Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã dạt được, sự nghiệp lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của thành phố Việt Trì còn nhiều hạn chế, bất cập như chất lượng giáo dục giữa các cấp, các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ BÍCH HỒNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ BÍCH HỒNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN
NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Trang 3Hà Nội - 2012
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí vai trò của giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp cách mạng Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì vậy, ngay trong buổi đầu giành được chính quyền Người đã kêu gọi “một trong những việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí”, phong trào “bình dân học vụ”, “diệt giặc dốt” đã diễn ra sôi động Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng cộng sản Việt Nam đã luôn coi giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng có tầm đặc biệt quan trọng Với vị trí, vai trò to lớn đó Nghị quyết của
Bộ chính trị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục lần thứ 3 (năm 1979) đã chỉ rõ
giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước là sức mạnh tương lai của một dân tộc Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Từ năm 1986 đến năm 2010, trong quá trình đổi mới mọi
mặt về kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo luôn đóng vai trò quan trọng để phát
triển đất nước.Tại Đại lần thứ VII (1991) Đảng đã xác định khoa học và giáo dục
đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc [26, tr.285] Đến Đại hội lần thứ VIII (1996), Đảng tiếp tục khẳng
định: Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển [26,
tr.49] Quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và chỉ đạo, trong những năm qua giáo dục Việt Nam có bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả
to lớn, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, từ lâu Đảng và Nhà nước luôn coi trọng vị trí của giáo dục, quan tâm và chú
ý ưu tiên cho phát triển sự nghiệp giáo dục
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ của tỉnh Phú Thọ Việt Trì đang từng bước khẳng định vai trò, vị thế trung tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục Vì vậy, công tác giáo dục luôn được Tỉnh uỷ, Thành uỷ đặc biệt quan tâm trong chiến lược phát triển thành phố nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn
Trang 5nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước xây dựng thành phố Việt Trì ngày càng giàu mạnh Sau khi tách từ tỉnh năm 1997, thành phố đã có nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, giáo dục cũng đạt được nhiều tiến bộ đặc biệt là trong thiên niên kỷ đầu của thế kỷ XXI Giáo dục thành phố đã có nhiều khởi sắc hệ thống các trường học được củng cố, đặc biệt là hệ thống giáo dục phổ thông được chú trọng từ giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông Hiện nay, thành phố đang hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông Đạt được những kết quả
đó ngành giáo dục Phú Thọ cũng như của thành phố đã có những hướng đi đúng trong việc xây dựng, phát triển và quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã dạt được, sự nghiệp lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của thành phố Việt Trì còn nhiều hạn chế, bất cập như chất lượng giáo dục giữa các cấp, các ngành học còn chưa đồng đều, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn,
cơ cấu đào tạo, nhất là chất lượng giáo dục chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi về cung cấp nguồn nhân lực xã hội chất lượng cao cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, của tỉnh cũng như toàn quốc Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là những hạn chế và bất cập trong quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông, bao gồm
cả cơ chế, chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện
Với mong muốn tìm hiểu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, quá trình vận dụng quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh phát triển
sự nghiệp giáo dục phổ thông của Đảng bộ thành phố Việt Trì từ năm 1997 đến năm
2010, tôi chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Việt Trì lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giáo dục, hệ thống giáo dục, vai trò, chức năng của giáo dục đã được nhiều tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học đầu tư nghiên cứu, ở nhiều góc độ khác nhau Một cách khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan có thể chia thành
ba nhóm như sau:
Trang 6- Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu đề cập đến giáo dục - đào tạo
nói chung: Giáo dục 10 năm đổi mới và chặng đường trước mắt của tác giả Trần Hồng Quân, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 1996; Giáo dục Việt Nam trước
ngưỡng cửa thế kỷ XXI của Gs Phạm Minh Hạc, Nbx Chính trị Quốc gia năm 1999; Toàn cảnh giáo dục - đào tạo Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang Hưng, Nxb
Chính trị Quốc gia năm 2000; Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI của
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2002; Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế
kỷ XXI: Chiến lược phát triển của Đặng Bá Lâm, Nxb Giáo dục năm 2003; Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp của Đặng Quốc Bảo,
Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004; Giáo dục Việt Nam
1945- 2005, tập 2 của tác giả Nguyễn Quang Kính, Hội Khoa học kinh tế Việt Nam,
Trung tâm Thông tin và Tư vấn phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2005…
- Nhóm thứ hai là những công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông: Một
số kinh nghiệm về giáo dục phổ thông và hướng nghiệp trên thế giới của tác giả
Nguyễn Văn Lê, Nxb Sư phạm Hà Nội năm 2004; Một số biện pháp sử dụng nguồn
lực tài chính nhằm phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay của tác
giả Lê Xuân Trường, Luận án tiến sĩ Giáo dục học; Giáo dục phổ thông với chất
lượng nguồn nhân lực Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản của tác giả Đặng Thị
Thanh Huyền, Nxb Khoa học Xã hội năm 2001; Nhà trường phổ thông qua các thời
kỳ lịch sử của tác giả Nguyễn Đăng Tiến, Nxb Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
năm 2001; Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông nước ta hiện
nay của tác giả Trần Viết Lưu đăng trên tạp chí Giáo dục số 92 năm 2002; Tiếp cận chất lượng giáo dục phổ thông dưới góc độ mục tiêu đào tạo của tác giả Huỳnh
Công Minh đăng trên tạp chí Giáo dục số 92 năm 2004…ngoài ra còn rất nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu đề cập đến giáo dục phổ thông như một số luận
văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam viết về vấn đề này: Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006”của tác giả Phạm Thị Hồng Thiết; Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996- 2006 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh; Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ 1991 đến năm
Trang 72000 của tác giả Lương Thị Hòe; Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996- 2005 của tác giả Nguyễn Thị Quế Liên…
- Nhóm thứ ba là những bài viết, công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề
giáo dục của tỉnh Phú Thọ, của thành phố Việt Trì như Trường trung du tập III của
sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ - Báo Phú Thọ năm 1999, Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2002; Giáo dục – Đào tạo Phú Thọ: Sự nghiệp “ trồng người” trên mảnh đất cội nguồn của Thu Hà, Việt Cường, Tạp chí
Đông Nam Á, số 11 năm 2004; Phát huy truyền thống dạy và học trên vùng đất Tổ của tác giả Phan Văn Lân, Tạp chí Thương mại số 13 năm 2005; Lịch sử Đảng bộ
thành phố Việt Trì, Nxb Chính trị quốc gia năm 2007
Các đề tài nghiên cứu khoa học và các tài liệu đề cập ở trên đã phác họa một
số thực trạng, và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường lãnh đạo của Đảng trong
sự nghiệp giáo dục phổ thông ở giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế thành phố Việt Trì có những nét đặc trưng riêng khác với các địa phương khác và nền giáo dục đang trong giai đoạn đổi mới về mọi mặt, đề tài này một mặt kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, một mặt nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về giáo dục, tập trung đi sâu vào nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh ủy, Thành ủy trong sự nghiệp giáo dục phổ thông để rút ra những bài học kinh nghiệm, những mặt hạn chế để tìm ra những giải pháp tốt nhất nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ thành ủy trong sự nghiệp giáo dục phổ thông Cho đến nay
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về đề tài Đảng bộ thành phố Việt Trì lãnh
đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố Việt Trì lãnh đạo phát
triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến 2010, nhằm mục đích qua tổng kết thực tiễn ở một địa bàn địa phương có tính đa dạng như thành phố Việt Trì, góp phần làm khẳng định sự đúng đắn của đường lối giáo dục đào tạo của Đảng, đồng thời làm sáng tỏ sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ thành phố Việt Trì trong sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, từ đó khẳng định tầm quan trọng của công tác giáo dục phổ thông đối với sự nghiệp đổi mới đất nước
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 8- Làm rõ đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử của thành phố Việt Trì tác động đến công tác phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010
- Thực trạng của giáo dục phổ thông của thành phố Việt Trì khi bước vào năm 1997, những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Hệ thống hóa quan điểm của Trung ương Đảng, chủ trương của Đảng bộ tỉnh và sự quán triệt của Đảng bộ thành phố Việt Trì về giáo dục phổ thông từ năm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố Việt Trì quán triệt đường lối giáo dục của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy trong việc lãnh đạo thực hiện công tác giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010
