Là công nhân của nhà máy lớn nhất Đông Dương trong ngành sợi, dệt, sinh ra trên quê hương giàu truyền thống cách mạng và mang trong mình những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lí luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục 10
Chương 1: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945) 11
1.1 Sự ra đời nhà máy Dệt Nam Định và phong trào công nhân của Nhà máy trong những năm vận động thành lập Đảng 11
1.1.1 Sự ra đời của Nhà máy 11
1.1.2 Phong trào công nhân Nhà máy trong những năm vận động thành lập Đảng 20
1.2 Phong trào công nhân Nhà máy những năm 1930 - 1935 33
1.2.1 Giai đoạn 1930 - 1931 33
1.2.2 Giai đoạn 1932 - 1935 46
1.3 Phong trào công nhân Nhà máy những năm 1936 - 1939 50
1.3.1 Sự phục hồi các tổ chức cộng sản ở Nam Định 50
1.3.2 Đấu tranh đòi thi hành luật lao động 52
1.3.3 Đấu tranh đòi lập ái hữu, nghiệp đoàn 60
1.4 Phong trào công nhân Nhà máy những năm 1939 - 1945 66
1.4.1 Phong trào công nhân trong điều kiện bị địch khủng bố (1939 - 1943) 66
Trang 41.4.2 Công nhân Nhà máy đấu tranh, tiến tới giành chính quyền
(1943 - 1945) 73
Chương 2: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM
ĐỊNH TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954) 76
2.1 Phong trào công nhân Nhà máy giai đoạn từ sau Cách mạng tháng
Tám đến khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1945 - 1946) 76 2.1.1 Những thuận lợi và khó khăn trong tình hình mới 76 2.1.2 Phong trào công nhân giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến
khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ 80 2.2 Phong trào công nhân Nhà máy từ khi kháng chiến toàn quốc bùng
nổ đến năm 1954 97 2.2.1 Tình hình đội ngũ công nhân Nhà máy 97 2.2.2 Phong trào công nhân Nhà máy trong điều kiện bị địch tạm chiếm
(1947 - 1954) 100
Chương 3: NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ
MÁY DỆT NAM ĐỊNH TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954 116
3.1 Phong trào công nhân Nhà máy xuất hiện sớm, góp phần thúc đẩy sự
ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết
định sự phát triển của phong trào công nhân Nhà máy 116 3.2 Phong trào công nhân luôn đi đầu trong cao trào cách mạng của địa
phương với mục đích, quy mô, hình thức, phương pháp đấu tranh phong
phú, phù hợp 118
3.3 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của công nhân Nhà
máy đã phát huy được vai trò của lực lượng tiên phong, vượt qua khó
khăn, giành được nhữngthành tựu to lớn 123
3.4 Phong trào công nhân Nhà máy từ năm 1930 đến năm 1954 đã trải
Trang 5qua nhiều giai đoạn với tính chất, đặc điểm khác nhau 128
KẾT LUẬN 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 147
Phụ lục 1: Một số hình ảnh của Nhà máy Dệt Nam Định và phong trào công nhân Nhà máy từ khi thành lập đến năm 1954 147
Phụ lục 2: Bảng thống kê phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định từ khi thành lập đến năm 1955 168
Phụ lục 3: Truyền đơn kêu gọi công nhân đấu tranh 176
Phụ lục 4: Tổ chức Đảng Cộng sản ở Nam Định (Báo cáo của sở mật thám Nam Định ngày 3/3/1931) 181
Phụ lục 5: Bản dịch đơn ngày 22/5/1939 của công nhân sợi 183
Phụ lục 6: Sắc lệnh mật giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương của thực dân Pháp 184
Phụ lục 7: Quy mô phát triển của Nhà máy từ khi thành lập cho đến năm 1954 185
Phụ lục 8: Bảng thống kê số vốn, lãi của Nhà máy và tốc độ phát triển vốn, mức tăng của lãi qua các năm 190
Trang 6ta về tư duy cách mạng, năng lực lãnh đạo, tổ chức Quá trình này đã để lại những bài học, kinh nghiệm phong phú, có giá trị to lớn Đảng khẳng định được
vị thế lãnh đạo cao nhất và duy nhất trên đất nước Việt Nam và trở thành đảng của dân tộc
Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân trở thành đi đầu, là lực lượng trung tâm, tập hợp và đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh để xây dựng đất nước và chiến thắng mọi kẻ thù Phong trào công nhân những năm đầu thế kỷ XX là một thực
tế hùng hồn khẳng định chân lý: sự ra đời chính Đảng Cộng sản ở nước thuộc địa là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê nin và phong trào công nhân, phong trào yêu nước Sau khi có Đảng, công nhân Việt Nam cùng với các tầng lớp nhân dân không ngừng đấu tranh giành độc lập, chủ quyền, thống nhất lãnh thổ
và các quyền lợi khác
Tỉnh Nam Định có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời với vị rí địa chính trị, địa kinh tế quan trọng của đồng bằng sông Hồng Đây là vùng đất tập trung nhiều tiềm năng tự nhiên, xã hội thuận lợi là tiền đề vật chất cho quá trình phát triển kinh tế Chính vì vậy, thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa đã xây dựng ở Nam Định một cơ cấu các ngành công nghiệp nhẹ, công
Trang 7nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ sản xuất Sự hình thành cơ cấu các ngành công nghiệp dưới thời Pháp thuộc đã dẫn đến sự ra đời của đội ngũ công nhân Sinh ra trên quê hương giàu truyền thống văn hóa và cách mạng, lại bị nhiều tầng áp bức, bóc lột của phong kiến, thực dân, công nhân Nam Định đã hòa cùng với phong trào đấu tranh chung của giai cấp công nhân cả nước, của dân tộc Việt Nam đứng lên đấu tranh giành quyền sống cho mình
Phong trào công nhân Việt Nam trong đó có phong trào công nhân Nam Định xuất hiện sớm và là một trong những tiền đề trực tiếp dẫn đến sự thành lập Đảng Nam Định là một trong những trung tâm công nghiệp thời Pháp thuộc và cũng là một trong những cái nôi của phong trào công nhân Việt Nam Trong đó, công nhân nhà máy Dệt ra đời sớm, đóng vai trò là lá cờ đầu, giữ vị trí trung tâm đấu tranh, đấu tranh trực tiếp đòi quyền lợi về kinh tế, chính trị, thể hiện tình đoàn kết vô sản Không chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương mà phong trào công nhân Nhà máy còn có ảnh hưởng sâu rộng, có quan hệ và tác động qua lại với phong trào đấu tranh cuả các tầng lớp nhân dân khác trong cả nước Là công nhân của nhà máy lớn nhất Đông Dương trong ngành sợi, dệt, sinh ra trên quê hương giàu truyền thống cách mạng và mang trong mình những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, công nhân Nhà máy đã chứng tỏ được bản chất anh hùng cách mạng, kiên quyết đấu tranh tạo những tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản trong thời kỳ vận động thành lập Đảng và chống lại ách xâm lược của thực dân Pháp những năm sau này Họ đã viết nên những trang sử vẻ vang, đạt được những thành tựu đáng tự hào
Phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định từ năm 1930 đến năm 1954 là quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ với nhiều thử thách, hy sinh, chịu tác động sâu sắc của bối cảnh trong nước và quốc tế chống lại ách xâm lược về lãnh thổ, bóc lột về kinh tế và đồng hóa về văn hóa của chủ nghĩa thực dân Nó khẳng định tính chính nghĩa, tính tiên phong, trong đấu tranh
Trang 8Qua đó ta thấy rõ bản chất anh hùng cách mạng của công nhân Nhà máy nói riêng, công nhân tỉnh Nam Định và giai cấp công nhân Việt Nam nói chung
Hướng tới mục tiêu xây dựng thành phố Nam Định trở thành trung tâm của vùng đông nam đồng bằng sông Hồng, việc nghiên cứu phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong những năm 1930-1954 góp phần làm sáng rõ và tôn vinh truyền thống anh hùng cách mạng của nhân dân Thành phố, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, rút ra những bài học, kinh nghiệm, đặc điểm của phong trào làm cơ sở cho quá trình xây dựng và phát triện thành phố trong các giai đoạn tiếp sau Chính vì những lí do
đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định từ năm 1930 đến năm 1954” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ vai trò và vị trí của giai cấp công nhân là lực lượng lao động quan trọng trong sản xuất và là động lực chính của cách mạng Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lịch sử phong trào công nhân, phòng trào công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Khi tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử phong trào công nhân nói chung, phong trào công nhân Nam Định và đặc biệt là phong trào công nhân của nhà máy Dệt nói riêng
Trong các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch
sử Đảng bộ Tỉnh có đề cập và phân tích phong trào công nhân dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, chủ trương, cách thức tổ chức, gây cơ sở và lãnh đạo phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân như trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định
(2001), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng ủy Hà Nam Ninh (1954), Sự kiện lịch sử Đảng Hà
Trang 9Nam Ninh; Ban Chấp hành Đảng bộ Công ty Dệt Nam Định (2000), Lịch sử Đảng bộ Công ty Dệt Nam Định, Nam Định,…
