể hiện trên những nội dung:

- Chuyển dịch cơ cấu trong kinh tế nói chung và sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp

Xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm nên Đảng bộ đã tập trung cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm cho kinh tế phát triển đúng hướng

và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8,3%/năm Trong đó, nông - lâm nghiệp – ngư nghiệp tăng 5,35%, công nghiệp – xây dựng tăng 9,82%, dịch vụ tăng 12,93% Cơ cấu kinh tế trong GDP: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 47,4%, công nghiệp – xây dựng 22,6%, dịch vụ 30% Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.400.000đ/người/năm Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng

và dịch vụ [26, tr 11]

Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, nông thôn chuyển dịch đúng hướng Công nghiệp chế biến nông, lâm sản có bước phát triển và tăng nhanh về giá trị; đã hình thành nhiều cơ sở chế biến vừa và nhỏ gắn với vùng nguyên liệu, bước đầu hình thành một số làng nghề trong nông thôn

Trang 27

Nông, lâm, ngư nghiệp phát triển toàn diện Sản xuất lương thực tăng cả

về diện tích, năng suất, sản lượng 1996 – 2000, tiến hành đưa thêm 1.800 ha ruộng 1 vụ lên sản xuất 2 vụ, tăng 32,7% và đưa 2.900 ha ruộng 2 vụ lên 3 vụ tăng 2.4% so với mục tiêu Tỉnh ủy tập trung đầu tư thâm canh, sử dụng giống mới và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đưa năng suất lúa hai vụ đạt

86 tạ/ha, tăng 7.5% so với mục tiêu Chú trọng mở rộng diện tích và thâm canh các loại cây màu đưa tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2000 đạt 197.000 tấn (sản lượng lương thực có hạt 166.700 tấn), tăng 2.000 tấn so với mục tiêu đại hội Bình quân lương thực đầu người đạt 292kg/năm, tăng 22kg

so với mục tiêu Xây dựng được một số vùng lúa cao sản với diện tích gần 4.000ha [26, tr 15]

Cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển nhanh Diện tích chè hiện có 10.128 ha (có 7.700 ha chè kinh doanh), tăng 30% so với năm 1995 và tăng 12% so với mục tiêu (trong đó vùng cao tăng 1.800 ha) Năng suất bình quân đạt 52 tạ/ha, tăng 15% so với mục tiêu Giống chè mới có chất lượng, năng suất cao từng bước đưa vào sản xuất Những năm 1996 – 2000, bằng nhiều nguồn vốn của Nhà nước và các thành phần kinh tế, đầu tư xây dựng thêm một số cơ sở chế biến chè quy mô nhỏ, công nghệ hiện đại gắn với vùng nguyên liệu, đưa tổng công suất các nhà máy trên địa bàn lên 150 tấn chè búp/ngày Xây dựng nhà máy chế biến mía đường công suất 700 – 1000 tấn/ngày, xây dựng một số cơ sở sản xuất bột giấy, giấy bao bì, giấy cáctông sản lượng 12.000 tấn/năm [26, tr 15]

Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, những năm qua tỉnh Yên Bái đã phát triển được 1.770 ha cà phê Catimor, một số diện tích đã cho thu hoạch,

có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt Diện tích cây ăn quả hiện có 5.470

ha, sản lượng quả tươi 20.300 tấn Một số vùng cây ăn quả phát triển nhanh như cam, quýt ở Yên Bình, hồng Lục Yên, nhãn Văn Chấn, Văn Yên…Tỷ

Trang 28

trọng cây công nghiệp và cây ăn quả đạt 25% tổng giá trị ngành trồng trọt, bằng 83% mục tiêu [26, tr 15]

Chăn nuôi và thủy sản phát triển tạo ra khối lượng lương thực thực phẩm đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, cung cấp phân bón, sức kéo và vận tải phục vụ sản xuất ở nông thôn Đàn trâu tăng bình quân 1.8%, đàn bò tăng 2.8%, đàn lợn tăng 4.3% và đàn gia cầm tăng 4.2%/năm Riêng đàn trâu bán ra ngoài tỉnh mỗi năm từ 3.000 – 4.000 con Các trại cá quốc doanh sản xuất được 20 triệu cá giống, đáp ứng phần lớn nhu cầu cá giống cho các gia đình nuôi cá thịt Tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 24.5% bằng 70% mục tiêu [26, tr 16]

