1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010

123 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông thôn nói riêng, nhóm công trình nghiên cứu này đề cấp tới sự cần thiết phải đổi mới

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HUYÊN

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐẢNG Ở HUYỆN THUẬN THÀNH

(BẮC NINH) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HUYÊN

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐẢNG Ở HUYỆN THUẬN THÀNH

(BẮC NINH) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 602256

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 11

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 11

NỘI DUNG 13

Chương 1: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 13

1.1 Cơ sở lý luận về CCKT và chuyển dịch CCKT 13

1.1.1 Khái niệm về CCKT: 13

1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch CCKT 16

1.2 Những căn cứ để xác định chuyển dịch CCKT ở huyện Thuận Thành 17

1.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội của huyện Thuận Thành 17 1.2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về chuyển dịch CCKT 24

1.2.3 Tình hình kinh tế huyện Thuận Thành trước năm 1996 35

1.3 Quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện Thuận Thành từ năm 1996 đến năm 2000 45

1.3.1 Chủ trương chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện Thuận Thành từ năm 1996 đến năm 2000 47

1.3.2 Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2000 50

Trang 4

Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

TƯ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 61

2.1 Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch CCKT từ năm 2000 đến năm 2005 61

2.1.1 Chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện Thuận Thành từ năm 2000 đến năm 2005 61

2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKT từ năm 2000 đến năm 2005 66

2.2 Thuận Thành tích cực chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ năm 2005 đến năm 2010 77

2.2.1 Đảng bộ huyện Thuận Thành chủ trương chuyển dịch CCKT: 77 2.2.2 Quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT và những kết quả đạt được của Đảng bộ huyện Thuận Thành từ năm 2005 đến năm 2010 82 Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 3.1 Nhận xét 94

3.1.1 Thành tựu 94

3.1.2 Hạn chế 105

3.2 Kinh nghiệm 108

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, “toàn cầu hóa” đã trở thành xu thế quốc tế, các nước trên thế giới đang ra sức hội nhập về mọi mặt nhằm tìm kiếm những cơ hội để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước mình, trong đó hội nhập về kinh tế luôn được coi là trọng tâm Bối cảnh đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp, từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến nhanh và tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Với đường lối đổi mới toàn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới về kinh tế, Đại hội VI vạch ra con đường

đi đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu tất yếu của đất nước

Từ đó đến nay, đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung và phát triển qua các kỳ Đại hội Nhờ đó, qua hơn 20 năm đổi mới, kinh tế nước

ta đã phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ta ngày càng được cải thiện rõ rệt

Trong đổi mới về kinh tế thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT)

là một vấn đề lớn luôn được Đảng quan tâm Từ năm 1986 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thể hiện đổi mới tư duy về kinh tế.Thực hiện đường lối của Đảng, nhiều địa phương trong cả nước đã đạt được thành tựu lớn về kinh tế, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Thuận Thành là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Bắc Ninh Trong những năm qua, nhờ đường lối đổi mới và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sâu sát của Đảng và Chính quyền huyện, kinh tế-xã hội ngày càng ổn định và phát triển Kinh tế tăng trưởng với tốc độ bình quân 14,5%/năm, cơ cấu kinh tế

Trang 6

chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, ngay trong từng ngành cũng có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa

Tuy nhiên, trước yêu cầu phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

“phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” như mục tiêu của Đảng đề ra, thì tốc độ và chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn nhiều vấn đề bất cập Mặc dù tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ có tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp giảm đáng kể trong CCKT ngành, nhưng cơ cấu lao động lại chuyển dịch không tương xứng Tỷ trọng lao động làm trong nông nghiệp còn lớn, số lao động chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ tuy có tăng lên nhưng chủ yếu làm các công việc giản đơn, năng suất và thu nhập thấp Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, hơn nữa còn bộc lộ những hạn chế, mặt trái trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thuận Thành vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ

Để góp phần đánh giá đúng thực trạng và giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Thuận Thành, tôi

chọn đề tài “Quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng ở huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) từ năm 1996 đến năm 2010” làm luận văn thạc sỹ

Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi đổi mới cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề chuyển dịch CCKT, có thể chia thành mấy nhóm công trình nghiên cứu sau:

1 Nhóm sách, công trình nghiên cứu viết về các vấn đề chung trong chuyển dịch CCKT bao gồm:

Trang 7

- Tác giả Ngô Đình Giao (chủ biên) với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 1994

- Tác giả Đỗ Hoài Nam: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996

- Tác giả Phan Thanh Phố với: “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996

- Tác giả Bùi Tất Thắng với: “Đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, Viện kinh tế học,

1994, số 2

- Tác giả Lê Đình Thắng với: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn –

Lý luận và thực tiễn”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1998

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông thôn nói riêng, nhóm công trình nghiên cứu này đề cấp tới sự cần thiết phải đổi mới căn bản về cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), ứng dụng khoa học công nghệ vào từng ngành sản xuất với mục tiêu: nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Từ đó các tác giả đề xuất giải pháp để đẩy nhanh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH

2 Nhóm sách nghiên cứu về chuyển dịch CCKT của từng vùng, miền, tiêu biểu là:

- Tác giả Nguyễn Văn Bằng với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Nông

nghiệp, Hà Nội, 2002

Trang 8

- Tác giả Phạm Hùng với: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Nông

nghiệp, Hà Nội, 2002

- Tác giả Nguyễn Xuân Long với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn tỉnh Khánh Hòa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2003

- Tác giả Nguyễn Trung Quế với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995

Các tác giả đã đánh giá thực trạng về chuyển dịch CCKT ở nông thôn mỗi vùng, miền cụ thể đồng thời nêu lên những định hướng chủ yếu trong phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT ở nông thôn trên cơ sở chỉ ra được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng

3 Nhóm sách là Luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu:

- Ngô Thái Hà, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành theo hướng đô thị hóa ở huyện Từ Liêm”, Luận văn thạc sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội, 2006

- Võ Văn Minh, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Lương Sơn – Hòa Bình”, Luận án PTS bảo vệ tại Học viên Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh năm 2004

- Nguyễn Văn Triệu, “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991-2006)”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn Hà Nội, 2009

Nhóm công trình nghiên cứu trên đã làm rõ quá trình vận dụng đường lối, quan điểm của Trung ương, của Đảng trong thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch CCKT ở từng địa phương Các tác giả đi sâu phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ

Trang 9

4 Nhóm luận văn nghiên cứu về những vấn để liên quan đến chuyển dịch CCKT ở tỉnh Bắc Ninh, ở huyện Thuận Thành:

- Tác giả Nguyễn Xuân Đương: “Giải pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”,

Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011

- Tác giả Nguyễn Văn Hùng: “Kinh tế nông thôn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,

Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2009

- Đỗ Thị Yến, “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm 1997-2006”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2009