Những tác phẩm về phong trào công nhân cũng hết sức phong phú như Trần Văn Giàu (1962), Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công, tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội; Trần Văn Giàu (1963), Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công, tập 2, Nxb Sử học, Hà Nội; Trần Văn Giàu (1963), Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công, tập 3, Nxb Sử học, Hà Nội; Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc (1978), Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội Tỉnh Nam Định nói riêng cũng như các tỉnh khác đều có các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh
Nam Định là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, các cấp Đảng bộ chính quyền và nhân dân thường xuyên quan tâm, đến việc thống kê số liệu, nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa,… của tỉnh, làm cở sở cho việc định hướng và đưa ra các chiến lược phát triển như Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân tỉnh Nam Định, Nguyễn Quang Ngọc (cb) (2003), Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Ngọc Lý (1997), Thành Nam xưa, Sở
Văn hóa thông tin Nam Định… Các tác phẩm này đã phản ánh phần nào điều kiện lịch sử tự nhiên, kinh tế xã hội, các tiền đề vật chất và tinh thần tác động đến sự hình thành và phong trào đấu tranh của công nhân Nam Định nói chung
và công nhân nhà máy Dệt nói riêng
Trong quá trình thu thập các nguồn tư liệu có liên quan, chúng tôi nhận thấy có nhiều sách báo (sách báo của đối phương và sách báo cách mạng) phản
ánh những sự kiện đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định như Đông Pháp, Việt báo, Thực nghiệp dân báo, Bạn dân, Nhành lúa, Tin tức,…
Trang 10Hồi ký của các đồng chí trực tiếp tham gia gây dựng, tổ chức, lãnh đạo
phong trào như Hồi ký của Nguyễn Cơ Thạch, Hồi ký của Trần Trí Đức,… cũng
có đề cập đến phong trào công nhân Nam Định, sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với phong trào công nhân trong thời kỳ này
Các tác phẩm trên phần nào phản ánh trình độ phát triển kinh tế công nghiệp, chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc kỳ, Đảng bộ tỉnh đối với phong trào công nhân, công tác dân vận và lịch sử phong trào công nhân thành phố
Luận văn “Phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định
từ năm 1930 đến năm 1954” sẽ trình bày các chủ trương, biện pháp của Đảng
trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phong trào công nhân thành phố Nam Định nói chung và phong trào công nhân nhà máy Dệt nói riêng để có một cái nhìn đầy đủ,
toàn diện hơn về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống, nhiều chiều
quá trình lãnh đạo của Đảng đối với phong trào công nhân qua thực tiễn nhà máy Dệt Nam Định
Làm rõ lịch sử phát triển của đội ngũ công nhân, phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy từ năm 1930 đến năm 1954
Nhiệm vụ: sưu tầm, tập hợp các tài liệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân nhà máy Dệt từ năm 1930 đến năm 1954, khai thác triệt để các thông tin lịch sử có trong các tài liệu này để phục vụ đề tài nghiên cứu
Trình bày rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào đấu tranh của công nhân Nhà máy từ năm 1930 đến năm 1954
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu: các phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt
Nam Định dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1930 đến năm 1954
Phạm vi nghiên cứu: các hoạt động của công nhân nhà máy Dệt Nam Định
thời kỳ vận động thành lập Đảng, thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, thời
kỳ kháng chiến chống Pháp (một số thời điểm mở rộng phạm vi nghiên cứu đến phong trào công nhân Nam Định nói chung và một số năm trước năm 1930)
5 Cơ sở lí luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận: quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nhân và phong trào công nhân
Nguồn tài liệu:
- Văn kiện Đảng toàn tập, nhà xuất bản Chính trị quốc gia
- Tài liệu khai thác ở phòng Lưu trữ Tỉnh ủy Nam Định, các tủ sách cá nhân, Bảo tàng nhà máy Dệt Nam Định, Bảo tàng tỉnh Nam Định
- Hồi ký của một số chiến sĩ cách mạng hoạt động ở Nam Định
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài
Phương pháp nghiên cứu: trong luận văn, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương
pháp logic và phương pháp lịch sử là hai phương pháp chính Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp cụ thể như thống kê, so sánh, cấu trúc…
6 Đóng góp của luận văn
Về nội dung: luận văn góp phần dựng lại một cách toàn diện, hệ thống
lịch sử đấu tranh của đội ngũ công nhân nhà máy Dệt Nam Định dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1930 đến năm 1954, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc trong công cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa phong kiến, thực dân vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Trang 12Về tư liệu: những nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình tìm
hiểu phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy trong những năm từ năm
1930 đến 1954 góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư liệu về phong trào công nhân Nam Định, về chủ trương của Đảng đối với phong trào công nhân và công vận
7 Bố cục
Luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Chương 2: Phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Chương 3: Nhận xét về phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định từ năm
1930 đến năm 1954
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Hồng Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Bảo tàng tỉnh Nam Định, Ban Quản lý Bảo tàng ngành Dệt - May Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tìm kiếm
tư liệu Tuy nhiên, do trình độ nhận thức còn hạn chế, luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến
với tinh thần cầu thị để hoàn thiện thêm những nhận thức về đề tài trên Chúng
tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 13Chương 1:
PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH THỜI KỲ
ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945)
1.1 Sự ra đời nhà máy Dệt Nam Định và phong trào công nhân của Nhà máy trong những năm vận động thành lập Đảng
1.1.1 Sự ra đời của Nhà máy
1.1.1.1 Những tiềm năng phát triển kinh tế công nghiệp của Thành Nam
Là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, trải qua các thời kỳ, mặc dù địa giới hành chính của tỉnh có nhiều thay đổi nhưng khu vực thành phố Nam Định hiện nay, bao giờ cũng giữ vai trò là trung tâm của toàn vùng Khu vực nội thành Nam Định từ xưa đã là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế của vùng nam đồng bằng sông Hồng Ngày 21 tháng 3 năm 1890, toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách các đơn vị hành chính để thành lập tỉnh mới, Nam Định
là một trong hai mươi chín tỉnh của Bắc Kỳ lúc bấy giờ Địa giới tỉnh Nam Định
về cơ bản tương đương với hiện nay Ngày 17 tháng 10 năm 1921, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thành phố Nam Định, hưởng quy chế của thành phố cấp III, đứng đầu là công sứ Địa phận của thành phố nằm trên các làng Năng Tĩnh, Phù Long, Vị Hoàng, Vị Xuyên, Đông Mạc Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, thành phố Nam Định trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của toàn
xứ Đông Dương
Hệ thống giao thông phát triển với cả đường sắt, đường bộ, đường sông là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành một hệ thống các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp, đảm bảo cho quá trình vận chuyển nguyên vật liệu, máy móc đến nơi sản xuất và cung cấp sản phẩm từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ
Trang 14Để phục vụ cho quá trình khai thác, vơ vét các nguồn lợi của thuộc địa, tư bản Pháp đã đưa ra kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt xuyên Đông Dương, từ Bắc đến Nam Ngày 14 tháng 7 năm 1898, toàn quyền Đông Dương quyết định một chương trình xây dựng toàn bộ hệ thống đường sắt, trước hết là gấp rút xây dựng các đoạn quan trọng như Hà Nội - Nam Định, Sài Gòn - Nha Trang Năm
1903, đường sắt xuyên Đông Dương được khởi công và đến năm 1905, đoạn đường sắt Hà Nội - Nam Định được hoàn thành Giao lưu đường sông trên sông Đào cũng trở nên tấp nập Thực dân Pháp đặt một tuyến đường sắt dài 2.500 m