- Thời gian : từ năm 1997 đến năm 2010
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Nguồn tài liệu chủ yếu là các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Tỉnh ủy, Thành
ủy, HĐND, UBND tỉnh và thành phố về công tác giáo dục phổ thông Các tác phẩm các bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Các bài báo in trong các tạp chí Cộng sản, giáo dục….Các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Đảng bộ thành phố Việt Trì về giáo dục, các báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào
Trang 9tạo về giáo dục phổ thông Đặc biệt là các báo cáo tổng kết năm học, của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ, của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Việt Trì
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục để nghiên cứu
5.2 Phương pháp pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục để nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu nhằm
mô tả đúng sự thật lịch sử diễn ra ở thành phố Việt Trì, đồng thời sử dụng phương pháp logic kết hợp một số phương pháp như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, điền dã
6 Đóng góp của Luận văn
- Góp phần tổng kết thực tiễn công tác phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì, đánh giá một cách khách quan những thành công, hạn chế khiếm khuyết, từ đó đúc kết những kinh nghiệm có giá trị vận dụng cho công tác giáo dục – đào tạo phổ thông trong thời gian tới có hiện quả hơn
- Hệ thống hóa quá trình vận dụng quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng và Tỉnh ủy từ năm 1997 đến 2010 trên một lĩnh vực cụ thể - giáo dục phổ thông, góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò của Đảng bộ thành phố Việt Trì trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn để Đảng bộ thành phố Việt Trì nói riêng, Đảng bộ tỉnh nói chung tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển chủ trương
về phát triển giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu mới của địa phương cũng như của đất nước trong điều kiện mới
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương sáu tiết
Trang 111.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Việt Trì
và yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông khi thành phố mới được thành lập
1.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Việt Trì
và những yếu tố tác động đến công tác giáo dục phổ thông
1.1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử
Thành phố Việt trì nằm ở hợp lưu của ba dòng sông (sông Hồng, sông Lô, sông Đà) hay còn được gọi với tên thân thuộc “ thành phố ngã ba sông”, nơi có lịch
sử, xây dựng và phát triển lâu đời, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ Thành phố đến năm 2005 có diện tích là 76,2 km2, có ranh giới phía Đông giáp với huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây giáp với huyện Lâm Thao, phía Nam giáp với huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc và huyện
Ba Vì tỉnh Hà Tây (cũ), phía Bắc giáp với huyện Phù Ninh Việt Trì là thành phố
nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang địa hình đồng bằng, đỉnh của tam giác châu thổ Sông Hồng [2, tr.13] Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến giao thông
thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội mà còn là trọng điểm về quân sự
Ngay từ buổi bình minh dựng nước, các vua Hùng đã chọn nơi đây là “ kinh đô” của nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các thế hệ người dân Việt Trì kế tiếp nhau phát huy truyền thống tương thân, tương ái, tình làng nghĩa xóm, cần cù trong lao động sản xuất, đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh chống thiên tai và kẻ thù xâm lược
Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Việt Trì đã cùng với nhân dân cả nước vùng lên đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945- 1954) và cuộc
Trang 12kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), Đảng bộ và nhân dân Việt Trì đã cũng với nhân dân cả nước viết lên trang sử vàng chói lọi, đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Việt Trì cũng như nhân dân miền Bắc thực hiện song song hai nhiệm vụ chiến lược Trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, công nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng làm tiền đề cho những bước đi tiếp theo Do đó Trung ương đã quyết định chọn Việt Trì và Thái Nguyên xây dựng thành các khu công nghiệp tập trung để tạo tiền đề cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước Ngày 28/11/1958 đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Đảng và Chính phủ bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công xây dựng khu công nghiệp Ngày 13/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm hỏi động viên phong trào Sau bốn năm (1958 – 1962) được sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng và Chính phủ, sự giúp đỡ tận tình của các bộ, ngành, với quyết tâm cao của tỉnh và nhân dân Việt Trì, khu công nghiệp đã hiển hiện từng ngày, một loạt các nhà máy như: Điện, giấy, hóa chất, đường, xay, mỳ chính… đã hoàn thành và đi vào hoạt động Ngày 18/3/1962, Bộ kiến trúc, tỉnh Phú Thọ long trọng làm lễ cắt băng khánh thành khu công nghiệp Việt Trì Khu công nghiệp Việt Trì ra đời là một thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau giải phóng Từ một vùng đất hoang vu đã mọc lên cả một hệ thống các xí nghiệp công nghiệp hiện đại Hoàn thành khu công nghiệp là điều kiện tất yếu cho một đô thị mới ra đời Ngày 4/6/1962, Chính phủ ra quyết định thành lập thành phố Việt Trì (trực thuộc tỉnh Phú Thọ) Nửa thế kỷ đã qua, thành phố công nghiệp trước đây, thành phố Việt Trì ngày nay với tên gọi thân thương và thơ mộng “Thành phố ngã
ba sông” mà không nơi nào có được đã đi vào lịch sử dân tộc những trang hào hùng,
đã đi vào những áng thơ ca, nhạc, họa đậm đà, sâu lắng… Thành phố Việt Trì đang trên đà phát triển nhanh, mạnh ở nhiều phương diện lĩnh vực xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, công nghiệp, du lịch của tỉnh Phú Thọ và là thành phố lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam Trải qua gần nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Việt Trì đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bộ mặt của thành phố từng bước được thay da đổi thịt; đời sống của nhân dân nâng cao Từ một thành phố công
Trang 13nghiệp đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đến nay Việt Trì vẫn luôn khẳng định
là trung tâm tỉnh lỵ về các lĩnh vực chính trị, hành chính, kinh tế – xã hội và ngày càng thể hiện rõ chức năng là trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ
1.1.1.2 Các nguồn lực phát triển giáo dục
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Việt Trì nằm ở phía đông của tỉnh Phú Thọ, phía bờ tả ngạn sông Hồng, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc là 25 km về phía Tây
Nằm ở Ngã ba Hạc, nơi có con sông Thao đỏ nước phù sa hợp lưu với dòng
sông Lô và sông Đà xanh biếc, đối diện với huyện Ba Vì (Hà Nội) Vì thế, Việt Trì còn được biết đến với cái tên thân thương: Thành phố ngã ba sông Đơn vị hành chính của Việt Trì (đến năm 2008) gồm 23 phường, xã 13 phường: Bạch Hạc, Bến Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Dữu Lâu, Tân Dân, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú 10 xã: Sông Lô, Trưng Vương, Phượng Lâu, Thụy Vân, Tân Đức, Chu Hóa, Thanh Đình, Kim Đức, Hùng Lô, Hy Cương Thành phố Việt Trì được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc Với vị trí ngã ba sông cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai hơn 200 km, cách cảng Hải Phòng 170 km Việt Trì là thành phố trung du tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ
là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi Việt Trì nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có một mùa đông lạnh với ba tháng nhiệt độ dưới 18 độ C, nét đặc trưng của khí hậu miền Bắc Việt Nam Nhiệt
độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn khoảng 85 - 87% Nhìn chung khí hậu của Việt Trì thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng Giao thông của Việt Trì cũng rất thuận tiện cả về đường bộ và đường thủy Cả ba phía: Phía Đông, phía Tây và phía Nam đều có sông Hồng và sông Lô bao bọc
Điều kiện kinh tế
Trang 14- Công nghiệp: Đây là ngành kinh tế trọng yếu của thành phố, nơi đây có nhiều điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi để phát triển nhiều ngành công nghiệp Việt Trì là thành phố công nghiệp đầu tiên của miền Bắc Việt Nam Trên địa bàn thành phố tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty có quy mô sản xuất công nghiệp với tỷ trọng lớn, hằng năm đóng góp một lượng lớn nguồn ngân sách của tỉnh và giải quyết việc làm cho nhiều lao động Một số nhà máy, công ty tiêu biểu như: Nhà máy giấy Việt Trì, nhà máy thép Sông Hồng, nhà máy hóa chất Việt Trì, nhà máy đóng tàu Sông Lô, công ty cổ phần bia Hà Nội - Hồng Hà, Công ty cổ phần nhôm Sông Hồng, công ty cổ phần giày da Vĩnh Phú, công ty cổ phần ác quy Vĩnh Phú, công ty cổ phần Miwon Việt Nam Thành phố Việt Trì là nới tập trung
7 khu công nghiệp, chế xuất lớn nhất miền Bắc: Khu công nghiệp Thụy Vân, khu công nghiệp Bạch Hạc, khu công nghiệp nam Việt Trì, khu công nghiệp Tam Nông, khu công nghiệp Phú Hà, khu công nghiệp Trung Hà, khu công nghiệp Phù Ninh
- Nông nghiệp: Cây lương thực chính là lúa, ngô, sắn, khoai Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của thành phố còn nhiều hạn chế Cơ chế nông nghiệp chậm thay đổi, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao so với chăn nuôi Việc vận dụng các thiết bị khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn chậm và chưa đồng đều Đất đai dành cho nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, tiềm năng lao động vẫn chưa được khai thác hết