Sản xuất lâm nghiệp được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo mọi cấp mọi ngành, mọi người cùng tham gia xây dựng vốn rừng Đảng bộ tỉnh đã đẩy mạnh công tác giao đất khoán rừng, bảo vệ, khoanh nuôi rừng tái sinh và tích cực trồng rừng mới Trong những năm 1996 - 2000, diện tích rừng tự nhiên tăng 62.000ha, trồng mới 52.000ha, tăng 4% so với mục tiêu; đưa tổng diện tích rừng toàn tỉnh lên 275.317ha Tổng diện tích quế 20.000 ha, bằng 66% so với mục tiêu; độ che phủ rừng là 40%, đạt mục tiêu đại hội và tăng hơn 10%

so với năm 1995 [26, tr 16]

- Phát triển các thành phần kinh tế

Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái mặc dù tính chất, trình độ hình thức quy mô có sự khác nhau nhưng với nguồn vốn của Nhà nước đầu tư, vốn của hợp tác xã và nông dân đóng góp nhiều công sức, tiền của đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu hết sức quan trọng phục vụ sản xuất và phúc lợi xã hội; thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước và chính sách xã hội ở nông thôn; làm tốt việc động viên nông dân, xã viên thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 29

Các hợp tác xã đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, với nhiều cuộc vận động lớn, các bước điều chỉnh và đổi mới quan trọng, nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (khoá VI), Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) Nghị quyết 03 của BCH Đảng bộ tỉnh (khoá 13) các hợp tác xã nông nghiệp đã có sự chuyển đổi căn bản cả về quan hệ sở hữu, cơ chế quản lý và quan hệ phân phối Một phần hợp tác xã đã chuyển hẳn sang làm chức năng dịch vụ phục vụ cho kinh tế từ một khâu đến nhiều khâu Các hình thức kinh

tế hợp tác đa dạng trong nông thôn đã hình thành do nhu cầu và sự tự nguyện của nông dân với nhiều quy mô khác nhau

Tuy nhiên trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN, kinh tế hộ xã viên được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác thì các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động ít có hiệu quả Những hợp tác

xã làm dịch vụ cho kinh tế hộ có hiệu quả số lượng còn ít, đại bộ phận các hợp tác xã lúng túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ theo cơ chế thị trường, các hợp tác xã nợ ngân hàng chiếm tỷ lệ cao, số dư nợ phải khoanh lại còn khá lớn Tình trạng hộ xã viên nợ hợp tác xã còn phổ biến Hầu hết các hợp tác xã mất vốn, không còn vốn hoạt động, không làm được nhiệm vụ dịch

vụ cho kinh tế hộ, xã viên không còn gắn bó với hợp tác xã, từ đó nhiều hợp tác xã tự ngừng hoạt động, có nơi tự giải tán hoặc chỉ còn tồn tại trên hình thức, hộ xã viên tự lo về mọi mặt trong sản xuất kinh doanh

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng; Chỉ thị 68 của Ban bí thư Trung ương ngày 24/5/1996 và luật hợp tác

xã đã được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 9 và Nghị quyết Đại

hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết

Số 01/NQ-TU về: Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế nhằm làm cho kinh tế hợp tác phát

Trang 30

triển mạnh mẽ, rộng khắp vươn lên cùng với kinh tế Nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế

Tỉnh ủy xác định phương hướng chung trong phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong các ngành và lĩnh vực kinh tế: phải được đổi mới toàn diện

và phát triển mạnh mẽ từ thấp đến cao, dưới nhiều hình thức và các cấp độ khác nhau: Có loại hợp tác một khâu, hoặc nhiều khâu, hợp tác giản đơn, hợp tác từng việc, hợp tác tạm thời (không đăng ký kinh doanh), có hợp tác thành doanh nghiệp tổ chức quản lý chặt chẽ đăng ký tư cách pháp nhân đầy đủ, có loại hợp tác xã vừa góp vốn vừa góp sức lao động trực tiếp hoặc chủ yếu chỉ góp vốn, không góp sức như hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng; có hợp tác xã tổ chức sản xuất kinh doanh tập trung hoặc chỉ làm chức năng dịch vụ phục vụ cho hộ thành viên Quy mô lớn nhỏ khác nhau theo thôn bản, phố phường, địa bàn dân cư hoặc không giới hạn về địa giới hành chính trên cơ sở

tự nguyện, dân chủ cùng có lợi, phù hợp đặc điểm ngành nghề, trình độ sản xuất, tâm tư và tập quán của từng nơi [76, tr 4]