Các đề tài nghiên cứu nêu trên đề cập tới quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn cụ thể, phản ánh vấn đề chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Thuận Thành những năm gần đây và hiện nay Các tác giả cũng đưa ra nhiều giải pháp để thực hiện chuyển dịch CCKT ở Huyện trong thời gian tới, đặc biệt là giải pháp khuyến khích đầu tư vào nông thôn Thuận Thành

Nhìn chung, các công trình và bài viết đều đi sâu nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước nói chung và của một số địa phương nói riêng; phân tích rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng cũng như thực trạng và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy, thúc đẩy hơn nữa chuyển dịch CCKT theo hướng tích cực Trong đó có một số đề tài đã “chạm” tới tới vấn đề chuyển dịch CCKT song mới chỉ phản ánh một vài khía cạnh trong toàn bộ quá trình đó Cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn bộ vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010 Do đó đề tài tôi chọn nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ đề tài, luận án, luận văn đã công bố

Trang 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành vận dụng đường lối của Trung ương, của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo thực hiện chuyển dịch CCKT ở địa phương từ năm 1996 đến năm 2010

- Trên cơ sở những lý luận và thực tiễn, luận văn phân tích, đánh giá bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch CCKT ở Thuận Thành từ năm 1996 đến năm 2010

- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thuận Thành trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2010

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày một cách hệ thống chủ trương của Đảng bộ huyện Thuận Thành vận dụng đường lối của Trung ương và của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về lãnh đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996-2010

- Phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện Thuận Thành, nêu những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng đúng đắn, tích cực

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Thuận Thành trong chuyển dịch CCKT, những số liệu cụ thể cho thấy thực trạng

chuyển dịch CCKT trên địa bàn huyện từ năm 1996 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh, chỉ đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2010

Trang 11

- Về thời gian: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2010

- Về không gian: Địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn là những văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chính phủ, các bộ, ban, ngành liên quan; của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và Đảng bộ huyện Thuận Thành

- Các công trình khoa học, sách báo, luận án, luận văn đề cập đến vấn

đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sau năm 1986 đến nay

- Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic

là chủ yếu cùng các phương pháp bổ trợ khác như: phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh để phục vụ quá trình nghiên cứu

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng bộ huyện Thuận Thành trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa

phương từ năm 1996 đến năm 2010

- Nêu và phân tích thực trạng, những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình chuyển dịch CCKT trên địa bàn huyện Thuận Thành

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương thời kỳ đổi mới

Trang 12

Chương 2: Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch CCKT trên địa bàn Huyện từ năm 2000 đến năm 2010

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1.1 Cơ sở lý luận về CCKT và chuyển dịch CCKT

1.1.1 Khái niệm về CCKT:

Có nhiều định nghĩa khác nhau khi luận bàn về CCKT Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [tr 40, 35] Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân viết: “CCKT của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của nền kinh tế quốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một

hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định…” [36, tr 41]

Theo C.Mác: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất [13,

tr 53] Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và

tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế

là một hệ thống bao gồm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu

cơ tương đối ổn định hợp thành

“CCKT mang tính khách quan được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của các yếu tố cấu thành nền kinh tế CCKT là một hệ thống động, các yếu tố trong CCKT vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động ràng buộc lẫn nhau: giai đoạn sau phát triển cao hơn giai đoạn trước” [28, tr 6]

Trang 14

Nội dung CCKT quốc dân có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực, nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: CCKT ngành kinh tế, CCKT theo đơn vị hành chính-lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế Nền kinh tế là tổng thể của ngành, lĩnh vực và các thành phần Trong ngành và lĩnh vực, quan trọng nhất

là ngành nông nghiệp và công nghiệp Hai ngành này muốn phát triển được phải thông qua hệ thống dịch vụ Do vậy , cơ cấu ngành kinh tế bao gồm ba ngành cơ bản:

Nông nghiệp bao gồm nông-lâm-ngư nghiệp, gắn liền với phát triển toàn diện nông thôn, xây dựng nông thôn mới Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất chủ yếu, tạo ra sản phẩm thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thị trường rộng lớn cung cấp nhân lực, nguyên liệu

và tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp, dịch vụ

Công nghiệp bao gồm công nghiệp chế tạo, công nghiệp khai khoáng

và luyện kim, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, công nghiệp nguyên liệu, công nghiệp điện tử, tin học…Công nghiệp đóng vai trò quyết định sản xuất ra tư liệu sản xuất va tư liệu tiêu dùng Do vậy, công nghiệp được xếp vào vị trí hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)

Dịch vụ là cầu nối giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng; thực hiện quá trình trao đổi giữa các vùng – miền, giữa thành thị với nông thôn, giữa trong nước với ngoài nước Trong quá trình sản xuất, dịch vụ có vai trò đáp ứng đầy đủ các nhu cầu đầu vào và đầu ra của sản phẩm Dịch vụ thực hiện mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành CCKT Trình độ phát triển kinh tế hàng hóa ngày càng cao,

Trang 15

sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng thì tỷ lệ dịch vụ trong CCKT ngày càng lớn

Cơ cấu theo đơn vị hành chính, lãnh thổ (cơ cấu vùng kinh tế) thể hiện

sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh

tế-xã hội của mỗi vùng, hình thành các vùng chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và tiềm năng kinh tế trong vùng, mang lại giá trị kinh tế Cơ cấu vùng kinh tế gắn chặt chẽ với cơ cấu ngành kinh tế, hợp thành hai mặt của một quá trình phát triển

Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự tồn tại của các hình thức sở hữu Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất, trong đó nổi bật là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất Mô hình chung về số lượng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn hợp Tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế này thường không giống nhau Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia

CCKT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh tế các nước Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý, tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại, không có một nền kinh tế nào chỉ dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ CCKT hợp lý cho phép khai thông, tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong ngoài nước

Trang 16

Việc hình thành cơ cấu kinh tế được diễn ra theo hai quá trình tự phát

và có kế hoạch Ngày nay, để thực hiện được mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế, chính phủ các nước chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển của mình, giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế luôn là trọng tâm của việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nước

1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch CCKT

Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C.Mác viết:

“Chuyển dịch CCKT xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” [14, tr 70]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003: Chuyển dịch CCKT là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính tự cấp, tự túc, từng bước chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch CCKT bao gồm việc cải biến CCKT theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế [35, tr 535]

Theo nghĩa chung nhất thì chuyển dịch CCKT là sự thay đổi thành phần và quan hệ tỷ lệ giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành của một

hệ thống kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế xã hội Thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự biến đổi lao động xã hội theo những hướng nhất định Chuyển dịch CCKT không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất và lượng trong nội bộ cơ cấu Việc chuyển dịch CCKT phải dựa trên nền tảng cơ

sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là

cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế nhằm

Trang 17

hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội

đã xác định cho từng thời kỳ phát triển

1.2 Những căn cứ để xác định chuyển dịch CCKT ở huyện Thuận Thành

1.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội của huyện Thuận Thành

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

+ Phía Bắc giáp huyện Tiên Du và Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh

+ Phía Nam giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Cẩm Giàng

- tỉnh Hải Dương

+ Phía Đông giáp huyện Gia Bình và Lương Tài - Bắc Ninh)

+ Phía Tây giáp huyện Gia Lâm – Hà Nội

Huyện Thuận Thành có 18 đơn vị hành chính, diện tích tự nhiên là 11.971,01 ha, có quốc lộ 38 nối liền thành phố Bắc Ninh (Là trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh) với quốc lộ 5 Việc đầu tư xây dựng cầu Hồ và mở rộng nâng cấp quốc lộ 38 trở thành tuyến đường chiến lược thông thương với Hải Dương, Hưng Yên và đặc biệt là thành phố Hải Phòng, nơi có cảng quốc tế và khu công nghiệp tập trung có ý nghĩa quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT của vùng

Trung tâm huyện cách thị xã Bắc Ninh 15 km về phía Bắc, cách thủ đô

Hà Nội 25km theo hướng Tây Nam Thuận Thành có 4 tuyến đường tỉnh lộ đi qua, với chiều dài 42,7km, trong đó tỉnh lộ 280 tuyến Phố Núi - Hồ dài 5km, tỉnh lộ 281 Lương Tài-Nguyệt Đức dài 6,7km, tỉnh lộ 282 tuyến Nông trường Toàn Thắng - Cao Đức dài 14km, tỉnh lộ 283 tuyến Hồ - Song Liễu dài 22km,

Trang 18

có sông Đuống nằm ở phía Bắc huyện, cùng mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã, liên thôn khá phát triển Thuận Thành thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến

và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh cũng như việc thúc đẩy phát triển một nền kinh tế đa dạng bao gồm: nông nghiệp (NN), dịch vụ thương mại, công nghiệp (CN), tiểu thủ công nghiệp

(TTCN)

- Địa chất, địa hình

Đặc điểm địa chất huyện Thuận Thành nói riêng và tỉnh Bắc Ninh nói chung mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc sụt trũng sông Hồng, bề dầy trầm tích kỷ đệ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng Tuy nhiên, nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc, Bắc Bộ nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc

Nằm giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên địa hình chung toàn huyện khá bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống kênh mương tưới tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp, cũng như xây dựng hệ thống đường giao thông phục vụ cho dân sinh, kinh tế

- Khí hậu

Huyện Thuận Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm 23,30C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,80

C (tháng 1)

Sự chênh lệnh nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,10

C Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 - 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm

Trang 19

Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1

Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi

ẩm, gây mưa rào

Nhìn chung, Thuận Thành có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ Đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu

- Tài nguyên đất

Đất là tài nguyên tự nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được và bị giới hạn về mặt không gian Muốn có một phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, trước hết phải nắm vững tài nguyên đất cả về số lượng và chất lượng

Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng huyện Thuận Thành

tỷ lệ 1/10.000, toàn huyện có 4 nhóm đất và 17 đơn vị đất cấp III

Theo số liệu thống kê của Phòng Địa chính huyện Thuận Thành, tổng diện tích đất tự nhiên tính đến năm 2010 của huyện là 11.791,01 ha, trong đó đất nông nghiệp sản xuất nông nghiệp chiếm tới 58,39%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 3.59%, đất nông nghiệp khác chiếm 0.87%, đất ở đô thị chiếm 0.58%, đất ở nông thôn chiếm 10,57%, đất chuyên dùng chiếm 18.37%, đất phi nông nghiệp khác chiếm 7.09%, đất chưa sử dụng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ 0.52% Như vậy, diện tích đất chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên diện tích này biến động theo xu hướng giảm dần qua các năm

Qua 3 năm (từ năm 2008 đến năm 2010), diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 60.73% xuống còn 58.39% Nguyên nhân là do chuyển mục

Trang 20

đích sử dụng từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất nuôi trồng thủy sản, đất chuyên dùng và đất phi nông nghiệp khác, trong đó có chủ trương phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bắc Ninh nói chung và Thuận Thành nói riêng với sự ra đời của 3 khu công nghiệp: Thuận Thành I (200 ha), Thuận Thành II (300 ha), và Thuận Thành III (250 ha)

Đất đô thị và đất chuyên dùng khá ổn định, hầu như không biến động

- Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Thuận Thành có nguồn nước mặt tương đối dồi dào, bao gồm sông Đuống, sông Liễu Khê, sông Dâu, sông Nguyệt Đức, sông Đông Côi, sông Bùi Sông Đuống là nguồn nước mặt chủ yếu của huyện Thuận Thành và là ranh giới với huyện Quế Võ và huyện Tiên Du Đoạn sông Đuống chảy qua phía Bắc huyện Thuận Thành từ xã Đình Tổ đến xã Hoài Thượng rồi chảy sang huyện Gia Bình dài khoảng 15km Sông Đuống nối liền với sông Hồng và sông Thái Bình có tổng trữ lượng nước 31,6 tỷ m3

(gấp 3 lần tổng lượng nước của sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam) Sông Đuống có hàm lượng phù sa nhiều, vào mùa mưa trung bình cứ 1m3

nước có 2,8kg phù sa Lượng phù sa khá lớn này đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng phù sa màu mỡ ven sông của huyện Đây cũng là con sông cung cấp nguồn nước tưới cho hệ thống thuỷ nông Gia Thuận để tưới cho phần lớn diện tích lúa nước trong toàn huyện

Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, cũng như cải tạo đất

Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của huyện chưa có điều kiện thăm dò, khảo sát đầy đủ Qua thực tế sử dụng của các hộ trong huyện cho thấy mực nước ngầm có độ sâu trung bình từ 3m -6m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tưới cho cây trồng tại các vườn gia đình

Trang 21

1.2.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội:

Nền kinh tế huyện trong thời gian qua có bước tăng trưởng khá, tốc độ phát triển kinh tế huyện năm 2010 đạt 17,48 %, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ; tăng dần tỷ trọng ngành CN- TTCN và thương mại-dịch

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện Thuận Thành mỗi năm tăng thêm khoảng 1- 2 nghìn người Tổng lao động của huyện năm 2008 là 88.229 và tăng lên 90.082 năm 2010 với tốc độ bình quân là 102.1% Trong cơ cấu lao động huyện Thuận Thành, lao động trong ngành nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao, năm 2008 chiếm 63.7% tổng lao động, đến năm 2009 giảm xuống còn 58.6% và năm 2010 giảm xuống còn 53.6% Lao động phi nông nghiệp năm 2008 là 32028 người, chiếm 36.3%, đến năm

