Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng khóa IX 2/2002 chỉ rõ nội dung tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thôn gồm hai quá trình: Công nghiệ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.1 Tình hình nông nghiệp, nông thôn Nghệ An trước năm 1996 1.1.1 Về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An
1.1.2 Tình hình nông nghiệp, nông thôn Nghệ An trước năm 1996 1.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2000
1.2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến
năm 2000
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2001 - 2006
2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn
2001 - 2006
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn
2001 - 2006
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về đẩy mạnh
5
12
12
12
23
28
28
35
59
59
59
Trang 42001 -2006
2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm
2001 đến năm 2006
2.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
2.2.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 3.1 Nhận xét chung
3.1.1 Một số đặc điểm
3.1.2 Thành tựu và hạn chế
3.2 Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra
3.2.1 Một số kinh nghiệm
3.2.2 Một số vấn đề đặt ra
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
63
68
69
82
108
108
108
113
123
123
127
131 135
144
Trang 5NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BCHTW: Ban chấp hành Trung ƣơng
2 CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Do đó, chúng ta phải CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Bởi nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp
từ 25% - 27% GDP của cả nước Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ) Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp - dịch vụ
Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp ( 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao
về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm Trong khi đó, các
Trang 7chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới năm 2003 hệ số chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn là 3,65 lần
Thêm nữa, kinh nghiệm từ các nước trên thế giới và trong khu vực (như Sin-ga-po, Thái Lan, Trung Quốc, Thụy Điển, Tây Ban Nha ) đều cho thấy bài học: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm1996), Đảng ta đã quyết định
và chỉ đạo phải luôn luôn coi trọng và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
BCHTW Đảng khóa IX (2/2002) chỉ rõ nội dung tổng quát của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thôn gồm hai quá trình: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, trong đó:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết
bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ
Trang 8động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” [13, tr 93 - 94]
Sự nghiệp đó đang được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước Đến nay CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tại nhiều địa phương đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Nhằm tiếp tục đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển lên một trình độ mới, việc tiến hành nghiên cứu, tổng kết để tìm ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời gian qua là hết sức cần thiết, trong khi gần như chưa có một công trình, tác giả nào thống kê, tìm hiểu đầy đủ để khái quát lại toàn bộ quá trình lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua đối với sự nghiệp này
Nghệ An là tỉnh có vị trí địa chính trị và địa kinh tế tỉnh khá thuận lợi đất rộng, người đông có cả đồng bằng, trung du miền núi và ven biển với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, lực lượng lao động đông và có trình
độ cao, là điều kiện căn bản thuận lợi để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng Trong những năm qua 1996 - 2006 dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh nông nghiệp, nông thôn Nghệ An đã có những bước phát triển
rõ rệt Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng với nhịp độ khá, từ chỗ mang nặng tính tự cung, tự cấp đã và đang chuyển sang sản xuất hàng hóa Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế của các vùng, các địa phương, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa tập trung Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư phát triển Thu nhập và đời sống của người dân
Trang 9được cải thiện và nâng lên, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa Vấn đề an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Song bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn Nghệ An đang đứng trước những thách thức
to lớn, có nhiều vấn đề về sản xuất và đời sống của nông dân đang nổi lên gay gắt, đòi hỏi phải có chuyển biến mạnh mẽ về chất để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản, kết cấu hạ tầng kinh tế
và xã hội thiếu đồng bộ Thực tiễn đó đang đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm đưa sự nghiệp này đi đến thành công trong thời gian tới Với
những lý do trên, tôi quyết định đi vào tìm hiểu vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Nghệ
An lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (1996 - 2006)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH đất nước trong đó có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng ta trong những năm vừa qua có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các bình diện, các khía cạnh khác nhau của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như:
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Lê
Mạnh Hùng và Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống Kê, Hà Nội, 1998; Xây dựng
hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam của Đỗ Hoài Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 10công gnhiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của PGS.TS Chu Hữu
Quý, PGS.TS Nguyễn Kế Toàn (đồng chủ biên), Nxb CTQD, Hà Nội, 2001;
Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam của Đặng Kim Sơn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam lý luận và thực tiễn của Nguyễn Trọng Chuẩn,
Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2002; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc
Trung Bộ - qua khảo sát thực tiễn các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh của PGS.TS
Mai Thị Thanh Xuân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Các công trình trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu vị trí, mục tiêu, vai trò và nhiệm vụ của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta nói chung, trên phạm vi một vùng kinh tế nhất định nói riêng từ đó các tác giả đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh có hiệu quả, phát huy hơn nữa thế mạnh của khu vực nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH của cả nước, vùng Tuy nhiên, đề cập một cách khái quát, có hệ thống và mang tính xuyên suốt về Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như thế nào?, kết quả ra sao, đâu là những thành công và tồn tại, đặc biệt trong những năm gần đây thì hầu như chưa có tác giả nào chú ý tìm hiểu, nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã được công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu đường lối, chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã đề ra nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh thời kỳ 1996 - 2006, đồng thời tìm hiểu những thành tựu to lớn mà Đảng