- Dịch vụ: Tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng lên hàng năm, chiếm tỷ trọng cao của cả tỉnh với các ngành dịch vụ: du lịch, bưu chính viễn thông đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Ngành giao thông vận tải Việt trì với vai trò là thành phố công nghiệp, vị trí
là thành phố ngã ba sông và đang phấn đấu trở thành đô thị loại I, trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn trước năm 2015 nên trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng của thành phố được đầu tư xây dựng khá đồng bộ Nhiều tuyến đường được đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây mới theo đúng tiêu chuẩn đường nội thị đảm bảo giao thông luôn được thông suốt Việc vận chuyển hàng hoá thuận lợi trên cả đường ôtô, đường sắt, đường sông, Thành phố Việt Trì có quốc lộ 2 nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc, đồng thời còn có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua nơi này Số phương tiện vận tải tăng nhanh Ngành thông tin liên lạc cũng phát triển với số thuê bao điện thoại ngày càng tăng 125 thuê bao/ 100 dân
Trang 15Từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc, lấy nông nghiệp làm chủ đạo của những ngày đầu mới thành lập, sau 50 năm xây dựng và phát triển thành phố Việt Trì đã có
cơ cấu kinh tế hợp lý: Công nghiệp – xây dựng 63,2%; dịch vụ 33,6%; nông – lâm thủy sản 3,2% Tổng nguồn vốn đầu tư cho phát triển trên địa bàn thành phố năm
2010 ước đạt 4.000 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 27,68 triệu VNĐ/người, tương đương với 1.383,96 USD/người, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới chỉ còn 4,42%; số thuê bao điện thoại tăng đáng kể; giá trị xuất khẩu đạt 360 triệu USD Việt Trì là thành phố đứng đầu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Điều kiện xã hội
Với đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên như vậy, thành phố Việt Trì có một
vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và quân sự của tỉnh cũng như cả nước Nằm trong cái nôi văn minh lúa nước Sông Hồng, Việt Trì vinh dự là mảnh đất cội nguồn dân tộc Khu vực nằm trong địa giới Việt Trì hiện nay được coi là kinh đô đầu tiên của quốc gia Văn Lang với các triều đại Vua Hùng, là địa bàn tập trung rất nhiều dấu tích văn hóa vật thể và phi vật thể Đó là hệ thống các di tích kiến trúc tôn giáo phong phú, trong đó chiếm hơn một nửa là di tích thờ tự Vua Hùng và các tướng lĩnh vua Hùng và cũng là vùng đất có nhiều truyền thuyết về thời đại Hùng Vương Hiện nay khu di tích lịch sử đặc biệt Đền Hùng đang được đầu tư và tôn tạo, trở thành một trung tâm du lịch của thành phố Việt Trì
Nằm ở vị trí cửa ngõ của Tây Bắc, phía Tây của Kinh thành Thăng Long xưa, với nhiều luồng văn hóa giao thoa, đã hội tụ ở người dân Việt Trì nhiều nét văn hóa đặc sắc: Mộc mạc, bình dị, dễ gần, cởi mở và thông thoáng trong việc tiếp thu các giá trị văn hóa mới
Dân số thành phố là 168.462 người (số liệu năm 2006), mật độ dân số đông 1.584 người/ km2 Dân tộc Kinh là chủ yếu Số dân thành thị chiếm 53,62%, số dân nông thôn chiếm 46,32% (số liệu năm 2009)
Trải qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, người dân Việt Trì đã
có truyền thống cần cù trong lao động, anh hùng, dũng cảm trong đấu tranh, chống thiên tai dịch họa.Thành phố đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.Tình hình quốc phòng, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Trang 16Tất cả những yếu tố tự nhiên, xã hội cho thấy thành phố Việt Trì là một địa phương có nhiều thế mạnh, tiềm năng, khả năng phát triển nhanh chóng, bền vững
Thành phố Việt Trì đã và đang làm tốt hơn công tác quản lý và phát triển giáo dục phổ thông Các chính sách nhằm thu hút các thầy, cô giáo được thực hiện
có bài bản Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Tỉnh ủy, Đảng bộ Thành ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo giao chỉ tiêu cho các Phòng giáo dục thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh trong việc thu hút nhân tài phục vụ giáo dục Theo đó, các chính sách về tiền lương, phụ cấp giáo dục, luân chuyển cán bộ giáo dục được thực hiện tốt đã thực sự mang lại làn gió mới trong xã hội hoá giáo dục Tuy vẫn còn đó ngổn ngang những thách thức nhưng mục tiêu phải phát triển kinh tế song song với quá trình phát triển nền giáo dục phổ thông luôn được đặt lên hàng đầu
Thành phố Việt Trì có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo Đảng bộ, nhân dân đoàn kết thống nhất, chú trọng và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Bên cạnh đó, Phú Thọ là căn cứ chuyển tiếp lên chiến khu Việt Bắc (thời chống Pháp) với nhiều trụ sở các cơ quan của Trung ương, nhiều trường đại học tản cư qua các cuộc chiến tranh đã giúp nhân dân biết làm giáo dục trong hoàn cảnh khó khăn Môi trường giáo dục tốt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo là điều kiện phát triển giáo dục
- Khó khăn: Là thành phố của một tỉnh trung du, miền núi, toàn tỉnh có 215/273 xã miền núi, trong đó có 50 xã đặc biệt khó khăn, mức sống của người dân thấp, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của giáo dục,
Với sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các xã, phường trong thành phố nên số lượng học sinh giữa các địa phương cũng có sự khác biệt khá lớn Đối với
Trang 17các địa phương có điều kiện phát triển về kinh tế - xã hội, tập trung đông dân cư như các phường ở trung tâm thành phố Việt Trì Số lượng học sinh, chất lượng học tập, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp và thi đỗ các trường đại học, cao đẳng đạt tỷ lệ cao hơn những xã vùng ven đô Tuy nhiên, số học sinh khá đông thì gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển hệ thống trường, lớp nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học một cách tốt nhất, một số trường trong một lớp có 50 - 55 học sinh nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giảng dạy
1.1.2 Thực trạng giáo dục phổ thông của thành phố Việt Trì trước năm
1997 – những vấn đề đặt ra
Thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm
1962 theo Quyết định số 65/CP của Hội đồng Bộ trưởng Việt Trì là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên của miền Bắc, ra đời trong hoàn cảnh đất nước còn bộn bề khó khăn, thử thách cùng với nhân dân cả nước Đảng bộ và nhân dân Việt Trì hăng say sản xuất góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đồng thời cũng là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Giáo dục - đào tạo trong giai đoạn này có nhiều chuyển biến tích cực: Với mục tiêu góp phần đào tạo ra những con người lao động làm chủ đất nước, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa, có kỹ thuật, các hoạt động giáo dục được coi trọng cả chất lượng và số lượng Phong trào bình dân học vụ tiếp tục duy trì và đạt kết quả tốt Đến năm 1965, toàn thành phố đã huy động 6288 người đi học trong đó có 4115 người tốt nghiệp cấp 1 bổ túc văn hóa, 323 người được thanh toán mù chữ, hoàn thành và vượt 15% chỉ tiêu đã đặt ra Nhiều xã số cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia học bổ túc văn hóa sôi nổi: Lâu Thượng, Hùng Lâu, Tân Dân…Phong trào đã góp phần đưa 65% trong tổng số gần 3 vạn cán bộ, công nhân viên có trình độ cấp I bổ túc văn hóa,
số còn lại có trình độ cấp II, cấp III, nhiều cán bộ được cử đi học đại học trong nước
và ngoài nước Về giáo dục phổ thông trong những năm đầu thành lập thành phố được sự đóng góp của nhân dân, “thành phố cũng xây dựng thêm một số trường học như cấp 1 Minh Khai, cấp II Chiến Thắng và tu sửa các trường cấp I ở nhiều xã” [2, tr.161-162] Năm 1962, trường cấp III Việt Trì được thành lập, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân thành phố, góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân Các phong trào thi đua diễn ra sôi nổi, rộng rãi trong các nhà trường như phong trào thi đua “ Hai tốt” Phương pháp giảng dạy được cải tiển, gắn liền giữa lý thuyết
Trang 18và thực tế, kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và toàn xã hội Trong những năm vừa hăng say sản xuất, xây dựng thành phố hòa mình vào với nhân dân cả nước
là hậu phương vững chắc cho miền Nam Phát triển sự nghiệp văn hóa giáo dục trong điều kiện còn nhiều khó khăn nên cấp ủy, chính quyền thường xuyên quan tâm chỉ đạo Ngay những ngày đầu chiến tranh, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương kịp thời, đúng đắn nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp trồng người
Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 năm 1975, Đại hội Đảng bộ thành phố Việt Trì lần thứ VIII đã được tổ chức tại Hội trường ủy ban nhân dân thành phố Đại hội tổng kết, kiểm điểm việc thực hiện Nghi quyết Đại hội lần thứ VII, đưa ra mục tiêu, phương hướng phát triển thành phố trong nhiệm kỳ mới Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Việt Trì là một thành phố trẻ ra đời trong giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc Từ năm 1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú, Việt Trì được xác định là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Trong những năm 1976-1985, Việt Trì khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, từng bước ổn định đời sống nhân dân, đóng góp sức người sức của vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Sự nghiệp văn hóa, xã hội vẫn duy trì nề nếp hoạt động và có bước phát triển mới Giáo dục phổ thông trong giai đoạn này có nhiều tiến bộ: số học sinh phổ thông hàng năm đều tăng từ 8-10% Số học sinh giỏi các cấp tăng lên, trong đó có cả học sinh thành phố tham gia thi học sinh giỏi toàn quốc và đạt giải Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên Đội ngũ giáo viên được bổ sung và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ về chính trị, nghiệp vụ sư phạm theo yêu cầu từng bước của cải cách giáo dục Tháng 7/1978, trường cấp III Việt Trì mở hệ vừa học, vừa làm vào dịp hè Tuy số lượng không lớn, mới tổ chức được 3 lớp (1 lớp 8, 2 lớp 9) với 130 học sinh, nhưng đây
đã là một bước tiến của ngành giáo dục thành phố đã thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với sản xuất, nhà trường gắn với xã hội [2, tr.216] thể hiện sự sáng tạo trong việc thiệc hiện chủ chương đường lối chính sách của Đảng, Đảng bộ tỉnh ủy, Đảng bộ thành phố và nhân dân Trong những năm 1980-1985, Đảng bộ và nhân dân thành phố tiếp tục nhiệm vụ sản xuất, xây dựng thành phố và