2009 tăng lên chiếm 41.4% và đến năm 2010 tăng lên là 41798 người, chiếm 46.4% Có sự chuyển dịch cơ cấu lao động như vậy là do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển một phần đất nông nghiệp sang phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ

Trang 22

khai thi công phần còn lại đường huyện lộ 2 và các đường nhánh, được thiết

kế thi công theo tiêu chuẩn chất lượng cao và đồng bộ

- Đường liên xã (huyện lộ ) dài 40,63 km gồm các tuyến đường:

+ Đường Thị trấn Hồ - Mão Điền dài 6,6 km, đã rải nhựa mặt đường 6,6 km

+ Đường Bờ Nam Kênh Bắc ( cống Hồ - Bút Tháp) dài 6,2 km)

+ Đường Đại Đồng Thành - Thanh Khương dài 3,98 km, đã đổ bê tông mặt đường 0,85km

+ Đường liên xã Nghĩa Đạo dài 2,7km, đã rải nhựa và đổ bê tông mặt đường 1,45km

+ Đường Đồng Đoài - Nguyệt Đức dài 8,9km, đã rải nhựa và đổ bê tông mặt đường 4,3 km

+ Đường Xuân Lâm - Song Liễu dài 4,9 km

+ Đường Gia Đông- Ninh Xá dài 3,25 km, đã rải nhựa 1,35 km

+ Đường Nguyệt Đức - Ngũ Thái dài 4 km, đã đổ bê tông mặt đường 0,4 km

+ Đường xã, thôn dài 397,8 km đã cứng hoá bằng rải nhựa bê tông 225,17 km, còn lại là đường cấp phối và đất

- Đường giao thông nội đồng (bờ vùng) dài 219,76 km được rải cấp phối 72,45 km, còn lại là đường đất Hiện nay có 6/18 xã, thị trấn cơ bản hoàn thành cứng hoá đường xã, thôn Thị trấn Hồ, Đại Đồng Thành, Đình Tổ, Trí Quả, An Bình

Trang 23

70, 80 (thế kỷ trước) nên đến nay phần lớn đã xuống cấp Trong những năm qua, huyện đã tập trung huy động các nguồn kinh phí, dự án đầu tư nâng cấp, xây dựng mới được một số công trình như: Trạm bơm Nghi Khúc, Trạm bơm Đại Đồng Thành tưới tiêu chủ động, phục vụ việc thâm canh, phát triển sản xuất NN

- Về hạ tầng thương mại: Các chợ nông thôn trên địa bàn huyện về cơ

bản đã đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hoá Những năm gần đây, huyện

đã tập trung huy động các nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp một số chợ như chợ Mão Điền, chợ Chẹm, chợ Hồ, chợ Vàng

và một chợ trung tâm của huyện

- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi cộng đồng: Hệ thống trường phổ thông trung học, trung học cơ sở và các trường tiểu học nhìn chung đã được đầu tư xây dựng khá kiên cố, đáp ứng cơ bản việc dạy và học; Trong đó 18/18 xã, thị trấn đã có trường học cao tầng, trường học mầm non hầu hết đang còn là nhà tạm, một phần bán kiên cố nhưng chưa

- Tài nguyên nhân văn

Huyện Thuận Thành là một vùng đất cổ, hình thành và phát triển sớm

từ những năm thuộc thiên nhiên kỷ thứ nhất Với bề dày lịch sử của mình, Thuận Thành là miền quê của chùa tháp, đền miếu, quê hương của lễ hội và sinh hoạt văn hoá dân gian nổi tiếng Các di tích được xếp hạng với các công

Trang 24

trình kiến trúc nổi tiếng như: chùa Dâu, chùa Bút Tháp, thành cổ Luy Lâu, lăng Kinh Dương Vương…cùng với hệ thống di tích lịch sử, các hoạt động văn hoá dân gian giàu tính nhân văn, đậm đà sắc thái văn hiến Kinh Bắc Hiện nay, trên địa bàn huyện đã có 29 di tích lịch sử được xếp hạng Đây là điều kiện thuận lợi để huyện đã, đang và sẽ phát triển hơn nữa ngành du lịch

1.2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh về chuyển dịch CCKT

* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch CCKT

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường đang phát triển Do vậy việc chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH vừa là đòi hỏi khách quan vừa là con đường tất yếu để đi lên từng bước, dựa trên sự kết hợp hữu cơ các điều kiện chủ quan; các lợi thế kinh tế-

xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ Mục tiêu của CNH, HĐH ở Việt Nam là đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

“Quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam là một quá trình phức tạp kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ” [28, tr 11] Quá trình chuyển dịch CCKT trong thời kỳ quá độ là quá trình chuyển dịch nền kinh tế có cơ cấu nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là giá trị sản xuất của ngành nghề trên đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và

Trang 25

dịch vụ ngày càng tăng Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong cả nước phải quan tâm lãnh đạo, phải tìm tòi xây dựng được một CCKT hợp lý theo hướng CNH, HĐH”

CNH, HĐH bao gồm hai vấn đề cơ bản là: Áp dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới vào các ngành kinh tế; xác lập CCKT phát triển hợp lý, có hiệu quả và ngày càng hiện đại Do đó, chuyển dịch CCKT và CNH, HĐH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại hóa tạo điều kiện thuận lợi và là một trong những nội dung cốt lõi của CNH, HĐH CCKT vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình CNH, HĐH và ngược lại CNH, HĐH tạo tiền đề vật chất – kỹ thuật và là con đường, phương hướng, mục tiêu thúc đẩy chuyển dịch CCKT từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, manh mún, nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, có năng suất lao động cao, thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh đều chỉ rõ mối quan hệ gắn bó hữu cơ, thúc đẩy nhau cùng phát triển giữa hai ngành kinh tế cơ bản là công nghiệp và nông nghiệp Trong tư tưởng xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng phát triển kinh tế công nghiệp

và nông nghiệp Tháng 4/1962, nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bảy BCHTW Đảng Lao động Việt Nam (Khóa III), Người chỉ rõ: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [31, tr 544-545] Là một nước nông nghiệp truyền thống do đó phát triển nông nghiệp luôn được chú trọng hàng đầu trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, Người khẳng định: “Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện,

Trang 26

phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế v.v Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [32, tr 396] Nông thôn phải gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm thì mới giàu có Nông thôn giàu sẽ mua hàng hóa do công nghiệp sản xuất ra, đồng thời nông nghiệp cung cấp đủ nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu giúp cho công nghiệp phát triển Đánh giá vai trò kinh tế nông nghiệp, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường lớn nhất hiện nay, cho nên phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh

tế khác Phải cải tạo phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới phát triển mạnh” [31, tr 14-15] Nông nghiệp là cơ sở cho phát triển công nghiệp, đồng thời nông nghiệp cũng chỉ phát triển được khi có sự tác động hỗ trợ của công nghiệp; do đó phải chú trọng phát triển công nghiệp Công nghiệp phát triển thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn tiến lên CNXH thì phải phát triển kinh tế công nghiệp và nông nghiệp, vì hai ngành đó quan hệ khăng khít với nhau

Nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm, chủ trương về chuyển dịch CCKT của Đảng là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, các Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị từ khóa VI đến nay

Trang 27

Với tinh thần đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng đã chỉ rõ: “Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi

tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế,

các loại sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm nền kinh tế phát triển, ổn định” [16, tr 47]

Trong bố trí lại CCKT, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến thêm một bước theo hướng sản xuất lớn; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, đây là sự cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH, là một bước đột phá trong tư duy và nhận thức đổi mới về chuyển dịch CCKT trong thời kỳ mới của Đảng, Đại hội đề ra ba chương trình kinh tế lớn; lương thực- thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VI (8/1987), Đảng đã ra Nghị

quyết “Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế” Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Nghị quyết 10 là mốc quan trọng đánh dấu

bước chuyển biến về chất, góp phần quan trọng xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, tạo tiền đề cho sự hình thành nền nông nghiệp hàng hóa Nghị quyết 10 chủ trương sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp và lâm nghiệp, ngư nghiệp; gắn nông – lâm – ngư nghiệp với công nghiệp chế biến và các ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn…Đây là những bước đột phá mở đầu cho chuyển dịch CCKT theo hướng phát triển hàng hóa

Trang 28

Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) đã tổng kết những thành tựu 5 năm đổi mới, khẳng định những kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh tế: Những kết quả thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế gắn liền với những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư và bố trí lại CCKT [17, tr 19-20] Cũng tại Đại hội này, Đảng đã đề ra những định hướng trong chính sách kinh tế, trong đó quan điểm phải đảm bảo tăng trưởng kinh

tế gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch CCKT theo từng bước CNH, thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu Quan điểm

về chuyển dịch CCKT được hiểu như sau: Phát triển nông - lâm – ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định tình hình kinh tế-xã hội; tăng tốc độ và tỷ trọng công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu thúc đẩy thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và một số loại khoáng sản, lựa chọn phát triển một số ngành công nghiệp ưu tiên, phát triển toàn diện giao thông thủy lợi và thông tin liên lạc

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” được

thông qua tại Đại hội VII cũng chỉ rõ: “khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành

về cơ bản kinh tế công nghiệp với CCKT công – nông nghiệp, dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng [18, tr 12] Trong quá trình chuyển đổi CCKT, nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Thực hiện liên kết

Trang 29

chuyên môn hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương Xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn phát triển giao lưu hàng hóa

Trên cơ sở những thành tựu đạt được trong nông nghiệp, nông thôn, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế-xã hội nông thôn, Hội nghị Trung

ương 5 lần thứ 5 khóa VII (6/1993) ra Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn” Trên cơ sở đánh giá thực trạng nông

nghiệp-nông thôn của đất nước với những thành tựu, hạn chế, trong đó có những điều bất hợp lý về cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Nghị quyết đã xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục đổi mới nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn đổi mới, đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đó Về CCKT nông nghiệp, Nghị quyết xác định rõ: phải đổi mới CCKT nông nghiệp-nông thôn, phá vỡ thế độc canh cây lúa, phá vỡ cơ cấu thuần nông và xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triển cân đối, hài hòa Nghị quyết nhấn mạnh: “Trên cơ sở thúc tiến CNH nói chung, CNH nông nghiệp và nông thôn nói riêng mà thực hiện chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc,

có hiệu quả công nghiệp – dịch vụ ở nông thôn, tăng nhanh tỷ trọng những ngành có cơ cấu nông – công nghiệp – dịch vụ [19, tr 36]

Tháng 7/1994, tại Hội nghị Trung ương 7 lần thứ 7 khóa VII, Đảng đã

ra nghị quyết nêu rõ ba chủ trương lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch CCKT trong những năm tới là: CNH, HĐH nông nghiệp và kinh

tế nông thôn, phát triển toàn diện, lâm – ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến; phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác [20, tr 70]

Bước sang năm 1996, con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày

Trang 30

càng được xác định rõ hơn Xuất phát từ kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996), Đảng đã quyết định chuyển sang thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với những nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể Đại hội khẳng định: “mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng,

an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Từ nay tới năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [21, tr 68]

Tại Đại hội này, Đảng nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng kinh tế tập trung chuyên canh, xây dựng cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng nhu cầu về công nghiệp chế biến của thị trường trong và ngoài nước, hàng hoá đảm bảo về

số lượng, tốt về chất lượng

Đại hội VIII đề ra định hướng phát triển kinh tế nhấn mạnh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH; phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ; chuyển dịch CCKT lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của các vùng

Tiếp đó, tháng 12/1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khoá VIII về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nỗ lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để CNH, HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội đến năm 2000” đã chỉ rõ phát

triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH, hợp tác hoá, dân chủ hoá Nghị quyết xác định những việc cần tập trung thực hiện: đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết

Trang 31

vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản, phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn

Cụ thể hoá hơn nữa chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH, tháng 4/1998, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về

“Vấn đề chuyển dịch CCKT nông nghiệp - nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển dịch CCKT nông

nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH là phải tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hoá với cơ cấu đa dạng vừa để xuất khẩu với sức cạnh tranh cao, vừa khai thác lợi thế tiềm năng sẵn có từng vùng sinh thái, tăng nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả nông nghiệp Chuyển dịch CCKT nông nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH nghĩa là từ chỗ nặng

về trồng trọt, chủ yếu là cây lương thực sang sản xuất các cây trồng, vật nuôi

có giá trị cao; từ chỗ chủ yếu làm nông nghiệp sang phát triển các ngành CN, tiểu TCN và dịch vụ Trong đó giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản giữa trồng trọt với chăn nuôi, giữa nông nghiệp với lâm nghiệp, giữa nông – lâm nghiệp với công nghiệp và dịch vụ

Cụ thể hoá quan điểm, chủ trương của Đảng về đẩy mạnh chuyển dịch CCKT nông nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH, ngày 15-6-2000, Chính phủ ra Nghị quyết 09 về một số chủ trương và chính sách chuyển đổi CCKT và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Nghị quyết 09 của Chính phủ cho phép giảm diện tích lúa cả nước từ 4,3 triệu ha xuống còn 4 triệu ha, tập trung sản xuất lúa ở những vùng trọng điểm thích hợp nhất đối với cây lúa; các địa phương chuyển những vùng trồng lúa bấp bênh sang sản xuất những sản phẩm phù hợp và có giá trị kinh tế cao hơn

* Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về chuyển dịch CCKT

Ngay từ những năm đầu đổi mới, trong điều kiện nền kinh tế của tỉnh

Trang 32

còn kém phát triển và chưa ổn định: sản xuất nông nghiệp còn manh mún, lạc hậu, phân tán, thâm canh thấp, chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, Đảng bộ tỉnh đã có chủ trương “Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Đẩy mạnh sản xuất CN, tiểu TCN và các ngành kinh tế khác Sớm hình thành cơ cấu kinh tế công – nông - lâm nghiệp hợp lý trên địa bàn tỉnh” [8, tr 466] Lúc này, tư duy về một CCKT hợp lý đã hình thành Thay vì trước kia do muốn đi nhanh, không tính tới khả năng thực tế, không kết hợp chặt chẽ CN với nông nghiệp Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lại phải tập trung sức cho khắc phục hậu quả chiến tranh, thì việc hướng đến “công nghiệp nặng trong một cơ cấu công nông hợp lý” như Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V đề ra là chưa phù hợp Chủ trương trên của Đảng bộ tỉnh xuất phát từ thực trạng tình hình kinh tế-xã hội của địa phương mà trước mắt

là tập trung vào mục tiêu phát triển nông nghiệp, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đó là những vấn đề cấp bách nhất đặt ra lúc bấy giờ

Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX, từ khi chế độ XHCN ở Liên Xô

và các nước Đông Âu sụp đổ, an ninh quốc tế ngày càng diễn biến phức tạp, kinh tế-xã hội trong nước lâm vào khủng hoảng với những biểu hiện cụ thể là: nhiều cơ sở sản xuất trì trệ, kinh doanh chậm đổi mới, thua lỗ kèo dài, lạm phát ở mức độ cao Tỉnh Hà Bắc (bao gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) cũng nằm trong tình trạng chung ấy

Ngày 14-11-1991, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VIII họp và đưa ra những mục tiêu chủ yếu, trong đó mục tiêu tiên quyết quan trọng là

“Xây dựng cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế, tiếp tục tập trung thực hiện 4 chương trình kinh tế - xã hội, trọng tâm là lương thực, thực phẩm Phấn đấu đến năm 1995 có đủ lương thực tiêu dùng và một phần dự trữ” [8, tr 489]

Trang 33

Nội dung phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế được nhấn mạnh Tỉnh uỷ xác định: để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trước hết phải có cơ chế thích hợp Tỉnh uỷ đã đề

ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, trước hết là việc củng cố các HTX nông nghiệp cả về cơ cấu tổ chức và quy mô Từng bước nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của ban quản lý HTX đồng thời tăng cường quản lý việc sử dụng đất đai; có quy hoạch, có kế hoạch giao khoán ruộng cho xã viên sử dụng lâu dài theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước

Nhờ quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo và kịp thời các chính sách của Chính phủ vào điều kiện thực tiễn địa phương, nên sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã giành được những thắng lợi quan trọng Kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao, tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm (1991-1995) là 8,06% Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng

CN, xây dựng cơ bản và dịch vụ tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm, nhiều mô hình sản xuất kinh doanh giỏi xuất hiện

Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế của tỉnh vẫn còn nhiều yếu tố chưa ổn định, việc phát triển kinh tế còn chậm, chuyển dịch CCKT chưa tương xứng với tiềm năng

Để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, tháng 11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang

Trên cơ sở nhận định tình hình thực tế ở Đảng bộ mới chia tách có nhiều thuận lợi: từ nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số nơi trong tỉnh đã bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa, công nghiệp – xây dựng – dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Đó là

Trang 34

những tiền đề quan trọng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Song, Bắc Ninh cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: tốc độ phát triển kinh

tế chậm, điểm xuất phát thấp, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1991-1995 là 8,06%/năm, năm 1996 tăng 8,3% (mức tăng tương ứng của cả nước là: 8,2% và 9%) Để khắc phục những khó khăn trên, từ ngày 14 đến 17/10/1997, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV được tiến hành Đại hội thảo luận thông qua báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị từ ngày tái lập tỉnh; đồng thời quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu đến năm 2000: “Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP lên 11,2%/năm Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ để đến năm 2000 có tỷ trọng công nghiệp và xây dựng là 29,7%, dịch vụ là 33,8%, nông nghiệp là 36,5% (theo giá so sánh năm 1994), GDP bình quân đầu người đạt 390 USD Tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần Đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế nông nghiệp Đổi mới

và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác, nòng cốt là các HTX Phát triển hình thức liên doanh, liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp Nhà nước với nhau, giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản, tư nhân,

cá thể và các công ty nước ngoài” [8, tr 527]

Nội dung chuyển dịch CCKT, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế được đặc biệt nhấn mạnh, Tỉnh uỷ đã đề ra nhiều chủ trương và chỉ đạo các biện pháp tích cực như: đầu tư, khuyến khích phát triển vụ Đông, hỗ trợ kinh phí sản xuất và sử dụng giống lúa có năng suất cao, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trũng, chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn…

Chủ trương, biện pháp của Tỉnh uỷ được Đảng bộ và nhân dân các huyện địa phương nhiệt tình hưởng ứng, đó là cơ sở để các Đảng bộ huyện cụ

Trang 35

thể hoá phát triển kinh tế nói chung và chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH nói riêng

1.2.3 Tình hình kinh tế huyện Thuận Thành trước năm 1996

Sau năm 1975, đất nước được hoàn toàn thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân huyện Thuận Thành cùng với nhân dân cả nước bước vào thời kỳ mới - thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Đây cũng

là thời kỳ đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là về kinh tế Cơ chế quản lý hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp đã kìm hãm sức sản xuất, làm cho nền kinh tế vốn đã lạc hậu nay càng thêm suy yếu trầm trọng Cơ cấu kinh tế bất hợp lý: sản xuất nhỏ là chủ yếu, nông nghiệp-lâm ngư nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp và thủ công nghiệp nhỏ lẻ Hậu quả là đời sống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế-xã hội ngày càng gay gắt

Trước tình hình đó, tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành tại thủ đô Hà Nội Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ và căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, Huyện uỷ đã đề ra biện pháp thích hợp, tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV, XVI, XVII đề ra Trong đó có mục tiêu “đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh sản xuất vụ đông, phát triển chăn nuôi”

Trang 36

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV, XVI, XVII, Đảng bộ và nhân dân trong Huyện đã đạt được kết quả khá toàn diện trong việc thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là tập trung phát triển nông nghiệp, giải quyết cấp bách vấn đề lương thực, thực phẩm Cơ chế khoán mới theo Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo một luồng sinh khí mới, làm thay đổi nền kinh

tế nông nghiệp nông thôn cả nước nói chung và huyện Thuận Thành nói riêng Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bước đầu được khắc phục Tuy nhiên, CCKT vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất hợp lý Cơ chế quản lý mới có điểm chưa phù hợp với tình hình thực tế