Riêng đối với kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp, Tỉnh ủy xác định: Đối với những hợp tác xã còn đang hoạt động tiến hành xây dựng lại phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ Xác định mức vốn điều lệ, vốn pháp định và mức cổ phần xã viên phải đóng góp, đăng ký lại xã viên, phát triển xã viên mới; kiểm kê tài sản, vốn, quỹ, các khoản công nợ phải thu, phải trả Nếu hợp tác xã còn vốn, nguồn vốn đủ để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh dịch vụ thì tính thành cổ phần đóng góp của xã viên Đối với các hợp yếu kém sẽ tiến hành giải thể để chuyển sang các hình thức kinh tế hợp tác khác theo nhu cầu của xã viên

Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng và hợp tác xã: Ở những nơi chưa có hợp tác xã, nơi hợp tác xã đã giải thể, mà hộ xã viên có nhu cầu hợp tác thì tiến hành vận động, hướng dẫn tổ chức thành lập hợp tác, tổ hợp tác theo nhóm hộ, theo thôn bản, tổ xóm, hoặc liên gia để hợp tác với nhau

Trang 31

sản xuất kinh doanh dịch vụ theo từng việc, từng khâu, theo nhóm sản phẩm… Ở những hợp tác xã đang hoạt động, nếu các nhóm hộ xã viên có nhu cầu hợp tác với nhau để giải quyết những khâu, những lĩnh vực hoặc ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ mà hợp tác xã chưa làm thì cần được khuyến khích, như hợp tác một số hộ làm chế biến mía đường, hoa quả, chế biến chè, dịch vụ tuốt lúa, say sát nghiền thóc gạo, dịch vụ vận tải …

Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế của Tỉnh ủy là hướng đi đúng đắn góp phần thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Chính vì thế các doanh nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp, các lâm trường tiếp tục được sắp xếp lại, phục vụ tốt hơn cho sản xuất nông, lâm nghiệp Hợp tác xã trong nông nghiệp được chuyển đổi và thành lập mới tăng; kinh tế

hộ, tư nhân, trang trại phát triển đa dạng và ngày càng có hiệu quả

Kinh tế hợp tác được chỉ đạo chuyển đổi và thành lập mới theo luật Toàn tỉnh đã chuyển đổi và thành lập mới 142 hợp tác xã (58 hợp tác xã chuyển đổi, 84 hợp tác xã thành lập mới theo luật) trong đó hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chiếm 51%, hợp tác xã sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 32%, quỹ tín dụng nhân dân 8%, còn lại là hợp tác xã thuộc lĩnh vực khác.[26, tr 22]

Trong quá trình xây dựng, phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh,

mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã của Yên Bái đã góp phần thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế - xã hội địa phương Doanh số khu vực kinh tế tập thể năm 2000 tăng gần 60 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 3 vạn thành viên,

hỗ trợ và đáp ứng một phần nhu cầu của kinh tế hộ, trang trại phát triển Xu hướng liên kết và hợp tác giữa kinh tế tập thể với các doanh nghiệp khác trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ bước đầu hình thành có hiệu quả (các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp liên kết với công ty Vật tư nông nghiệp, Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, ngành điện lực, thủy nông…)

Trang 32

Kinh tế cá thể, kinh tế hộ được khuyến khích phát triển dưới nhiều hình thức, nhất là kinh tế trang trại, đã thu hút được hàng ngàn hộ nhận đất trống, đồi trọc để trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và kinh doanh tổng hợp Kinh tế trang trại đã thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, cung cấp nhiều nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hàng hóa cho tiêu dùng, góp phần tích cực giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tạo thêm động lực mới cho kinh tế phát triển

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất nông nghiệp

Đảng bộ tỉnh Yên Bái xác định việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải được đầu tư xây dựng đúng hướng, có trọng điểm, tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, lĩnh vực sản xuất và gắn với an ninh quốc phòng Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện tốt phương châm Nhà nước

và nhân dân cùng làm, Yên Bái đầu tư phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn

1996 – 2000 trên 2.050 tỷ đồng trong đó vốn ngân sách chiếm tỷ trọng lớn; vốn đầu tư cho lĩnh vực kinh tế chiếm gần 60%, vốn cho lĩnh vực xã hội hơn 40%