Trang 19góp sức trong cuộc chiến đấu bảo vệ vùng biên giới, sự nghiệp văn hóa, giáo dục thời kỳ này vẫn được chú trọng, phát triển Nhiều trường học mới được xây dựng: trường phổ thông cơ sở Thanh Miếu, Phượng Lâu, Thụy Vân Năm học 1980-1981,
số học sinh phổ thông có 20009 học sinh với 493 lớp trong đó phổ thông cơ sở có
450 lớp với 17774 học sinh Số học phổ thông cơ sở thi hết cấp đỗ 91%, phổ thông trung học đạt 97% Số học sinh giỏi các môn văn, toán đều tăng hơn các năm trước, 6/14 trường đạt danh hiệu tiên tiến, 11 tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa Cơ sở vật chất trong các trường học được tăng như xây dựng thêm trường học, mở rộng thêm
lớp học đáp ứng được nhu cầu đi học ngày càng tăng của nhân dân thành phố Đội
ngũ giáo viên được tăng thêm, trên 80% giáo viên được chuẩn hóa và bồi dưỡng thêm nghiệp vụ theo yêu cầu của cải cách giáo dục, nên chất lượng giáo dục phổ thông không ngừng tăng lên.[2, tr.218]
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết XI và Nghị quyết XII, Đại hội Đảng bộ Thành phố theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội tỉnh Vĩnh Phú lần thứ V, Đảng bộ và nhân dân Việt Trì đã nỗ lực cố gắng phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, giành được những thành tích quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…Đảng bộ và nhân dân Việt Trì thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, phấn đấu xây dựng thành phố Việt Trì xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học- kỹ thuật của tỉnh Về giáo dục thành phố đã điều chỉnh mạng lưới trường lớp theo hướng hợp lý Đầu tư xây dựng và mua sắm nhiều thiết bị dạy học mới, xây dựng 70 phòng học mới, mua sắm
1400 bộ bàn ghế mới, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng học 3 ca, học đứng Mạng lưới các trường học của thành phố theo quy mô hợp lý Cơ chế giáo dục đổi mới theo hướng đa dạng hóa các loại hình trường lớp và các hình thức dạy học mở rộng cấp 1
và nâng cao chất lượng cấp 2, xây dựng các trường bán công, dân lập, trường chuyên, lớp chọn, lớp dành cho trẻ em khuyết tật, lớp học nghề…ngày càng đáp ứng đượccỏ bản nhu cầu đi học của con em thành phố Số học sinh giỏi tăng lên nhiều học sinh đạt giải quốc gia và tỉnh, mạng lưới trường học được ngói hóa tăng
từ 23 trường năm 1988 lên 28 trường năm 1990 Đội ngũ giáo viên của các cấp được quan tâm bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và đời sống Lãnh đạo Tỉnh ủy và
Thành ủy quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục và đào - tạo, với phương châm vì
lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người như Bác
Trang 20Hồ đã dạy Đến năm 1995, cứ 1000 người dân thành phố thì có 257 người học phổ thông, phổ cập tiểu học hoàn thành và giữ vững, có 7 phường, xã đạt tiêu chuẩn phổ cập cấp II Chất lượng giáo dục mũi nhọn và đại trà ngày càng được nâng lên
Để đạt được những bước tiến trong giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, Đảng bộ tỉnh ủy, Đảng bộ thành ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo của tỉnh, phòng Giáo dục và Đào tạo của Việt Trì luôn quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chỉ thị, các nghị quyết của Trung ương, vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn, đề ra được các nhiệm vụ và biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của thành phố Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đã đạt được thì giáo dục phổ thông vẫn còn
có nhiều khó khăn như chất lượng giáo dục ở các xã vùng ven có tiến bộ nhưng vẫn còn có sự chênh lệch với các phường Quy mô trường lớp được mở rộng tăng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân thành phố, sĩ số học sinh một lớp khá đông trên 50 học sinh/ lớp rất khó khăn trong việc giảng dạy và quản lý Cơ sở vật chất đã được quan tâm nhưng vẫn chưa được đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo dục trong thời kỳ đổi mới, vẫn còn nhiều lớp học tạm, lớp học 3
ca, thiếu lớp học Cơ sở vật chất còn thiếu thốn như bàn ghế cho học sinh, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa Đội ngũ giáo viên đã được quan tâm nhưng chất lượng chưa được đồng đều, nhiều giáo viên vẫn chưa đạt chuẩn, thiếu nhiều giáo viên các môn phụ như giáo dục công dân, thể dục, mỹ thuật, âm nhạc… Công tác đào tạo - dạy nghề cho học sinh phổ thông hiệu quả còn thấp so với yêu cầu Chất lượng của học sinh chưa cao, tình trạng học chay, đọc chép, nghe viết vẫn còn phổ biến…Đó là những khó khăn, thử thách đặt ra cho Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ và nhân dân thành phố cần được chú trọng và giải quyết trong thời gian tiếp theo
1.2 Đảng bộ thành phố Việt Trì quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông (1997 – 2005)
1.2.1 Quan điểm chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về phát triển giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng từ năm 1997 đến năm 2005
1.2.1.1 Quan điểm, chủ trương phát triển giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng của Đảng (1997 – 2005)
Trang 21Để đáp ứng yêu cầu của phát triển đất nước, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trước yêu cầu CNH, HĐH đất nước, sau Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), tại kỳ họp ngày 9/12/2000, Quốc hội khóa X đã thông qua 2 nghị quyết quan
trọng về giáo dục, Nghị quyết số 40/2000/QH10 về Đổi mới chương trình giáo dục
phổ thông, mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,
sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành, tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Đảm bảo sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục, tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình, giáo dục phù hợp với hoàn cảnh và hoàn cảnh của các địa bàn khác nhau Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục
Nghị quyết số 41/2000/QH10 về việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học
cơ sở với mục tiêu “phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2001-2010 là phải
đảm bảo cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấy nước” [137]
Trang 22Ngày 28/12/2000, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ra Chỉ thị số
61/CT-TW về việc thực hiện phổ cập Trung học cơ sở Chỉ thị đã khẳng định:
“Việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở giai đoạn 2001- 2010 có ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’[3; tr.501]
15 năm đất nước bước vào đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội từ năm 1991 đến năm 2000, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII Từ thực tiễn đổi mới đất nước nói chung và đổi mới trong ngành giáo dục - đào tạo nói riêng, tiếp tục tinh thần của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX (2001) của Đảng, Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định: phát triển giáo
dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững [26, tr.654] Trong
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001-2010, Đảng vẫn xác định: để đáp ứng
yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo [26; tr.732]
Đại hội khẳng định giáo dục- đào tạo cùng với nguồn nhân lực, khoa học công nghệ là một trong ba khâu đột phá then chốt phát triển toàn bộ nền kinh tế- xã
hội, trong đó giáo dục - đào tạo đóng vai trò trọng tâm : bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh
thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng XHCN, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn [26; tr 732]
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX (7/ 2000), Đại hội tổng kết kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, khẳng định những thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ ra những khó khăn, yếu kém, hạn chế, trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, định hướng cho phát triển giáo dục- đào tạo đặc biệt là chú trọng vào vấn đề phát triển giáo dục phổ thông Mục tiêu chung vẫn là:
Trang 23- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục: tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường tư duy sáng tạo, năng lực tự học Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các vùng, miền, đất nước
- Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với phát triển kinh tế xã hội Hoàn thành cơ bản phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010, củng cố kết quả phổ cập tiểu học, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa Tiếp tục xóa mù chữ, ngăn ngừa tái mù chữ, giáo dục cho người lớn Thực hiện phổ cập trung học ở những nơi đã phổ cập xong trung học cơ sở
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện tất cả mọi học sinh đều có thể đến trường, mọi người đều có thể học tập, học tập suốt đờì Có chính sách hỗ trợ những học sinh, sinh viên thuộc các đối tượng chính sách xã hội, gia đình nghèo Ưu tiên phát triển giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú, miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số Thực hiện tốt chế độ đãi ngộ giáo viện vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo số lượng giáo viên cho các vùng này
Để làm tốt các nhiệm vụ, mục tiêu trên, cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ sau:
- Đổi mới mạnh mã quản lý nhà nước về giáo dục: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục; coi việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo là một chỉ tiêu phấn đấu xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh Tăng cường trật tự kỷ cương trong các trường học và toàn bộ hệ thống giáo dục, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục Thực hiện mạnh mẽ phân cấp quản lý giáo dục; phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, nhất là các trường đại học, trách nhiệm của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và các huyện, quận trong việc thực hiện quản lý nhà nước
về giáo dục Tiếp tục xây dựng đồng bộ và kịp thời hoàn thiện các văn bản pháp lý giáo dục Xác định và thể chế hóa vai trò, chức năng các cấp quản lý Hoàn thiện tổ