1.2.3.1 Tình hình các ngành kinh tế

a- Ngành kinh tế nông nghiệp

Cho đến năm 1995, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành nghề của huyện Thuận Thành Huyện uỷ luôn xác định nông nghiệp là ngành sản xuất chính, tập trung mọi nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm 79,9% trong tổng giá trị sản xuất, trong

đó chăn nuôi chiếm 29,7%, trồng trọt chiếm 50,0% Điều này thể hiện sự mất cân đối trong cơ cấu giữa các ngành kinh tế với nhau và ngay trong nội bộ ngành kinh tế nông nghiệp

Ngành trồng trọt chiếm khoảng 70% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tổng sản lượng quy thóc hàng năm đạt 39.964,7 tấn Trong cơ cấu cây trồng, loại cây trồng chủ yếu của huyện là lúa, ngô, khoai, đỗ tương, lạc

Trong các loại cây lương thực, cây lúa đóng vai trò chủ đạo Năm 1995, tổng diện tích gieo trồng lúa là 11.398,5 ha, chiếm 76,5% tổng diện tích gieo trồng [2, tr 32] với sản lượng lúa hàng năm vào khoảng 3.4224,7 tấn Các cây trồng khác như cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây vụ Đông cũng khá phát triển Trong đó cây công nghiệp tăng từ 818,5 (1992) lên 1.122,9 (1994), cây thực phẩm tăng từ 363,6 ha (1992) lên 543,86 ha (1994) Phong trào trồng cây

Trang 37

ăn quả, cây lấy gỗ, cải tạo vườn tạp trong gia đình có sự phát triển, một số vườn quả tập trung được cải tạo và sử dụng có hiệu quả hơn

Năm 1995, trong tổng số diện tích đất gieo trồng, diện tích trồng cây lương thực của huyện vào khoảng 12.863,1 ha , chiếm 86,3%, diện tích cây công nghiệp và cây thực phẩm là 2033,7 ha, chiếm 13,7%

Mặc dù diện tích gieo trồng của huyện khá lớn nhưng do trình độ canh tác còn lạc hậu, khả năng thâm canh tăng vụ bị hạn chế, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và các loại giống cây trồng mới còn chậm nên ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng chung Mặt khác, sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về thời tiết, bệnh rầy nâu bùng phát Năm 1990, mưa to kéo dài làm ngập 200 ha, gây thiệt hại 1.200 ha lúa mùa, năng suất bình quân chỉ đạt 14 tạ/ha [7, tr 130]

Ngành chăn nuôi chiếm tỷ lệ thấp trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Năm 1995 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 155,575 tỷ đồng [2,

tr 34], trong đó chăn nuôi đạt 46,764 tỷ đồng, chiếm 30,05% Chăn nuôi thời

kỳ này chưa được coi là một ngành sản xuất chính, mang tính tự cung tự cấp, chủ yếu để lấy sức kéo Đến năm 1995, toàn huyện có 5.889 con trâu, bò, phần lớn được nuôi để phục vụ sản xuất nông nghiệp kết hợp với sinh sản tự nhiên Tổng đàn lợn có 44.525 con, đàn gia cầm có 1308,9 con Cũng do ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan: giá cả lương thực thực phẩm trên thị trường luôn biến động nên sản lượng ngành chăn nuôi không ổn định: năm 1991: 3.110 tấn, năm 1994 là: 4.288 tấn nhưng đến năm 1995 sản lượng lại giảm còn: 3.570 tấn

Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ XVII đạt kết quả khá, cơ cấu nông nghiệp đã có

sự chuyển dịch và bước đầu tạo ra được sản phẩm hàng hoá, góp phần từng bước cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ

Trang 38

trọng cao trong cơ cấu ngành kinh tế Mặc dù là ngành sản xuất chủ yếu nhưng chưa vững chắc Chất lượng, cơ cấu giống chưa tốt và còn thiếu chủ động

b- Ngành kinh tế CN và TCN

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV, tháng 12/1986 đã xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong những năm tiếp theo là: “đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển thêm mặt hàng mới, đồng thời chú ý đến các mặt hàng xuất khẩu” Thực hiện nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ huyện đề ra, CN

và TCN đạt nhiều thành tựu Trong điều kiện có nhiều khó khăn nhưng sản xuất ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì, một số ngành nghề phát triển khá như: sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ được khôi phục, một số làng nghề được giữ vững như: đậu phụ ở Trà Lâm (xã Trí Quả), Nghi Khúc (xã An Bình), tranh, giấy màu ở Đông Hồ (xã Song Hồ), đan lát ở Đông Côi Giá trị sản phẩm CN-TCN tăng bình quân: 11,4%/năm Năm 1993 đạt 8,3 tỷ đồng = 136% so với mục tiêu Đại hội và chiếm tỷ trọng 20,2% trong tổng giá trị sản phẩm năm

1995

Bên cạnh những kết quả trên thì sản xuất CN-TCN chưa tương xứng với tiềm năng Tốc độ phát triển CN-TCN và các làng nghề còn chậm, CN và TCN còn mang tính chất nhỏ lẻ Giá trị sản lượng CN và TCN vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế (năm 1986: 14,34%, năm 1987: 15%, năm 1988: 16%, năm 1995: 20,2%), sản xuất thủ công là chủ yếu Ngoài sản xuất gạch, còn lại nhìn chung sản phẩm ít và phân tán, chưa có sản phẩm điển hình của địa phương

c- Ngành kinh tế dịch vụ - thương mại

Sau đổi mới, hoạt động thương mại và dịch vụ đã bước đầu phát huy được vai trò và khả năng của các thành phần kinh tế phục vụ cho nhiệm vụ

Trang 39

phát triển kinh tế, xã hội, tạo thêm được việc làm, góp phần hình thành sự phân công lao động mới ở từng cơ sở Thương nghiệp là ngành dịch vụ chủ yếu của huyện trong thời kỳ này, làm nhiệm vụ cung ứng vật tư, nguyên liệu, dịch vụ cho sản xuất, hàng tiêu dùng cho nhân dân và hàng cung cấp cho cán

bộ, công nhân viên chức Nhờ mạng lưới các HTX mua bán có mặt ở hầu hết các xã, các điểm nút giao thông quan trọng, ngành thương nghiệp đã đảm bảo cung ứng kịp thời vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu, công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, đồng thời thu mua nông sản thực phẩm cho Nhà nước Mạng lưới các chợ có mặt ở khắp các địa phương, trong

đó có hai khu chợ lớn, tập trung đông người mua bán là chợ Dâu và chợ Hồ

Hệ thống các chợ là nơi trao đổi buôn bán hàng hoá cho nhân dân trong vùng cũng như với nhân dân các địa phương thuộc các tỉnh lân cận Thị trường nông thôn được mở rộng, nhiều chợ xóm, chợ thôn được hình thành tạo thuận lợi hơn cho sản xuất và đời sống nhân dân Các đơn vị chức năng như: Công

ty vật tư nông nghiệp, Trạm bảo vệ thực vật, Xí nghiệp thuỷ nông trước đây phục vụ sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch, nay chuyển sang làm dịch vụ,

ký kết hợp đồng với các hợp tác xã hoặc từng hộ xã viên, giảm phiền hà trong mua bán vật tư