bộ và nhân dân Nghệ An đã đạt được trong quá trình triển khai nhữngg chính sách đó trên thực tế của địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu::
Trang 11- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và phục dựng lại quá trình Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh từ năm 1996 đến năm 2006
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CNH, HĐH, nông nghiệp, nông
thôn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2006
- Trên cơ sở đó nêu lên những thành tựu và các hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An thời gian trên; đồng thời nêu lên các đặc điểm, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất các kinh nghiệm nhằm góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong lĩnh vực này thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Về Nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ
An hiện nay, trong đó khu vực chủ yếu là nông thôn
Về thời gian: Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt từ năm 1996 - 2006
5 Phương pháp luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận thực hiện đề tài này là dựa trên những luận điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Nguồn tài liệu để thực hiện đề tài này là:
+ Nguồn tài liệu mang tính chất lý luận: Quan điểm chung trong các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng và Nghị quyết
Trang 12quyết của Tung ương Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị các khóa về phát triển nông nghiệp, nông thôn
+ Nguồn tài liệu những văn kiện của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 -
2006 trên địa bàn tỉnh
+ Những công trình nghiên cứu, sách báo, tài liệu khác
- Phương pháp nghiên cứu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic
và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó, đồng thời còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm 2006
- Nêu lên các thành tựu và các hạn chế tồn tại cũng như rút ra các kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2006
- Luận văn có thể làm tư liệu để nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An thời kỳ 1996 - 2006; những kinh nghiệm, kiến nghị của luận văn có thể đóng góp vào việc hoàn thiện chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An hiện nay
Chương 2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 - 2006
Trang 13Chương 3 Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.1 Tình hình nông nghiệp, nông thôn Nghệ An trước năm 1996
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An
* Vể điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa
lý từ 180
35’ - 20001’ vĩ độ Bắc, 103052’ - 105048’ kinh độ Đông, tiếp giáp
với: Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Tây
giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào; phía Đông giáp Biển Đông
Chiều dài lớn nhất từ Bắc vào Nam khoảng 132 km, chiều rộng lớn nhất từ
Đông sang Tây khoảng 200 km, Nghệ An là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm giữa
tỉnh Thừa Thiên Huế và Thủ đô Hà Nội, nằm trên tuyến đường giao lưu Bắc -
Nam và đường xuyên Á Đông - Tây Tỉnh lỵ Nghệ An là thành phố Vinh -
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh và của khu
vực Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 300 km về phía Nam; theo đường
quốc lộ 8, cách biên giới Việt - Lào khoảng 80 km, cách biên giới Lào - Thái
gần 300 km, cách Thành phồ Hồ Chí Minh 1.400 km về phía Bắc
Địa hình và đất đai:
Nghệ An có diện tích đất tự nhiên 16.487 km2 chiếm 5% tổng diện
tích tự nhiên của cả nước Tổng diện tích đất tự nhiên 1.648.729 ha, quỹ đất
Trang 14nông nghiệp chiếm 11%, đất chuyên dùng chiếm 3,6%, đất ở 0,9% Quỹ đất chưa sử dụng chiếm 42%, (693.166 ha) diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc Diện tích có thể mở rộng, đưa vào sử dụng trong nông nghiệp từ 20 - 30 nghìn ha để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày,
dài ngày và 230 - 250 nghìn ha đất lâm nghiệp để trồng rừng
Nghệ An nằm ở phía đông bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối, hướng nghiêng từ tây bắc xuống đông nam được chia thành 2 vùng: vùng đồi núi, vùng đồng bằng ven biển Vùng đồi núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh, chiếm 84,25% (1.324.892 ha) diện tích tự nhiên của tỉnh, gồm 10 huyện, với 244 xã, là địa hình phức tạp nhất của tỉnh Có nhiều đồi núi cao trên 2.000 m, đỉnh cao nhất là đỉnh Pulaileng cao 2.711m ở huyện Kỳ Sơn, địa hình bị chia cắt mạnh, hiểm trở,
độ dốc bình quân trên 30%; địa hình đồi núi bao gồm các nhóm đất sau: đất Feralít đỏ vàng vùng đồi núi cao (dưới 200m), đất xói mòn trơ sỏi đá, đất đen, đất Feralít đỏ vàng trên núi thấp (200 - 1.000 m), đất mùn vàng trên núi (1.000 - 2.000 m); là vùng núi cao để phát triển các loại cây công nghiệp, cây đặc sản, cây dược liệu và nông lâm kết hợp, vùng núi thấp là địa bàn chính để trồng cây công nghiệp dài ngày (chè, cao su, cà phê ), cây ăn quả
Dải đất đồng bằng nhỏ và hẹp chiếm 15,75% diện tích tự nhiên (247.774 ha) của tỉnh, phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5 nhóm đất: đất cát; đất phù sa; dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu Vùng phù sa chủ yếu là do Sông Cả bồi đắp, độ phì nhiêu thấp hơn so với đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ; Bề mặt bị chia cắt và bị bao bọc bởi các dãy núi đâm ra sát biển Đây là địa bàn sản xuất lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày của tỉnh
Về khí hậu:
Trang 15Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chuyển
tiếp của khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa
hạ nóng ẩm, mưa nhiều và mua đông lạnh, ít mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 240
C Số giờ năng trung bình năm là 1.500 - 1.700 giờ, bức xạ mặt tròi 74,6 Kalo/cm2
Tổng tích ôn là 3.5000C - 4.0000C Lượng mưa trung bình năm từ 1.800 - 2.000 mm, Trị số độ ẩm tương đối trung bình năm dao động từ 80 - 90%, Luợng bốc hơi từ 700 - 940 mm/năm Hàng năm Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) và gió mùa phơn Tây Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, sức gió mạnh nhất có lúc giật trên
cấp 12, mùa bão thường vào tháng 8 - 10
Nhìn chung Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị
rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa Lượng mưa hàng năm tương đối lớn nên nguồn nước mặt khá dồi dào, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói riêng, kinh tế xã hội nói chung Tuy nhiên, do lượng mưa trong năm phân phối không đều giữa các vùng và các mùa Trên 80% lượng nước mưa tập trung vào từ tháng 5 - 10, thường gây ra bão và lũ lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Về sông ngòi:
Nghệ An có hệ thống sông suối dày đặc, mật độ lưới sông từ 0,6 - 0,7