Trang 24chức bộ máy quản lý giáo dục từ Bộ giáo dục và đào tạo đến các cơ sở giáo dục Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; đổi mới cơ bản công tác thi cử, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, công tác tuyển sinh, các loại hình đào tạo; xóa tệ nạn văn bằng chứng chỉ không hợp pháp; kiên quyết chấn chỉnh tình trạng quản lý thu chi
không minh bạch và hiện tượng dạy thêm, học thêm tràn lan; chống thương mại hóa
giáo dục Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp, cá
nhân, tổ chức tham gia xây dựng các cơ sở giáo dục ngoài công lập, Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện đường lối, chính sách giải quyết các vấn đề bức xúc trong giáo dục Mở rộng hợp tác quốc tế
về giáo dục; mở rộng nhiều hình thức liên kết đào tạo ở nước ngoài, đồng thời khuyến khích đi học nước ngoài tự túc, thống nhất quản lý nhà nước về lưu học sinh
và có chính sách sử dụng người đi học, du học ở nước ngoài về phục vụ Tổ quốc
- Xây dựng và triển khai chương trình Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục một cách toàn diện Thực hiện tốt Chỉ thị số 18/2001/CT- TTg Về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ Hoàn thành trước năm 2005 việc
sàng lọc bố trí lại những cán bộ, giáo viên không còn đủ điều kiện công tác trong ngành giáo dục, giải quyết chế độ nghỉ trước tuổi cho các nhà giáo các cấp học học chưa đạt chuẩn, năng lực giảng dạy yếu Bố trí cán bộ quản lý giáo dục các cấp phù hợp với yêu nhiệm vụ và năng lực của cán bộ, có cơ chế thay thế khi không đáp ứng yêu cầu các cấp ủy Đảng từ Trung ương tới địa phương quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng và cán bộ quản lý giáo dục về mọi mặt, coi đây
là một phần của công tác cán bộ; đặc biệt chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống của nhà giáo Ngày 15/6/2004, Ban bí thư Trung qương Đảng
đã ban hành Chỉ thị số 40/ CT-TW về việc Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm đảm bảo đủ giáo viên và cơ cấu đội ngũ giáo viên trong địa phương mình Hoàn thiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Có chính sách thu hút cán bộ khoa học có trình độ cao của các viện nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, các
Trang 25nhà khoa học trong nước giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng Ngày 3/12/2004, Quốc hội ra Nghị quyết số 37/2004/QH11 về giáo dục với mục tiêu lớn
là hoàn thiện hệ thống giáo dục, đổi mới toàn diện, nâng cao hệ thống trường lớp, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
- Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa, liên thông, tổ chức phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông theo hướng xây dựng cơ cấu đào tạo hợp lý, gắn với yêu cầu của thị trường lao động Nghiên cứu chuyển dần một số trường phổ thông và dạy nghề dân lập hiện có sang loại hình tư thuộc; tiếp tục phát triển các loại hình trường ngoài công lập trên cơ sở đảm bảo chất lượng và các điều kiện dạy
và học; đảm bảo quản lý nhà nước đối với loại hình trường này
- Tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo dung với yêu cầu quốc sách hang đầu Đổi mới cơ chế, chính sách nhằm huy động mọi nguồn lục có thể huy động để phát triển giáo dục, bảo đảm tốc độ chi ngân sách cho giáo dục hằng năm cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước; tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục- đào tạo sẽ tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà quyết định, nhưng không thấp hơn tỷ lệ chi ghi trong
Chiến lược giáo dục Đa dạng hóa các nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế Phát
hành trái phiếu giáo dục
- Xóa lớp học 3 ca, thực hiện kiên cố hóa trường lớp sau 5 năm và đạt chuẩn quốc gia hầu hết các trường học sau 10 năm Dành đủ đất cho xây dựng, phát triển trường học, nhất là ở nông thôn Triển khai nhanh chủ trương xây dựng ký túc xá cho sinh viên, học sinh và nơi ở cho các giáo viên được điều động đến vùng khó khăn
- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp của tất cả các cơ quann, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, tổ chức cá nhân, toàn dân Tập trung đầu tư cho giáo dục ở vùng sâu, vùng dân tộc, những đối tượng gặp khó khăn Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người Hoàn thiện quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, của Hội khuyến học, của các loại hình trường ngoài công lập…
Từ ngày 5/5 đến ngày 14/6 năm 2005, Quốc hội đã soạn thảo thông qua Luật
giáo dục quy định hệ thống quốc dân, trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống
Trang 26giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, từ năm 1997 đến năm 2005, qua các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đại hội lần thứ IX, các Hội nghị Trung ương đưa ra mục tiêu, nhiệm
vụ đường lối phát triển giáo dục- đào thông qua các Nghị quyết, Chỉ thị, Đề án… Trước yêu cầu của thời đại Đảng đã quan tâm chỉ đạo sát sao đến từng cấp, từng ngành, từng địa phương để phát triển giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng Để giáo dục phổ thông luôn đóng vai trò là bậc học tạo nền tảng cho thế hệ trẻ cả về tri thức và nhân cách, xứng đáng là nguồn lực chất lượng cao tương lai cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.1.2 Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2005
Tỉnh Phú Thọ được thành lập vào năm 1891 dưới thời Pháp thuộc Sau gần 8 thập kỷ ra đời và phát triển, đầu năm 1968 tỉnh Phú Thọ hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Sau 29 năm hợp nhất, Tỉnh Phú Thọ được tái lập từ ngày
1/1/1997, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, khi đất nước đang
bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc hợp nhất Phú Thọ với tỉnh Vĩnh Phúc, cũng như việc tái lập tỉnh cũ là do yêu cầu khách quan của lịch sử và chủ trương của Đảng và Chính Phủ trong phạm vi toàn quốc [1, tr.284]
Sau khi tái lập, Phú Thọ có những thuận lợi cơ bản về điều kiện kinh tế - xã hội, tuy nhiên tỉnh cũng gặp phải không ít những khó khăn, thử thách đan xen Đồng thời với việc tái lập tỉnh, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Quyết định số 117- QĐNS/TW ngày 12/12/1996 thành lập Đảng bộ Phú Thọ và chỉ định Ban chấp hành lâm thời của Đảng bộ Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, thứ ba (khóa VIII) khẳng định và cụ thể hóa đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV đã tổ chức Trên cơ
Trang 27sở nhận định những thuận lợi và khó khăn mới nảy sinh Đại hội lần thứ XIV đã xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ và những biện pháp lớn cho ba năm còn lại
của thế kỷ XX (1997-2000) Phương hướng chung của Đảng bộ là xây dựng Phú
Thọ trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển với tốc độ khá và ổn định, trong đó kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và truyền thống quê hương đất nước [101] Đại hội cũng đề ra mục tiêu tổng quát là Cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, giáo dục và môi trường sống cho nhân dân [101]
Theo quyết định số 02/1998- TTg của Hội đồng Bộ trưởng ngày 6 tháng 1
năm 1998, Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng
Đông Bắc giai đoạn từ năm 1997-2010, trong đó đề ra các mục tiêu về phát triển
kinh tế xã hội của các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc trong đó có tỉnh Phú Thọ Trên
lĩnh vực giáo dục quyết định nêu rõ: Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng cao, vùng
sâu, vùng biên giới, hải đảo Đa dạng hóa các loại hình giáo dục nhằm thu hút ngày càng nhiều trẻ em đến tuổi đi học đến trường, lớp Quán triệt đường lối giáo
dục toàn diện của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục đào tạo Tỉnh đã xây dựng trường lớp và mở rộng quy mô hợp lý theo phương châm đa dạng hóa các loại hình đào tạo Theo Nghị quyết số 02- NQ/HNTW ngày 24/12/1996 của Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã khẳng định: Không tổ chức lớp chọn ở các cấp học Không tổ chức trường chuyên ở tiểu học và trung học cơ sở
Triển khai thực hiện Nghị quyết 02 - NQ/HNTW, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ
thị số 18/GD - ĐT ngày 22/9/1997 Về không tổ chức lớp chọn ở các cấp học,
không tổ chức trường chuyên ở bậc tiểu học và trung học cơ sở Mục tiêu xây dung
một nền giáo dục hiện đại, phát triển toàn diện, đồng đều Các giáo viên dạy giỏi, dạy khá trong trường phân phối giảng dạy bình thường ở các lớp, không ưu tiên dành cho bất cứ lớp nào Thực hiện Nghị quyết Trung ương và sự chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo, tỉnh Phú Thọ đã thực hiện nghiêm túc năm học 1997-1998 đã xóa bỏ trường chuyên cấp II, lớp chọn ở các cấp
Trang 28Chương trình phổ cập tiểu học đúng độ tuổi được duy trì và phát triển Tỉnh Phú Thọ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở theo Nghị quyết số 41/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của quốc hội khóa X kỳ họp thứ 8 và Nghị định số 88 /2001/ NĐ - CP ngày 22/11/2001 và theo đề Nghị của Bộ Giáo dục
và Đào tạo Về thực hiện phổ cập Trung học cơ sở Mục tiêu phổ cập giáo dục trung
học cơ sở là bảo đảm cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng bộ tỉnh Phú Thọ rất chú trọng tới việc thực
hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở Mục đích của phổ cập giáo dục trung học cơ
sở là nhằm nâng cao dân trí trên cơ sở củng cố và phát huy thành quả của phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ tạo điều kiện cho lưc lượng trẻ tiếp tục học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, hiểu biết nghề nghiệp để tạo ra nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện sự hội nhập với giáo dục khu vực và trên thế giới [1, tr.318]
Để thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị của Quốc hội và thủ tướng về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hiện đúng trách nhiệm của mình theo điều 25 trong Chỉ thị số 88/2001/NĐ-CP:
1 Xây dựng và cân đối ngân sách tỉnh, khai thác và huy động các nguồn lực ngoài ngân sách để thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở của tỉnh, thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm và 10 năm của tỉnh
2 Thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Ủy ban nhân dân huyện, quận, thành phố, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) Ủy ban nhân dân xã, phường, trị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) trong việc thực hiện các chính sách về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở tỉnh
3 Đầu tư và chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tiến hành xây dựng, nâng cấp trường, lớp; mua sắm trang thiết bị cho các trường trung học cơ sở công
Trang 29lập, bán công; kiểm tra các trường trung học cơ sở dân lập, tư thục thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhà trường
4 Xây dựng kế hoạch biên chế giáo viên trên địa bàn làm căn cứ để Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ giao chỉ tiêu; tổ chức tuyển dụng giáo viên đảm bảo đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
5 Hằng năm, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa phương
Cùng với việc thực hiện hổ cập giáo dục trung học cơ sở Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo sở giáo dục xây dựng chương trình trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia,
để đảm bảo cho các hoạt động giáo dục phát triển toàn diện Tiêu chuẩn trường đạt chuẩn quốc gia: công tác quản lý tốt: xây dựng được kế hoạch hoạt động theo năm học, từng tháng, từng học kỳ và tổ choc thực hiện tốt các kế hoach đó; đội ngũ cán
bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó), có trình độ ít nhất từ trung cấp sư phạm trở lên,
có năng lực quản lý, có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường, được tập huấn về chính trị và nghiệp vụ quản lý, có sức khỏe tốt, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm với hiệu trưởng, 3 năm với hiệu phó dạy học trở lên, có trách nhiệm với công việc của trường Đội ngũ và chất lượng giáo viên, giáo viên phải đảm bảo đủ về số lượng,
có ít nhất 90% giáo viên đạt chuẩn trong đó có 20% đạt trên chuẩn, có đầy đủ đội ngũ giáo viên dạy âm nhạc, mỹ thuật, tiếng anh, có phẩm chất đạo đức tốt, có
ít nhất 50% số giáo viên dạy giỏi cấp trường, ít nhất 20% số giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, thị trở lên, không có giáo viên yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ Cơ sở vật chất - thiết bị trường học: phải đảm bảo diện tích về khuôn viên, phòng học, bãi tập, phòng chức năng, thư viện, số học sinh/ lớp, số học sinh giỏi ít nhất 10%, số học sinh khá đạt 40% trở lên, số học sinh yếu, kém không đạt không quá 5%, nhà trường thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục… Tỉnh đã triển khai thực hiện chương trình đến các huyện, thị trong toàn tỉnh nhằm nâng cao hơn nữa giáo dục phổ thông của cả tỉnh góp phần thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XV, nhiệm kỳ 2000-2005 đã tổng kết, kiểm điểm những thành tựu đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm từ 1997 đến năm 2000 và cả những khó khăn, những hạn
Trang 30chế, yếu kém, từ đó đưa ra định hướng, nhiệm vụ cho thời kỳ 2001 - 2005: Phát huy
nội lực, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ cao và bền vững Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao chất lượng sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả của phát triển kinh tế Tạo chuyển biến mạnh về phát huy nhân tố con người, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; giải quyết tốt các vấn
đề bức xúc về việc làm, xóa vững chắc hộ đói và giảm nhanh hộ nghèo, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; ổn định và cả thiên đời sống nhân dân [1, tr.347] Về lĩnh
vực giáo dục - đào tạo, Đại hội nêu rõ: Quán triệt quan điểm phát triển đổi mới giáo dục toàn diện, thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, ổn định quy mô giáo dục phổ thông, tạo điều kiện tốt nhất cho mọi trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường Thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau khi học trung học cơ sỏ, trung học phổ thông Xây dựng ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống trường lớp Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đổi mới công tác giáo dục, ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong học tập và thi cử Tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục đào tạo, góp phần tạo nên một nguồn nhân lực có chất lượng cao
Để đẩy nhanh tốc độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện chủ trương Nghị quyết số 40/2002/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã ra Nghị quyết số 33/2002/ NQ-HĐND-KXV, kỳ
họp thứ II khóa XV từ ngày 1 đến 3/7/2002, Về tăng cường cơ sở sở vật chất trường
học giai đoạn 2002- 2010 Mục tiêu của Nghị quyết tăng cường cơ sở vật chất
trường học giai đoạn 2002 - 2010:
- Xóa bỏ phòng học tạm, nâng cấp phòng học đã xuống cấp, tăng tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố, đảm bảo mỗi lớp học có ít nhất 1 phòng học, mỗi nhà trường có đủ cơ số phòng học bộ môn, nhà điều hành để tổ chức dạy học và các hoạt động giáo dục đáp ứng với yêu cầu mới
- Đổi mới, tăng cường thiết bị dạy học phù hợp với chương trình, sách giáo khoa mới, đảm bảo các trường phổ thông có đủ thiết bị dạy học để triển khai đại trà
Trang 31chương trình, sách giáo khoa mới từ lớp 1 và lớp 6 năm học 2002-2003; bắt đầu ở lớp 10 năm học 2004- 2005 và cở các lớp cuối cấp vào năm học 2006-2007
- Củng cố, tăng cường hệ thống thư viện trường học, bảo đảm các trường phổ thông đều có thư viện, tăng cường đầu sách, đáp ứng yêu cầu của chương trình sách giáo khoa mới
- Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đảm bảo phát triển toàn diện, vững chắc về quy mô, chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với việc đưa ra nhiệm vụ, mục tiêu, Nghị quyết đã đưa ra giải pháp, quy trình thực hiện cụ thể, cũng như vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các
cơ quan, ban ngành, đưa ra kế hoạch huy động nguồn vốn để thực hiện Nghị quyết
Ở Phú Thọ, việc triệt để huy động các nguồn lực xã hội là một đột phá có tính quyết định để phát triển giáo dục Trong khi ngân sách của địa phương còn hạn hẹp, chưa đủ chi cho các hoạt động giáo dục, thì nguồn lực trong dân là một yếu tố rất quan trọng Vấn đề là phải có quyết tâm và phương thức huy động nhân dân phù hợp Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ đã thực hiện nhiều phương thức huy động nguồn lực của nhân dân rất linh hoạt, huy động đóng góp của cán bộ, công chức, nhân dân nơi sở tại xây dựng trường, lớp, giáo viên các cấp học đóng góp công sức dạy học Thông qua quyết định của hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ kỳ họp thứ VII (từ ngày 1/7 đến ngày 3/7 năm 2002) về việc thành lập quỹ phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2002-2005, nghị quyết số 34/2002/ NQ - HĐND - KXV
Để thực hiện Chỉ thị số 40 - CT/TW ngày 15/6/2004 của ban Bí thư Trung
ương Đảng, về xây dựng, nâng cao, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục, dựa vào tình hình thực tế ngành giáo dục của tỉnh mà Đảng bộ tỉnh đã đưa
kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh theo chỉ thị của Trung ương Đảng: tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ và cán bộ quản lý giáo dục; tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức trong ngành giáo dục, giải quyết cho nghỉ trước tuổi đối với những giáo viên, cán bộ quản lý không đáp ứng được công việc của mình.Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của tỉnh về việc thực hiện các chính
Trang 32sách ưu đãi đối với giáo viên, các cán bộ quản lý, đặc biệt là những chính sách ưu tiên đối với giáo viên ở các huyện miền núi, vùng cao, cùng sâu Tăng cường công tác chính trị, công tác Đảng và các đoàn thể trong đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục của tỉnh Có quy định rõ ràng mình bạch về việc biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý, Nghị quyết số 2784/2002/QĐ - UB ngày 30/8/2002 của Đảng
bộ tỉnh ủy Về việc giao chỉ tiêu biên chế sự nghiệp giáo dục - đào tạo năm học
2002- 2003 và ra quy định về mức chi bồi dưỡng cho cán bộ coi thi như Quyết định
số 2205/2002/QĐ - UB, Về việc quy định mức chi bồi dưỡng công tác ra đề thi, tổ
chức các kỳ thi học sinh giỏi, giáo viên giỏi và thi tốt nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để có những chế độ bồi dưỡng thỏa đáng đối với các cán bộ ra đề thi, cán bộ
coi thi, chấm thi trong các kỳ thi của tỉnh
Thực hiện đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phương pháp, dạy học, có chính sách khuyến khích học sinh học tập, có chính sách khuyến khích, động viên học sinh học giỏi đạt giải trong các kỳ thi được thông qua Quyết định số
4438/2002/QĐ - UB ngày 16/12/2002, Về một số chế độ đối với học sinh giỏi bậc
trung học phổ thông và giáo viên mầm non ngoài biên chế Chế độ với học sinh giỏi
bậc phổ thông: học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi bậc trung học phổ thông, xếp loại đạo đức và văn hóa từ khá trở lên, được cấp một suất học bổng trong năm học theo các mức sau: Đạt giải nhất, giải nhì trong các kỳ thi học sinh giỏi hoặc học sinh thuộc diện hộ nghèo đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh: 600.000 đồng; đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia 1.500.000 đồng; đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc tế 3.000.000 đồng; một học sinh đạt nhiều giảI chỉ được hưởng chế độ học bổng của giải cao nhất… Để thực hiện nghiêm túc, an toàn trong các kỳ thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp Đảng bộ tỉnh Phú Thọ ra Chỉ thị số
10/2003/CT - UB ngày 2/5/2003, Về việc tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh
đối với giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục không chính quy Để
thực hiện các kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh được tiến hành: an toàn, nghiêm túc, chính xác, khách quan, công bằng và đạt kết quả, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo những năm tiếp theo, Đảng ủy đã yêu cầu các cấp, các ngành thực hiện các nhiệm vụ:
Trang 33Đối với Sở Giáo dục: chỉ đạo các đơn vị giáo dục trên địa bàn thực hiện đầy
đủ chương trình các môn học, đảm bảo kết hoạch và biên chế năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức tốt việc ôn tập cho học sinh các lớp cuối cấp và chuẩn bị chu đáo các điều kiện phục vụ công tác thi, giúp học sinh tham gia đạt kết quả Phổ biến rộng rãi quy chế thi tốt nghiệp và quy chế thi tuyển sinh đến cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh Chú ý nhấn mạnh đến những điểm mới trong quy chế thi tốt nghiệp và quy chế tuyển sinh, đảm bảo quyền được dự thi tốt nghiệp cho các đối tượng theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các kỳ thi trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo dư luận về việc tổ chức các kỳ thi nghiêm túc, trung thực Tổ chức tập huấn cho các cán bộ quản lý, giáo viên các đơn vị giáo dục nắm bắt chắc quy chế thi, chú trọng bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác coi thi và chấm thi; xây dựng phương án
tổ chức hợp lý; chỉ đạo việc coi thi, chấm thi theo quy định và yêu cầu của Bộ giáo dục và Đào tạo Tổ chức việc thanh tra các kỳ thi, phát hiện, uốn nắn, xử lý kịp thời những thiếu sót trong thi cử Đối với ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố tổ chức chỉ đạo các kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh trên địa bàn theo phân cấp quản lý, Quy chế thi và các văn bản hướng dẫn của Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo; xây dựng phương án cụ thể đảm bảo các kỳ thi trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, an toàn trong mọi tình huống Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương, ủy ban nhân dân các phường xã, thị trấn phối hợp chặt chẽ với phòng Giáo dục và Đào tạo và các đơn vị giáo dục trên địa bàn giữ gìn trật tự trị an, đảm bảo an toàn cho các kỳ thi tốt nghiệp và công tác tuyển sinh tại địa phương Yêu cầu Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, báo Phú Thọ, Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao, Sở Tài chính- Vật giá, Công an tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Sở Y tế, Bưu điện tỉnh, Kho bạc nhà nước tỉnh, Điện lực Phú Thọ và các ban ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tham gia phục vụ kỳ thi kịp thời, hiệu quả
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh từng bước được xã hội hóa và có nhiều tiến bộ Đảng bộ tỉnh đã quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về phát triển giáo dục toàn diện và Kết luận của Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX về đổi mới giáo dục và phổ cập giáo dục trung học cơ sở của Đảng Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã quán triệt và vận dụng sáng tạo dựa trên điều kiện thực tế của tỉnh mình để
Trang 34có những chủ trương đúng đắn, kịp thời về phát triển giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, nhanh chóng được triển khai, đi vào đời sống thực tiễn của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục phổ thông trong toàn tỉnh Nhờ có những chủ trương đúng đắn mà giáo dục phổ thông của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2005 đã đạt được nhiều thành tựu Mạng lưới trường lớp được mở rộng quy mô hợp lý, theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng mọi nhu cầu học tập của con em trong toàn tỉnh Mỗi huyện có ít nhất 2 trường phổ thông công lập, thành lập trường đào tạo nghề của tỉnh Chất lượng các bận học từng bước được nâng cao Chương trình xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được duy trì và phát triển Đến tháng 12/2000 toàn tỉnh có 134/270 xã, phường, thị trấn, thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; 120 xã phường, thị trấn, thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ đạt phổ cập trung học cơ sở Đội ngũ giáo viên trong tỉnh đạt trình độ chuẩn hóa trên 95% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông hàng năm trên 97% và trên 70% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào được lớp 10 Số học sinh đỗ đại học, đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia đều tăng lên hàng năm, nhiều năm liền đều có học sinh đạt giải quốc tế và khu vực Phú Thọ là một trong những tỉnh có sự nghiệp giáo dục - đạo tạo phát triển Tuy vậy, Phú Thọ vẫn là tỉnh nghèo có điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục - đào tạo
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, thực trạng của công tác quản lý giáo dục, xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt từ yêu cầu đổi mới
tư duy trong phát triển giáo dục mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có những Chỉ thị, Nghị quyết và các Quyết định quan trọng chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các địa phương trong đó có tỉnh Phú Thọ đã làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tiễn
1.2.2 Quá trình Đảng bộ thành phố Việt Trì chỉ đạo thực hiện sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2005
Thực hiện Chỉ thị số 51 ngày 9/3/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và
Kế hoạch số 26 ngày 17/5/1995 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phú về Tiến hành
Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 1996-2000 Đại hội Đảng bộ thành phố Việt Trì
Trang 35lần thứ XVI nhiệm kỳ 1996- 2000 đã tổng kết kiểm điểm những kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XV Trên cơ sở những thuận lợi, khó khăn, Đại hội XVI đã xác định mục tiêu, phương hướng và những nhiệm vụ
cụ thể cho nhiệm kỳ 1996-2000, Phương hướng chung được Đại hội xác định là: “ Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường trật tự kỷ cương, tiếp tục cuộc vận động đổi mới và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực quản lý của chính quyền và sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp nhân dân Đẩy nhanh tốc độ xây dựng và phát triển thành phố Việt Trì thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh ( ) Phát triển văn hóa, giáo dục, xã hội phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước xây dựng nếp sống văn minh đô thị, thực hiện công bằng xã hội” [2, tr.287] Xây dựng Việt Trì thực sự là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Phát triển văn hóa xã hội, xây dựng con người Việt Trì có nếp sống văn minh, có tác phong công nghiệp, năng động, sáng tạo, có ý chí vươn lên thoát nghèo làm giàu chính đáng Tiếp tục định hướng xây dựng thành phố Việt Trì thật sự trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh ngay sau Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV, ngày 4/8/1997 Ban
Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đã ra Nghị quyết số 09/ NQ - TU về Tiếp tục xây dựng
và phát triển thành phố Việt Trì đến năm 2000, Nghị quyết đã xác định phương
hướng chung cho thành phố là: “Xây dựng thành phố Việt Trì trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, trung tâm kinh tế văn hóa của khu vực Để có vị trí xứng đáng đó, những năm tới phải tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh
tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thì trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Đẩy mạnh CNH, HĐH, tăng nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng thúc đẩy kinh tế - xã hội phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế,bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước nâng cao công tác quản lý đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, giữ vứng trật tự và kỷ cương xã hội” [2, tr.289-290] Để thực hiện được mục tiêu trên, Đại hội đề ra các nhiệm vụ chủ yếu:
- Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở xác lập cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Trang 36- Đẩy mạnh tốc độ phát triển đô thị, khai thác sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn
để phát triển hạ tầng Nâng cao năng lực quản lý đô thị của chính quyền các cấp
- Phát triển văn hóa xã hội, xây dựng con người mới, năng động, sáng tạo, có tri thức khoa học, có văn hóa, văn minh, lịch sự
Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, Đảng bộ thành phố đã triển khai thực hiện Nghị quyết do Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV, Nghị quyết số 09/NQ – TU của Ban
Thường vụ Tỉnh ủy, thực hiện Đề án số 03/ĐA - TU của Thành ủy về Quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 và những năm tiếp theo Đảng bộ
thành phố Việt Trì luôn xác định để xây dựng thành phố trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh cũng như góp phần đưa thành phố bước vào thời kỳ CNH, HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển giáo dục - đào tạo, phải coi giáo dục
là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế- xã hội Đảng
bộ thành phố luôn quán triệt, chủ trương chính sách về giáo dục - đào tạo của Đảng, Đảng bộ Tỉnh ủy, đó là kim chỉ nam trong chỉ đạo, thực hiện phát triển giáo dục phổ thông của thành phố Từ năm 1997 đến năm 2005 do vận dụng sáng tạo, quán triệt chủ trương chính sách của Đảng, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong phát triển giáo dục phổ thông, ngành giáo dục thành phố đã đạt được nhiều thành tựu:
1.2.2.1 Phát triển quy mô giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo
Mở rộng quy mô giáo dục
Thực hiện theo đề án phát triển cơ sở vật chất trong trường học, thực hiện đề
án quy hoạch và sử dụng đất và giao đất xây dựng trường học, địa điểm, sân chơi, bãi tập cho học sinh Đảm bảo quỹ đất để xây dựng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sỏ và các trường trung học phổ thông Năm học 1997-1998, đã căn bản tách các trường cấp 1 và cấp 2, cấp 2 và cấp 3 thành các trường riêng theo đúng cấp học Căn bản xóa trường chuyên cấp 2, không tổ chức chức lớp chọn ở các cấp Thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng và Đảng bộ Tỉnh ủy xây dựng một nền giáo dục phát triển toàn diện Giáo dục - đào tạo phát triển mạnh mẽ theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo ở tất cả các bậc học, cấp học Mạng lưới trường, lớp được bố trí hợp
lý, tiếp tục được rà soát điều chỉnh đảm bảo phát triển ổn định và đa dạng Dưới sự