từ ga ra bến Đò Chè cho xe lửa vận chuyển hàng hóa Cảng Nam Định trở thành cảng sầm uất bậc nhất ở duyên hải Bắc Bộ, chiếm vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng và là yết hầu của thành Hà Nội Một số tuyến giao thông quan trọng nối thành phố Nam Định với các địa phương khác như tuyến từ sông Hồng ra biển qua cửa Ba Lạt, tuyến kênh Nam Định, kênh Đáy ra biển,… Hệ thống đường bộ phát triển với các tuyến đường nội thị và các tuyến đường nối liền thành phố Nam Định với các huyện trong tỉnh và với các tỉnh trong nước Cuối thế kỷ XIX, thành phố có 12 phố, đến đầu thế kỷ XX, người Pháp quy hoạch lại còn 10 phố và 40 đường1 Bên cạnh tuyến đường nội thị là các tuyến đường bộ nối Nam Định với các vùng kinh tế khác như đường số 1 thuộc địa, đường 21, đường 10…
Nguồn nguyên liệu tại chỗ giá thấp, nhân công rẻ, khéo léo, kiên trì, và thị trường tiêu thụ rộng lớn là tiền đề xã hội để hình thành và phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến Khu vườn Dâu, cồn Chuối xưa người làng Phù Long trồng dâu chăn tằm, trồng chuối lấy quả Khi thực dân Pháp chiếm được thành Nam Định, chúng lợi dụng ngay và thuê người trồng dâu,
1
10 phố là Định Tả, Định Hữu, Định Tân, Định Tiền, Định Trung, Nam Long, Nam An, Nam Mỹ, Nam Xuyên,
40 đường là Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Tuyên Quang, Hưng Yên, Gia Định, Lào Cai, Phủ Lý, Hòn Gai, Vị Xuyên, Khoái Đồng, Phụ Long, Năng Tĩnh, Phúc Châuu, Đại Pháp, Phố Khách, Bến Gỗ, Đông An, Chassloup Laubat, Francis Garnier, Lamathe Piquet, Harmand, Champeaux, Richaud, Jules Jerry, Herri Rivière, Paul Bert, Carreau Rue de France, Rue de Protectorat, Paris, Mirador, Ruyelle de la Foudre
Trang 15chăn tằm, trồng chuối lấy tơ Năm 1930, diện tích trồng dâu miền Bắc Việt Nam
là 14.000 - 15.000 ha, trong đó, tỉnh Nam Định chiếm 10 % Bên cạnh nguồn nguyên liệu trồng tại địa phương, ngành công nghiệp sợi, dệt ở Nam Định phần lớn tiếp nhận các nguồn nguyên liệu ở các địa phương khác và nguyên liệu nhập khẩu Ở trong nước, bông được trồng nhiều ở Thanh Hóa, Nghệ An Theo thống
kê của Gourou, Nam Định là một trong những tỉnh có mật độ dân cư đông nhất
ở đồng bằng Bắc Bộ Vào thời điểm này, toàn bộ Bắc Kỳ có 580 làng có trên 5.000 dân thì riêng Nam Định và Thái Bình có 413 làng Với ngành kinh tế truyền thống là nông nghiệp trồng lúa nước, trên vùng đất chiêm trũng, lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, mất mùa, bão lũ, nông dân Nam Định không có đủ việc làm, nhiều người phải bỏ quê đi nơi khác kiếm ăn Số lao động dư thừa lớn ở nông thôn là tiền đề xã hội cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển ngành công nghiệp sợi, dệt
Dân số tỉnh Nam Định và dân số cả nước qua các năm, đơn vị nghìn người
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004), Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX, NXB Thống kê, Hà Nội
Thành Nam từ xưa đã nổi tiếng là đất dệt Các sản phẩm từ nghề dệt là sản phẩm buôn bán, trao đổi giữa các phường nghề, phố thợ Nhiều làng vành đai làm nghề dệt như Quả Linh (Vụ Bản), Nhân Hậu (Hà Nam), Báo Đáp (Nam Trực), Thịnh Hưng (Mỹ Lộc), Cổ chất, Dịch Diệp, Lạc Quần (Trực Ninh), Quần Anh (Hải Hậu),… có quan hệ chặt chẽ với các phường nghề, phố nghề Thành phố Nam Định là nơi buôn bán các sản phẩm vải sợi, vải lụa nổi tiếng khắp cả nước và “vải tơ Nam Định” đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng về chất lượng Phát triển nghề dệt, sợi trên một vùng đất có truyền thống dệt vải thủ công lâu đời, thực dân Pháp tận dụng được những lợi thế như nguồn nhân lực sẵn có am hiểu về nghề dệt, sợi, thị trường tiêu thụ sợi cho các làng nghề dệt vải
Trang 161.1.1.2 Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Định
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, sự thâm nhập của thực dân Pháp vào kinh tế Đông Dương không hướng đến phục vụ lợi ích của nhân dân bản xứ như lời giới tư sản, thực dân thường rêu rao là “khai hóa thuộc địa, khai hóa văn minh” mà chỉ vì lợi ích thiết thân, trực tiếp của người Pháp Kết quả là ở thuộc địa hình thành một nền công nghiệp què quặt, non yếu, đan xen giữa phương
thức bóc lột tư bản chủ nghĩa và phương thức bóc lột phong kiến, “một sự sắp xếp hỗn loạn, rời rạc hoàn toàn không thành hệ thống, đối lập với lợi ích của nhân dân và dân tộc Việt Nam” [58, tr 207] Các ngành công nghiệp mà thực
dân Pháp xây dựng ở Đông Dương xuất phát từ ưu thế về tài nguyên, nguồn nhân lực trên cơ sở so sánh với nhu cầu của thị trường, thuộc địa Đông Dương phải dành riêng cho thị trường Pháp một cách triệt để Sự phát triển sản xuất chỉ giới hạn trong phạm vi bổ sung cho công nghiệp chính quốc mà không làm tổn hại đến công nghiệp của chính quốc và đáp ứng các nhu cầu hàng hóa của thuộc địa đang phải nhập khẩu từ nước khác Bản chất cuộc quá trình khai thác thuộc
địa là “làm cho Đông Dương thành một xứ phụ thuộc vào nền kinh tế của chúng
nó vì vậy nên nó chỉ cho phát triển công nghệ gì làm ở Đông Dương có lợi cho
nó hơn là làm ở Pháp thôi Sự khai khẩn nguyên liệu không phải cốt để làm cho
xứ Đông Dương phát triển kinh tế một cách độc lập, mà cốt làm cho công nghệ Pháp khỏi phải phụ thuộc vào các đế quốc khác” [47, tr 37]
Khát vọng thu được những nguồn lợi khổng lồ ở một xứ giàu có tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực, sau khi hoàn thành công cuộc xâm chiếm thuộc địa, thực dân Pháp bắt tay vào quá trình khai thác thuộc địa Đông Dương Năm 1897, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã đưa ra chương trình hành động xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường xá, sông đào, bến cảng Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội ở
Trang 17Nam Định, “sự ra đời và phát triển của các thành phần kinh tế mới có tính chất tư bản chủ nghĩa đã tác động mạnh tới cơ cấu kinh tế truyền thống, làm thu hẹp và biến dạng các quan hệ kinh tế cũ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển biến cơ cấu xã hội cổ truyền, hướng nó vào quỹ đạo phát triển mới” [74, tr
108]
1.1.1.3 Cơ cấu các nhà máy công nghiệp hình thành ở thành phố Nam Định dưới thời Pháp thuộc
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở thành phố Nam Định
đã tác động và dẫn đến sự ra đời của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp Đây là các ngành công nghiệp nhẹ, thuộc nhóm hàng tiêu dùng yêu cầu ít vốn đầu tư, thu lợi nhanh, tận dụng được nguồn tài nguyên sẵn có, nguồn lao động rẻ mạt, dồi dào của địa phương và có thị trường tiêu thụ rộng lớn như sản xuất vải, sợi, chăn, chiếu, nấu rượu,…
Nhà máy đầu tiên được xây dựng là nhà máy Tơ Nhận thấy Nam Định nằm trong vùng tơ tằm lớn, các công ty tư bản Pháp đã đầu tư xây dựng nhà xưởng, máy móc để sản xuất Hoạt động chính của nhà máy Tơ trong thời kỳ này là sản xuất sợi, dệt xe tơ, nhuộm, buôn bán tơ, nhập khẩu và xuất khẩu các mặt hàng tơ sống, tơ chế biến, tơ phế phẩm, tơ nõn, lụa, cơ rếp, sa tanh, tuyn, chiếu, dừa cói
Nhà máy Rượu Nam Định được xây dựng năm 1894 dưới chính sách thiết lập chế độ độc quyền nấu và bán rượu, không cho nấu rượu tự do và quy định mức tiêu thụ rượu đối với dân bản xứ ngày càng tăng Trung bình sản lượng mỗi năm của nhà máy đạt ba triệu lít, tương đương với 8.000 tấn gạo Nhờ thu mua gạo trong nước với giá rẻ, bóc lột nhân công, sản xuất bằng máy và bán giá độc quyền, nhà máy đã thu về số lợi nhuận rất lớn
Nhà máy Chai cũng được xây dựng để sản xuất chai, lọ đựng sản phẩm của nhà máy Rượu Sản phẩm chủ yếu là chai đựng rượu và các hàng thuỷ tinh
Trang 18dân dụng khác Nhà máy có khoảng 100 công nhân làm việc, trong đó phần lớn
là phụ nữ và trẻ em
Nhà máy Điện được xây dựng ở Nam Định năm 1913, hoàn thành một động cơ năm 1917, đến năm 1927 đã có ba động cơ sản xuất được 1 triệu kw Năm 1929, nhà máy lắp xong động cơ thứ 4 và chuyển cho dân dụng Đến năm
1933, có trên 1.000 người dân thành phố đã đăng ký dùng điện gia đình
Năm 1923, ở Nam Định, nhà máy Nước và hệ thống cung cấp nước được khởi công xây dựng Đến năm 1929, nhà máy đi vào hoạt động và có khả năng cung cấp 3.000 m3 nước một ngày Đường ống ngầm dài 24 km, có 45 vòi cung cấp nước sách cho người dân Số lượng nước tiêu thụ mùa lành là 1.800 m3/ngày, mùa nóng là 2.400 m3/ngày
Năm 1923, chi nhánh công ty Thương mại Á châu tại Nam Định mở các xưởng thủ công để dệt chiếu, thảm len, thảm dừa, thảm long dê, gia công và thu mua các mặt hàng chiếu, cói
Năm 1927, nhà máy Chăn Macoto ra đời Sau đó bị phá sản năm 1933 do cạnh tranh quyết liệt và khủng hoảng kinh tế
Năm 1930, công ty Vật liệu xây dựng của Lu-zet có ba xưởng gạch, ngói, làm cửa Các xưởng này nằm sát bờ sông gần nhà máy Rượu, máy Chai Nhà máy sản xuất gạch xây, ngói lợp, gạch hoa, làm các loại ban công, ô văng, song cửa bằng xi măng và đất nung Xưởng cưa chuyên xẻ gỗ, làm cầu phong, lito, khung cửa, cánh cửa,…