km/km2 Sông Cả là sông lớn nhất tỉnh bắt nguồn từ thượng Lào chảy qua Nghệ An, dài 375 km có diện tích lưu vực 17.730 km2, chiếm 80% diện tích mặt nước toàn tỉnh, với 117 thác lớn nhỏ Các nhánh chính của sông Cả có lưu vực nhỏ, khoảng 2.000 - 3.000 km2, với chiều dài trung bình khoảng 60 -
70 km gồm: sông Nậm Mộ, sông Nậm Non, sông Hiếu, sông Gang, sông
Trang 16xây dựng các công trình thủy điện lớn nhỏ, đáp ứng nhu cầu năng lượng tại chỗ cho nhân dân vùng cao và hòa vào lưới điện quốc gia Tổng trữ năng thủy
điện qua tính toán co thể lên tới 950 - 1.000 MW
Các sông khác bắt nguồn từ trong tỉnh chảy thẳng ra biển với đặc trưng các sông đều ngắn, trữ lượng nước không lớn, lòng sông hẹp, nước chảy chậm, phần lớn la sông nước mặn bao gồm: Sông Hoàng Mai dài 44 km, nước mặn lên qúa 20 km; sông Dâu và sông Thơi (Quỳnh Lưu) là sông nước mặn hoàn toàn; sông Bùng dài 53 km, sông Cấm dài 47 km Ngoài các con sông trên, Nghệ An còn có hệ thống kênh đào nối các sông với nhau như kênh nhà
Lê, là hệ thống sông đào nối Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc vào đến Hưng Nguyên, với mục tiêu chính là dẫn nước ngọt, ngăn nước mặn và phục vu
giao thông, thủy lợi cho các huyện ven biển
Bênh cạnh đó, tỉnh còn xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc, hệ thống thủy lợi Nam, 684 hồ chứa nước lớn nhỏ, 341 đập dâng, 556 trạm bơm lấy nước trực tiếp từ Sông Lam, Sông Hiếu, Sông Giăng, hệ thống tiêu ngăn mặn vùng Nam Đàn - Hưng Nguyên - Nghi Lộc, 141 km đê phòng chống lũ tả, hữu Sông Cả và các đê nhánh, 302.317 km đê ngăn mặn ven biển và đê sông, trên 4.259 km kênh mương nội đồng chủ động tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp Xét về phân bổ tự nhiên và tác động của con người, sông, ngòi của tỉnh rất thuận tiện cho giao thông đường thủy, cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
và hơn 430 triệu cây nứa, mét Khả năng khai thác gỗ rừng tự nhiên hàng năm
Trang 17khoảng 19 - 20 nghìn m3, gỗ rừng trồng 55 - 60 nghìn m3
và trên 40 triệu cây nứa, mét Rừng Nghệ An có nhiều loại gỗ quý như Pơmu, Samu, Lim, Sấu, Đinh Hương, Sến Không những thế, rừng Nghệ An còn có trên 1 tỷ cây tre, nứa, mét và khoảng 226 loài dược liệu và nhiều lâm sản qúy Nghệ An có 2 khu bảo tồn thiên nhiên là Pù Mát (94 nghìn ha) và Pù Huống (49,8 nghìn ha)
Tài nguyên Biển:
Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có 6 cửa lạch (Lạch Cờn, Lạch Vạn, Lạch Thơi, Lạch Quèn, Cửa Lò, Cửa Hội) Trong đó, Cửa Lò, Cửa Hội có khả năng thuận lợi cho xây dựng cảng biển Cảng biển Cửa Lò được xác định là cảng biển Quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ, là cửa ngõ vận tải cho nước bạn Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan và là bãi tắm đẹp và hấp dẫn
Hải phận Nghệ An có khoảng 4.230 hải lý vuông, biển có nhiều loài động vật phù du, là nguồn thức ăn tốt cho các loại hải sản sinh sống và phát triển Tổng trữ lượng hải sản của tỉnh đạt 85.000 tấn, trong đó có khẳ năng khai thác 35 - 40 nghìn tấn/năm Vùng biển Nghệ An có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế cao như: Cá Chim, Cá Chỉ vàng, Cá Ngừ, Cá Thu, Cá Hồng, Tôm He, Tôm Rảo, Tôm Sú, Tôm Hùm với trữ lượng từ 610 - 680 nghìn tấn Trữ lượng Mực khoảng 2500 - 3000 tấn, khả năng khai thác 120 - 1500 nghìn tấn Ngoài ra, còn có các loại cá Nhám, Moi, Rắn biển, sò cũng có giá trị kinh tế cao, ven biển Nghệ An còn có hơn 2.400
ha có khả năng nuôi tôm, cua, nhuyễn thể và có khaỏng 1.000 ha có khả năng phát triển đồng muối
Tài nguyên khoáng sản:
Nghệ An có nguồn tài nguyên khoáng sản rất đa dạng và phong phú, với 113 vùng mỏ lớn nhỏ và 171 điểm quặng, có khoáng sản quý hiếm như vàng, đá quý, rubi đến các loại khác như Thiếc, Bô xít, Phốt Pho rít và các
Trang 18đó, có một số loại có trữ lượng lớn có thể khai thác với quy mô công nghiệp
và phát triển các ngành công nghiệp như khai khoáng, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng gồm: Đá vôi 500 triệu m3, Sét xi măng 17,8 triệu tấn, sét gạch ngói 7 triệu m3
, đá Bazan 260 triệu m3, đá trắng 20 triệu m3, Thiếc 200 nghìn tấn, đá Granite 100 triệu m3 Tuy nhiên, những tài nguyên khoáng sản có khẳ năng đưa vào sản xuất công nghiệp chủ yếu là đá các loại, đất sét, cao lanh, thiếc Các loại tài nguyên khoáng sản khác có trữ lượng nhỏ, phân tán và tập trung ở miền núi, cơ sở hạ tầng kém nên việc đầu tư khai thác gặp nhiều khó khăn
Tài nguyên động, thực vật:
Nghệ An đã phát hiện được 342 loài động vật thuộc 91 họ - 27 bộ Trong đó, có 48 loài có nguy cơ tuyệt chủng và nhiều loài nằm trong danh mục sách đỏ của Việt Nam như Báo Lửa, Báo Gấm, Báo Hoa Mai, Mang lớn,
Bò Tót, Sao La, Công,Trĩ Sao, Gà Lôi Về thực vật, có 1.193 loài thực vật thuộc 537 chi - 163 họ, trong đó, có các loại như Lim xanh, Giổi, Giáng Hương, Lát Hoa nằm trong sách đỏ Việt Nam
Nghệ An còn nổi tiếng với nhiều địa danh, nhiều di tịch sử - văn hóa (101 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng Quốc gia) điển hình như khu
di tích lịch sử - văn hoá Kim Liên - Nam Đàn, khu mộ Bà Hoàng Thị Loan, khu lưu niệm cụ Phan Bội Châu, khu miếu mộ đền thờ Mai Hắc Đế và nhiều
lễ hội như Đền Cờn - Quỳnh Lưu, Đền Cuông - Diễn Châu, Đền thờ Nguyễn
Xí - Nghi Lộc, hang Thẩm Bua, Thẩm Ồm, Thẩm Voi - Quỳ Châu, cùng nhiều thắng cảnh đẹp như Vườn quốc gia Pù Mát, rừng nguyên sinh Pù Huống, Pù Hoạt, Khe Kèm, Thác Sao Va, là quê hương của các điệu hò ví dặm, hát phường vải Bên cạnh đó, Nghệ An nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum - Luông Pha Băng - Viên Chăn - Băng Cốc và ngược lại qua đường 7),
Trang 19Đây là cơ sở để Nghệ An đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái, lịch sử văn hóa, nghỉ dưỡng và có khẳ năng đóng vai trò một trung tâm du lịch vùng và tiến tới một trung tâm du lịch quốc gia trong tương lai
Như vậy, điều kiện tự nhiên vừa tạo những thuận lợi và bất lợi cho Nghệ An trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Những thuận lợi chính là:
- Nghệ An có vị trí khá thuận lợi cho việc phát triển hệ thống cảng biển
và cửa khẩu quốc tế trở thành cửa ngõ thông thương với khu vực và thế giới Đây chính là điều kiện thuận lợi để Nghệ An tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, hội nhập với khu vực và thế giới
- Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, là điều kiện thuận lợi cơ bản để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển toàn diện về nông -lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
- Là tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn (chiếm 5% diện tích tự nhiên của
cả nước) đây chính là nguồn lực để khai thác các dự án đầu tư từ các tỉnh bạn
và các nước phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Với ba vùng đất đai rõ rệt là điều kiện để phát triển kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp
- Rừng rộng và có đặc điểm đa dạng sinh học, có nhiều loại động thực vật quý hiếm cho giá trị kinh tế cao, cho phép Nghệ An đẩy mạnh công nghiệp chế biến và xuất khẩu lâm sản, nâng tỷ trọng đóng góp của lâm nghiệp trong tổng thu nhập trên địa bàn