Trang 37chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh, Đảng bộ thành phố đã thành lập thêm nhiều trường trung học cơ sở, trung học phổ thông Mỗi xã, phường trong thành phố đều có ít nhất một trường mầm non, tiểu học; hầu hết đều có trường THCS; có ít nhất 2 trường THPT công lập và một số trường THPT Bán công, dân lập trở lên; 100% số xã, phường, trong thành phố đều có trung tâm học tập cộng đồng Quy mô, mạng lưới trường, lớp
về cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân thành phố.Trong khi thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp để đáp ứng được nhu cầu học tập hơn nữa của con em thành phố, Đảng bộ tỉnh và Đảng bộ thành phố cùng với ngành giáo dục đã tập trung xem xét, đánh giá nghiêm túc dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội, dựa vào nhu cầu của nhân dân thành phố, điều kiện đóng góp xây dựng của Thành phố, của nhân dân Thành phố yêu cầu thành lập thêm trường bán công, dân lập, dựa vào nhu cầu học tập và số lượng học sinh THPT tăng nhanh các trường công lập không đáp ứng hết được và dựa vào khả năng đóng góp của nhân dân Đảng bộ tỉnh đã quyết định thành lập thêm một số trưởng THPT Bán công, THPT dân lập Năm 2000, Thành phố có tổng số 47 Trường trong đó: có
22 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở, 8 trường trung học phổ thông, 2 trường bán công, 3 trường dân lập Năm 2000, tổng số phòng học là 621, số lớp học là 884, trong đó tiểu học có 421 lớp, trung học cơ sở 268 lớp, trung học phổ thông 177 lớp Đến năm 2005 tăng lên 48 lớp trong đó có 23 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ
sở, 8 trường trung học phổ thông, 2 trường bán công, 3 trường dân lập, số lớp học ở trung học phổ thông tăng lên nhanh chóng
Nhìn chung, từ năm 1997 đến năm 2005, hệ thống mạng lưới trường lớp, quy
mô các cấp học, bậc học của thành phố về cơ bản đã hoàn thiện, quy mô phát triển nhanh, phù hợp với yêu cầu, đáp ứng được nhu cầu đi học của con em thành phố, đây là bước phát triển, hướng đi đúng đắn của Đảng bộ Thành phố dưới sự chỉ đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
Nâng cao chất lượng giáo dục
Đổi mới toàn diện trên cả nội dung chương trình, phương pháp giáo dục ở các cấp học, bậc học theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 và Chỉ thị số 14/2001/TTg
của Thủ tướng Chính Phủ Về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Đảng bộ
Tỉnh đã ra các nghị quyết, đề án, chỉ thị để thực hiện đổi mới trên địa bàn tỉnh
Trang 38Đảng bộ Thành phố đã chủ động quán triệt đường lối, vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của thành phố Thành phố đã chủ động tổ chức đội đội ngũ giáo viên,
tổ chức cho 100% giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn để dạy nội dung, chương trình sách giáo khoa mới Cung cấp kịp thời, đầy đủ sách giáo khoa, các thiết bị dạy học và có quy định chặt chẽ về quản lý nhằm tăng hiệu quả sử dụng đồ dùng, các thiết bị dạy học Khuyến khích các giáo viên tìm tòi, sáng tạo ra cách dạy mới thu hút được học sinh hứng thú học tập, có những phương pháp thay đổi cách học tập của học sinh trong việc tiếp thu bài giảng, lĩnh hội kiến thức Do chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, Đảng bộ thành phố đã làm tốt vai trò chỉ đạo của mình, đã chủ động được đội ngũ giáo viên, đáp ứng căn bản yêu cầu đổi mới, chương trình, sách giáo khoa mới, cách dạy và học có nhiều chuyển biến rất tích cực
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện cho giáo dục phổ thông, trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức văn hóa cơ bản mà còn chú trọng nâng cao văn thể
mỹ, tăng cường giáo dục dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, đổi mới chương trình học tập ở giáo dục phổ thông, tạo điều kiện cho học sinh bước vào một thế giới học tập bằng cách hướng dẫn các em tích cực tham gia vào hai tiến trình song hành: tri thức và hướng nghiệp Điều này phải được tiến hành ở tất cả các cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) với mức độ và nội dung phù hợp, cập nhật những tiến bộ của khoa học và công nghệ, đặc biệt bậc phổ thông cung cấp cho học sinh có đủ tiềm năng để di chuyển nghề nghiệp và dễ dàng thích nghi với đời sống hiện đại, mọi thanh niên sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông phải trở thành lao động có kiến thức và kĩ năng cao hơn bậc trung học cơ sở, phải chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm làm cho các trường trung học phổ thông thực hiện mục tiêu kép của bậc học này, chứ không phải hướng vào mục tiêu duy nhất là thi vào các trường đại học và cao đẳng Tăng hàm lượng giáo dục kĩ thuật, giáo dục lao động trong chương trình học ở giáo dục phổ thông, làm cho các em dễ dàng tiếp cận công nghệ hiện đại Nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh nhất là học sinh cuối cấp THCS và THPT, tạo nên sự phân luồng học sinh sau trung học có sự chuyển biến tích cực, nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp THCS
đã chọn học bổ túc văn hóa - nghề, nhiều học sinh khi tốt nghiệp THPT chọn học
Trang 39các trường đào tạo nghề, các trường trung học chuyên nghiệp để tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề và lành nghề bậc cao Chú trọng giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm
mỹ, giáo dục quốc phòng, giáo dục ý thức pháp luật, giáo dục tinh thần lao đông… hướng tới giáo dục toàn diện cho học sinh trở thành những thế hệ trẻ có tri thức, có đạo đức, có lối sống lành mạnh, có tinh thần tự hào dân tộc, ý thức chấp hành pháp luật cao… Ngoài đảm bảo các giờ học chính khóa trên lớp, các nhà trường còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tổ chức các hoạt động ngoại khóa với nhiều hình thức phong phú, thu hút được sự quan tâm, hứng thú của học sinh: tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử, các hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn, các cuộc thi văn nghệ thể thao dưới hình các cuộc thi thể hiện sự khéo léo của học sinh như nấu cơm, cắm hoa, thi tìm hiểu pháp luật, thi viết thư quốc tế UPU, tổ chức tham quan các di tích lịch sử…thông qua đó có thể lồng ghép các kiến thức giáo dục đó là cách lĩnh hội kiến thức rất hiệu quả cho học sinh
Sự đổi mới trong nội dung, chương trình đã một phần tạo nên bước chuyến biến cho giáo dục phổ thông đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhờ sự chủ động, tích cực trong việc đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy – học, nâng cao chất lượng giảng dạy, từ năm 1997 đến năm 2005 chất lượng giáo dục phổ thông của thành phố Việt Trì có sự chuyển biến rõ nét Chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục đại trà là cơ bản, lâu dài, trước mắt là bậc
tiểu học Chất lượng học sinh về văn hóa, đạo đức nâng cao rõ rệt qua hàng năm Tỷ
lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt tăng Số học sinh bỏ học giữa chừng và số học học sinh lưu ban giảm rõ rệt Học sinh đỗ tốt nghiệp cao, ổn định trên 90%, tỷ lệ cao nhất
so với các huyện, thị trong toàn tỉnh [2] Số học sinh đỗ, được tuyển thẳng vào các
trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hằng năm đều tăng, chiếm tỷ lệ cao so với toàn tỉnh Số học sinh giỏi cũng tăng lên đồng đều giữa các trường trong thành phố Thành phố cũng có nhiều học sinh đạt giải, đạt huy chương trong các kỳ thi Olympic toán học, hóa học, vật lý, sinh học quốc tế và châu Á Thái Bình Dương, trong đó có huy chương vàng môn Toán, vật lý, huy chương bạc, đồng môn hóa, môn sinh Ngoài ra học sinh thành phố cũng tham gia các cuộc thi: Giải toán trên máy tính Casio bỏ túi, thi giải toán trên các báo Toán học và Tuổi trẻ, Toán tuổi thơ, Vật lý và
Trang 40Tuổi trẻ, Tin học nhà trường, Hoa trạng nguyên nhỏ tuổi, đường lên đỉnh Olympia, Tin học trẻ tuổi không chuyên, Robocom…đều đạt kết quả tốt
Để có được những biến chuyển tích cực trong chất lượng giáo dục phổ thông trong những năm 1997-2005, Đảng bộ thành phố Việt Trì luôn xác định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo dục toàn diện Thành phố chú trọng chỉ đạo thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, chú trọng giáo dục toàn diện cho học sinh cả về văn hóa và thể chất, đồng thời kết hợp giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, chú trọng giáo dục văn thể mỹ, giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống lành mạnh cho người học, kiên quyết đẩy lùi ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào học đường Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học tăng tính tích cực chủ động, nâng cao năng lực tự học, rèn luyện của học sinh.Các biện pháp đồng bộ đó đã tạo nên kết quả tích cực cho giáo dục của thành phố Nhiều năm liền thành phố đứng đầu cả tỉnh về tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh
đỗ THPT, đỗ tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp Đến năm 2005,
100% các trường tiểu học, 60% trường trung học cơ sở và 25% các trường mầm non của thành phố đạt chuẩn quốc gia Thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và căn bản đạt tiêu chí phổ cập bậc trung học [2, tr.318]
Đổi mới công tác quản lý
Thực hiện theo Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, các địa phương, các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học Đổi mới công tác quản lý trong giáo dục – đào tạo là đòi hỏi cần thiết trong thực hiện nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục
Ngay sau khi mới tái lập tỉnh, ngay trong năm học 1996 - 1997, Sở Giáo dục
và Đào tạo Phú Thọ đã tham mưu với Đảng bộ tỉnh ra quyết định thành lập các phòng ban, tuyển chọn nhân sự, từng bước kiện toàn và hoàn thiện bộ máy cơ quan
Sở Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ đạo cho các Phòng giáo dục, các đơn vị trực thuộc sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý, luân chuyển cán bộ đảm bảo thực thi dân chủ, đúng quy trình.Tổ chức cho các cán bộ đi học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Hằng năm đều cử 20 - 30 cán bộ của thành phố đi học cao học, tin học, tiếng anh để nâng cao hơn trình độ quản lý