Bên cạnh các nhà máy, xưởng sản xuất của các chủ tư sản Pháp, còn có các cơ sở sản xuất của tư sản Hoa kiều, người Việt như hãng vận tải tàu khách của Bạch Thái Bưởi, xưởng cơ khí của Nguyễn Thế Môn, Nguyễn Văn Viễn, nhà in của Trương Phát Nam Việt, Mỹ Thăng, xưởng dệt đũi của Vũ Tư Cầu và Đặng Vũ Tiêu, xưởng ô tô của Lê Trường Xuân, Nguyễn Công Thơm
Trang 19Như vậy, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, đầu thế kỷ XX, ở Nam Định đã xuất hiện một số các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp với quy mô phát triển khác nhau Thành phố Nam Định trở thành thành phố lớn thứ ba ở miền Bắc và là trung tâm công nghiệp có vị trí quan trọng Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật trong các nhà máy chỉ hiện đại hơn so với tính chất sản xuất ở các xưởng thủ công
1.1.1.4 Sự ra đời của nhà máy Dệt Nam Định
Nhà máy Sợi là tên gọi của nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ Pháp thuộc Trước hết cần phải khẳng định, sự ra đời của Nhà máy nằm trong chính sách khai thác thuộc địa chung của thực dân Pháp ở Đông Dương Lựa chọn thành phố Nam Định để xây dựng xưởng sản xuất sợi, dệt, chăn,… là sự tính toán có kế hoạch của chủ nghĩa thực dân trên cơ sở những lợi thế so sánh của địa
phương này với những nơi khác, “nghề dệt ở đây quả thực chiếm vị trí hàng đầu trong số những công nghệ khiến ta phải lưu ý” Thực tế đã chứng minh, đây là
một thành công lớn trong công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Nhờ tận dụng các nguồn lực về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở xã hội, lao động, thị trường tiêu thụ, hệ thống giao thông thuận lợi và bóc lột tối đa sức sản xuất của nguồn nhân công dồi dào, không cần công nghệ sản xuất hiện đại cũng như lượng tư bản đầu tư thấp hơn các ngành kinh tế khác, từ quy mô nhỏ lúc ban đầu, Nhà máy đã trở thành trung tâm sản xuất sợi, dệt lớn nhất Đông Dương thời Pháp thuộc, là một trong những trung tâm công nghiệp lớn và quan trọng ở Bắc Kỳ và đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chủ tư sản
Cơ sở đầu tiên của Nhà máy là một xưởng sản xuất sợi nhỏ của tư sản Hoa kiều Năm 1889, Bá Chín Hội đã thành lập một xưởng kéo sợi thủ công nhỏ với chín máy kéo sợi và gần 100 công nhân Bằng những thủ đoạn, tư sản Pháp
đã dần loại bỏ quyền sở hữu của tư sản Hoa kiều, và biến đây trở thành cơ sở sản xuất độc quyền của người Pháp Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu các đặc điểm kinh tế, xã hội, thực dân Pháp bắt đầu công cuộc xây dựng và triển khai nhà máy
Trang 20sản xuất sợi, dệt theo quy mô và dây chuyền công nghiệp Tháng 8 năm 1900, công ty Bông Bắc Kỳ được thành lập, chuyên kinh doanh các ngành có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kỹ nghệ dệt, đặc biệt là ở Bắc Kỳ, đóng trụ sở ở Nam Định Thành lập Nhà máy ở Nam Định, mục đích của các nhà tư bản Pháp là lấy sản phẩm địa phương thay thế cho sợi Bombay, nắm độc quyền thị trường sợi Đông Dương, bổ sung cho công nghiệp sợi ở chính quốc, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất tại chỗ, cạnh tranh với nghề thủ công của người Việt Nam Là một nhà máy sản xuất liên hợp nên quá trình sản xuất của nhà máy là một quá trình sản xuất dây chuyền gồm sợi, dệt, nhuộm,… và bao gồm nhiều khâu có quan hệ mật thiết tới nhau như các loại máy ống, lờ,… Máy móc, thiết bị phần lớn nhập khẩu từ Pháp, Đức Nguyên liệu bông chủ yếu của Bắc Trung Kỳ, Nam Trung
Kỳ, Bắc Kỳ, Campuchia và nhập khẩu từ Mỹ, Ấn Độ, Ai Cập, Tây Phi Hệ thống dây chuyền máy móc sản xuất của Nhà máy có thể nói là hiện đại hơn so với các xưởng thủ công, tuy nhiên, sự áp dụng kỹ thuật tiến bộ chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định Thay vào đó, chủ tư sản tìm cách bóc lột triệt
để sức lao động của công nhân Với hình thức này, không cần bỏ ra nhiều tư bản, nhưng tư sản Pháp cấu kết với chính quyền thực dân vẫn thu được những nguồn lợi khổng lồ
Để xây dựng Nhà máy, tư sản Pháp bắt tay với chính quyền thuộc địa chiếm đoạt đất sản xuất của nông dân các làng Năng Tĩnh, Mỹ Trọng hoặc đền
bù với giá rất thấp Bằng nhiều thủ đoạn, phá lúa chiếm đất, mua bán, trao đổi theo hướng có lợi nên diện tích Nhà máy không ngừng được mở rộng Người nông dân vốn đã ít tư liệu sản xuất nay bị cướp đất trở thành những người vô sản
Ngày 29 tháng 6 năm 1925, chủ Nhà máy khẳng định:“mua thật nhiều đất bất
cứ chỗ nào” và chủ trương chung về việc đổi đất của nhà máy lấy đất của thành
phố sao cho có lợi về giá và diện tích Diện tích Nhà máy ngày một lớn, cho đến năm 1928, diện tích là 230.000 m2, năm 1941 đã chiếm 339.581,41 m2
đất,
Trang 21chiếm 3/4 diện tích đất của làng Năng Tĩnh và 1/6 đất nội thành Nhà máy được xây dựng và mở rộng trên một khu đất lớn phía tây nam thành phố, tập trung nhiều đầu mối giao thông lớn của tỉnh như đường quốc lộ 10, 21, 55, , trục đường chính của thành phố đi giữa trung tâm Nhà máy, cách ga đường sắt 500
m về phía tây, cách sông Đào (cảng) 200 m về phía nam Nguồn lợi nhuận thu được ngày càng lớn khiến cho giới chủ tư sản không ngừng đầu tư, mở rộng sản xuất nhằm tăng cường bóc lột giá trị thặng dư ngày càng nhiều Về mặt hành chính, Nhà máy có một hệ thống quản lý khá đồ sộ Ông Dupré là giám đốc, trực tiếp nắm quyền quản lý và chỉ đạo sản xuất nhưng thường xuyên vắng mặt nên trực tiếp trông coi Nhà máy là Marchand, làm việc dưới quyền Dupré Nhà máy xây dựng và duy trì một đội ngũ đốc công, cai ký có nhiệm vụ trông coi, đốc thúc thợ làm việc và đội ngũ canh gác khá đông Với tốc độ phát triển nhanh, Nhà máy đã trở thành nhà máy lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ với vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống các ngành kinh tế, tạo ra những biến đổi to lớn trong cơ cấu kinh tế xã hội của vùng đông nam đồng bằng sông Hồng
Cơ cấu các phân xưởng
1.1.2 Phong trào công nhân Nhà máy trong thời kỳ vận động thành lập Đảng
1.1.2.1 Đội ngũ công nhân Nhà máy ra đời
Nhà máy
Xưởng Sợi
Xưởng
Cơ khí
Xưởng Nhuộm
Xưởng Chăn
Nhà máy
phận hành chính
Trang 22Cùng với sự hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp, đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định đã ra đời, trong đó, những người công nhân sợi, dệt chiếm đa
số Công nhân Nhà máy gồm các bộ phận: thợ đứng máy sợi, thợ đứng máy dệt, thợ đứng máy lờ, thợ nề, thợ nhuộm, thợ cơ khí, thợ điện… dần phát triển
về số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt và đứng lên lãnh đạo phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân Thành Nam nói riêng, công nhân tỉnh Nam Định nói chung
Đội ngũ công nhân Nhà máy có nguồn gốc từ những người nông dân, nạn nhân của chính sách bần cùng hóa nông thôn và những người thợ thủ công bị chính sách cạnh tranh khốc liệt của thực dân Pháp làm cho phá sản Họ buộc phải đi đến các nhà máy, xí nghiệp làm thuê cho các chủ tư bản Khi các nhà
máy Tơ, nhà máy Sợi đưa ra yết thị tuyển thợ thì “những vùng lân cận Nam Định như Mỹ Lộc, Bình Lục, Nam Trực, Lý Nhân, Vụ Bản, từng đoàn người đổ
về nhà máy” [75, tr 15] Với một đặc điểm chung là hết sức nghèo đói, cơ cực,
họ gia nhập vào hàng ngũ vô sản, sống dưới thân phận người công nhân trong xã hội thuộc địa, nhưng cuộc sống khổ cực thì vẫn thế, chỉ là chuyển từ thân phận
nô lệ ở nông thôn sang thân phận nô lệ trong nhà máy Một bộ phận nông dân lúc nông nhàn vào các nhà máy làm việc vài tháng trong năm hay công nhân thất nghiệp, không có việc làm phải trở về quê làm nông nghiệp Ranh giới giữa
công nhân và nông dân không tách bạch vì “cơ cấu kinh tế què quặt, mất cân đối
và sự chuyển biến quá chậm, do đó, dẫn tới sự phân hóa thiếu triệt để cơ cấu giai cấp xã hội.” [74, tr 148] Người công nhân làm việc trong nhà máy nhưng
sống cùng gia đình ở thôn quê Xuất phát từ tình cảm gắn bó tự nhiên đó nên mối liên minh công nông được hình thành tự nhiên và bền chặt Việc tuyên truyền giác ngộ đấu tranh trong giai cấp công nhân có ảnh hưởng cả đến giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân khác Nhiều người xuất thân từ nông dân, đi làm công nhân, hoạt động cách mạng trong nhà máy và tuyên truyền giác ngộ
Trang 23cách mạng trong gia đình, dòng họ Một bộ phận công nhân của Nhà máy sống trong khu nhà lá, điều kiện sống tập trung giúp cho đội ngũ này dễ thông cảm, đoàn kết, giác ngộ, dễ tập hợp và thống nhất hành động
Thời gian làm việc là 14 tiếng một ngày, đến năm 1925, do áp lực đấu tranh của công nhân, giảm xuống còn 12 tiếng một ngày không có giờ giải lao
và giờ ăn cơm Người công nhân phải vừa làm việc, vừa ăn vụng trộm, nếu bị cai ký bắt được thì bị đánh đập, phạt tiền Bên cạnh cách tính công theo ngày, chủ Nhà máy đưa ra hình thức khoán với mức khoán rất nặng, người công nhân phải cố gắng hết sức mới hoàn thành để được nhận lương, nhưng nếu công nhân vượt khoán thì chúng lại hạ giá khoán xuống Chủ Nhà máy thường xuyên tăng giờ làm, giảm tiền lương, trả lương chậm, người công nhân lao động hết sức vất