- Nghệ An có bờ biển rộng và hệ thống sông ngòi chằng chịt là điều kiện để phát triển hệ thống giao thông thủy, cho phép các loại tàu thuyền ra vào thuận tiện, là tụ điểm giao lưu kinh tế với các tỉnh bạn và nước ngoài
Trang 20Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi như trên là một thuận lợi so sánh của Nghệ An trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Một địa bàn vừa có biển, vừa có rừng, có đồng bằng, có ao hồ sông suối, bến cảng, cửa khẩu đã tạo nên nguồn lực mạnh mẽ từ bên trong, từ đó tỉnh có thể khai thác
có hiệu quả nguồn lực bên ngoài để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Những bất lợi chủ yếu là:
- Địa hình dốc, nghiêng từ Tây sang Đông tuy có tạo điều kiện để phát triển các nhà máy thủy điện nhỏ, song nó lại làm cho đất dễ bị bào mòn, rửa trôi
- Lãnh thổ rộng và đồi núi nhiều là điều kiện để quảng canh nhưng lại khó “lấp bằng” trình độ phát trển giữa các vùng
* Vể điều kiện kinh tế xã hội
Về đơn vị hành chính:
Đến năm 2006, tỉnh Nghệ An có 19 đơn vị hành chính gồm thành phố
Vinh, thị xã Cửa Lò, 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu và Quế Phong và 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu với tổng số 473 xã, phường và thị trấn
Về cơ cấu kinh tế:
Năm 2000, cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An phát triển theo hướng:
nông - lâm - thủy sản 45,2%; công nghiệp - xây dựng 18,9%; dịch vụ 35,9% Mục tiêu của tỉnh Nghệ An là đến năm 2005, cơ cấu kinh tế sẽ thay đổi với tỷ
trọng nông nghiệp 34,%; công nghiệp 26% và dịch vụ 42%
Hệ thống giao thông:
Trang 21Nghệ An hội nhập đủ các tuyến giao thông quốc gia đi qua địa bàn là:
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Về đường bộ có 12.971
km, trong đó có 2.828 km đường nhựa, 3.790 km đường bê tông, xi măng,
976 km đá dăm và 5.377 km đường cấp phối, đất Quốc lộ số 1 dài 91 km, đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ dài 132 km, quốc lộ 15 ớ phía Tây dài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh; từ đông sang tây có quớc lộ 7 dài
225 km, quốc lộ 46 dài 90 km, quốc lộ 48 dài 122 km (trong thời gian tới sẽ hoàn chỉnh thêm 40 km nối với cửa khẩu Thông Thụ) là những tuyến đường nối liền phía Đông và Tây của tỉnh, với các cửa khẩu của nước bạn Lào Bên cạnh đó, tỉnh có 421 km đường cấp tỉnh và 3.670 km đường cấp huyện đã tạo nên mạng lười giao thông đường bộ thuận tiện, đóng vai trò quan trọng trong giao lưu hàng hóa Bắc - Nam, vận tải quá cảnh và luân chuyển hàng hóa nội
tỉnh
Về đường sắt, tuyến đường sắt Bắc - Nam qua Nghệ An dài 94 km, với
8 ga, trong đó ga Vinh là ga chính có khối lượng hành khách và hàng hóa thông qua lớn Ngoài ra, còn có tuyến đường sắt Cầu Giát - Nghĩa Đàn, Quán Hành - Cửa Lò phục vụ cho việc vận chuyển hành khách, hàng hóa phát triển kinh tế nội tỉnh
Nghệ An có hệ thống đường sông phong phú, với chiều dài gần 1.200
km, có đường biển nội tỉnh dài 107 km Tỉnh có 3 bến cảng quan trọng: Cảng hàng không với sân bay Vinh đã và đang được nâng cấp hiện đại hóa; Cảng biển Cửa Lò quy mô hiện tại 1,3 triệu tấn, tàu ra vào 1,0 vạn tấn và có khả năng nâng cấp đạt công suất 3,5 triệu tấn vào năm 2010 và 6 - 8 triệu tấn vào năm 2020, tàu ra vào 3 - 4 vạn tấn, là tiềm năng lớn cho ngành vận tải biển và xuất nhập hàng hóa của Nghệ An, khu vực Bắc Trung Bộ, đồng thời là cửa ngõ thông ra biển của nước bạn Lào, Đông Bắc Thái Lan và cảng Bến Thủy -
Trang 22Về bưu chính - viễn thông:
Đến năm 2000, toàn tỉnh có 6.300 máy điện thoại, bình quân 2 máy/100 dân, 439/466 xã, phường, thị trấn có máy điện thoại, đạt 94,,20%, 678 Bưu cục, kiốt, đại lý và Điểm Bưu điện - Văn hóa xã, trong đó 1 Bưu cục cấp 1, 18 Bưu cục cấp 2, 110 Bưu cục cấp 3, 232 kiốt, đại lý và 317 điểm Bưu điện - Văn hóa xã đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc trong nước và quốc tế với các
hình thức dịch vụ như điện thoại, điện báo, fax, internet
Về mạng lưới điện:
Đến năm 2002, Nghệ An có 100% huyện có điện lưới quốc gia, 370/431 xã có điện lưới, chiếm 85,85%, 90% số hộ dân được dùng điện lưới quốc gia Tổng công suất nguồn điện toàn tỉnh đạt gần 200 MW đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt đời sống Tuy nhiên, mạng lưới điện năng
và các trạm biến áp còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong tương lai
Dân cư và lao động:
Nghệ An có nguồn lực dồi dào với đức tính cần cù hiếu học, nghiêm túc trong lao động và có trình độ văn hóa, khả năng tiếp cận với các tiến bộ
khoa học kỹ thuật tốt Đến năm 2000, dân số Nghệ An là 2.902 nghìn người,
đứng thứ 4 cả nước về quy mô (sau thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa và
Hà Nội), gồm các dân tộc Kinh, Khơ Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu, tộc người Đan Lai, trong đó dân số ở nông thôn là 89,65%, mật độ dân số trung bình là 180,6 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động là 1.470/2.902 nghìn người, chiếm 50,8% dân số toàn tỉnh, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 1.198 nghìn người, chiếm 81,49% lực lượng lao động, trong đó: Lao động nông, lâm, thủy sản chiếm 80,1% (960 nghìn người), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 7,8% (93 nghìn người), lao động khu vực dịch vụ chiếm 12,1% Hàng năm, nguồn lao động được bổ sung
Trang 23từ 2,5 đến 3 vạn người, vừa tốt nghiệp phổ thông cơ sở, phổ thông trung học
và các trường dạy nghề Nguồn lao động có trình độ văn hóa và tay nghề được
bổ sung hàng năm là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tuy nhiên, với hơn 89% dân số sống trên địa bàn nông thôn thì quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đối với Nghệ An là công việc trước hết mà Đảng bộ và nhân dân Nghệ An hết sức quan tâm, chú trọng trong công cuộc CNH, HĐH tỉnh nhà Nông thôn Nghệ An tập trung phần lớn dân cư sống tập trung, trong khi đó cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hlóa còn vô cùng khó khăn Sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính trên địa bàn nông thôn, đóng vai trò to lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, đảm bảo an ninh lương thực đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- xã hội của tỉnh, chính vì vậy cần sự quan tâm hơn nữa của chính quyền địa phương
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nằm trong tổng thể của quá trình CNH của cả tỉnh, song quá trình này có vị trí đặc biệt quan trọng, tầm ảnh hưởng sâu rộng về kinh tế, xã hội Thành công của khu vực này có tác dụng tạo nền tảng và thúc đẩy nhanh, có hiệu quả và bền vững trong tiến trình CNH, HĐH của tỉnh Bởi mục tiêu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An nói riêng và của cả nước nói chung là chuyển nông nghiệp, nông thôn Nghệ An từ trạng thái của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán, trình độ kỹ thuật, năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp, mang nặng tính sản xuất nhỏ sang trạng thái của nền kinh tế công nghiệp, văn minh công nghiệp với những ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn,