Hạn chế lớn nhất của kinh tế thương mại – dịch vụ trước năm 1996 là

sự chỉ đạo các hoạt động dịch vụ, nhất là công tác thuỷ lợi chưa đáp ứng được yêu cầu khiến sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng nhiều của úng lụt, hạn hán nên năng suất thấp Công tác khuyến nông đầu tư chưa có trọng điểm nên hiệu quả chưa cao Các hoạt động dịch vụ chưa phát triển đa dạng, chủ yếu vẫn là thương nghiệp phục vụ sản xuất

1.3.2.2 Tình hình các vùng kinh tế

Trang 40

“Thuận Thành là một huyện đồng bằng, chủ yếu là đất phù sa cổ được bồi đắp từ sông Hồng, sông Đuống, sông Dâu mang theo và trầm lắng lại “ [6,

tr 8] Phù sa ở đây có màu nâu tươi , kiềm yếu, thuận lợi cho việc trồng trọt Hơn nữa, do sự bồi đắp của tự nhiên đã tạo cho địa hình của huyện Thuận Thành có độ nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Nơi cao nhất ở phía Tây Bắc thuộc xã Đình Tổ, nơi thấp nhất ở phía Đông Nam thuộc xã Trạm Lộ Vùng chợ Dâu xưa là nơi trung tâm của huyện, cao từ 4-5m so với mực nước biển Do cấu tạo địa hình và đặc điểm tự nhiên nên huyện chia thành hai vùng kinh tế rõ rệt:

- Vùng kinh tế thuần nông độc canh cây lúa gồm các xã thuộc vùng I của huyện và 11 xã vùng trong đê, có tổng diện tích đất tự nhiên khá lớn: 8.282,09ha , chiếm khoảng 69,18% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Đây là vùng có diện tích đất đai chủ yếu chỉ phù hợp với việc trồng cây lương thực Do vậy, lúa là cây trồng phổ biến của vùng Tuy nhiên, về điều kiện phát triển kinh tế, xã hội thì là vùng có nhiều thuận lợi do nằm ở vị trí trung tâm của huyện Địa hình bằng phẳng, giao thông đi lại dễ dàng và là nơi đóng trụ sở của các cơ quan, đơn vị trong Huyện

Trong sản xuất NN, nhờ hệ thống nước tưới dồi dào với sông Bùi chảy

từ Ninh Xá xuôi về cầu Đo, qua trạm bơm xã Nghĩa Đạo, xuống Cẩm Giàng, cũng là vùng nằm trong hệ thống công trình thủy lợi Bắc – Hưng – Hải được khởi công năm 1957, đất đai lại khá màu mỡ Mặt khác, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống lúa mới chất lượng cao vào thay thế dần các loại giống truyền thống như: CR203, DT10, P15… đã tạo nên sự nhảy vọt về năng suất, cụ thể là năng suất lúa từ 35 tạ/ha (1990) lên 43 tạ/ha (1991), lương thực bình quân đầu người đạt trên 500 kg/người/năm và là vùng sản xuất lương thực chính của huyện Bên cạnh cây

Ngày đăng: 29/12/2015, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII, tháng 3/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX, tháng 11/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Báo cáo kiểm điểm kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm kỳ 2000-2005, tháng 8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm điểm kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX nhiệm kỳ 2000-2005
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XX, tháng 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XX
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XXI, tháng 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XXI
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Lịch sử Đảng bộ huyện Thuận Thành (1928-1954), tập I, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thuận Thành (1928-1954), tập I
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
7. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, Lịch sử Đảng bộ huyện Thuận Thành (1954-2008), tập II, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thuận Thành (1954-2008), tập II
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008), NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008)
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ IX, tháng 5/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ IX
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI, tháng 3/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI
11. Ban Chấp hành Đảng bộ xã An Bình - huyện Thuận Thành, Lịch sử Đảng bộ xã An Bình (1930-2009), 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã An Bình (1930-2009)
12. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Đình Tổ - huyện Thuận Thành, Lịch sử Đảng bộ xã Đình Tổ (1930-2005), NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Đình Tổ (1930-2005)
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
13. Các Mác và Ăngghen, “Các Mác và Ăngghen toàn tập”, tập 13, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ăngghen toàn tập”, tập 13
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. Các Mác và Ăngghen, “Các Mác và Ăngghen toàn tập”, tập 23, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ăngghen toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Lê Tiến Dũng, Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1986-2005, Luận văn Thạc sỹ, Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1986-2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sự thật
17. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Sự thật
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”
Nhà XB: NXB Sự thật
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VII, NXB Sự thật, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VII
Nhà XB: NXB Sự thật
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khoá VII, NXB Sự thật, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khoá VII
Nhà XB: NXB Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Giá  trị  sản  xuất  NN  giai  đoạn  1995-2000  của  huyện  Thuận  Thành (đvt: tỷ đồng) - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
ng 1: Giá trị sản xuất NN giai đoạn 1995-2000 của huyện Thuận Thành (đvt: tỷ đồng) (Trang 56)
Bảng 3: Giá trị sản xuất CN, T TCN giai đoạn 1995-2000 - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
Bảng 3 Giá trị sản xuất CN, T TCN giai đoạn 1995-2000 (Trang 59)
Bảng 4 : Cơ cấu sản phẩm xã hội GDP giai đoạn 2000-2005 (đvt: %)  Khu vực sản xuất  2000  2001  2002  2003  2004  2005 - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
Bảng 4 Cơ cấu sản phẩm xã hội GDP giai đoạn 2000-2005 (đvt: %) Khu vực sản xuất 2000 2001 2002 2003 2004 2005 (Trang 69)
Bảng 5: Tình hình chăn nuôi của huyện Thuận Thành năm 2000-2005 (Đvt: - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
Bảng 5 Tình hình chăn nuôi của huyện Thuận Thành năm 2000-2005 (Đvt: (Trang 71)
Bảng 6: Tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện Thuận Thành - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
Bảng 6 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện Thuận Thành (Trang 72)
Bảng  7:  Giá  trị  sản  xuất  ngành  Nông  nghiệp  huyện  Thuận  Thành  từ  năm 2005 đến 2010 - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
ng 7: Giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp huyện Thuận Thành từ năm 2005 đến 2010 (Trang 86)
Bảng  9:  Cơ  cấu  tổng  giá  trị  tăng  thêm  của  huyện  Thuận  Thành  giai  đoạn 2005-2010 - quá trình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế của đảng ở huyện thuần thành bắc ninh tu nam 1996 den nam 2010
ng 9: Cơ cấu tổng giá trị tăng thêm của huyện Thuận Thành giai đoạn 2005-2010 (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w