vả nhưng chỉ được nhận đồng lương chết đói, “ở đây nhân công rẻ lắm, hầu như không có giá cả gì hết” [2, tr 18] Trong cơ cấu lao động, phụ nữ, trẻ em chiếm tỉ
lệ khá cao Đây là nguồn nhân công rẻ mạt, dễ bảo, có năng suất lao động cao, kiên nhẫn, thích hợp với nghề sợi, vải Lương của phụ nữ và trẻ em luôn thấp hơn so với lương của công nhân nam cùng làm công việc có tính chất giống nhau, cường độ lao động và thời gian như nhau Trẻ em từ 9 tuổi đến 10 tuổi phải làm những công việc như của người lớn Thợ học nghề không được trả lương trong ba tháng đầu, sau đó phải đút tiền cho cai ký để trở thành thợ chính thức Tiền lương thực tế mà công nhân được hưởng còn thấp hơn nhiều so với tiền lương danh nghĩa vì bị ăn chặn, cúp phạt Ở Nhà máy quy định mười chín khoản phạt vào lương Không chỉ bị bóc lột về thể xác, họ còn bị trói buộc về tinh thần Sống cuộc sống quá khổ cực, công nhân Nhà máy - tiêu biểu cho đội ngũ công nhân Nam Định khát khao được ánh sáng của cách mạng soi rọi, chỉ ra
con đường đấu tranh đúng đắn Ở xứ thuộc địa, “bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông
Trang 24Dương không thể ngồi yên mà không phá gông xiềng của đế quốc thực dân Pháp” [78, tr 16]
Công nhân Nhà máy được kế thừa truyền thống của quê hương yêu nước, giàu truyền thống văn hóa, nhân văn, trình độ dân trí cao Con người Nam Định ham học hỏi, ham hiểu biết, có truyền thống học hành, khoa bảng, nhiều người
đỗ đạt, thành tài Hơn nữa, với vị trí là trung tâm, điều kiện đi lại, thông thương
dễ dàng, những tư tưởng, trào lưu tiến bộ đã đến được với người dân Nam Định
Là công nhân trong một nhà máy công nghiệp sợi, dệt lớn nhất Đông Dương, trung tâm kinh tế lớn thứ ba ở Bắc Kỳ sau Hà Nội và Hải Phòng, với điều kiện sản xuất tập trung, các khâu sản xuất chuyên môn hóa và quan hệ mật thiết với nhau, đội ngũ công nhân là lực lượng sản xuất tiên tiến nhất trong xã hội, tiếp thu kỹ thuật sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới Là một
bộ phận của giai cấp công nhân thế giới, họ đã tiếp nhận các học thuyết cách mạng vô sản, trở thành lá cờ đầu, là lực lượng nòng cốt và đảm bảo cho sự thành công của cách mạng vô sản
Như vậy, đội ngũ công nhân Nhà máy vừa có những đặc điểm chung của giai cấp vô sản thế giới, vừa có những đặc điểm riêng của giai cấp vô sản thuộc địa Dưới ách thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, họ đã đứng lên đấu tranh từ tự phát đến tự giác, giành quyền sống cho mình và các tầng lớp nhân dân trong xã hội, qua đó, khẳng định được bản chất anh hùng cách mạng, tính tiên phong và triệt để trong tranh đấu
1.1.2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân Nhà máy trong thời kỳ vận động
thành lập Đảng
Có áp bức, có đấu tranh, đó là quy luật muôn đời của cuộc sống Sự phản kháng của công nhân Nhà máy có lúc là những lời than thở khi cảnh sống khốn
cùng mà chưa tìm được lối thoát:
“Lương hàng tháng chi tiêu chẳng đủ Hết nợ nần, gạo lứa quanh năm Trăng kia còn có đêm rằm
Trang 25Thấu chăng kiếp thợ tối tăm suốt đời” 2
Những vần thơ như tiếng thở dài phản ánh chân thực đời sống của người công nhân nhà máy, dù lao động cực khổ nhưng vẫn nghèo đói, túng thiếu quanh năm, bị đánh đập, không biết sống chết lúc nào Câu thơ phản ánh sự bất lực, vô vọng của họ khi sống cuộc đời tối tăm, cực khổ Từ đó xuất hiện những bài thơ kêu gọi đấu tranh:
“Anh em hỡi, thân ta ta liệu
Cố gắng lên tự cứu lấy mình Biết bao nhiêu sự bất bình
Ra tay tự phá tan tành một phen…” 3
Thơ ca đã bộc lộ tâm tư nguyện vọng của người công nhân một cách chân thực, gần gũi, sâu sắc và trở thành một thứ vũ khí thôi thúc tinh thần đấu tranh của công nhân Họ nhận thức được rằng, phải tự mình đứng lên đấu tranh chống lại sự đàn áp, bóc lột, tự cứu lấy cuộc đời của chính bản thân mình chứ không phải trông chờ vào thế lực siêu nhiên hay những thế lực phong kiến, tư sản mang đến
Những hành động tranh đấu, phản kháng đầu tiên của người công nhân Nhà máy là những hành động mang tính chất cá nhân, tự phát, lẻ tẻ, như lợi dụng lúc cai, ký, đốc công vắng mặt, công nhân tự động đóng máy ngồi nghỉ hay
bố trí một bộ phận gác để anh em được nghỉ ngơi, đón đánh những tên cai, ký đã đánh đập, cúp phạt, ức hiếp mình, nhằm những lúc mất điện để đánh những tên đốc công đang sục xạo trong buồng máy Các trận đánh cai, ký xuất hiện vào những năm 1920, 1921, 1922, 1923, 1924,… lôi cuốn được nhiều người tham gia Tuy nhiên, tất cả những hành động đấu tranh riêng lẻ, tự phát của công nhân Nhà máy chống lại giới chủ đều không mang lại kết quả Vì nếu ngồi nghỉ
Trang 26không làm việc, thì mức khoán dệt, sợi không hoàn thành, chủ không trả công, đánh cai ký thì bị chúng trả thù lại bằng những đòn tàn nhẫn, ác độc hơn gấp nhiều lần Không có người lãnh đạo, tổ chức và duy trì phong trào nên đấu tranh
dễ dẫn đến tư tưởng thỏa hiệp Khi chủ phát lương, mua chuộc, dụ dỗ, người công nhân không phát hiện ra bản chất cố hữu của chúng, lầm tưởng và đi đến thủ tiêu đấu tranh Yêu cầu đặt ra đối với phong trào là phải đoàn kết lại, tổ chức lực lượng của giai cấp công nhân thì mới chống lại được sự khủng bố của kẻ thù
Người công nhân từng bước trưởng thành hơn trong nhận thức, suy nghĩ
và hành động Sau những hành động tự phát, lẻ tẻ là những cuộc đấu tranh mang tính chất tập thể Mở đầu là cuộc đấu tranh của một số công nhân ở xưởng máy Sợi cuối tháng 7 năm 1901 tổ chức đánh lại cai và đốt kho nguyên liệu Ta thấy, phong trào công nhân xuất hiện sớm, trước hết, đó là những sự phản kháng chống lại bọn đốc công, cai, ký gian ác để bảo vệ tính mạng và nhân phẩm của mình Những cuộc đấu tranh ban đầu này tuy chưa đề ra được khẩu hiệu đòi tăng lương, giảm giờ làm,… nhưng nó có ý nghĩa to lớn, chứng tỏ đội ngũ công nhân Nhà máy đã từng bước ý thức được giá trị của mình, khẳng định sức mạnh của giai cấp công nhân, cổ vũ phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân khác
Hè năm 1924, lợi dụng sự mê tín của người dân, chủ Nhà máy tổ chức một cuộc rước sách lớn, tuyên truyền cho công nhân bớt ốm đau, tai nạn, qua đó lấy tiền của công nhân Công nhân biết được âm mưu của chủ, họ vẫn tổ chức lễ cầu mát nhưng biến nó thành buổi trao đổi công khai giữa các nhóm công nhân với nhau Sau cuộc rước sách này, hầu hết các xưởng đều hình thành những nhóm công nhân tự liên kết với nhau như nhóm học võ, nhóm bóng đá Mục đích hoạt động ban đầu của các nhóm này để chống lại sự ức hiếp, đánh đập, đàn
áp của cai, ký, đốc công Dần dần, công nhân có xu hướng tập hợp nhau lại, các nhóm công nhân hình thành một cách tự nhiên với mục đích đoàn kết để chống lại chính sách bóc lột và đàn áp của giới chủ
Trang 27Tiếp đó, ngày 14 tháng 9 năm 1924, 250 thợ dệt bãi công phản đối việc chủ Nhà máy hạ mức lương, bỏ trợ cấp ăn đêm của công nhân, hạ giá vải khoán xuống còn một nửa Đây là cuộc tranh đấu thu hút được tương đối đông công nhân tham gia nhằm mục đích đấu tranh kinh tế, chống lại hành động bớt lương
và cắt tiền ăn đêm của công nhân Trong khi bãi công diễn ra, công nhân người Việt, Hoa kiều có liên lạc với công nhân Pháp, Trung Quốc Nhận xét về phong
trào này, phó công sứ Nam Định đã khẳng định: “không còn nghi ngờ gì nữa, bọn cai và thợ thuyền chuyên môn đã nhận được thư từ mà họ viết qua Pháp hay nhận được từ Pháp, thư từ mà họ viết qua Trung Quốc hay nhận từ Trung Quốc sang hoặc bầy cách đọc những sách báo, truyền đơn và những sách báo đó cho
họ biết rằng: bãi công là một thứ vũ khí dũng mãnh trong tay những người làm công” [58, tr 307]
Ngày 30 tháng 4 năm 1925, 2.500 công nhân bãi công đòi chủ phải tăng lương công nhật từ 4 xu một ngày lên 5 - 6 xu một ngày, không được đánh đập thợ, không được sa thải thợ đã đấu tranh trước đó Phong trào này đã thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ công nhân, với khẩu hiệu đấu tranh rất cụ thể
là đòi tăng lương lên 1 - 2 xu một ngày/ một người Hơn nữa, nó thể hiện sự đoàn kết cùng đấu tranh phản đối hành động đuổi thợ của chủ Cuộc bãi công diễn ra trong phạm vi toàn Nhà máy và đã giành được thắng lợi to lớn
Ngày 1 tháng 8 năm 1926, hơn 1.000 công nhân bãi công chống đánh đập Ngày 30 tháng 8 năm 1926, tên đốc công Sam đã đá mũi giày vào bụng chị Nguyễn Thị Vá làm chị bị thương nặng, khi đưa đến nhà thương thì tên thầy thuốc lại thông đồng với chủ cho rằng chị không có thương tích gì đáng kể Trước sự áp bức của giới chủ, công nhân toàn xưởng Sợi đã hãm máy bãi công, phản đối đánh đập và đòi chủ phải bồi thường cho chị Để đảm bảo cho đấu tranh thắng lợi, những người cộng sản phát động tranh đấu đã vận động công nhân không đi làm để gây áp lực đối với chủ Theo tài liệu còn lưu lại được ở