Qua đầu tư, nhiều năng lực sản xuất mới được tăng thêm, phục vụ có hiệu quả cho kinh tế - xã hội phát triển Trong giao thông đã đầu tư làm mới 1.146km đường (gồm 44km đường tỉnh, 1.102km đường nông thôn), có 53 cầu ô tô và cầu treo Đến nay có 86,8% số xã có đường ô tô đến xã Hệ thống giao thông đảm bảo nối liền các vùng kinh tế trong tỉnh [26, tr 19]

Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn được đầu tư ngày càng lớn Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo đầu tư 130 tỷ đồng xây dựng 151 công trình thủy lợi, trong đó có một số công trình tưới từ 500 đến 1.000 ha (như công trình Noong Phai, Từ Hiếu, Cửa Nhì) góp phần tăng sản lượng lương thực Nông thôn Yên Bái có bước đổi mới, đời sống nông dân được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người và số hộ giàu tăng, số hộ nghèo giảm, số xã

có đường ô tô, có điện và điện thoại, số dân được xem truyền hình, được

Trang 33

nghe đài tăng nhanh Hệ thống giáo dục và y tế phát triển đều khắp ở tất cả các xã trong tỉnh

Hoạt động khoa học công nghệ những năm qua đã hướng vào các lĩnh vực phát triển kinh tế, phục vụ đời sống và bảo vệ môi trường Đặc biệt đã ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa giống mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi (lúa, chè, cà phê, gia súc, gia cầm) Tỉnh đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện đổi mới thiết bị công nghệ trong chế biến nông, lâm, khoáng sản, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Khoa học, quản lý, khoa học nhân văn đạt nhiều kết quả Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm

- Phát triển kinh tế vùng lãnh thổ, hình thành các vùng kinh tế tăng trưởng cao, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân

Xuất phát từ những lợi thế về vị trí địa lý và sinh thái, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, Đảng bộ Yên Bái tiến hành xây dựng ba vùng trọng điểm bao gồm:

- Vùng I gồm thị xã Yên Bái, các xã phía Nam huyện Trấn Yên, huyện Yên Bình, các xã vùng ngoài huyện Văn Chấn Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển với tốc độ nhanh Tăng cường mở rộng các cơ sở công nghiệp hiện có, xây dựng mới một số cơ sở công nghiệp chế biến (chế biến chè, giấy, sản xuất đá hạt và bột

đá vôi xuất khẩu…) Thị xã Yên Bái thực sự trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và là trọng điểm động lực phát triển của cả tỉnh GDP bình quân đầu người trong vùng đạt 90% so với mục tiêu

- Vùng II gồm thị xã Nghĩa Lộ, các xã vùng thấp còn lại của huyện Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Bình Trong vùng đã xây dựng được các vùng sản xuất hàng hóa tập trung khối lượng lớn, chất lượng cao, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng tiêu dung Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư GDP bình quân đầu người đạt 65% so với mục tiêu

Trang 34

- Vùng III gồm hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải và 11 xã vùng cao của huyện Văn Chấn Ở vùng này, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã đưa gần 70% diện tích ruộng một vụ có điều kiện canh tác hai vụ vào sản xuất đồng thời phát triển trồng chè Shan; khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện, góp phần ổn định định canh, định cư, xóa bỏ trồng cây thuốc phiện GDP bình quân đầu người đạt 85% so với mục tiêu Các vùng kinh tế hình thành đã đẩy nhanh sản xuất lương thực bằng thâm canh tăng vụ trên ruộng một vụ và ruộng bậc thang, tiến hành khai hoang mở rộng diện tích, đưa giống lúa, ngô có năng suất cao và có ưu thế lai vào sản xuất, giải quyết cơ bản lương thực tại chỗ chấm dứt nạn đói giáp hạt Sản xuất kinh doanh nghề rừng, hoàn thành việc giao đất khoán rừng cho nhân dân bảo vệ, chăm sóc và trồng mới các cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc đã được thực hiện tích cực

Bên cạnh đó, Tỉnh đưa ra chủ trương thực hiện giao đất lâu dài cho hộ nông dân tạo điều kiện người nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất Việc giao quyền sử dụng đất phù hợp với từng vùng và từng loại đất

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng cao

Yên Bái là tỉnh miền núi, vùng cao chiếm 67% diện tích đất, 30% dân số của tỉnh, đây là nơi sinh sống lâu dài của đồng bào các tộc người thiểu số Phát triển kinh tế - xã hội vùng cao có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái Nhận thức được điều đó, được sự giúp