Trang 24mặt khác góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân ở nông thôn
Nếu so sánh với các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ An có điều kiện thuận lợi trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển một nền kinh tế toàn diện, đa dạng Tuy vậy, để Nghệ An có thể phát triển nhanh, mạnh theo hướng CNH, HĐH, Đảng bộ và nhân dân cần phải hết sức nỗ lực và đoàn kết, tận dụng tối đa những tiềm năng thế mạnh hiện có, khắc phục những hạn chế, khó khăn để đưa sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sớm đến ngày thắng lợi
1.1.2 Tình hình nông nghiệp, nông thôn Nghệ An trước năm 1996
Thực hiện NQ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1991 - 1995) và NQ Hội nghị giữa nhiệm kỳ trong bối cảnh đất nước chưa thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã ảnh hưởng lớn đến kinh tế và tư tưởng của nhân dân ta; các thế lực nhân đà đó ráo
riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chĩa mũi nhọn chống phá
cách mạng Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn thâm độc; Nghệ An lại vừa có khó khăn nổi lên là kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất hàng hóa chậm phát triển; song chúng ta đã phát huy được truyền thống cách mạng, đoàn kết, tự lực, tự cường vượt qua khó khăn thử thách, vượt lên giành được nhiều thành tựu quan trọng nói chung, nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Công cuộc đổi mới được Đảng và Nhà nước ta khởi xướng và lãnh đạo
từ năm 1986 đến nay, song xét về nông nghiệp, nông thôn cả nước nói chung
và Nghệ An nói riêng tăng trưởng nhanh từ khi có NQ 10 của Bộ Chính trị (4/1988) Đến năm 1995, giá trị sản xuất (GTSX) ngành nông, lâm, thủy sản
Trang 25Nghệ An đạt 2.032 tỷ đồng tính theo giá so sánh, tốc độ tăng trưởng giai đoạn
1991 - 1995 đạt 4,67% Gíá trị nông nghiệp trong tổng GTSX nông, lâm, thủy sản là 80,89%, tỷ trọng lâm nghiệp 15,3% và tỷ trọng thủy sản là 4,17% Sản lượng lương thực năm 1995 đạt 614.012 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 226 kg Đã cơ bản xóa được tình trạng đói giáp hạt
Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển dịch đúng hướng và phát triển theo hướng tích cực: Giảm dần tỷ trọng nông, lâm, thủy sản từ 60,88% năm 1991 xuống còn 50,14% năm 1995; tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng
từ 12,16% năm 1991 lên 14,13% năm 1995 và tỷ trọng dịch vụ tương tự tăng
từ 26,9% lên 35,73% trong cùng kỳ
Trong nông nghiệp, sản xuất trồng trọt đã có sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tập trung chuyên canh vụ Đông - Xuân, mở rộng vụ Hè - Thu, tăng vụ Đông; coi trọng việc đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất, công tác khuyến nông và dịch vụ sản xuất nông nghiệp bước đầu phát triển Chăn nuôi phát triển, đến năm 1995, đàn trâu có 246.983 con, đàn bò 238.315 con, đàn lợn 730.778 con và đàn gia cầm 5.833.000 con
Trong lâm nghiệp bước đầu tạo sự chuyển biến trong quản lý, chuyển dần từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, chuyển từ khai thác lâm sản là chính sang bảo vệ, khoanh nuôi, cải tạo, phát triển vốn rừng Việc giao đất, khoán rừng gắn với chương trình 327 định canh, định cư và các chương trình khác như trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bước đầu phát huy được hiệu quả, đến năm 1995, tỉnh đã giao 494.000 ha đất rừng cho
526 đơn vị và 7.368 hộ gia đình, trồng mới 16.596 ha rừng, khoanh nuôi 367.751 ha Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng được bảo vệ tốt hơn trước
Ngành thủy sản phát triển, nhất là đổi mới và tăng thêm nhiều phương tiện đánh bắt xa bờ, nuôi tôm lợ, nuôi cá nước ngọt được mở rộng với nhiều
Trang 26ở sông suối; nghề nuôi ba ba đã phát triển ở nhiều vùng nông thôn Sản lượng đánh bắt thủy, hải sản tăng bình quân hàng năm 5,4% Phương thức quản lý nghề cá có chuyển biến theo hướng lấy thuyền nghề làm đơn vị kinh tế cơ bản, ngư dân làm chủ trong sản xuất
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đang chuyển đổi tích cực từng bước phá thế độc canh trồng cây lương thực, chuyển đổi trồng cây công nghiệp, cây ăn quả
và chăn nuôi để phát triển kinh tế hàng hóa Phát huy thế mạnh các vùng chuyên canh đạt tỷ trọng giá trị hàng hóa ngày càng cao như vùng trọng điểm lúa Diễn Châu - Yên Thành - Quỳnh Lưu và Nam Đàn - Hưng Nguyên - Nghi Lộc, lạc 26.962 ha (Quỳnh Lưu - Diễn Châu - Nghi Lộc - Nam Đàn -Thanh Chương), sản lượng 32.875 tấn, mía 2.192 ha, sản lượng 112.658 tấn (Nghĩa Đàn - Quỳ Hợp - Tân Kỳ) Cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả khác phát triển đa mang lại hiệu quả tích cực trong nông nghiệp, nông thôn như chè 2.700 ha, cà phê 1700 ha, cao su 2.800 ha cao, cam 3.000 ha, dâu 1.400 ha Các vùng nuôi tôm ven biển như Quỳnh Lưu, Lạch Vạn, Diễn Châu với diện tích 1.000 ha
Nhờ những thành tựu của công nghệ sinh học, nhiều giống mới có năng suất, chất lượng đã đưa vào sản xuất Diện tích cấy các giống lúa lai của Trung Quốc tăng từ 22 ha năm 1992 lên 4.230 ha năm 1995 Các giống tiến
bộ kỹ thuật như IR1820, IR17494, CR203, IR352, Tạp giao 1, 5, Khang Dân
18 và 1/30 cho giống bào thai lùn đã đưa vào gieo trồng đại trà thay cho nông nghiệp 8, mộc tuyền Do đó năng suất lúa tăng nhanh qua các năm, năng suất lúa bình quân cả năm tăng từ 23,49 tạ/ha năm 1991 lên 44,42 tạ/ha năm 1995 Bên canh đó các giống ngô lai nhập nội như Bioseed 9670, Uniseed 90 và các giống ngô lai trong nước có năng suất cao như LVN 10, LVN 11, LVN 12 cho năng suất đạt bình quân 17,4 tạ hạ năm 1995
Trang 27Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ Đến năm 1995, toàn tỉnh có 9.337 phương tiện sản xuất cơ giới, trong đó máy kéo 556, 1371 máy bơm, 4.207 máy tuốt lúa, 648 máy nghiền thức ăn gia súc, 2.555 tàu thuyền đánh cá
có động cơ Tuy nhiên tỷ diện tích làm đất bằng cơ giới đạt 0,75% diện tích gieo trồng, 60% khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng cơ giới, các khâu xay xát, tuốt lúa… bằng cơ giới đã đạt 60 khối lượng việc thay thế lao động thủ công bằng cơ giới đang trở thành nhu cầu ngày càng lớn trong nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An trong thời gian tới
Hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, ngoài 2 hệ thống thủy nông Bắc và Hệ thống thủy nông Nam Nghệ An, còn có 560 hồ chứa nước lớn nhỏ, 114 trạm bơm lấy nước trực tiếp từ sông Lam, sông Hiếu, sông Giăng Hơn 1.220 km kênh mương bê tông nội đồng, 162 km đê sông, 212 km đê biển và hệ thống ngăn mặn Vùng Diễn Châu - Yên Thành, hệ thống tiêu ngăn mặn vùng Nam Đàn - Hưng Nguyên - Nghi Lộc đã cơ bản chủ động tưới và tiêu úng cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Điện khí hóa nông thôn từng bước được đầu tư hoàn thiện Đến cuối năm 1995, toàn tỉnh có hơn 1.092,4 km đường dây các loại; 847 trạm biến áp với tổng công suất 209.870 KVA, 17/19 huyện, thành thị có điện, 370/434 xã
có điện lưới quốc gia đạt tỷ lệ 80 %, số hộ dung điện đạt 79,%
Giao thông nông thôn: Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Ngoài việc phát triển