Trang 28bảo tàng nhà máy Dệt Nam Định, trong thư của chủ Nhà máy, đứng trên quan
điểm của phía đối lập phản ánh: “ngày 30/8/1926, có năm người là Thái, Khương, Huệ, Nhài, Nhàn tụ tập ở phố Năng Tĩnh ngăn cản và hăm dọa không cho công nhân nữ đi làm” Nhiều đồng chí đã hòa vào cuộc sống lao động của
người thợ và phát động đấu tranh như đồng chí Ngô Ngọc Riêm (sau cuộc đình công này đã bị giặc bắt) Chủ Nhà máy sau đó phải nhượng bộ, bồi thường cho nạn nhân và hạn chế đánh đập Ngày 23 tháng 11 năm 1928, tên đốc công này lại đánh chị Đán, công nhân xưởng Dệt Vô cùng phẫn nộ trước hành động dã man của tên đốc công tàn ác này, toàn bộ công nhân xưởng máy Lờ đã bỏ việc, làm đơn đòi chủ phải chấm dứt hành động đánh đập, đòi tăng lương, giảm giờ làm Đánh vào điểm yếu về nguồn nhân lực và tầm quan trọng của khâu sản xuất này trong dây chuyền sản xuất chung, nếu khâu này ngừng hoạt động thì các không tiếp theo như hồ, dệt,… cũng không sản xuất được, nghề máy Lờ ít người biết, các chị em đã đấu tranh quyết liệt Cuộc đình công kéo dài hơn một tuần và kết thúc thắng lợi Chủ phải tăng lương cho công nhân máy Lờ từ
18 xu lên 20 xu một ngày, hứa không đánh đập như trước và giảm tiền cúp phạt từ 2 hào đến 5 hào xuống còn 2 xu đến 5 xu
Do chủ Nhà máy thực hiện chính sách dãn thợ, một dây chuyền sản xuất trước đây có bốn mươi tám người, nay chỉ còn hai mươi tư người, khối lượng công việc phải làm gấp đôi nhưng số tiền mà công nhân được nhận thì vẫn giữ nguyên, để phản đối việc sa thải nhân công và tăng mức bóc lột lên gấp đôi của chủ, công nhân tiếp tục đình công Ngày 20 tháng 3 năm 1929, xảy ra cuộc đình công của công nhân sợi do hai thợ trẻ em khởi xưởng chống lại thủ đoạn dãn thợ của chủ Trước hành động phản kháng của công nhân, chủ Nhà máy đã ra yết thị
ngày 22 tháng 3 năm 1929, yêu cầu thợ phải đi làm đủ thì mới giải quyết Sáng
ngày 23 tháng 3 năm 1929, toàn bộ công nhân ca sáng buồng A xưởng Sợi đóng máy, kéo lên văn phòng của đốc công đưa yêu cầu đòi tăng lương, giải quyết
Trang 29việc làm cho những người thợ bị cắt giảm Tên đốc công không những không chấp nhận mà còn tổ chức đánh đập, khủng bố, vì thế, công nhân bỏ việc ra về Được sự vận động của công nhân buồng A, công nhân buồng B cũng tham gia đình công Gần trưa 25 tháng 3 năm 1929, toàn xưởng Sợi ngừng hoạt động Chủ Nhà máy ra yết thị dọa đuổi thợ đình công nhưng thấy không có kết quả nên chúng giở giọng dụ dỗ yêu cầu thợ cứ đi làm, cử mười đại biểu lên nói chuyện Ban lãnh đạo đấu tranh đã viết thông báo dán cạnh bản yết thị của chủ:
“ngày hôm nay 25/3, đừng ai đi làm, để bao giờ nó yết thị nói với anh em chúng
ta rằng nó đã bằng lòng cho những điều chúng ta yêu cầu, bằng không nhất định chúng ta sẽ nghỉ mãi” Từ ngày 26 tháng 3, ngày nào công nhân cũng tập
trung đưa đơn tố cáo hành động đánh đập, cấm đoán thợ, không cho nghỉ ăn trưa, đòi tăng lương và yêu cầu gọi công nhân bị sa thải vào làm Cuối cùng, ngày 29 tháng 3, bọn chủ buộc phải tăng lương 20 %, lương công nhật của thợ đứng máy sợi con từ 18 xu lên 24 xu một ngày, lương thợ đổ sợi từ 11 xu lên 13 xu Trước
sự phát triển mạnh của thực tiễn cách mạng yêu cầu phải thành lập một chính đảng cộng sản đủ sức lãnh đạo và đưa phong trào đi đến thắng lợi
Ngày 20 tháng 6 năm 1929, trong Nhà máy xuất hiện truyền đơn gửi thợ máy Sợi, kêu gọi công nhân không đi làm và đợi đến khi chủ Nhà máy chấp nhận yêu sách làm việc tới 6 giờ và không được cúp lương thì mới đi làm lại Truyền đơn cũng giải thích rõ, nếu đi làm thì chủ máy sẽ bắt đi tìm những người khác, rồi bị đánh, không được đáp ứng các yêu cầu Phong trào công nhân sử dụng hình thức bãi công, đình công để gây tổn thất về kinh tế, qua đó tạo ra sức ép buộc chủ tư sản phải tăng lương, giảm giờ làm, chống
đánh đập,
Ngày 4 tháng 7 năm 1929, công nhân nề nghỉ việc phản đối đốc công đánh thợ
Trang 30Từ ngày 7 tháng 7 năm 1929 đến ngày 18 tháng 7 năm 1929, công nhân xưởng Nhuộm bãi công phản đối đánh đập, đòi tăng lương, nghỉ ăn trưa, phải trả lương những ngày thợ bãi công Ngày 9 tháng 7 năm 1929, chủ Nhà máy ra yết
thị “sẽ xem xét đơn nếu thợ đi làm đầy đủ” Ngày 10 tháng 7 năm 1929, chúng
tiếp tục ra yết thị nói sẽ nhận những thợ có mặt hồi 7 giờ sáng ngày 18 tháng 7
và chỉ xem xét đơn nếu công nhân làm việc đúng 8 ngày Thực chất, đây chỉ là thủ đoạn của giới chủ tư sản nhằm lừa gạt công nhân đi làm, tránh những tổn thất về kinh tế do công nhân đình công Khi thấy hình thức dụ dỗ thợ đi làm không có kết quả, chúng sử dụng các biện pháp đe dọa và cưỡng ép Ngày 13 tháng 7, chúng thể hiện thái độ không nhượng bộ, không trả lời thư của công nhân gửi, không trả lương cho những ngày bãi công, ngày 15 tháng 7 xưởng Nhuộm mở cửa và sau đó sẽ không nhận công nhân vắng mặt ngày 15 nữa Đến ngày 15 tháng 7, chúng tiếp tục ra yết thị uy hiếp tinh thần đấu tranh của công nhân xưởng Nhuộm Trong đó, chúng viết: thợ nhuộm không đi làm coi như nghỉ việc, thợ đình công dù ít ngày cũng bị không được lấy vào làm bất cứ ở xưởng nào, không được lĩnh hết lương, phải giữ lại một số tiền lớn, tùy theo thiệt hại, không được ở khu nhà lá Công nhân Nhà máy đã kiên trì đấu tranh trong 13 ngày Cuộc đấu tranh kéo dài từ ngày mùng 7 đến ngày 19 tháng 7 năm
1929 Những người cộng sản anh dũng đứng đầu lãnh đạo bãi công là các đồng chí Thông, Cư, Tôn, Lan (thợ điện của nhà máy điện) và một người thợ nguội Cuộc bãi công đã nhận được sự giúp đỡ của công nhân toàn Nhà máy và các tầng lớp nhân dân Đến ngày 19 tháng 7 năm 1929, trước áp lực mạnh mẽ của cuộc bãi công và sự phản đối của dư luận, chủ Nhà máy phải tuyên bố chấp nhận những yêu sách của công nhân
Ngày 20 tháng 7 năm 1929, toàn bộ nữ công nhân máy Lờ bãi công phản đối đánh đập
Trang 31Đêm 31 ngày 7 năm 1929, một người thợ điện đã rải truyền đơn trong Nhà máy kêu gọi công nhân đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột Ngày 1 tháng 8 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng rải truyền đơn gửi tất cả thợ thuyền, binh lính, dân cày, những người bị đè nén ở Đông Dương nhân ngày chống chiến tranh đế quốc 1/8 kêu gọi chống chiến tranh đế quốc và ủng hộ Liên Xô
Tháng 10 năm 1929, 400 công nhân xưởng Sợi đấu tranh đòi tăng lương, đòi quyền lợi của công nhân nữ sau sinh đẻ
Ngày 6 tháng 1 năm 1930, tại xưởng Dệt xuất hiện các truyền đơn kêu gọi công nhân đình công đòi tăng lương, không được đuổi thợ nghỉ, không được trả thù công nhân biểu tình, đình công
Như vậy, phong trào công nhân trong thời kỳ này chủ yếu là đấu tranh đòi quyền lợi trước mắt như tăng lương, chống đánh đập Trước năm 1930, không
kể những cuộc đấu tranh lẻ tẻ có tính tự phát, thành phố Nam Định có hai mươi mốt cuộc đấu tranh của công nhân trong vòng mười tám năm (1901 - 1929), trong đó có mười ba cuộc đấu tranh là của công nhân Nhà máy, chiếm 61,9 % về
số lượng Trong đó có những cuộc bãi công quy mô lớn đến hàng nghìn người Đây cũng là cái nôi của phong trào công nhân Nam Định Theo tài liệu còn ghi lại được thì cuộc đấu tranh có tổ chức đầu tiên ở Nam Định năm 1901 là của công nhân máy Dệt đánh cai và đốt kho nguyên liệu Những cuộc đấu tranh đầu tiên thường mang tính chất tự phát, nhiều khi còn phản ánh sự nhận thức chưa đầy đủ hay non yếu của phong trào Tuy nhiên, đó là biểu hiện sinh động cho sự phản kháng của công nhân trước sự bóc lột của tư sản thực dân, những hành động tàn ác của cai ký, đốc công, Bọn tư bản Pháp sử dụng cai để quản lý
và bóc lột công nhân, duy trì chế độ cai là duy trì những thể thức phong kiến trong khuôn khổ kinh tế công nghiệp tư bản chư nghĩa Những hàng động tàn
ác của đốc công, cai ký đã trở thành ngòi nổ cho các cuộc đấu tranh của công
Trang 32nhân Chế độ cai làm cho người công nhân khó nhận thấy bản chất và những thủ đoạn bóc lột của giới chủ tư sản Khi chưa được giác ngộ cách mạng, người công nhân dễ nhận thức cai ký là kẻ thù của giai cấp mình Họ đấu tranh chống cai ký, đốc công là chống lại sự ngược đãi, đánh đập vô lý, chống các thủ đoạn ăn chặn của cai đối với công nhân, đòi quyền lợi thiết thân, trực tiếp, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, tài sản của mình
Trong thời kỳ này, bên cạnh một số phong trào chưa đề ra được khẩu hiệu đấu tranh, chưa có yêu sách thì nhiều phong trào đã đưa ra được yêu sách đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống dãn thợ Xuất phát từ điều kiện lao động và sinh hoạt hết sức khổ sở, những người công nhân sợi, dệt, nạn nhân của chính sách khai thác thuộc địa đã đứng lên đấu tranh với mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn Trước sức ép của phong trào, bọn tư sản, thực dân, phong kiến đã phải hạn chế khủng bố, áp bức đối với công nhân và trong một giới hạn nhất định, chúng phải chấp nhận tăng lương, hạn chế đánh đập công nhân Là một trong những cái nôi của cách mạng vô sản, phong trào công nhân Nhà máy đã tạo ra những tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức cộng sản