đỡ của Trung ương Đảng, chính phủ và các bộ ngành Trung ương, Tỉnh ủy Yên Bái, nhà nước đã đầu tư có hiệu quả cho đồng bào các tộc người vùng cao tạo ra những bước chuyển biến trên nhiều lĩnh vực đời sống

Ngày 14/04/1997, Tỉnh ủy Yên Bái ra Nghị quyết Số 04-NQ/TU về:

“Phát triển kinh tế - xã hội vùng cao đến năm 2000” Quán triệt và thực hiện

Nghị quyết 22 của Bộ chính trị, Quyết định 72, 960 của Chính phủ và Nghị

Trang 35

quyết đại hội XIV của Đảng bộ Tỉnh, Tỉnh ủy đã đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng cao đến năm 2000: Huy động các nguồn lực của địa phương, của các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng thế mạnh của vùng cao Từng bước chuyển nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hoá, xây dựng cơ cấu kinh tế nông- lâm nghiệp chiếm 70%, công nghiệp dịch vụ 30% Phát triển sản xuất nông- lâm nghiệp vùng cao phải gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Trọng tâm là giải quyết vấn đề lương thực theo quan điểm hàng hoá Đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế nông- lâm nghiệp 8%/năm; bình quân lương thực sản xuất tại chỗ 250kg/người/năm Xoá đói giáp hạt cho đồng bào vùng cao Hoàn thành cơ bản giao đất, giao rừng Nâng tỷ lệ tàn che phủ rừng lên 40% Phấn đấu đến năm 2000 tăng thu nhập bình quân đầu người gấp đôi so với năm 1994, giảm diện đói nghèo 2% năm Hoàn thành cơ bản định canh định cư, phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ vững chắc môi trường sinh thái [77, tr 1]

Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ

cơ bản để tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa:

“tập trung vào sản xuất nông- lâm nghiệp trong đó trọng tâm là sản xuất lương thực tổng hợp để đảm bảo đời sống Xúc tiến nhanh và vững chắc quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá.” [77, tr 4] Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất lâm nghiệp ở vùng cao là: Tiếp tục giao đất, giao rừng cho hộ nông dân để rừng, đất rừng có người làm chủ, thực hiện khoanh nuôi bảo vệ và tái sinh rừng hiện có, kết hợp chặt chẽ vớt trồng rừng phòng hộ Khuyến khích các hộ nông dân trồng rừng chăm sóc bảo vệ rừng Tạo thành các rừng kinh tế có hiệu quả cao đảm bảo hài hoà giữa trách nhiệm và lợi ích của người làm rừng

Tích cực phát triển mô hình lâm nghiệp trang trại theo hướng nông-lâm nghiệp kết hợp Xúc tiến đổi mới giống cây, tăng tỷ trọng cây bản địa, phát

Trang 36

triển mạnh loại rừng hỗn giao gỗ, tre, vầu, nứa trồng xen cây gia dụng, cây Sơn tra và các cây dược liệu như: ý dĩ, thảo quả, đỗ trọng

Gắn khoanh nuôi với trồng rừng mới đẩy mạnh chăm sóc và trồng mới cây quế tập trung ở vùng cao huyện Văn Yên, vùng ngoài Văn Chấn, phía tây huyện Trấn Yên Để đến năm 2000 đưa diện tích quế ở vùng cao lên từ 1 đến 2 vạn ha Tận thu và sơ chế sản phẩm từ cây quế

Quy hoạch tập đoàn cây ăn quả phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở từng vùng Bảo vệ, chăm sóc và trồng mới cây sơn tra ở 2 huyện Trạm Tấu và

Mù Cang Chải, vùng mận Tam hoa ở thị trấn huyện lỵ Trạm Tấu, Mù Cang Chải vùng cao huyện Văn Chấn, cải tạo và phát triển vùng cây ăn quả có múi (cam, quýt), ở các xã vùng cao Lục Yên, cây nhãn ở Huyện Văn Chấn, Văn Yên cho sản phẩm hàng hoá có số lượng nhiều và chất lượng tốt [77, tr 3] Tỉnh ủy đã chỉ đạo sát sao việc phát triển kinh tế - xã hội vùng cao vì thế kinh tế vùng cao có bước chuyển biến tích cực về cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xóa bỏ 1.500 ha cây thuốc phiện, đẩy mạnh trồng cây lương thực, cây công nghiệp, bảo vệ và trồng mới rừng phòng hộ Trong những năm 1996 – 2000, Tỉnh đã đầu tư hơn 210 tỷ đồng, trong đó 57,6% cho phát triển kết cấu hạ tầng Thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng cao có hiệu quả Sản lượng lương thực hai huyện vùng cao Trạm Tấu và Mù Cang Chải tăng gần 3000 tấn, trồng mới 7.000 ha rừng và khoanh tái sinh được gần 8.000 ha rừng phòng hộ Công tác định canh định cư có nhiều tiến