hệ thống đường giao thông nông thôn, các địa phương đã tích cực huy động các nguồn lực tham gia xây dựng các cống qua đường, nâng cấp và xã hội hệ thống đường nội bộ xã, liên thôn đến năm 1995 toàn tỉnh có có 440/466 xã
có đường ô tô đến trụ sở UBND xã, chiếm 94,4% … góp phần thu hút các nhà đầu tư về nông thôn, tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và giải quyết
Trang 28Các cơ sở dịch vụ khác như xí nghiệp giống cây, trạm bảo vệ thức vật, thú ý…được hình thành theo hệ thống, đảm bảo cung cấp cơ bản các dịch vụ
về giống cây, con và các dịch vụ kỹ thuật khác phục vụ cho kinh tế hộ nông dân phục vụ sản xuất nông nghiệp Các dịch vụ vận tải, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có sự chuyển biến tích cực
Các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn được khuyến khích phát triển Các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đang dần từng bước được sắp xếp lại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Việc giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân mới đạt 83% số xã, 84% số hộ lập sổ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ nông dân chỉ đạt 38%
Tình hình chính trị xã hội nông thôn ổn định, hoạt động của hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy Nhìn chung cán bộ, Đảng viên và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước và các chính sách, pháp luật của Nhà nước
Tóm lại, từ năm 1991 - 1995, nông nghiệp Nghệ An liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,67% Đời sống nhân dân nâng lên rõ rệt, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông nghiệp, nông thôn tăng từ 0,4 triệu đồng năm 1991 lên 1,9 triệu đồng năm 1995 Tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao 36% Các nhu cầu ăn,
ở, học hành, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh và hưởng thụ văn hóa của nhân dân cơ bản được đáp ứng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có sự thay đổi đáng kể Giảm dần tỷ trọng nông, lâm, thủy sản từ 60,88% năm 1991 xuống còn 50,14% năm 1995; tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng từ 12,16% năm 1991 lên 14,13% năm 1995 và tỷ trọng dịch vụ tương tự tăng từ 26,9% lên 35,73% trong cùng kỳ Tuy nhiên, nông nghiệp, nông thôn Nghệ An vẫn
Trang 29mang nặng tính chất thuần nông, nông nghiệp mới bước đầu chuyển theo hướng sản xuất hàng hóa, về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán
và mang nặng tính tự cung, tự cấp, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội còn bất cập Nhiều vùng ở miền núi như Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, kinh tế hang hóa phát triển chậm Đời sống nông nông dân, nhất là vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn
1.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2000
Xuất phát từ thực tiễn nước ta đó là: 80% dân số sống ở vùng nông thôn và trên 70% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nông thôn thì việc phát triển toàn diện nông nghiệp, nông thôn ở nước
ta có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã để lại bài học quý báu cho Việt Nam, đó là nếu không phát triển nông thôn thì không một nước nào có thể phát triển ổn định, bền vững với tốc độ cao một cách lâu dài được
Nhận thức thực tiễn khách quan, khái quát thành lý luận, từ đó đề ra những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với thực tiễn, đó là nhiệm vụ
vô cùng to lớn của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bước vào thời kỳ đổi mới, được mở đầu bằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã quán triệt bước đi cần thiết của nước ta trong thời kỳ đổi mới đó là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho CNXH đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp Trong đó, Đảng đặc biệt chú trọng đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, coi đây là bước đi đầu
Trang 30tiên, là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa đặt nền tảng, là cơ sở vững chắc cho cả quá trình CNH, HĐH đất nước
CNH, HĐH hiểu theo bản chất của nó là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Theo cách hiểu đó, chúng ta thấy rõ mục tiêu của CNH, HĐH là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cần được hiểu là một bộ phận của quá trình CNH, HĐH đất nước, bao gồm bốn khái niệm khác nhau: CNH nông nghiệp, CNH nông thôn, HĐH nông nghiệp và HĐH nông thôn
trong đó: “Công nghiệp hóa nông nghiệp là quá trình chuyển nền nông
nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hóa gắn với thị
trường, dưới tác động của công nghiệp Công nghiệp hóa nông thôn là quá
trình biến đổi nền kinh tế nông thôn thuần nông sang nền kinh tế công nghiệp
- dịch vụ, cùng với nó là lối sống nông nghiệp chuyển sang lối sống công nghiệp
CNH nông nghiệp và CNH nông thôn có quan hệ với nhau, trong đó CNH nông thôn bao hàm cả CNH nông nghiệp; còn CNH nông nghiệp chỉ là một mặt của CNH nông thôn
Hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình ứng dụng những tiến bộ khoa
học công nghệ tiên tiến vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả Hiện đại hóa nông thôn là từ trạng thái
kinh tế thuần nông thành khu vực nông thôn phát triển toàn diện, hiện đại dựa
Trang 31trên nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phân công lao động và hợp tác quốc tế
Giữa HĐH nông nghiệp và HĐH nông thôn có sự khác nhau nhất định Nếu HĐH nông nghiệp là quá trình làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, thì HĐH nông thôn, ngoài việc đó ra còn phải tạo sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ và mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn” [80, tr 16 - 17]
Tại NQ của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7/1996), Đảng ta đã xác định rõ các nội dung và giải pháp lớn để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn:
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước
- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị
- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp (TTCN), công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
- Xây dựng kết câu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại” [10, tr 94]
Trang 32Quán triệt tinh thần NQ Đại hội VIII của Đảng, ngày 10/11/1998, Bộ
Chính Trị (BCT) ra Nghị quyết số 06-NQ/TW về một số vấn đề phát triển
nông nghiệp và nông thôn, trong đó BCT chỉ rõ:
“Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm
vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới ” [10, tr
94 - 96]
Thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được Đại hội lần thứ VIII thông qua NQ Hội nghị lần thứ VI của BCHTW Đảng khóa VIII (1999) đã đặc biệt nhấn mạnh:
“Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [10, tr 196]
Nghị quyết của Hội nghị cũng chỉ rõ:
“Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cần tập trung sức sản xuất gắn với công nghiệp chế biến một số loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân và xuất khẩu; coi trọng công nghệ sau thu hoạch, thực hiện tốt các khâu cơ khí hóa, khôi phục và phát triển các ngành, nghề truyền thống, xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội Theo hướng đó các ngành công