ở địa phương
1.1.2.3 Sự hình thành các tổ chức cộng sản ở Nam Định
Trong đấu tranh, các cơ sở Đảng dần được hình thành và đứng vững, nắm quyền lãnh đạo, tổ chức phong trào Sau khi thành lập, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tích cực cử cán bộ về các tỉnh trong cả nước để xây dựng cơ
sở cách mạng Tháng 4 năm 1927, Kỳ bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phân công đồng chí Nguyễn Văn Hoan, Trần Trung Tín về Nam Định xây dựng cơ sở hội, Nhà máy trở thành mảnh đất để ươm mầm và xây dựng cơ
sở cách mạng Chi bộ ghép Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của công nhân Nhà máy là một trong năm chi bộ cuả Hội được thành lập ở Nam Định Các đồng chí là công nhân nhà máy Dệt tích cực tham gia công tác của Hội và trở
Trang 33thành những người lãnh đạo phong trào như Trần Văn Lan (thợ điện), Hồ Công Chương (thợ nguội), Trần Văn Chuyên (thợ nguội), Trần Văn Sinh (thợ nguội), Trần Văn Thụ (thợ nguội) và một số đồng chí công nhân các nhà máy khác như Nguyễn Chương Mão (thợ nguội máy tơ), Nguyễn Văn Thìn (thợ chữa máy bưu điện), Nguyễn Văn Tiếu (giao thông nhà Ngân hàng Đông Dương), đồng chí Trần Văn Lan làm bí thư Cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát triển rộng rãi trong Nhà máy và phát triển sang những nhà máy khác Tháng 9 năm 1927, hội nghị thành lập Tỉnh bộ lâm thời được triệu tập tại nghĩa địa Hoa kiều (Mỹ Trọng, Nam Định) bàn kế hoạch tuyên truyền cách mạng, gây dựng cơ
sở, cử ban Tỉnh bộ lâm thời do đồng chí Nguyễn Văn Hoan làm bí thư Tháng 9 năm 1928, hội nghị đại biểu Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Định quyết định đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng, xây dựng cơ sở trong công nông
Tại cuộc họp Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ý kiến của các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản không được chấp nhận, đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ về, thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng vào ngày 17 tháng 6 năm 1929 Chỉ hai ngày sau (ngày 19 tháng 6 năm 1929), cờ đỏ búa liềm
và tuyên ngôn của Đảng đã xuất hiện ở Nam Định Một số cán bộ do Đông Dương Cộng sản Đảng phái về đã khẩn trương xúc tiến việc thành lập Đảng trong toàn tỉnh Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Định được thành lập đánh dấu bước chuyển biến có ý nghĩa quyết định với phong trào cách mạng địa phương Ban Tỉnh ủy lâm thời ra đời xây dựng chi bộ, tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ, phát triển tổ chức quần chúng, phát động đấu tranh Việc xây dựng
cơ sở Đảng ở trong nhà máy Dệt cũng được Tỉnh ủy chú trọng và quan tâm Đầu tháng 7 năm 1929, các chi bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tổ chức hội nghị, cán bộ tỉnh tới dự và thông báo rộng rãi sự kiện Đông Dương Cộng sản Đảng đã ra đời và sẽ đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng Một số hội viên
Trang 34Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nhà máy được chọn lọc và đưa vào danh sách phát triển Đảng, nếu tình nguyện gia nhập thì sẽ kết nạp ngay Theo quy định, những người chuyển Đảng nếu thuộc thành phần công nhân, nông dân hoặc đã được “vô sản hóa” thì được công nhận là đảng viên chính thức, nếu không thì phải qua 6 tháng là đảng viên dự bị sau đó trở thành đảng viên chính thức Đợt đầu tiên, Nhà máy có 20 đồng chí được chuyển Đảng Sau khi thành lập chi bộ đảng, các đảng viên được huấn luyện, đọc sách báo, tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản, đường lối cách mạng Tháng 7 năm 1929, đồng chí Trần Văn Sửu được cử về xây dựng Công hội đỏ ở Nam Định Tổ chức Công hội được xây dựng ở nhà máy Sợi, Tơ, Điện, Rượu, số hội viên công hội phát triển nhanh từ cuối năm 1929 Tổng Công hội tỉnh Nam Định do đồng chí Trần Văn Lan phụ trách Công hội đỏ giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục cách mạng, tập hợp lực lượng, rèn luyện đấu tranh cho công nhân, các hội viên công hội đóng vai trò
là nòng cốt trong nhều cuộc đấu tranh của công nhân với tư sản
Đầu năm 1930, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được triệu tập, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử đấu tranh
của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Ở Nam Định, “ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Định trở thành một đảng bộ thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam” [112, tr
323] Các chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng của các nhà máy được chuyển nguyên vẹn sang chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Trần Văn Lan làm
bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ đóng trụ sở ở phố Hàng Đồng, các cơ quan của Tỉnh ủy nằm ở các phố Hàng Song, Sài Gòn, Paul Bert, khu Khoái Đồng, Nam Định trở thành đầu mối giao thông liên lạc của Xứ ủy với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình
Như vậy, lí luận của cách mạng vô sản đã đi vào trong suy nghĩ, hành động của đội ngũ công nhân nhà máy Dệt Nam Định Trước hết là qua hoạt
Trang 35động tích cực của các đồng chí cộng sản ưu tú không ngại hy sinh gian khổ để xây dựng cơ sở Đảng Phong trào công nhân Nhà máy xuất hiện sớm, trở thành một phần của những tiền đề xã hội dẫn đến sự hình thành một chính đảng cộng sản ở Việt Nam Năm 1929 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Nhà máy nói riêng và phong trào công nhân cả nước nói chung
Sau khi các tổ chức cộng sản ra đời đã trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân Nhà máy làm cho phong trào có những bước phát triển về lượng và chất Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức cộng sản và trực tiếp là các chiến sĩ cách mạng, phong trào công nhân trong thời kỳ vận động thành lập Đảng (đặc biệt là từ năm 1925 trở đi) đã xác định được mục đích đấu tranh kinh
tế, đấu tranh chính trị, đấu tranh bảo vệ quyền sống của công nhân, tinh thần đấu tranh triệt để, kiên định, dài ngày, đoàn kết tranh đấu không chỉ vì bản thân mà còn vì đồng chí, đồng bào
1.2 Phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong những năm
1930 - 1935
1.2.1 Giai đoạn 1930 - 1931
Từ năm 1930, nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng đã tác động trực tiếp đến xứ Đông Dương, một thuộc địa lớn nhất và giàu
có nhất của Pháp Để khắc phục ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với kinh
tế chính quốc, thực dân Pháp tăng cường vơ vét, bóc lột thuộc địa và thi hành chính sách thuế khóa nặng nề hơn trước Quy mô sản xuất của các ngành công nghiệp bị thu hẹp lại, việc buôn bán, giao thương hàng hóa trong nước và với nước ngoài giảm sút mạnh Chính người Pháp đã nhận định: “chúng ta tới đây không làm cho người Việt Nam giàu hơn lên chút nào mà còn gây nên khủng hoảng để lại di hại lâu dài Cạnh tranh của người châu Âu đã bóp chết một số ngành công nghiệp, thuế má nặng nề làm phá sản một số công nghiệp khác” [78,
Trang 36tr 6] Do tác động của khủng hoảng kinh tế, lượng tiêu thụ trung bình của Nhà máy đã giảm từ 60 - 70 kiện hàng xuống còn 4 - 10 kiện hàng, sản lượng năm
1930 chỉ bằng một nửa so với năm 1927 Hai nghìn công nhân bị đuổi việc Giới chủ Nhà máy tăng cường thực hiện chính sách làm thêm giờ và giảm tiền lương Theo báo cáo của đồng chí Lê Hồng Phong gửi Quốc tế Cộng sản: đầu năm
1930, trong nước mất mùa, tuy giá gạo trên thị trường thế giới giảm nhưng bọn
đế quốc theo đuổi lợi nhuận vẫn tiếp tục xuất khẩu một số lượng gạo lớn làm cho quần chúng lâm vào nạn đói [50, tr 299], từ năm 1910 đến 1930, giá sinh hoạt tăng lên 150 % trong khi tiền lương chỉ tăng 100 % [50, tr 309] Trong khủng hoảng kinh tế, tiền lương của công nhân ngày càng thấp hơn, sức lao động là hàng hóa rẻ mạt nhất Mức lương đã thấp nhưng khoản tiền mà người công nhân được nhận thực tế còn thấp hơn vì bị cúp phạt, ăn bớt, ăn chặn Hơn nữa, hậu quả của cơn bão đổ bộ vào tỉnh Nam Định tháng 7 năm 1929 làm cho gần tám vạn ngôi nhà bị đổ, mười vạn mẫu ruộng không cấy lại được Đời sống công nhân và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hết sức khó khăn, khổ cực
Tháng 7 năm 1930, đồng chí Trần Phú được ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công cùng với đồng chí Trần Văn Lan về Nam Định tìm hiểu phong trào cách mạng để chuẩn bị khởi thảo Luận cương chính trị Đảng Cộng sản trên