bộ, số hộ du canh du cư chỉ còn chiếm 4% so với diện vận động định canh, định cư [26, tr 17]

* Tiểu kết chương 1:

Trong những năm 1996 đến 2000, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, nhiều nguồn sản xuất mới được tăng thêm Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp phát triển ổn định, liên tục và đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa có khối lượng lớn, chất lượng cao Trong đầu tư phát triển, Đảng bộ đã

Trang 37

kịp thời điều chỉnh phương hướng sản xuất và cơ cấu đầu tư phù hợp, có hiệu quả, các hình thức dịch vụ đều đã đạt và vượt mục tiêu đề ra

Bên cạnh kết quả đạt được, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tỉnh Yên Bái phát triển chưa tương xứng với tiếm năng thế mạnh của địa phương:

Về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng giá trị trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp còn rất cao, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ rất thấp Công nghiệp và ngành nghề trong nông thôn chậm phát triển, số hiện có thì quy mô nhỏ, sản phẩm nông lâm sản chủ yếu ở dạng sơ chế, bán nguyên liệu thô là chính

Việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp chưa mạnh, chưa có chương trình mục tiêu rõ rệt; giống lúa lai năng suất cao vẫn nhập khẩu là chủ yếu; nông dân còn sử dụng nhiều giống cây, con năng suất, chất lượng thấp; thiết bị công nghệ trong chế biến nông lâm sản còn lạc hậu

Trong nông nghiệp, nông thôn hầu hết là lao động thủ công, chưa qua đào tạo chủ yếu tham gia trồng trọt, lao động ngành nghề, dịch vụ còn ít Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn rất thiếu và chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác khuyến nông, khuyến công ở xã Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn ở trong tình trạng thiếu và thấp kém, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong sản xuất nông nghiệp và hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đã qua giúp cho Tỉnh ủy ngẫm suy về sự chỉ đạo tốt hơn nữa tạo nền tảng để Yên Bái phát huy thế mạnh của tỉnh, đẩy mạnh hoạt động kinh tế nông nghiệp theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 39

Chương 2: ĐẢNG BỘ YÊN BÁI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN

ĐẠI HÓA CỦA ĐẢNG (2001 - 2010) 2.1 Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra trong thời điểm

có ý nghĩa trọng đại Thế kỷ XX đã kết thúc, thế kỉ XXI bắt đầu Toàn Đảng, toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000 và 15 năm đổi mới Đại hội IX là đại hội của trí tuệ - dân chủ - đoàn kết – đổi mới Đại hội đã xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong

10 năm (2001 - 2010) tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Chiến lược nêu rõ sự cần thiết và khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tư tưởng được nhấn mạnh là phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ một trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra định hướng phát triển ngành nông, lâm, ngư nghiệp là: đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, chính sách

cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn, xây dựng hợp lí cơ cấu sản xuất nông nghiệp; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp nhất là công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin; tiếp tục hoàn thiện hệ thống thủy lợi góp phần chủ động cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân

Trong quá trình thực hiện, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp đã không ngừng được bổ sung phù hợp với thực tiễn Nghị quyết Hội nghị Trung ương V khóa IX về: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

Trang 40

nông thôn thời kì 2001 - 2010” được ban hành ngày 18/03/2002 đã đề ra chủ trương toàn diện về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

ở nước ta trong tình hình hiện nay Những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn:

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Đây là nhận thức làm cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới

- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn nhân lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao; bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững [20, tr 1]

Đối với việc phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã khẳng định quan điểm: Ưu tiên bảo vệ môi trường, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế, xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất

và văn hóa của người dân nông thôn Quan điểm về phát triển một nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn bền vững là một nhân tố then chốt để có thể đạt được các mục tiêu tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội bền vững [20]

Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ

Ngày đăng: 29/12/2015, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w