Trang 33nghiệp, dịch vụ phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” [10, tr 196]
Như vậy, các Nghị quyết của BCHTW Đảng và BCT đã đóng vai trò định hướng, chỉ đạo cho công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc CNH, HĐH toàn diện trên phạm vi cả nước
Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã tích cực lãnh đạo nhân dân tỉnh nhà thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt nhân dân ở vùng nông nghiệp, nông thôn (chiếm 89,65% dân số của toàn tỉnh)
Từ ngày 8/5 đến ngày 11/5/1996, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ
An được long trọng tổ chức với nhiệm vụ căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương trong giai đoạn mới mà đề ra những chính sách phát triển KT - XH phù hợp, lãnh đạo nhân dân trong toàn tỉnh thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mới
Đại hội đã đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong lãnh đạo của Đảng bộ cũng như các cấp trong quá trình lãnh đạo nhân dân tỉnh thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua, đặc biệt
là trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn
tỉnh Đại hội cũng thông qua Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp
lớn phát triển kinh tế - xã hội tỉnh 5 năm 1996-2000 Về mục tiêu tổng quát,
Nghị quyết của Đại hội đã ghi rõ:
“ Huy động mọi tiềm năng trong tỉnh, kết hợp với mọi nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, giải quyết tốt các vấn đề xã hội,
Trang 34cao đời sống nhân dân, đưa Nghệ An sớm ra khỏi tỉnh nghèo và tạo điều kiện vững chắc cho bước phát triển những năm tiếp theo” [1, tr 25 - 26]
Phương hướng tổng quát:
“Thực hiện CNH, HĐH đất nước, nền kinh tế Nghệ An phải vừa đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa tạo yếu tố vững chắc, ổn định và hiệu quả để vài kế hoạch 5 năm có nền kinh tế với cơ cấu: Công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; Trong 5 năm tới, phải tập trung làm chuyển biến một bước quan trọng kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH”.[1, tr 28]
Về mục tiêu chủ yếu:
“Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 16 - 17%, trong đó ngành nông, lâm, thủy sản phấn đấu tăng từ 5,5 - 6%, tổng sản lượng quy thóc đạt
82 - 85 vạn tấn; ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 28 - 30%; ngành dịch
vụ tăng từ 26,5 - 29% Đến năm 2000, toàn tỉnh phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người là 425 - 450 USD/người/năm, đồng thời cơ cấu kinh tế phấn đấu đạt: Nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng là 30%; công nghiệp, xây dựng chiếm 21%; ngành dịch vụ chiếm 49% trong cơ cấu kinh tế mới Tỷ lệ phát triển dân
số đưới 1,65%, 100% trẻ em đến tuổi vào lớp 1, 100% xã, phường, thị trấn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ theo tiêu chuẩn quốc gia Tạo việc làm cho ít nhất 3 - 4 vạn lao động; xóa hộ đói và giảm hộ nghèo dưới 15%; số
hộ được nghe đài 90 - 95%; số hộ được xem ti vi 40 - 45%.” [1, tr 26]
Nhiệm vụ đặt ra đối với Nghệ An là rất nặng nề, những khó khăn, thách thức đối với tỉnh là rất lớn, song tiềm năng và thực lực của Nghệ An cũng không nhỏ Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, đúc rút kinh nghiệm đổi mới trong những năm qua để thực hiện thắng lợi những mục tiêu
đề ra, trong đó có mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn
tỉnh, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã thông qua các chủ trương, giải pháp chủ yếu
sau:
Trang 351 Phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH, HĐH:
a - Phải tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa Kết hợp nông - lâm - thủy sản, phát huy lợi thế từng vùng sinh thái Xây dựng các vùng chuyên canh tập trung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến Chuyển diện tích cây lương thực năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi trồng thủy sản có giá trị cao hơn Phát triển chăn nuôi toàn diện, phù hợp với lợi thế từng vùng, giải quyết tốt các yêu cầu về giống, thức ăn, thú y từng bước nâng cao chất lượng đàn gia súc và gia cầm Phát triển lâm nghiệp xã hội, tập trung bảo vệ 50 vạn ha rừng hiện có, giao đất, khoán rừng cho các tổ chức và gia đình Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phát triển kinh tế biển và thủy sản Đổi mới kinh tế HTX nông nghiệp và phát triển các hình thức hợp tác kinh tế trong nông thôn Nhân rộng mô hình thanh niên xung phong phát triển kinh tế, có cơ chế khuyến khích cán bộ KHKT, vận động thanh niên trí thức đi xây dựng phát triển KT - XH ở nông thôn Tổ chức tốt hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công Áp dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất Phổ biến rộng rãi công nghệ sinh học mới đến tận các hộ nông dân có chính sách trợ giá, tổ chức tốt việc cung ứng giống cây, giống con có năng suất cao, chất lượng tốt Đưa nhanh các công cụ cơ khí nhỏ vào nông thôn Tổ chức tốt các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu và các dịch vụ vật tư nông nghiệp khác
b - Phát triển công nghiệp nhanh, hiệu quả cao và bền vững: Phát triển mạnh công nghiệp gắn với nông nghiệp, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản Có chính sách và biện pháp tổ chức phù hợp để khôi phục, phát triển TTCN, các làng nghề, ngành nghề truyền thống và du nhập thêm nghề mới Khai thác tốt năng lực phát triển sản xuất của các thành phần kinh tế trong công nghiệp và TTCN để tăng việc làm và thu nhập cho
Trang 36c - Đẩy mạnh các hoạt động thương mại và dịch vụ
d - Phát triển một cách hợp lý các vùng kinh tế trong tỉnh
2 Huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
3 Chăm lo lĩnh vực văn hóa - xã hội
a) Tập trung sức giải quyết việc làm và lao động
b) Thực hiện tốt các chính sách xã hội
c) Phát triển giáo dục - đào tạo
d) Văn hóa, phát thanh, truyền hình
e) Công tác y tế, dân số kế - hoạch hóa gia đình
f) Hoạt động thể dục - thể thao
4.Phát triển hhoa học - công nghệ và môi trường” [1, tr 72 - 93]
Như vậy, có thể nói, thắng lợi của Đại hội đã thể hiện quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An trong thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, quyết tâm đưa Nghệ An sớm ra khỏi tình trạng tỉnh nghèo hòa nhịp vào quá trình CNH, HĐH của cả nước Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ đóng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân trên địa bàn tỉnh tích cực thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới
1.2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm 2000
* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Dưới ánh sáng chỉ đạo của NQ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Đảng
bộ tỉnh Nghệ An đóng vai trò hạt nhân trong công cuộc lãnh đạo nhân dân trong tỉnh hưởng ứng và thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng công cuộc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh Để đưa NQ của Đại hội Đảng bộ vào thực tiễn, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã triển khai thực hiện nội dung của NQ Đảng bộ thông qua các chương trình, các đề án cụ thể Trong đó, Đảng bộ