cơ sở nhận định tình hình thực tế đã lãnh đạo công nhân đấu tranh: cấm giảm bớt, sa thải công nhân không có lý do, phải trợ cấp đền bù cho công nhân khi thất nghiệp, phải nâng lương cho công nhân, giảm giờ làm việc, phải tăng gấp đôi số ngày lễ, phải tổ chức nghiệp đoàn của người lao động [47, tr 68] Tháng
10 năm 1930, trong Án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội, Đảng ta đã khẳng định: “phải ra sức vận động trong các sản nghiệp và các đoàn thể của thợ thuyền, làm cho ảnh hưởng cả Đảng rộng và mạnh hơn trước Khi có những cuộc tranh đấu đột nhiên xảy ra thì chi bộ phải can thiệp vào ngay mà tìm cách chỉ huy (…) Phải làm cho mọi cuộc tranh đấu lan rộng và phải có khẩu hiệu
Trang 37chính trị Phải điều tra tình hình các cơ quan sinh sản, nghiên cứu lịch sử và kinh nghiệm đấu tranh” [47, tr 115]
Thực hiện đường lối của Trung ương, Tỉnh ủy Nam Định đề ra một số chủ trương cụ thể: 1 Xây dựng, phát triển mạnh mẽ các tổ chức quần chúng trong công nhân, nông dân, tuyên truyền, giáo dục đường lối cách mạng của Đảng, nâng cao lòng yêu nước của quần chúng nhân dân, phát động quần chúng đấu tranh giành giật quyền lợi hằng ngày, tiến lên thực hiện nhiệm vụ đánh đế quốc, phong kiến 2 Thông qua phong trào đấu tranh của quần chúng mà đẩy mạnh việc xây dựng củng cố Đảng bộ về mọi mặt, nâng cao tinh thần tiên phong chiến đấu của Đảng, ra sức đào tạo cán bộ, đảm bảo Đảng là hạt nhân lãnh đạo phong trào [4, tr 88]
Để chào mừng ngày thành lập Đảng và ngày Quốc tế Lao động ngày 1 tháng 5, Đảng ta quyết định phát động một cao trào đấu tranh trong đội ngũ công nhân để biểu dương lực lượng, đòi quyền lợi Trong truyền đơn, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, ngày 1 tháng 5, vô sản giai cấp An Nam sẽ cùng với vô sản giai cấp tất cả các nước bị bóc lột, đè nén biểu tình thị uy để phản kháng tụi cường quyền đế quốc Khẩu hiệu mà Đảng đưa ra là phản đối đế quốc chủ nghĩa hạ tiền lương thợ thuyền, dãn thợ thuyền, tăng thêm sưu thuế, tù đày, bắn giết dân chúng, tàn phá các làng, chở binh lính An Nam đi ngoại quốc
và chở binh lính ngoại quốc đến giết dân An Nam; đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, tăng tiền lương, giảm sưu thuế, phản đối đế quốc chủ nghĩa, ủng hộ Sô Nga là nước giùm giúp cho dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp thế giới Tỉnh ủy Nam Định đã quyết định phát động một phong trào đấu tranh lớn và rộng khắp của công nhân Nhà máy, trung tâm công nghiệp của thành phố với quy mô sản xuất,
số lượng công nhân lớn nhất Giữa tháng 3 năm 1930, đồng chí Nguyễn Hới, bí thư Tỉnh ủy Nam Định triệu tập các đại biểu công nhân ở các nhà máy quyết định hình thức đấu tranh cụ thể là bãi công đòi cải thiện sinh hoạt cho thợ, thời gian bãi công là vào vụ gặt vì khi đó công nhân có việc làm và không sợ đói
Trang 38Giữa lúc Đảng bộ tỉnh đang tích cực chuẩn bị cho cuộc đấu tranh thì có sự việc xảy ra bất ngờ làm cho cuộc bãi công diễn ra sớm hơn dự định 10 giờ đêm ngày
25 tháng 3 năm 1930, tại nhà Dệt A, tên đốc công Rin nơ vô cớ hành hung và đuổi việc công nhân Các đảng viên trong xưởng A kịp thời kêu gọi công nhân đóng máy phản đối, đồng thời báo cáo với Tỉnh ủy Ngày 25 tháng 3, ngày 26 tháng 3 năm 1930 tại làng Mỹ Trọng liên tục diễn ra nhiều cuộc họp của Tỉnh ủy, chi bộ, công hội đỏ Nhà máy để bàn kế hoạch và chuẩn bị mọi mặt để tiến hành đấu tranh Tại cuộc họp này, đồng chí Nguyễn Hới, ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, bí thư Tỉnh ủy Nam Định đã phân tích những thuận lợi và khó khăn của cuộc đấu tranh, căn dặn chi ủy phải kiên trì vận động đông đảo quần chúng tham gia và luôn giữ vững tinh thần của quần chúng Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh
ủy, tổ chức đảng và công hội của Nhà máy thành lập ban lãnh đạo đấu tranh gồm tiểu ban tự vệ, tuyên truyền, tài chính, đối chất Ngày 26 tháng 3 năm 1930,
Ủy ban đình công kêu gọi, tổ chức công nhân đình công, kéo đến đòi gặp chủ
Để chia rẽ đội ngũ công nhân, ngày 26 tháng 3 năm 1930, chủ Nhà máy ra yết thị tăng lương cho công nhân xưởng Sợi, Nhuộm, Chăn mà không tăng lương cho công nhân xưởng Dệt Ngày 27 tháng 3 năm 1930, chúng tiếp tục ra yết thị cho công nhân xưởng Dệt, nếu muốn được tăng lương như các xưởng trên thì phải đi làm đầy đủ Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo, củng cố ban lãnh đạo bãi công, đồng thời phát động nhân dân toàn tỉnh hỗ trợ cho đấu tranh của công nhân Ngày 28 tháng 3 năm 1930, công nhân đã gửi thư cho chủ Nhà máy yêu cầu:
Máy Dệt:
1 Bỏ hẳn đánh đập
2 Phạt thì theo về phần lương của người thợ chịu phạt và một phần ngày lương, không được phạt vô lí
3 Đuổi một người nào ra thì phải cho các thợ biết lí do gì mà đuổi
4 Nếu người bị ốm đau nghỉ một ngày thì không mất việc và không phải phạt
Trang 39Máy Sợi:
1 Cho máy Dệt được đủ những điều đã xin
2 Bỏ hẳn đánh đập
3 Buổi trưa được hãm máy nửa giờ để ăn cơm
4 Đuổi Xu ba dăng Rueng và cai Chính máy con vì hai người này hay ăn lễ
và đánh đập thợ thuyền (104)
10 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1930, mấy trăm thợ đình công yêu cầu trừng trị người cai độc ác, đòi tăng lương, rút giờ làm (128) 11 giờ 30 phút cùng ngày, thợ máy Sợi đình công kéo đến Sở cảnh sát (115) Họ tiếp tục viết
thư cho các chủ Nhà máy: “Chúng tôi yêu cầu các ông ba điều sau: tăng lương
vì hiện nay giá gạo tăng, chấm dứt đối xử tàn tệ và những khoản phạt, xóa bỏ sự phạt những người vắng mặt không quá 24 giờ mà những người này không có điều kiện xin phép Các ông đã ra thông báo nhưng không rõ ràng: tăng lương bao nhiêu xu một ngày, mức khoán dệt vải dựa vào căn cứ nào Bởi vậy, chúng tôi chưa thể đi làm ngay… Chúng tôi sẽ không nghỉ việc nếu được chấp nhận các đề nghị” (104) Đời sống công nhân vốn đã khổ cực, trong thời gian đấu
tranh còn khó khăn hơn vì họ không đi làm, không có lương Để đói phó với phong trào bãi công, chủ Nhà máy cấu kết với chính quyền vừa dọa nạt, vừa dụ
dỗ, vừa mua chuộc, mang tiền đến tận nơi ở của công nhân Càng về cuối, cuộc đấu tranh càng gay go, quyết liệt hơn Ban lãnh đạo đấu tranh thường xuyên vận động công nhân, phân tích cho mọi người hiểu rằng, mỗi ngày đình công là một trận chiến đấu với kẻ thù giai cấp, mỗi người tham gia phải vì mình, vì Đảng, vì giai cấp, vì lòng tin của công nông khắp nơi đang hướng về Cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy còn nhận được sự ủng hộ từ công nhân, nhân dân trong tỉnh
và các tỉnh bạn Cuộc phát động lạc quyên được tổ chức rộng rãi để lấy tiền ủng
hộ cuộc bãi công Các tầng lớp nhân dân trong tỉnh và các tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,… đã sôi nổi quyên góp ủng hộ cuộc đấu tranh của thợ
Trang 40thuyền Nam Định Ngày 9 tháng 4 năm 1930, chủ ra yết thị thông báo xưởng Sợi bắt đầu đi làm việc từ 6 giờ sáng thứ 6 ngày 11 tháng 4, có sự thay đổi ca kíp, sau 48 giờ, tức là muộn nhất 6 giờ chiều ngày 13 tháng 4 năm 1930 nếu công nhân không có mặt thì sẽ bị gạch tên trong sổ lao động của xưởng Sợi Đến ngày 16 tháng 4 năm 1930, cuộc tổng đình công kết thúc
Ngày 17 năm 4 năm 1930, công nhân xưởng Dệt đã gửi thư cho chủ yêu cầu tăng lương vì gạo kém, không phạt những thợ vắng mặt quá 24 giờ vì không tiện xin phép Họ đã chỉ rõ, trong yết thị của chủ nói tăng lương nhưng không nói tăng mấy xu một ngày, mức khoán dệt căn cứ vào đâu Điều này chứng tỏ trình độ giác ngộ của người công nhân đã được lên cao, đấu tranh trên cơ sở thực tế, yêu cầu cụ thể
Trong hai mươi mốt ngày đấu tranh, cuộc bãi công của công nhân Nhà máy đã gây ra tiếng vang lớn trong nước và sang cả nước Pháp Báo chí liên tục đưa tin về cuộc đình công này Ngọ báo ngày 5 tháng 4 năm 1930 đã miêu tả
quang cảnh nhà máy Dệt: nhà máy vốn rất náo nhiệt bỗng dưng chỉ còn trơ ra hàng nghìn bộ máy đứng trơ ra,…, thợ đình công, đó không những chỉ là một điều thiệt riêng cho nhà máy mà lại còn quan hệ chung cho cả nền kinh tế trong
xứ Trước sức ép của phong trào, chủ đã phải tăng lương cho thợ 10 %, bớt nửa
giờ làm Qua đấu tranh, người công nhân đã ý thức được sức mạnh của giai cấp, hàng ngũ khi đoàn kết lại dưới ngọn cờ của Đảng, thấy được tinh thần đoàn kết giữa công nhân Nhà máy với công nhân trong tỉnh và các tầng lớp nhân dân khác Cuộc đình công đã trở thành cuộc diễn tập quy mô lớn trong cơn bão táp cách mạng 1930 - 1931 của tỉnh Nam Định, đưa lại những kinh nghiệm thực tiễn quý báu về bản chất giai cấp, về phương pháp chỉ đạo cách mạng, đối sách của Đảng về bạn, thù của cách mạng
Theo một thống kê chưa đầy đủ, từ ngày 11 tháng 4 năm 1929 đến ngày
1 tháng 5 năm 1930, ở Đông Dương có 41 cuộc đình công, bãi thị, bãi khóa,