Trang 37tỉnh đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, giao trách nhiệm cho từng bộ phận, từng người có trách nhiệm trực tiếp triển khai, trực tiếp sát dân, thường xuyên báo cáo về Đảng bộ tỉnh về quá trình thực hiện, những vấn đề phát sinh
để từ đó Đảng bộ tỉnh và nhân dân từng bước tháo gỡ kịp thời, góp phần thực hiện thắng lợi một cách toàn diện và vững chắc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh nhà
Coi “CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là khâu quan trọng, đảm bảo
tính vững chắc và hiệu quả”, Đảng bộ tỉnh đã triển khai các chương trình
kinh tế - xã hội cụ thể nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như Chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; Chương trình phát triển công nghiệp địa phương trong đó đặc biệt chú trọng phát triển các ngành công nghiệp chế biến nhằm hỗ trợ và tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch; Chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Chương trình phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; Chương trình tạo việc làm; xóa đói giảm nghèo; an ninh quốc phòng Các chương trình lại được cụ thể thông qua các đề án được phân công cụ thể cho các đơn vị, các huyện, xã chịu trách nhiệm, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Chính vì vậy, các chương trình, đề án được triển khai một cách đồng bộ, mang lại hiệu quả cao do tiếp cận sát sao vào thực tiễn đời sống nhân dân trong tỉnh Do đó, quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng bộ tỉnh
đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Những thắng lợi đó đã khẳng định đường lối và những bước đi đúng đắn, thích hợp của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong quá trình lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh, góp phần thắng lợi vào công cuộc CNH, HĐH của cả nước
Trang 38Nghệ An, là vùng đất có khả năng phát triển toàn diện nông, lâm nghiệp, thủy sản Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời gian qua
đã tạo được bước chuyển dịch đáng kể gắn với sản xuất hàng hóa trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Sản xuất nông nghiệp thời kỳ này giữ nhịp độ tăng trưởng khá Giá trị sản xuất (GTSX) nông - lâm - thủy sản tăng nhanh qua các năm (theo giá so sánh từ 3.217.300 triệu đồng năm 1996 lên 4.115.764 triệu đồng năm 200), tăng 27,92% (898.464 triệu đồng), so với năm
2000, đạt bình quân 5,58%/năm Sau 5 năm giá trị nông nghiệp trong tổng GTSX nông, lâm, thủy sản tăng từ 82,19% năm 1996 lên 83,27%, cón tỷ trọng thủy sản tương ứng tăng từ 5,04% lên 6,39% Riêng lâm nghiệp, giá trị tuyệt đối tăng từ 410.900 triệu đồng năm 1996 lên 425.547 triệu đồng năm
2000, nhưng tỷ trọng của nó trong tổng giá trị nông, lâm thủy sản lại giảm từ 12,77% năm 1996 xuống còn 10,34% năm 2000 Sản lượng lương thực tăng
từ 581.566 tấn năm 1996 lêm 832.399 tấn năm 2000, bình quân lương thực đầu người từ 211 kg năm 1996 lên 290 kg năm 2000
Bảng 1.1 chuyền dịch cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp 5 năm
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Nghệ An)
Trong cơ cấu sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị trồng trọt trong tổng thu nhập của ngành vẫn chiếm tỷ trọng lớn, với 69,40% năm
1996 lên 71,90% năm 2000, dịch vụ nông nghiệp sau 5 năm cũng chỉ tăng được 0,5% từ 0,90% năm 1996 lên 1,40% năm 2000, chăn nuôi lại giảm từ 29,70% năm 1996 xuống còn 26,70% năm 2000 Mặc dù tỷ trọng giá trị chăn
Trang 39nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp của tỉnh còn thấp nhưng đang chuyển dịch
theo hướng sản xuất hàng hóa, với sự hình thành nghề nuôi lợn sữa, lợn nạc
và bò sữa Đến năm 2000 tồng đàn trâu là 276 ngàn con, tăng 10,84% (27.000 con) so với 1996, đàn bò 283 ngàn con, tăng 10,51% (38.000 con),
đàn lợn 961 nghìn con, tăng 29,51% (219.000 con), đàn gia cầm từ 6.714
nghìn con, tăng 11,43% (689.000 con) trong cùng thời kỳ
Trong cơ cấu ngành lâm nghiệp, ở Nghệ An trong những năm gần đây
đã có sự chuyển hướng từ khai thác là chủ yếu sang trồng mới, khoanh nuôi,
chăm sóc và bảo vệ rừng Thời kỳ 1996 - 2000, toàn tỉnh trồng được 45.000
ha, bình quân trồng 9.000 ha/năm, khoanh nuôi bảo vệ 563.000 ha Trước
năm 1990, Nghệ An khai thác mỗi năm từ 30 - 40 nghìn m3
gỗ rừng tự nhiên, nay chỉ khai thác 13 - 15 nghìn m3
(kể cả rừng trồng) Còn sản lượng song mây khai thác cũng giảm từ 859,9 tấn xuống 613 tấn trong cùng thời gian
Nhờ đó môi trường sinh thái đuợc phục hồi, tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 36%
năm 1995 lên 41,5% năm 2000
Thủy sản là lĩnh vực có sự chuyển biến nhanh nhất trong nông nghiệp
của tỉnh Trong cơ cấu giá trị ngành thủy sản đã có sự thay đổi theo hướng:
Tỷ trọng giá trị thủy sản nuôi trồng giảm từ 24,19% năm 1996 xuống còn
22,93% năm 2000, mặc dù giá trị tuyệt đối vẫn tăng (từ 162.146 triệu đồng
năm 1996 lên 262.790 triệu đồng năm 2000) Ngược lại, tỷ trọng thủy sản
khai thác tăng nhưng không đáng kể từ 75,23% năm 1996 lên 75,89% trong
thời gian tương ứng Dịch vụ thủy sản từ 0,56% năm 1996 lên 1,18% trong
cùng kỳ Về quan hệ giữa sản lượng thủy sản nuôi trồng và sản lượng khai
thác có sự tăng trưởng vượt bậc Năm 1996, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt
5.700 tấn, chiếm 21,34% tổng sản lượng thủy sản, nhưng đến năm 2000 đã
đạt 8.000 tấn, chiếm 27,58% Sản lượng thủy sản khai thác đạt 21.000 tấn,
Trang 40chiếm 78,65% năm 1996 lên 29.000 tấn, chiếm 78,37% trong cùng kỳ Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 10 triệu USD
Về cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã có sự hình thành các vùng sản xuất tập
trung, chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa như: Lạc 29.000 ha (Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu), mía 21.000 ha, sản lượng 900 nghìn tấn (Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ), vừng 7.500 ha (Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn) Các cây chè, cao su, cà phê, hồ tiêu càng ngày càng mở rộng theo xu hướng trồng tập trung, trong đó chè 3.728 ha, cà phê 2.988 ha, cao su 3.564 ha, quế 7.500 ha, hồ tiêu 290 ha và cây ăn quả khác 12.000 ha Bên cạnh đó, có 13.000 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản
Sự phát triển các vùng tập trung chuyên canh của Nghệ An đã cung cấp nguồn nguyên liệu ngày càng nhiều cho công nghiệp chế biến của tỉnh
Thực hiện cơ khí hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp:
Công cụ sản xuất cơ giới là phương tiện mạnh mẽ nhất và trực tiếp
nhất đảm bảo thành công của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhận thức được điều đó trong những năm qua Nghệ An đã rất coi trọng việc trang bị các công cụ cơ giới cho sản xuất, nhằm tăng nhanh năng suất lao động nông nghiệp và năng suất cây trồng vật nuôi Tỉnh đã đưa ra chính sách khuyến khích nông dân mua máy, bằng cách bán máy kèm khuyến nông với các hình thức trợ giá, trợ cước và hướng dẫn sử dụng Vì thế năng lực thiết bị dùng cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng tăng
Bảng 1.2 Mức độ trang bị một số máy móc thiết bị chủ yếu
Đơn vị: Chiếc
Năm Phương tiện